1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình xây dựng qua mô hình quản lý đầu tư xây dựng luận văn thạc sỹ kỹ thuật chuyên ngành xây dựng công trình thủy 60 58 4

116 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện theo đúng quy định, đáp ứng cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước, trong lĩnh vực xây dự ng cần nghiên cứu mô hình quản lý CLCT xây dựng phù hợp, hệ thống quản lý

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Những năm gần đây, mặc dù bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng vốn đầu tư dành cho lĩnh vực xây dựng công trình (XDCT) vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư của Nhà nước Theo thống kê,

hàng năm vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) khoảng từ (25 - 30%) GDP, hiện tại tổng số công trình đang triển khai xây dựng trên địa bàn cả Nước khoảng 50.000 công trình, tỷ lệ các công trình có quy mô vừa và lớn ngày càng nhiều Vì vậy, vai trò quản lý nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng là vấn

đề cần được hết sức quan tâm, bởi vì công trình hoàn thành sẽ có tác động trực tiếp đến sự an toàn, phát triển bền vững, phục vụ nhu cầu sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế và chất lượng cuộc sống của con người

Thời gian qua, cùng với việc phát triển kinh tế đất nước, công nghệ xây dựng đã có những tiến bộ đáng kể, công tác quản lý chất lượng công trình (CLCT) xây dựng ngày càng được nâng cao Chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ , góp phần quan trọng trong tăng trưởng của nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn không ít các công trình chưa đáp ứng được yêu cầu, gây mất an toàn , tốn kém cả về kinh phí lẫn thời gian cho việc sửa chữa, khắc phục Ví dụ như sự

cố do quản lý chất lượng (QLCL) ở một số công trình công cộng, một vài hồ chứa nước thủy lợi - thủy điện , sập cầu Cần Thơ , cao ốc Pacific cuối năm

1997 Đó thực sự là những thảm họa, cướp đi sinh mạng của nhiều người, gây thiệt hại không nhỏ cho xã hội Trong những năm gầy đây Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý CLCT xây

dựng, đưa ra nhiều giải pháp nâng cao CLCT trong quá trình trình thực hiện

Hiện nay Nhà nước đưa ra nhiều quy định, hướng dẫn về công tác quản

lý CLCT xây dựng thông qua hệ thống văn bản pháp luật , qua việc đào tạo nâng cao năng lực và trách nhiệm đơn vị tham gia, tăng cường phân cấp trong

Trang 2

quản lý… Tuy vậy, cách thức tổ chức thực hiện , mô hình quản lý công tác này ở một số Bộ, ngành và địa phương cũng chưa được thống nhất

Để thực hiện theo đúng quy định, đáp ứng cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước, trong lĩnh vực xây dự ng cần nghiên cứu mô hình quản

lý CLCT xây dựng phù hợp, hệ thống quản lý chất lượng chặt chẽ đảm bảo mục tiêu các công trình được xây dựng có chất lượng, an toàn và hiệu quả

Xuất phát từ yêu cầu trên , đề tài: “Nghiên cứu giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình xây dựng qua mô hình quản lý đầu tư xây dựng’’ mang tính thực tế và cấp thiết

2 Mục đích của Đề tài

Góp phần đảm bảo CLCT xây dựng thông qua nâng cao vai trò của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng ở Nước ta trong giai đoạn hiện nay Qua nghiên cứu đưa ra kiến nghị đề xuất mô hình quản lý CLCT xây dựng phù hợp với điều kiện nước ta

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Công tác quản lý CLCT xây dựng

- Phạm vi nghiên cứu: các dự án công trình xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do các Bộ, ngành Trung ương và địa phương quản lý

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Cách tiếp cận:

+ Tiếp cận qua các nghiên cứu, tài liệu đã công bố

+ Tiếp cận qua thực tế công trình đã xây dựng

+ Tiếp cận qua các nguồn thông tin khác

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp lý thuyết

+ Phương pháp tổng hợp, phân tích đánh giá, phương pháp chuyên gia

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

1.1 Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm

1.1.1 Chất lượng sản phẩm

1.1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm

CLSP được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau: từ bản thân sản phẩm , từ phía nhà sản xuất và cả phía thị trường Nhưng hầu hết các quan điểm đều thống nhất “Chất lượng là tập hợp các đặc điểm của một sản phẩm nhằm tạo cho sản phẩm đó có khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”

Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm , hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”

1.1.1.2 Đặc điểm của chất lượng sản phẩm

Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém, cho

dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược của nhà kinh doanh Mặt khác, nhu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng

Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần xem xét đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội Ngoài ra, chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà cần xuyên suốt trong cả hệ thống hay quá trình tạo ra sản phẩm

Trang 4

1.1.1.3 Phân loại chất lượng sản phẩm

Theo nghiên cứu và phân tích của các chuyên gia, CLSP được phân ra 6 loại như sau:

- Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sản phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu và định ra để sản xuất Chất lượng thiết kế được thể hiện qua các bản vẽ, các yêu cầu về vật liệu chế tạo, thử nghiệm và hướng dẫn sử dụng Chất lượng thiết kế có thể được hiểu là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng về lý thuyết đối với yêu cầu sử dụng, điều này

có đạt được trong thực tế hay không thì nó còn phụ thuộc nhiều yếu tố trong quá trình thực hiện

- Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được phê duyệt trong quá trình QLCL của các cơ quan quản lý Sau khi được phê chuẩn thì chất lượng này trở thành pháp lệnh , văn bản pháp quy để các bên liên quan thực hiện

- Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản phẩm

- Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng chuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm Chất lượng cho phép do cơ quan quản lý CLSP và hợp đồng giữa hai bên quy định

- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu của thị trường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất Nó nói lên mối quan hệ giữa CLSP và chi phí

- Chất lượng toàn phần: là mức chất lượng thể hiện mức tương quan giữa hiệu quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản xuất và sử dụng sản phẩm đó

1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

CLSP bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng có thể chia thành hai nhóm yếu tố chủ yếu bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong

Trang 5

 Nhóm yếu tố bên ngoài:

- Ảnh hưởng của nhu cầu nền kinh tế Ở bất cứ trình độ nào và mục đích

sử dụng khác nhau , CLSP luôn bị chi phối , rằng buộc bởi hoàn cảnh , điều kiện nhất định của nền kinh tế và được thể hiện ở các mặt:

+ Nhu cầu của thị trường: là xuất phát điểm của quá trình QLCL;

+ Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: đảm bảo chất lượng luôn là vấn đề nội tại của bản thân nền sản xuất xã hội nhưng việc nâng cao chất lượng không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế;

+ Chính sách kinh tế: hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm nào

đó cũng như mức thỏa mãn các nhu cầu được thể hiện trong chính sách kinh

tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới CLSP

- Ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học - kỹ thuật: với sự phát triển mạnh của khoa học như hiện nay , trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm nào cũng gắn liền và chịu sự chi phối của sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là sự ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Xu hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:

+ Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế;

+ Cải tiến hay đổi mới công nghệ;

+Cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới

- Ảnh hưởng của hiệu lực của cơ chế quản lý : có thể nói khả năng cải tiến, nâng cao CLSP của mỗi tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý Hiệu lực quản lý nhà nước (QLNN) là đòn bẩy quan trọng trong việc QLCL sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất , đảm bảo uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến CLSP của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp QLCL hiện đại

 Nhóm yếu tố bên trong tổ chức: trong phạm vi một tổ chức có 4 yếu tố

cơ bản ảnh hưởng đến CLSP (theo tiếng Anh được biểu thị bằng quy tắc 4 M),

đó là:

Trang 6

Con người (men): đây là lực lượng lao động trong tổ chức , bao gồm tất

cả thành viên trong tổ chức , từ cán bộ lãnh đạo đến người thực hiện Năng lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng

Phương pháp (methods): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản

lý và tổ chức sản xuất của tổ chức Với phương pháp công nghệ thích hợp, trình độ quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác cao nhất khả năng nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao SLSP

Máy móc thiết bị (machines): đó là khả năng về công nghệ , máy móc

thiết bị của tổ chức Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động

Nguyên vật liệu (materials): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ chức

đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức Nguồn vật tư, nguyên nhiên liệu được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số lượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao CLSP [1]

1.1.2 Quản lý chất lượng sản phẩm

1.1.2.1 Khái niệm về quản lý chất lượng sản phẩm

Theo TCVN 8402-1994 “Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống”

Trang 7

1.1.2.2 Các nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm

a Nguyên tắc thứ nhất là đ ịnh hướng bởi khách hàng: Hoạt động của

các doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần tìm hiểu những nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà còn vượt cao hơn những yêu cầu của họ

b Nguyên tắc thứ 2 là sự lãnh đạo: Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất

đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh nghiệp Lãnh đạo cần tạo ra

và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người thực hiện công việc để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp

c Nguyên tắc thứ 3 là sự tham gia của mọi người: Con người là nguồn

lực quan trọng nhất của một đơn vị và sự tham gia đầy đủ với những hiểu biết

và kinh nghiệm của họ tạo sự phát triển cho đơn vị

d Nguyên tắc thứ tư là q uan điểm quá trình: Kết quả cũng như chất

lượng sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được quản lý trong cả quá trình thực hiện

e Nguyên tắc thứ 5 là tính hệ thống: Việc xác định và quản lý chất

lượng một cách hệ thống các quá trình thực hiện có liên quan lẫn nhau , đảm bảo mục tiêu chất lượng đề ra và đem lại hiệu quả cho đơn vị

f Nguyên tắc thứ 6 là cải tiến liên tục: Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng

thời cũng là phương hướng phát tr iển của mọi doanh nghiệp Muốn có khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao, doanh nghiệp cần phải liên tục cải tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm

g Nguyên tắc thứ 7 là quyết định dựa trên sự kiện: Mọi quyết định và

hành động của hệ thống quản lý chất lượng và hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích đầy đủ thông tin và dữ liệu liên quan

h Nguyên tắc thứ 8 là quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng:

Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ tương

hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị

Trang 8

1.1.2.3 Các phương pháp quản lý chất lượng sản phẩm

a Kiểm tra chất lượng

Kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo đạc , thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác

định sự phù hợp của mỗi đặc tính Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được sản xuất một cách bị động Nói theo ngôn ngữ hiện nay thì chất lượng không được tạo dựng nên qua kiểm tra

Để khắc phục vấn đề trên, vào những năm 1920 người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình tạo ra sản phẩm, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm Cũng từ đó, khái niệm kiểm soát chất lượng được ra đời

b Kiểm soát chất lượng

Theo định nghĩa, kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng

Để kiểm soát chất lượng , người ta kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật Nói chung, kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố gồm : con người, phương pháp, quá trình thực hiện; đầu vào, thiết bị và môi trường

c Kiểm soát chất lượng toàn diện

Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hoá các nỗ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thoả mãn nhu cầu khách hàng

Kiểm soát chất lượng toàn diện trong xây dựng sẽ huy động nỗ lực của mọi đơn vị vào các quá trình có liên quan đến duy trì và cải tiến chất lượng , nâng cao năng suất lao động Điều này sẽ giúp tiết kiệm tối đa trong sản xuất , dịch vụ đồng thời thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng

Trang 9

d Quản lý chất lượng toàn diện

Quản lý chất lượng toàn diện được định nghĩa là phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của các thành viên của đơn vị và của xã hội

Mục tiêu của QLCL toàn diện là cải tiến CLSP và thỏa mãn khách hàng

là sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc lại với nhau

Theo Viện quản lý dự án Quốc tế PMI 2007: Quản lý dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực

1.2.2 Dự án đầu tư xây dựng công trình

1.2.2.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng công trình (XDCT)

- Dự án đầu tư có XDCT thì được gọi là dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) công trình

- Dự án đầu tư XDCT là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những CTXD nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao CLCT hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn

nhất định [1]

1.2.2.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình

Sản phẩm của dự án đầu tư XDCT thường mang tính đơn chiếc, được

Trang 10

xây dựng và sử dụng tại chỗ, vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng và thời gian

sử dụng lâu dài ; kích thước và khối lượng công trình lớn , cấu tạo phức tạp Dẫn đến, sản phẩm CTXD thường có tính biến động , chi phí sản xuất lớn và công tác thực hiện tiến hành ngoài trời nên phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên; ngoài ra, việc tổ chức quản lý thực hiện liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội từng thời kỳ nên tương đối phức tạp Do vậy, khi triển khai xây dựng đôi khi có tính rủi ro c ao, quá trình thực hiện thường phải điều chỉnh so với kế hoạch tiến độ ban đầu ; giá thành dự án thay đổi do biến động giá cả

Những đặc điểm của dự án đầu tư XDCT, cho thấy việc tạo ra sản phẩm công trình đảm bảo chất lượng có sự khác biệt so với việc sản xuất tạo ra sản phẩm của các ngành công nghiệp khác

1.2.2.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Khi nói đến quản lý dự án (QLDA) thì có rất nhiều nhà khoa học đưa ra các luận điểm về quản lý dự án

- Theo Luật Xây dựng: QLDA xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho công trình dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt, đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật, chất lượng; đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường (VSMT) bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép

- Theo Viện QLDA Quốc tế PMI 2007: QLDA chính là sự áp dụng các hiểu biết, khả năng, công cụ và kỹ thuật vào một tập hợp rộng lớn các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu của một dự án cụ thể

Tóm lại:

Quản lý dự án XDCT là tổ chức, điều hành phân phối các nguồn lực hợp

lý để đạt được mục tiêu đề ra, trong sự ràng buộc bởi điều kiện không gian, thời gian, quy mô kết cấu công trình và những quy định bắt buộc

Trang 11

Bản chất của quản lý DAĐT xây

Hình 1.2 Sơ đồ Quản lý DAĐT xây dựng

1.3 Công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.3.1 Các khái niệm liên quan

1.3.1.1 Công trình xây dựng

Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với nền đất, bao gồm phần trên và dưới mặt đất, phần trên và dưới mặt nước và được xây dựng theo thiết

kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình

công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác [1]

1.3.1.2 Chất lượng công trình xây dựng

Theo quan niệm hiện đại, CLCT xây dựng, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, CLCT xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo về thời gian phục vụ của công trình

Theo cách nhìn rộng hơn , CLCT xây dựng được hiểu không chỉ từ góc

độ bản thân sản phẩm xây dựng và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà bao gồm cả quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề l iên quan khác Một số vấn đề cơ bản liên quan đến CLCT xây dựng là:

- CLCT xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về XDCT, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ CLCT xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất

Trang 12

lượng dự án ĐTXD công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế

- CLCT tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu,

cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình

- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm , kiểm định nguyên vật liệu , cấu kiện, máy móc thiết bị đưa vào công trình mà

còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các HĐXD

- Chất lượng luôn gắn với vấn đề an toàn công trình An toàn không chỉ

là trong khâu khai thác sử dụng mà phải đảm bảo an toàn trong giai đoạn thi công xây dựng đối với bản thân công trình, với đội ngũ công nhân kỹ sư cùng các thiết bị xây dựng và khu vực công trình

- Tính thời gian trong xây dựng không chỉ thể hiện ở thời hạn hoàn thành toàn bộ công trình để đưa vào khai thác sử dụng mà còn thể hiện ở việc đáp ứng theo tiến độ quy định đối với từng hạng mục công trình

- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu

tư (CĐT) phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho cho các nhà đầu tư thực hiện các hoạt động dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng

Ngoài ra, CLCT xây dựng cần chú ý vấn đề môi trường không chỉ từ góc

độ tác động của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngược lại của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án

Tóm lại: CLCT xây dựng là đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong những điều

kiện nhất định Nó thể hiện sự phù hợp về quy hoạch, đạt được độ tin cậy

trong khâu thiết kế, thi công, vận hành theo tiêu chuẩn quy định, có tính xã hội, thẩm mỹ và hiệu quả đầu tư cao, thể hiện tính đồng bộ trong công trình, thời gian xây dựng đúng tiến độ

Trang 13

1.3.1.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng

Quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và thực hiện các yêu cầu, quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng Hoạt động quản lý CLCT xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của CĐT và các chủ thể khác

Nói cách khác: Quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng

Hình 1.3 Sơ đồ quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.3.2 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng theo giai đoạn dự án

Hoạt động xây dựng (HĐXD) bao gồm: lập quy hoạch xây dựng, lập dự

án ĐTXD công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế XDCT, thi công XDCT, giám sát thi công XDCT, quản lý dự án đầu tư XDCT, lựa chọn nhà thầu trong HĐXD và các hoạt động khác có liên quan đến XDCT

Quản lý CLCT xây dựng là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào

Trang 14

quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, các nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong công tác khảo sát , thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, khai thác và sử dụng công trình

Nếu xem xét ở một khía cạnh Hoạt động quản lý CLCT xây dựng, thì

chủ yếu là công tác giám sát của CĐT và các chủ thể khác Có thể gọi chung công tác giám sát là giám sát xây dựng Nội dung công tác giám sát và tự giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tuỳ theo nội dung của HĐXD Có thể tóm tắt nội dung hoạt động của các chủ thể giám sát trong các giai đoạn của

dự án xây dựng như sau:

- Trong giai đoạn khảo sát: ngoài sự giám sát của CĐT, nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát;

- Trong giai đoạn thiết kế: nhà thầu tư vấn thiết kế tự giám sát sản phẩm thiết kế theo các quy định và chịu trách nhiệm trước CĐT và pháp luật về chất lượng thiết kế XDCT CĐT nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm

về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu;

- Trong giai đoạn thi công XDCT: có các hoạt động QLCL và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công XDCT và công tác nghiệm thu của CĐT; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế XDCT và ở một số dự án

có sự tham gia giám sát của cộng đồng;

- Trong giai đoạn bảo hành công trình CĐT, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý

sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng CTXD, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó;

Bên cạnh sự giám sát , tự giám sát của các chủ thể , quá trình triển khai XDCT còn có sự tham gia giám sát của nhân dân, của các cơ quan QLNN về CLCT xây dựng;

Tất cả các hoạt động giám sát nêu trên đều góp phần đảm bảo chất lượng của CTXD Kết quả của hoạt động giám sát được thể hiện thông qua hồ sơ QLCL, bao gồm các văn bản phê duyệt, biên bản nghiệm thu và bản vẽ hoàn công, nhật ký giám sát của CĐT, nhật ký thi công của nhà thầu, các thông báo, công văn trao đổi, văn bản thống nhất, Việc thực hiện các hoạt động giám sát chất lượng, lập và lưu trữ hồ sơ QLCL được gọi chung là công tác QLCL

Trang 15

Hình 1.4 Sơ đồ hoạt động quản lý CLCT xây dựng theo vòng đời dự án [8]

1.3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng công trình xây dựng

Việc đánh giá CLCT xây dựng còn nhiều ý kiến khác nhau Cho đến nay, vẫn chưa có tổ chức nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về các hệ thống đánh giá cũng như các tiêu chí đánh giá CLCT xây dựng Tuy nhiên, xuất phát từ các cơ sở lý luận, thực tiễn xây dựng và hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, bước đầu có thể đánh giá quản lý CLCT xây dựng như sau:

Thứ nhất, cần xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng

Hệ thống này cần quy định rõ phương pháp đo lường và đánh giá chấ t lượng của một CTXD dựa trên các tiêu chuẩn được chấp thuận có liên quan

Nó cho phép đánh giá chất lượng và so sánh khách quan chất lượng của công trình này so với công trình khác thông qua một hệ thống tính điểm

Thứ hai, xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng với các mục tiêu sau:

Xây dựng được điểm chuẩn về chất lượng đánh giá năng lực (bao gồm kinh nghiệm, năng lực thiết bị , nhân lực, tài chính…) nhà thầu thi công xây dựng Thiết lập hệ thống đánh giá chất lượng tiêu chuẩn về năng lự c nhà thầu thi công xây dựng Đánh giá chất lượng của một dự án xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn có liên quan được chấp thuận Đưa ra tiêu chí để đánh giá năng lực

Trang 16

của các nhà thầu tham gia trong lĩnh vực xây dựng và tạo cơ sở dữ liệu để phục

vụ công tác phân tích thống kê

Thứ ba, hệ thống đánh giá chất lượng phải bao gồm các nội dung sau:

 Đánh giá năng lực của nhà thầu tham gia xây dựng: Hệ thống đánh giá chất lượng (HTĐGCL) đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng năng lực nhà thầu đối với các bộ phận khác nhau của CTXD và đối với công trình có tính chất khác nhau Chất lượng năng lực của nhà thầu thi công xây dựng được đánh giá theo yêu cầu của tiêu chuẩn có liên quan , và các tiêu chí được công nhận nếu năng lực của nhà thầu tuân thủ tiêu chuẩn Những tiêu chí này được đánh giá trên cơ sở tính điểm theo HTĐGCL (có thể theo %) đối với dự án XDCT

có nhiệm vụ và quy mô cụ thể HTĐGCL đánh giá được thực hiện thông qua kiểm tra hiện trường và sử dụng các kết quả kiểm tra Việc đánh giá năng lực nhà thầu theo cách này nhằm khuyến khích các nhà thầu thi công xây dựng làm tốt mọi công việc ngay từ khâu chuẩn bị và trong cả quá trình thực hiện;

 Việc đánh giá của HTĐGCL một dự án xây dựng được thực hiện dựa

trên kết quả kiểm tra - đánh giá độc lập các giai đoạn khảo sát , thiết kế, thi công, giám sát, kiểm định, quản lý dự án…Mọi công tác đánh giá phải thực hiện theo yêu cầu của tổ chức đánh giá, tổ chức này được cơ quan QLNN về CLCT xây dựng đào tạo Tổ chức thực hiện đánh giá phải đăng ký với cơ quan QLNN về CLCT xây dựng mới đủ điều kiện để đánh giá chất lượng CTXD theo HTĐGCL;

 Phương pháp đánh giá và quy trình chọn mẫu để đánh giá : Trước khi tiến hành đánh giá bộ phận công trình hay dự án cần xá c định phương pháp đánh giá thông qua việc lấy mẫu và sử dụng phương pháp thống kê Những mẫu được lấy đảm bảo tính khách quan trong suốt quá trình thực hiện dự án hay trong các giai đoạn xây dựng khác nhau Tất cả các vị trí kiểm tra phải thuận tiện cho việc đánh giá và các mẫu được lựa chọn phải bảo đảm mang tính đại diện cho toàn bộ công trình và phải được phân tích đánh giá theo các tiêu chuẩn quy định hiện hành;

Trang 17

 Việc đánh giá phải thực hiện theo quy trình và dựa vào tiêu chuẩn của HTĐGCL Tiêu chuẩn này xác định các yêu cầu về chất lượng năng lực và thủ tục đánh giá chất lượng các CTXD

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng

Cũng như các lĩnh vực khác của sản xuất và kinh doanh, chất lượng CTXD và công tác QLCL có nhiều nhân tố ảnh hưởng Tuy nhiên, Luận văn chỉ xem xét các nhân tố này theo các nhóm yếu tố chủ quan và khách quan

1.4.1 Ảnh hưởng theo nhóm yếu tố chủ quan

Trước hết phải kể đến nhà thầu thi công xây dựng - người biến sản phẩm CTXD từ bản vẽ thành hiện thực Do vậy nhà thầu thi công đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý CLCT xây dựng Nếu lực lượng này không nắm vững kỹ năng QLCL, không ý thức được tầm quan trọng của công tác quản lý CLCT xây dựng, chỉ chạy theo lợi nhuận và thành tích thì sẽ rất dễ gây ảnh hưởng không tốt tới CLCT về lâu dài là thương hiệu

và phát trát triển của nhà thầu;

Tiếp theo là CĐT và chủ quản lý sử dụng công trình, những người có trách nhiệm rất lớn đến CLCT, những đối tượng này cần phải nắm vững quy định về QLCL, lựa chọn các nhà thầu đủ năng lực và quản lý, giám sát chặt chẽ để đảm bảo sản phẩm do mình đầu tư, quản lý đạt chất lượng tốt;

Sau đó là các nhà thầu khảo sát, thiết kế, giám sát, thí nghiệm, kiểm định, cũng là những đối tượng có tác động không nhỏ đến CLCT;

Ngoài yếu tố con người, chất lượng nguyên vật liệu cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến CLCT, bởi nguyên vật liệu là một bộ phận cấu thành nên CTXD, nhưng với tình trạng hiện nay luôn có những vật liệu kém chất lượng lưu thông song hành với vật liệu tốt trên thị trường Nếu không quản lý tốt, cứ đưa nó vào sử dụng thì sẽ là nguy cơ lớn ảnh hưởng đến CLCT Công tác quản lý vật liệu ở đây phải thực hiện từ khâu lựa chọn vật liệu đến khâu thí nghiệm, kiểm định, bảo quản, sử dụng vật liệu;

Một yếu tố nữa có ảnh hưởng đến CLCT là các quy định quản lý, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Các văn bản quy phạm pháp luật này nếu thực

Trang 18

sự khoa học, hợp lý, phù hợp với thực tế sản xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng CTXD Ngược lại sẽ cản trở sản xuất và ảnh hưởng đến CLCT trên bình diện toàn quốc

1.4.2 Ảnh hưởng theo nhóm yếu tố khách quan

Ta có thể thấy thời tiết khắc nghiệt (mưa, nắng, gió, bão, …) cũng có ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thi công công trình; điều kiện địa chất phức tạp đôi khi cũng ảnh hưởng đến chất lượng thi công, đặc biệt là các hạng mục nền, móng công trình

Ví dụ 1: Công trình cầu Thanh Trì, khi thi công cọc khoan nhồi đã

không đạt yêu cầu chịu tải do điều kiện địa chất bất lợi, dẫn đến phải bổ sung cọc, gây chậm tiến độ

Ví dụ 2: Đáy hố móng đập công trình Cửa Đạt (Thanh Hoá) với cao

trình thiết kế (+1,00) Khi mở móng ra, qua khảo sát, đánh giá và ý kiến tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước thấy địa chất nền tốt hơn so với thiết kế nên đã quyết định nâng cao trình hố móng lên + 15,00, tuy giảm được chi phí, nhưng mất thời gian xử lý, gây chậm tiến độ công trình

1.5 Vai trò và ý nghĩa của quản lý chất lượng công trình xây dựng

1.5.1 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng

Công tác quản lý CLCT xây dựng có vai trò to lớn đối với nhà nước, CĐT,

nhà thầu và các doanh nghiệp xây dựng nói chung, cụ thể như:

a Đối với Nhà nước: Công tác QLCL tại các CTXD được đảm bảo sẽ tạo được sự ổn định trong xã hội, tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực xây dựng, hạn chế được những rủi ro, thiệt hại cho những người sử dụng CTXD nói riêng và cộng đồng nói chung

b Đối với chủ đầu tư: Đảm bảo và nâng cao CLCT sẽ thoả mãn được các yêu cầu của CĐT, tiết kiệm được vốn cho Nhà nước hay nhà đầu tư và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội Ngoài ra, đảm bảo và nâng cao chất lượng tạo lòng tin, sự ủng hộ của các tổ chức xã hội và người hưởng lợi đối với CĐT, góp phần phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài

Trang 19

c Đối với nhà thầu: Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng CTXD sẽ tiết kiệm nguyên vật liệu , nhân công, máy móc thiết bị , tăng năng suất lao động Nâng cao CLCT xây dựng có ý nghĩa quan trọng tới nâng cao đời sống người lao động, thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ đ ối với nhà thầu CLCT xây dựng gắn với an toàn của thiết bị và nhân công nhà thầu trong quá trình xây dựng Ngoài ra, CLCT đảm bảo cho việc duy trì và nâng cao thương hiệu cũng như phát triển bền vững của nhà thầu

1.5.2 Ý nghĩa của việc quản lý chất lượng công trình xây dựng

Quản lý CLCT xây dựng là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức quan tâm Nếu công tác quản lý CLCT xây dựng thực hiện tốt sẽ không xảy ra sự cố, tuổi thọ công trình đáp ứng thời gian quy định trong hồ sơ thiết kế, phát huy hiệu quả dự án, đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ theo q uyết định phê duyệt Do vậy, việc nâng cao công tác quản lý CLCT xây dựng không chỉ

là nâng cao CLCT mà còn góp phần chủ động phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng Theo thực tế, ở đâu tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước về quản lý CLCT thì ở đó CLCT tốt và hạn chế được tiêu cực trong xây dựng CTXD khác với sản phẩm hàng hoá thông thường khác vì CTXD có phạm vi ảnh h ưởng tương đối rộng, được thực hiện trong một thời gian dài , do nhiều người tham gia, gồm nhiều vật liệu tạo nên thường xuyên chịu tác động bất lợi của thời tiết và điều kiện tự nhiên Cũng vì đặc điểm đó, việc nâng cao công tác quản lý CLCT xây dựng là rất cần thiết, bởi nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về người và của, tác động xấu đến môi trường vùng hưởng lợi, đồng thời cũng rất khó khắc phục hậu quả

Nâng cao công tác quản lý CLCT xây dựng là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con người Mỗi công trình được xây dựng có CLCT bảo đảm , tránh được xảy ra những sự cố đáng tiếc thì sẽ tiết kiệm được đáng kể cho ngân sách quốc gia Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư cho phát triển kinh

tế xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân , hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo

Trang 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với những quan điểm và lý luận thực tiễn về chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm cũng như chất lượng công trình và quản lý chất lượng công trình của dự án đầu tư xây dựng Cho ta thấy được đặc điểm, nội dung hoạt động và phương thức đánh giá chất lượng, yêu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng trong quá trình tạo ra một công trình xây dựng đảm bảo yêu cầu chất lượng, đáp ứng thẩm mỹ và hiệu quả đầu tư theo

các giai đoạn của dự án

Quản lý chất lượng công trình trong hoạt động xây dựng có vai trò , ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình, chủ động phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng, ngăn

chặn được các sự cố đáng tiếc xảy ra, tạo nên sự ổn định an sinh chính trị đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Đất nước

Ở Nước ta, trong những năm vừa qua cùng với sự hội nhập kinh tế , lĩnh vực đầu tư xây dựng c ông trình đã có những bước phát triển mạnh mẽ , công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ngày càng được quan tâm và hoàn thiện hơn; tuy nhiên vẫn còn những tồn tại nhất định Trong chương 2 của Luận văn, tác giả sẽ nêu và p hân tích hiện trạng công tác quản lý chất lượng công trình để thấy được những việc đã làm được và các vấn đề cần khắc phục trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình, làm cơ sở đưa ra những đề xuất cho vấn đề nghiên cứu

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝCHẤT LƯỢNG

CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM 2.1 Các văn bản liên quan đến quản lý chất lượng xây dựng

Quản lý CLCT xây dựng được thực hiện bằng các văn bản quy phạm, pháp luật của Nhà nước Trong thời gian qua, các văn bản quy phạm này đã đổi mới theo sự phát triển của nền kinh tế đất nước và hướng tới tiệm cận với thông lệ, tập quán Khu vực và Quốc tế Nội dung đó đã thể hiện tính pháp lý ngày càng rõ ràng hơn, trách nhiệm của chủ thể các ngành, các cấp đã phân định

rõ hơn; đặc biệt, đã tách dần chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh ra khỏi chức năng QLNN về CLCT xây dựng Chính quyền không can thiệp trực tiếp

mà gián tiếp thông qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày giữa người đặt hàng (Chủ đầu tư) và người bán hàng (Nhà thầu) để làm ra sản phẩm xây dựng - một loại sản phẩm đặc thù có tính đơn chiếc, thể hiện

cụ thể như sau:

- Bản chất của QLNN về CLCT xây dựng mang tính vĩ mô, định hướng,

hỗ trợ và cưỡng chế của cơ quan công quyền Các cơ quan QLNN chịu trách nhiệm về tình hình CLCT xây dựng trên địa bàn được phân cấp quản lý chứ không phải là chất lượng cụ thể của từng công trình

- Nội dung QLNN về CLCT xây dựng là tổ chức xây dựng văn bản pháp luật để tạo hành lang pháp lý, điều chỉnh hành vi và mối quan hệ của các chủ thể tham gia HĐXD nghiên cứu, soạn thảo và ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm đưa ra các tiêu chí chuẩn mực để làm ra sản phẩm xây dựng và đánh giá CLSP cần đạt được, từ đó hướng tới việc hoàn thành công trình có chất lượng cao thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Sau khi đã tạo được môi trường pháp lý và kỹ thuật, Nhà nước phải tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, cưỡng chế các chủ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về công tác bảo đảm CLCT xây dựng, nhằm không chỉ bảo vệ lợi ích của CĐT, của các chủ thể khác mà cao hơn là lợi ích của cả cộng đồng

Trang 22

Tóm lại: Cơ sở để quản lý CLCT xây dựng là những văn bản của Nhà

nước, tiêu chuẩn của ngành, quy chuẩn Quốc gia và tiêu chuẩn cho công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt Hồ sơ lập thiết kế công trình với quyết định phê duyệt là những căn cứ để thực hiện quản lý CLCT xây dựng Các văn bản đó luôn luôn được bổ sung, cập nhật các tiến bộ xã hội và phát triển của khoa học để làm công cụ cho pháp luật về HĐXD

Ví dụ 1: Về phân loại, phân cấp CTXD

Theo quy định tại Nghị định số 49/NĐ-CP về phân loại, phân cấp công trình, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 33/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia - Phân loại, phân cấp CTXD dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị; tuy nhiên, vẫn còn thiếu về phân loại và cấp công trình giao thông, thủy lợi và các công trình nông nghiệp khác, nên sắp tới Nhà nước sẽ cho sửa đổi, bổ sung

Ví dụ 2: Về công tác QLCL khảo sát xây dựng, thiết kế và thi công

XDCT xây dựng

Theo quy định tại Nghị định 209/NĐ-CP và 49/NĐ-CP của Chính phủ chưa nêu rõ trách nhiệm quản lý của CĐT và các nhà thầu tham gia XDCT Nghị định số 209/NĐ-CP cũng không đề cập hệ thống QLCL và công tác QLCL của nhà thầu giám sát thi công xây dựng khi được CĐT thuê, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 27/2009/TT-BXD đã nêu rõ những công việc trên nhưng vì là văn bản quy phạm pháp luật, nên tính pháp lý không mạnh như Nghị định nên sắp tới Nhà nước đang nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị định 209/NĐ-CP và 49/NĐ-CP

Qua các thời kỳ việc hình thành, phát triển và đổi mới, các văn bản QLNN về CLCT xây dựng ở Nước ta, có thể thống kê được như sau:

 T rước khi có Luật Xây dựng: Văn bản đầu tiên về quản lý HĐXD

là Nghị định số 232/NĐ-CP ngày 06/6/1981, tiếp đó là Nghị định HĐBT ngày 07/8/1990 sửa đối bổ sung thay thế Nghị định số 232/CP ngày 06/6/1981; Nghị định 177/CP ngày 20/10/1994 về quản lý dự án đầu tư”; Nghị định 42/NĐ-CP ngày 16/7/1996 Sau sửa thành Nghị định 52/1999/NĐ-

Trang 23

385/NĐ-CP ngày 08/7/1999 “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” đã cải cách hành chính và phân rõ quản lý nguồn vốn, điều chỉnh vị thế của CĐT

 K hi có Luật xây dựng: Sự kiện quan trọng nhất trong tiến trình pháp

chế hóa HĐXD của Nước ta là, tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XI ngày 26/11/2003 ban hành Luật xây dựng số 16/2003/QH11; đến ngày 19/6/2009 Quốc hội thứ XII ban hành Luật số 38/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan đến ĐTXD cơ bản Sau đó là các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn (Nghị định, thông tư, các quyết định ), nội dung đã khá đầy đủ và chi tiết, cụ thể như sau:

- Nghị định của Chính phủ: số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 về quản lý

dự án đầu tư XDCT; số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004, số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 về quản lý CLCT xây dựng; số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/02/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong HĐXD;

- Thông tư của Bộ Xây dựng: số 03/2009/TT-BXD ngày 26/3/2009 quy định về QLDA đầu tư XDCT; số 27/2009/TT-BXD ngày 31/7/2009 hướng dẫn một số nội dung về quản lý CLCT xây dựng; số 22/2009/TT-BXD ngày 06/7/2009 quy định về điều kiện năng lực trong HĐXD; số 22/2010/TT-BXD ngày 03/12/2010 quy định an oàn lao đông (ATLĐ) trong thi công xây dựng;

số 03/2011/TT-BXD ngày 06/4/2011 hướng dẫn hoạt động kiểm định, giám định và chứng nhận an toàn chịu lực, sự phù hợp về CLCT xây dựng;

Ngoài ra, đối với các Bộ, Ngành có chức năng quản lý đầu tư XDCT đã ban hành một số văn bản quản lý, như: Thông tư số 84/2011/TT-BNNPTNT ngày 12/12/2011 của Bộ NN&PTNT về quản lý dự án XDCT sử dụng nguồn vốn NSNN do Bộ quản lý; Quy chế tư vấn giám sát thi công XDCT trong ngành giao thông vận tải (GTVT) kèm theo Quyết định số 22/2008/QĐ-BGTVT ngày 20/10/2008 của Bộ GTVT…

Nhận xét chung: các văn bản trên đã quy định các nguyên tắc cơ bản,

quy định chi tiết việc quản lý , tổ chức thực quản lý CLCT hiện xây dựng của các tổ chức, cá nhân tham gia, đồng thời xác định và phân định rõ trách nhiệm các chủ thể tham gia hoạt động liên quan đến CLCT xây dựng, gồm cơ quan QLNN, Chủ đầu tư và nhà thầu trong HĐXD

Trang 24

- Đối với quản lý nhà nước: thông qua công cụ pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Quốc gia và lợi ích cộng đồng và thực hiện trách nhiệm QLNN về CLCT xây dựng, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể; trong đó chứ năng

QLNN được Thủ tướng Chính phủ quy định rõ “Bộ Xây dựng thống nhất QLNN về CLCT xây dựng trong phạm vi cả nước; Các Bộ có quản lý CTXD chuyên ngành phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc QLCL các CTXD chuyên ngành; UBND cấp tỉnh theo phân cấp có trách nhiệm QLNN về CLCT xây dựng trong phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý”

- Đối với Chủ đầu tư: với tư cách là người quản lý khách hàng, nên phải

có bộ phận có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại và cấp công trình tiến hành công việc giám sát quá trình làm ra sản phẩm của các nhà thầu, đánh giá CLSP do các nhà thầu cung cấp giúp CĐT thử nghiệm sản phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả;

- Đối với các nhà thầu HĐXD: là người làm ra các sản phẩm, như khảo sát, thiết kế, thi công, cung ứng phải tổ chức tự kiểm tra CLSP mình làm ra

và cam kết chất lượng trước khi bàn giao cho khách hàng

Mô hình tổng quát QLNN về CLCT và quá trình tạo ra sản phẩm CTXD đảm bảo

chất lượng theo quy định của Nhà nước, thể hiện như sơ đồ Hình 2.1 và Hình 2.2

Hình 2.1 Sơ đồ Quản lý NN về CLCT

xây dựng ở Nước ta

Hình 2.2 Sơ đồ tạo ra CTXD đảm bảo chất lượng

Trang 25

2.2 Thực trạng về công trình và quản lý chất lượng công trình xây dựng

ở Việt Nam

2.2.1 Giới thiệu

Từ khi Đảng, Nhà nước ta thực hiện đường lối đổi mới, ngành xây dựng

đã có nhiều cơ hội để phát triển, các lực lượng quản lý và các đơn vị trực tiếp tham gia hoạt động trong lĩnh vực xây dựng không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, làm chủ được công nghệ thiết kế, công nghệ thi công, xây dựng được những công trình quy mô lớn, phức tạp mà hầu hết trước đây phải thuê các tổ chức chuyên gia nước ngoài Kết quả hoạt động đó đã thể hiện như sau:

Về cơ chế, chính sách pháp luật có liên quan

Hệ thống các văn bản pháp lý về quản lý CLCT đến nay đã cơ bản hoàn thiện, đầy đủ để tổ chức quản lý, kiểm soát xây dựng, đã tách bạch, phân định

rõ trách nhiệm đối với việc đảm bảo CLCT giữa cơ quan QLNN ở các cấp, CĐT và các nhà thầu tham gia Điều kiện năng lực của các chủ thể tham gia HĐXD; nội dung, trình tự, trong công tác QLCL cũng được quy định cụ thể, làm cơ sở cho công tác kiểm tra của cơ quan quản lý ở các cấp, tạo hành lang pháp lý tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN về CLCT xây dựng

Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cũng được hoàn thiện, tuy chưa thật hoàn chỉnh nhưng đã tạo nên khung pháp lý về QLCL, giúp cho các chủ thể tham gia thực hiện công việc một cách khoa học và thống nhất góp phần đảm bảo và nâng cao CLCT xây dựng

Công tác quản lý chất lượng dần hoàn thiện

Công tác QLCL từ Trung ương đến các bộ, ngành và các địa phương đã được xây dựng và đang tiếp tục hoàn thiện Tại phần lớn các tỉnh, thành phố

đã thành lập các Phòng Quản lý CLCT xây dựng - đầu mối quản lý CLCT trên địa bàn Trung tâm Kiểm định chất lượng xây dựng trực thuộc các sở Xây dựng cũng được hình thành, phát triển, hoạt động ngày một hiệu quả, đúng vai trò là công cụ đắc lực cho các cơ quan QLNN về quản lý CLCT trên phạm vi cả nước:

- Với công tác thiết kế : Lực lượng này đang được Nhà nước chú ý đ ặc

Trang 26

biệt đó có thể thể hiện bằng cơ chế khuyến khích, thi tuyển, hoặc bằng cách tăng định mức chi phí cho công tác lập dự án Công tác thi tuyển phương án thiết kế cơ sở đã góp phần phát huy tính sáng tạo của các đơn vị tư vấn , cho phép chủ đầu tư lựa chọn phương án tối ưu về kinh tế v à kỹ thuật , nâng cao chất lượng và hiệu quả dự án cũng như chọn được tư vấn thiết kế có đủ năng lực trong quá trình thực hiện;

- Hồ sơ mời thầu được ban hành theo mẫu , trong đó đã nêu rõ các tiêu chuẩn áp dụng, yêu cầu cam kết huy động đầy đủ thiết bị, vật tư, nhân sự phải đáp ứng về số lượng, trình độ năng lực, kinh nghiệm Đây là những yếu tố quan trọng quyết định đến CLCT trong quá trình nhà thầu thi công;

- Công tác lựa chọn nhà thầu thực hiện các hạng mục như: khảo sát, thiết

kế, thi công, kiểm định chất lượng và chứng nhận sự phù hợp của công trình

đã tuân thủ các quy định của Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và Nghị định số 85/2009/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và Lựa

chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng;

- Trong quá trình thi công, chủ đầu tư, TVGS thường xuyên kiểm tra đ ối chiếu các đề xuất kỹ thuật trong hồ sơ dự thầu với quá trình triển khai, về biện pháp tổ chức thi công, tiến độ thi công, kiểm tra sự phù hợp về huy động nhân

sự, máy móc giữa thực tế hiện trường và với hồ sơ dự thầu, đề xuất giải pháp xử

lý kịp thời đối các Nhà thầu vi phạm về QLCL và năng l ực theo qui định hợp đồng;

- CLCT xây dựng phụ thuộc nhiều vào chất lượng của vật liệu xây dựng, QLCL vật liệu trong thi công xây dựng là một trong các công tác chính của công tác quản lý CLCT xây dựng Nội dung này đã được qui định cụ thể trong

Luật Xây dựng và Nghị định số 209/2004/NĐ-CP, từ khi đưa vật liệu vào công trình nhà thầu phải cung cấp cho chủ đầu tư: xuất xứ, chứng chỉ, chứng

nhận chất lượng vật tư, vật liệu và thiết bị lắp đặt vào công trình của nhà sản

xuất, kết quả thí nghiệm của các phòng thí nghiệm hợp chuẩn;

- CLCT không chỉ được quan tâm ở giai đoạn thiết kế , thi công mà đã quan tâm ở giai đoạn bảo hành, bảo trì Theo qui định, trong các giai đoạn này

Trang 27

CĐT, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện kịp thời hư hỏng để yêu cầu nhà thầu sửa chữa, thay thế và tổ chức giám sát, nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa;

- Ngoài việc tự giám sát chất lượng công trình của nhà thầu , của chủ đầu tư và TVGS, ở hầu hết dự án còn có giám sát của nhân dân về CLCT xây

dựng Qua đó có thể thấy rõ là công tác QLCL xây dựng công trình đư ợc xã hội coi trọng, quan tâm và dần mang tính xã hội hóa

 Chất lượng công trình xây dựng được nâng cao

Chúng ta đã thiết kế, thi công nhiều công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp như: Hầm qua Đèo Ngang, hầm Hải Vân, cầu Bãi cháy, cầu Mỹ Thuận, Công trình OPERA VIEW ARTEX (thành phố Hồ Chí Minh), toà nhà Trung tâm hội nghị Quốc gia, hồ chứa nước Đình Bình, công trình thủy lợi Cửa Đạt, hồ chứa nước Ka La (Lâm Đồng), hồ chức nước Tràng Vinh, thuỷ điện A Vương, thuỷ điện Sơn La và các đô thị mới hiện đại đã và đang mọc lên bằng chính bàn tay, khối óc con người Việt Nam Các công trình đang từng bước phục vụ đời sống của nhân dân, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng cường năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế

Thành quả hoạt động ĐTXD trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá của Đất nước, đã được Hội đồng giám khảo các bộ: Xây dựng, Giao thông vận tải, Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học

và công nghệ lựa chọn và vinh danh được 65 công trình tiêu biểu đạt danh

hiệu “Cúp vàng Chất lượng xây dựng Việt Nam” , bao gồm công trình xây

dựng, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, công nghiệp xây dựng trong 10 năm

trở lại đây, với quy mô từ cấp III trở lên; được nghiệm thu, đưa vào sử dụng đạt chất lượng cao, đảm bảo tiến độ thi công, đáp ứng các yêu cầu của thiết kế

về an toàn, công năng sử dụng; công trình phải mang tính tiêu biểu; trong quá trình sử dụng không có dấu hiệu xuống cấp Đã khuyến khích, động viên các chủ đầu tư, các nhà thầu, thiết kế, thi công, giám sát, tăng cường kiểm soát và nâng cao CLCT nhằm tôn vinh chất lượng các CTXD Việt Nam, đặc biệt công tác quản lý CLCT xây dựng trong thời gian tới

Trang 28

Dưới đây là hình ảnh một số CTXD tiêu biểu của các bộ, ngành Trung ương và

địa phương triển khai xây dựng trong thời gian qua

Hình 2.1 Ảnh công trình OPERA VIEW ARTEX (Thành phố Hồ Chí Minh), gồm

8 tầng cao và 2 tầng hầm được thiết kế theo phong cách cổ điển của Pháp

Hình 2.2 Ảnh Trung tâm Hội nghị Quốc gia là tổ hợp công trình đa năng

lớn nhất tại Thủ đô Hà Nội

Trang 29

Hình 2.3 Ảnh cầu Mỹ Thuận trên Quốc lộ 1A, là trục giao thông nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long, cách TP Hồ Chí Minh 125km về hướng Tây Nam

Hình 2.4 Ảnh cầu Bãi Cháy nằm trên quốc lộ 18 nối Hòn Gai với Bãi Cháy qua eo Cửa

Lục, ngăn cách Vịnh Cừa Lục với Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 30

Hình 2.5 Ảnh hồ chứa nước Định Bình (Bình Định), có dung tích 14.5 triệu m 3

, công trình có quy mô lớn, kết hợp thuỷ lợi và thuỷ điện

Hình 2.6 Ảnh h ồ Ka La (Lâm Đồng)

dung tích khoảng 19 triệu m 3

Hình 2.7 Ảnh hồ Tràng Vinh (Quảng Ninh) dung tích 75 triệu m 3

Trang 31

Hình 2.8 Ảnh công trình thủy điện A Vương, với công suất phát điện

tư, đến hoàn thiện bàn giao công trình đưa vào khai thác sử dụng đươc thực hiện tốt

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích nổi bật mà hoạt động xây dựng đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, thiếu sót cần phải được xem xét, uốn nắn và quản lý chặt chẽ hơn để trong tương lai chúng ta xây dựng đượcnhững công trình không còn tình trạng bị lãng phí về kinh phí đầu tư, tránh được sự

cố công trình, tăng được tuổi thọ công trình Vấn đề này cần được quan tâm, phân tích và mổ xẻ nhiều hơn

Luận văn, tập trung nghiên cứu phân tích, đánh giá một số vấn đề thực trạng về quản lý CLCT xây dựng để xác định nguyên nhân dẫn tới suy giảm

về CLCT xây dựng theo các giai đoạn của dự án

Trang 32

2.2.2 C ông tác quản lý chất lượng công trình xây dựng theo các giai đoạn dự án

2.2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư (lập và thẩm định DAĐT xây dựng)

Công tác lập và thẩm định dự án của các bộ, ngành Trung ương và địa phương cho đến nay đã đóng góp không nhỏ vào thành tích chung của lĩnh vực XDCT, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, vẫn đang còn nhiều vấn đề tốn tại, gây ảnh hưởng tới không tốt tới CLCT Dưới đây là một số tình huống minh họa để thấy rõ vấn đề như sau:

a Việc lập chủ trương đầu tư mang tính hình thức

Nội dung Báo cáo đầu tư XDCT (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) là hồ

sơ xin “chủ trương” đầu tư XDCT để cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư, được quy định tại Khoản 2, Điều 5, Nghị định 12/2009/NĐ-CP; tuy nhiên, trên thực tế một số CĐT ít quan tâm đến việc lập và chỉ xem như là thủ tục hành chính

Ví dụ: Có dự án trọng điểm Quốc gia về công trình giao thông, chỉ trong

thời gian ngắn mà tổng mức đầu tư đã thay đổi liên tục từ 38 tỷ USD đến 55

tỷ rối đến 56 tỷ USD (tương đương với 1.230.000 tỷ VNĐ) mà có ý kiến cho rằng ”điều chỉnh dự án là chuyện rất bình thường”

b Quyết định đầu tư sai mục đích

Các chuyên gia kinh tế cho rằng: lãng phí ở khâu quyết định đầu tư sai trên cơ sơ phân tích không chính xác hiệu quả kinh tế - kỹ thuật - xã hội chiếm khoảng 60 -70% so với tổng số chi phí lãng phí, thất thoát

Ví dụ: Một số bài học được một số thông tin đã nêu về việc quyết định

đầu tư không hợp lý như nhà máy sản xuất bột giấy Kon Tum, chợ đầu mối Đền Lừ hơn 10 tỷ đồng, chợ đầu mối Xuân Đỉnh, chợ đầu mối Hải Bối xây dựng hơn 13 tỷ đồng, chợ xe máy Quảng An hơn 6 tỉ đồng

c Công trình xây dựng không phù hợp với quy hoạch

Thực tế cho thấy, việc quyết định đầu tư không hợp lý thường xuất phát

ở khâu quy hoạch Một khi không có được sự phù hợp về mặt quy hoạch thì công năng của công trình không thể đáp ứng được yêu cầu khai thác sử dụng

Trang 33

Ví dụ 1: Dự án công trình thủy lợi La Ngà 3, theo quy hoạch của Bộ

Nông nghiệp và PTNT tại lưu vực sông này sẽ xây dựng hồ La Ngà 3 để giải quyết cấp nước tưới, nhưng theo quy hoạch về lưới điện 5 lại cho xây dựng nhà máy thủy điện La Ngâu phía thượng lưu so với vị trí dự kiến xây dựng CTTL của Bộ NN&PTNT Vậy nếu ta xây dựng hồ thủy lợi thì Thủy điện sẽ

nằm trong lòng hồ thủy lợi

Ví dụ 2: Như đường ô tô hoặc nút giao, nếu không dự kiến đúng được

tốc độ phát triển kinh tế - xã hội chỉ sau một thời gian ngắn đưa vào sử dụng

dễ xảy ra hiện tượng quá tải hoặc không còn hiệu quả sử dụng

d Lựa chọn hình thức quản lý, quy mô đầu tư

- Khi phê duyệt DADT xây dựng, người quyết định đầu tư phải quyết định hình thức, quy mô đầu tư và phương thức quản lý dự án Sự đúng đắn của quyết định về vấn đề này có ảnh hưởng không nhỏ tới CLCT xây dựng

Ví dụ: Một số khu chung cư tái định cư không đồng bộ, xây dựng nhà

trước trong khi đường giao thông và hệ thống kỹ thuật hạ tầng không được hoàn thiện vì các hạng mục công trình này lại nằm trong dự án khác

- Về phương thức quản lý dự án: có nhiều cách quản lý như CĐT tự quản

lý hoặc uỷ quyền cho Ban QLDA hay thuê tư vấn quản lý dự án Vấn đề là

làm sao chủ thể được giao QLDA phải đảm bảo đủ năng lực và trình độ theo yêu cầu Trong thực tế, đối với các công trình được đầu tư bằng vốn NSNN,

có nhiều chủ thể được giao QLDA nhưng không đủ năng lực, dẫn tới hậu quả

là CLCT bị suy giảm do các tác nghiệp sai của người được giao nhiệm vụ quản lý thực hiện dự án

2.2.2.2 Giai đoạn chuẩn bị thực hiện (công tác khảo sát, thiết kế XDCT)

Nội dung công tác khảo sát xây dựng, thiết kế XDCT được xem xét ở đây bao gồm từ thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật cho tới thiết kế thi công, kèm theo đó là các công việc khảo sát xây dựng tương ứng các bước thiết kế ở giai đoạn này nội dung đó tác động tới chất lượng công trình trực tiếp và rõ nét hơn rất nhiều so với gia đoạn trước

Trang 34

a Về chất lượng khảo sát xây dựng

Khảo sát là nhằm mục đích xác định các thông số kỹ thuật đầu vào liên quan tới điều kiện tự nhiên của môi trường và của công trình phục vụ thiết kế Tuy nhiên, thời gian qua có rất nhiều trường hợp số liệu khảo sát chưa phát hiện hoặc phát hiện không đầy đủ quy luật phân bố địa tầng, đặc biệt các nền đất yếu hoặc các đới yếu trong khu vực xây dựng, có thể dẫn tới sự mất ổn định của hệ địa kỹ thuật xây dựng;

Phân tích một số CTXD trong những năm vừa qua, cho thấy rằng Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, do khảo sát, thiết kế sơ sài, không chuẩn xác dẫn đến phải điều chỉnh, sửa đổi thiết kế, phải kéo dài thời gian thi công, cụ thể ở một số công trình sau:

Ví dụ 1: Trường hợp thiếu nhận biết được đầy đủ tính chất phức tạp của

địa tầng đá vôi bị castơ hoá tại nhà máy xi măng Tam Điệp và Hải Phòng, dẫn tới phải sửa đổi thiết kế móng cọc trong quá trình thi công làm chậm tiến độ công trình hoặc trường hợp thay đổi phương án tiêu năng tràn tả trạch mũi phun sang tiêu năng đáy

Ví dụ 2: Sự cố trượt mỏ đá ĐIII thuỷ điện Bản Vẽ đã gây tổn thất lớn về

sinh mạng con người và thiết bị, ảnh hưởng đến tiến độ XDCT, do khi lập thiết kế coi hạng mục này là công trình tạm cấp IV (Theo tiêu chuẩn TCXDVN-285:2002 công trình thuỷ lợi), nên thiếu sự quan tâm đúng mức, chưa đưa ra thông số phù hợp để thiết kế bờ mỏ ổn định, chưa dự báo quá trình trượt cũng như chỉ rõ cho người thiết kế mỏ nguy cơ có thể trượt, dẫn đến xảy ra sự cố đáng tiếc như trên

Ví dụ 3: Đối với công tác khảo sát , ở một số công trình đặt trên nền địa

chất phức tạp , nền đất yếu , khu vực đào đắp nhiều , chất lượng kết quả khảo sát hạn chế, dẫn đến phải thay đổi giải pháp thiết kế không phù hợp với thực

tế gây hiện tượng lún nứt nền, như dự án đường dẫn Cầu Cần Thơ, Đường cao tốc Tp Hồ Chí Minh - Trung Lương; lún đoạn đường phía Thủ Thiêm hay nứt đập ở dự án hồ chứa nước Khe Ngang tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 35

Một số trường hợp do kết quả khảo sát chưa sát với thực tế dẫn đến khi triển khai thi công phải thay đổi giải pháp thiết kế tràn Hồ chứa nước Tả Trạch hoặc phải thay kết cấu, hình thức đập khi đang thi công do trữ lượng và chất lượng các mỏ vật liệu đã khảo sát không đáp ứng yêu cầu thiết kế

b Về chất lượng thiết kế

Xét theo bước thiết kế ta có thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công Thực tế cho thấy các vấn đề bất cập liên quan tới thiết kế thường xảy ra đối với thiết kế cơ sở, thiết kế xử lý nền móng và các loại hình thiết kế khác trong một số tình huống nhất định

- Thiết kế cơ sở: thường được phản ảnh còn sơ sài, giải pháp XDCT thiếu phù hợp với điều kiện thực tế và đôi khi chưa đủ cơ sở để triển khai các bước thiết kế tiếp theo;

- Thiết kế xử lý nền móng: Các sai sót thường gặp trong loại hình thiết

kế này là mô hình hoá thiếu chính xác hoặc chưa đầy đủ loại hình tương tác giữa các thành phần trong hệ địa kỹ thuật xây dựng, dự báo không chính xác quy mô và độ lớn các tương tác trong mô hình tính toán

V í dụ 1: Do chưa dự báo chính xác được độ lún và tốc độ lún của đất

nền ở công trình Kho cảng Thị Vải dẫn đến việc xử lý rất tốn kém, phát sinh 50% giá trị công trình hay trường hợp bỏ qua ma sát âm tác dụng lên cọc của công trình nhà máy sơn mạ tôn Hải Phòng,…

Ví dụ 2: Đối với công tác thiết kế: hồ sơ thiết kế một số hạng mục công

trình không phù hợp với điều kiện địa chất thực tế là nền đất yếu phải xử lý nhiều lần và chưa dứt điểm như thiết kế gia cố nền chưa phù hợp nên đã xẩy

ra sạt kè bờ sông Cảng Cái Mép Thị Vải

2.2.2.3 Giai đoạn thực hiện (công tác quản lý thi công XDCT)

Đối với công trình do các bộ, ngành Trung ương quản lý

Theo số liệu báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và kết quả kiểm tra của Hội đồng nghiệm thu Nhà nước đối với hơn 50 công trình cho thấy, hầu hết các công trình đã thực hiện công tác quản lý CLCT tương đối đầy đủ Các

Trang 36

nhà thầu đã có hệ thống QLCL để quản lý công việc của họ và thực hiện các công tác như: ghi nhật ký thi công, bản vẽ hoàn công, tự nghiệm thu đánh giá công việc thực hiện theo quy định Lực lượng tư vấn giám sát và cán bộ quản

lý của CĐT cơ bản đã được kiểm soát, đảm bảo điều kiện năng lực đáp ứng được yêu cầu công việc và thực hiện kiểm soát chất lượng theo đúng quy định của Nhà nước Tuy nhiên, ngay ở một số công t rình trọng điểm quốc gia vẫn xảy ra sự cố hay vấn đề kỹ thuật phát sinh như : sập dầm cầu đường dẫn - Cầu Cần Thơ (ngày 26/9/2007), vỡ một phần đập chính công trình Hồ chứa nước Cửa Đạt (ngày 4/10/2007), nứt bê tông các đốt hầm Thủ Thiêm thuộc Dự án Đại lộ Đông - Tây (năm 2009), nứt bê tông đập chính công trình Thủy điện

Sơn La (năm 2008-2009) [10] Nguồn số liệu của Hội đồng nghiệm thu nhà

nước tại văn bản số 1135/HĐNTNN ngày 23/6/2010 Khi xảy ra sự cố , ở mỗi

công trình có những nguyên nhân nh ất định, ngoài các nguyên nhân do thiết

kế, còn thường gặp ở một số khâu sau:

- Về công tác thi công XDCT: Ở một số công trình , quá trình thi công

chưa được nhà thầu thực hiện nghiêm túc quy định về quản lý CLCT và biện pháp thi công nên dẫn đến chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu của hồ sơ thiết kế như hạng mục khoan phụt xử lý nền vai trái đập thủy điện Sơn La ; nứt bê tông đầm lăn đập Thủy điện Bản Chát ; hiện tượng thấm qua đập công trình Thủy điện Sê San 4…và gần đây nhất là hiện tượng rò nướ c đập thủy điện Sông Tranh 2

- Về công tác quản lý CLCT: Qua kiểm tra có m ột số dự án cho thấy , tổ

chức tư vấn giám sát thi công của CĐT, ban chỉ huy công trường của nhà thầu còn thiếu năng lực và nhân lực theo yêu cầu , đặc biệt là kỹ sư đ ịa hình, địa chất Trường hợp khác, lực lượng cán bộ kỹ thuật giám sát còn thiếu chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng theo quy định

- Một số CĐT chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong quản lý CLCT Phần lớn các CĐT đều uỷ quyền hoặc khoán cho Ban QLDA trong công tác quản lý chất lượng, nghiệm thu XDCT

Trang 37

Đối với công trình do địa phương quản lý

Theo số liệu thống kê, những năm gần đây số lượng dự án đầu tư XDCT tại các địa phương ngày một nhiều CTXD có quy mô vừa và lớn hàng năm tăng khoảng từ 10 ÷ 15%, tùy theo địa phương Việc hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các qui định về quản lý CLCT xây dựng đã được duy trì thường xuyên , kịp thời tới các chủ thể tham gia (có khoảng trên 15% số công trình tiến hành kiểm tra định kỳ, kiểm tra xác xuất hoặc kiểm tra đưa vào sử dụng)

Kết quả cho thấy ít có vi phạm lớn về CLCT xây dựng , chủ yếu là các lỗi liên quan đến chứng chỉ hành nghề , hồ sơ hoàn thành công trình Kết quả nghiệm thu giai đoạn, nghiệm thu hoàn thành trên 90% số công trình có chất lượng đảm bảo yêu cầu ; các chủ thể tham gia quản lý , thi công xây dựng cơ bản tuân thủ các quy định về quản lý CLCT xây dựng; sự cố công trình ngày càng giảm Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế nhất định như:

- Cơ quan QLNN ở địa phương mới chỉ tập trung vào việc QLCL các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn của địa phương, các công trình của

bộ, ngành và của tư nhân (nhà ở riêng lẻ) còn ít được kiểm tra về chất lượng;

tỷ lệ số công trình được kiểm tra còn thấp (khoảng 15% tổng số công trình);

- Lực lượng quản lý QLCL xây dựng còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu Một số địa phương hiện nay chưa có phân cấp quản lý về chất lượng CTXD; chưa phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của UBND các cấp, của các Sở có quản lý CTXD chuyên ngành trong công tác QLCL; có sự chồng chéo trong chức năng kiểm tra và xử lý vi phạm về QLCL công trình giữa các phòng của Sở Xây dựng với Thanh tra Xây dựng, giữa Thanh tra Xây dựng của Sở và các Phòng quản lý xây dựng ở quận, huyện

- Vai trò của các Trung tâm kiểm định xây dựng ở các địa phương chưa phát huy đầy đủ vai trò là công cụ của QLNN trong đánh giá , kiểm định CLCT Chất lượng các hạng mục phụ trợ hay công trình nhỏ lẻ chưa được kiểm soát chặt chẽ, vẫn để xảy ra nhiều sự cố ở các lĩnh vực này;

- Số lượng các tổ chức tư vấn , nhà thầu thi công xây dựng và các cá

Trang 38

nhân hành nghề xây dựng hiện nay ở các địa phương rất lớn , tuy nhiên các tổ chức, cá nhân này chưa được kiểm soát một cách hữu hiệu và có hệ thống

2.2.2.4 Công tác an toàn lao động, vệ sinh môi trường của công trình xây dựng

Tình trạng sự cố CTXD do mất ATLĐ và VSMT vẫn xảy ra nhiều, gây ảnh hưởng đến cuộc sống người lao động, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp Công tác an toàn trong XDCT là vấn đề có liên quan mật thiết tới CLCT và công tác quản lý

CLCT xây dựng [10] số liệu của Bộ Lao động - TB&XH tại văn bản số

464/TB- BLĐTBXH ngày 22/2/2011

a Công tác an toàn lao động: Theo báo cáo tại từ năm 2006-2009 trung

bình mỗi năm có trên 5.000 người bị thương tật và 670 người chết do tai nạn lao động (TNLĐ)

Năm 2010 đã xảy ra 5.125 vụ tai nạn, số người chết 601 người Các vụ tai nạn nêu trên đã gây thiệt hại về vật chất (chi phí tiền thuốc men, tiền bồi thường cho gia đình người bị nạn, …) là 133,6 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 3,9 tỷ đồng

- Các địa phương để xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động chết người trong

năm 2010, gồm 10 địa phương, như Bảng 2.1

chết người

Trang 39

- Lĩnh vực xây dựng và khai thác mỏ là 2 lĩnh vực xảy ra nhiều TNLĐ nghiêm trọng chiếm tỷ lệ 20,29%; lao động giản đơn trong khai thác mỏ , xây dựng chiếm tỷ lệ 19,13%, còn lại là ở các lĩnh vực khác

 Theo số liệu báo cáo của Hội đồng nghiệm thu Nhà nước, công tác quản lý ATLĐ và VSMT đối với ở các dự án đầu tư XDCT tương đối lớn, dự

án quan trọng quốc gia do Trung ương quản lý như công trình thuỷ điện Sê

San 3, thuỷ điện PLêi Krông, công trình Cửa Đạt, thuỷ điện A Lưới, hồ chứa nước Tả Trạch, thuỷ điện Bản Vẽ, … được các CĐT, nhà thầu cùng đơn vị tham gia xây dựng quan tâm thực hiện Nhà thầu đã tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ và cấp giấy chứng nhận đào tạo ATLĐ cho công nhân đối với những công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn

Về cơ bản, các biện pháp đảm bảo an toàn trong thi công đã được nhà thầu lập và CĐT kiểm tra theo quy định Công tác trang bị bảo hộ lao động và thiết bị ATLĐ được các nhà thầu thực hiện đầy đủ Nội quy về ATLĐ cũng

đã được các nhà thầu biên soạn và ban hành ở hầu hết các công trường Các thiết bị thuộc danh mục hàng hoá nhóm II cần kiểm định an toàn trước khi lắp đặt vào công trình đã được các nhà thầu tổ chức kiểm định theo quy định

Nguyên nhân chính dẫn đến TNLĐ tại các công trường xây dựng là do còn một số thiếu sót trong quản lý ATLĐ như: chưa được cắm biển cảnh báo

đề phòng tai nạn ở những vị trí nguy hiểm; ý thức chủ quan của người lao động hay việc thực hiện công việc không đúng trình tự qui định Một nguyên nhân khác dẫn đến mất ATLĐ ở CTXD hiện nay do biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo ATLĐ chưa được nghiên cứu đầy đủ, thiếu sót ngay từ khâu thiết kế Điển hình như vụ sập cầu cạn Pháp Vân ngày 18/4/2010, mất an toàn trong vụ sập cầu Cần thơ, sập mỏ đá ĐIII - Thuỷ điện Bản Vẽ

Trang 40

Dưới đây là một số hình ảnh xảy ra sự cố do mất ATLĐ trong quá trình

tổ chức thi công xây dựng

Hình 2.9 Ảnh khối sạt trượt tại mỏ đá

ĐIII – Thuỷ điện Bản Vẽ

Hình 2.10 Ảnh mặt cắt trượt tại mỏ đá

ĐIII – Thuỷ điện Bản Vẽ

Hình 2.11 Ảnh sự cố sập đường dẫn

cầu Cần Thơ ngày 26/9/2007

Hình 2.12: Ảnh hiện trường vụ sập cầu cạn Pháp Vân ngày 18/4/2010

b Công tác đảm bảo VSMT: Theo kết quả theo dõi trong những năm gần

đây của Bộ Xây dựng, công tác đảm bảo VSMT đã được các đơn vị tham gia xây dựng quan tâm, hầu hết các công trường đều có thiết bị tưới nước giảm bụi, đã tổ chức dọn vệ sinh trong quá trình thi công theo qui định Tuy nhiên,

ở một vài công trường chưa đảm bảo an toàn thường xuyên về bụi và thu dọn

Ngày đăng: 25/06/2021, 13:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w