1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về lịch sử của vùng đất Huế: Phần 1

402 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 402
Dung lượng 9,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế là tài liệu tổng hợp về triều Nguyễn và Huế xưa của nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân. Sách gồm 6 chương giới thiệu về địa danh, văn hóa, lịch sử, triều Nguyễn xưa văn học nghệ thuật, danh nhân… giúp bạn đọc có thêm nhiều tư liệu quý giá khi tìm hiểu và nghiên cứu về vùng đất Kinh kỳ này. Ngoài những thông tin tư liệu bổ ích sách còn có hình minh họa để những ai chưa một lần đến Huế có dịp du lịch, khám phá Huế qua sách.

Trang 4

BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

Trang 5

N XU N

Trang 6

HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: 39316211 - 38465595 - 38465596 - 39316289 Fax: 84.8.38437450

E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn

Website: http://www nxbtre.com.vn

Trang 8

Đề cập đến thông tin về lịch sử văn hóa Huế, người ta thường nhắc đến các bộ sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt

truyện, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam hội điển sự lệ, bộ Tập

san Đô thành hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hué) Nhưng

trải qua các cuộc chiến tranh diễn ra trên đất Huế (1947, 1968), các cuộc di tản khỏi Huế (1972, 1975), lũ lụt (1953) tất cả những sách

sử quan trọng nêu trên, sau năm 1975 hầu như không còn được giữ

ở Huế Ngay cả những sách báo nghiên cứu của các học giả Thái Văn Kiểm, Bửu Kế, Phan Văn Dật, Nguyễn Thế Anh cũng rất khó kiếm Muốn làm người cầm bút xứ Huế, tác giả phải đi hỏi chuyện từ các bậc thầy của mình đến những người lớn tuổi biết chuyện cũ ghi chép lại

Có dịp vào Nam, ra Bắc, tác giả đã sục vào các tiệm sách cũ, tìm mua những sách báo có liên quan đến Huế Từ sau ngày đất nước mở cửa, ông có dịp sang Pháp, sang Mỹ “tìm Huế xưa” Đến nay, như ông nói,

đã có được những tư liệu cần thiết để hình thành ngành Huế học ở Huế

Để phục vụ những người yêu Huế và cũng để đền đáp công ơn những người buổi đầu đã giúp ông nghiên cứu Huế, ông đã giải đáp nhiều thắc mắc của bạn đọc gần xa, những sinh viên làm luận văn lịch sử văn hóa Huế Một số những giải đáp đó đã in thành 6 tập Hỏi

đáp về triều Nguyễn và Huế xưa do Nxb Trẻ ấn hành Nay theo

yêu cầu của độc giả, nội dung 6 tập đã xuất bản được biên tập lại, bổ sung thêm nhiều hình ảnh, giải đáp mới nữa (tương đương một tập) và tái bản với tựa đễ 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế Tập sách được chia làm 5 chương: 1 Địa danh; 2 Lịch sử; 3.Triều Nguyễn;

4.Văn hóa văn nghệ; 5 Danh nhân Thứ tự các bài được sắp xếp

theo diễn tiến thời gian lịch sử

Và, để được như ý, như trước đây chúng tôi đã trình bày, tác giả và Nhà xuất bản Trẻ rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng bộ sách của độc giả Rất mong được ủng hộ!

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

Trang 9

Đ A L - Đ A DANH

Trang 11

Vị trí địa l t nh Thừa Thiên Huế trong ản đồ Việt Nam

Trang 12

Thành phố Huế có từ bao giờ?

Thành phố Huế nằm trên đôi bờ sông Hương, giữa miền Trung nước Việt, lưng dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển Đông cách xa chừng 12km Huế nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa nắng rõ rệt

Đầu triều Nguyễn, thành phố Huế ngày nay là đất kinh sư của triều đình Đến đời Pháp thuộc, vào ngày 20-10-1898, vua Thành Thái ra dụ thành lập thị xã Huế và đến ngày 12-12-1929, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển thị xã Huế lên thành phố Huế

Hiện nay Huế là thành phố loại 1 trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, với dân số 323.808 người (theo niêm giám thống kê của Tp Huế năm 2006), phân bố không đều trên diện tích 67,77km2 gồm 24 phường nội thành (Phú Thuận, Phú Bình, Tây Lộc, Thuận Lộc, Phú Hiệp, Phú Hậu, Thuận Hòa, Thuận Thành, Phú Hòa, Phú Cát, Kim Long, Vĩ Dạ, Phường Đúc, Vĩnh Ninh, Phú Hội, Phú Nhuận, Xuân Phú, Trường An, Phước Vĩnh, An Cựu, An Đông, An Tây, Hương Sơ, An Hòa) và 3 xã ngoại thành (Thủy Biểu, Hương Xuân, Thủy Xuân) Thành phố Huế nằm cách Hà Nội 675km về phía bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060km về phía Nam

Phần thành phố bên bờ bắc sông Hương có Kinh thành Huế của nhà Nguyễn (1802-1945) xây dựng từ năm 1805, đến năm 1993 được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa của nhân loại Đối diện với Kinh thành về phía bờ nam, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, được xem là một khu Tây (quartier européen) với các cơ quan hành chính, khu buôn bán, trường học của chính quyền Bảo hộ mà tiêu biểu là tòa Khâm sứ Huế (đặt cơ sở từ năm 1876), hãng buôn và khách sạn Morin (1901), trường Quốc Học (1896) và trường nữ sinh Trung học Đồng Khánh (1917)

Trong Kinh thành, nửa trước gồm hai phường Thuận Thành và Thuận Hòa, nửa sau là phường Thuận Lộc và phường Tây Lộc Bên

Trang 13

ngoài Kinh thành, mặt trước thuộc phường Phú Hòa, mặt phía tây vòng qua phía bắc và phía đông bắc thuộc phường Phú Thuận và Phú Bình Phía đông bắc Kinh thành là vùng Gia Hội - Bãi Dâu gồm các phường Phú Cát, Phú Hiệp và Phú Hậu Phía tây Kinh thành là vùng Kim Long có phường Kim Long và xã Hương Long (có chùa Thiên Mụ

và Văn Thánh), phía cực bắc có xã Hương Sơ (có di tích Cống chém

An Hòa) Trên bờ nam sông Hương, khu vực hành chánh, trường học, khách sạn quốc tế nằm trên ba phường Vĩnh Ninh, Phú Hội, Phú Nhuận Về phía thượng lưu có Phường Đúc (có Hổ quyền) và xã Thủy Biểu, phía hạ lưu có phường Vỹ Dạ Vùng đồi chập chùng ở phía tây nam có các phường Trường An (có chùa Từ Đàm, lăng mộ nhà yêu nước Phan Bội Châu) và phường Phước Vĩnh (có nhà thờ Phú Cam) và xã Thủy Xuân (có lăng Tự Đức) Tiếp giáp với huyện Hương Thủy ở phía Nam có phường An Cựu và xã Thủy An (có núi Ngự Bình)

Huế là một trong những trung tâm văn hóa du lịch quan trọng của Việt Nam, ngoài các di tích của nhà Nguyễn, các chùa chiền, các danh lam thắng cảnh, Huế còn là nơi hình thành tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các vị lãnh đạo cách mạng nổi tiếng thế

kỷ XX như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà thơ Tố Hữu

Năm 2000, Huế được chọn làm thành phố Festival của quốc gia và quốc tế

Thừa Thiên Huế có thành phố Huế là trung tâm văn hóa du lịch quốc gia, cho biết những “cái đặc biệt nhất” trong lịch sử, con người và thiên nhiên ở đây.

Không phải vì Huế từng là Kinh đô của thịnh thời nước Việt Nam quân chủ nên Huế đã có những cái mà các thành phố Việt Nam khác không thể có mà sự thật Huế - Thừa Thiên còn có những quà tặng của tạo hóa thuộc loại kỷ lục quốc gia rất đặc biệt

Trang 14

I Những k lục do Huế t ng là Kinh đô của nư c Việt Nam thời quân chủ:

1 Huế có Kinh thành Huế xây dựng từ đầu triều Nguyễn (1804), lớn nhất: chu vi vòng của Kinh thành trên 10,5km, diện tích khoảng 6,76km2 (theo Kinh thành Huế của Phan Thuận An);

Bản đồ hành chính thành phố Huế

Trang 15

2 Có nhiều cung điện, lăng tẩm hùng tráng, uy nghi, thơ mộng, lộng lẫy nhất: Điện Thái Hòa, điện Cần Chánh (đã bị đốt), điện Long An Có bảy lăng vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị,

Tự Đức (bao gồm cả Kiến Phước), Dục Đức (bao gồm cả lăng Thành Thái và Duy Tân), Đồng Khánh, Khải Định và hàng trăm lăng mộ chín đời chúa, lăng các bà hoàng hậu (như lăng bà Từ Dũ), các hoàng tử (như Định Viễn vương, Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương ), vua Hiệp Hòa (mới được hậu duệ cải táng và xây dựng mới)

3 Có Kỳ đài cao nhất: 50,065m (theo Phan Thuận An);

4 Có lầu Tàng thơ để lưu giữ công văn giấy tờ sách vở xưa nhất; xây dựng từ năm 1825;

5 Có Bảo tàng cổ vật lưu giữ được nhiều cổ vật triều Nguyễn nhất;

6 Có hồ Tịnh Tâm đẹp nhất;

7 Có Trấn Bình đài (thành Mang Cá) - một pháo đài quân sự cổ hoàn chỉnh nhất và kiên cố nhất (nay là doanh trại của tỉnh đội Thừa Thiên - Huế);

K đài Ảnh: Hoài Hương

Trang 16

8 Có nhà hát Duyệt Thị cổ nhất, ra đời từ năm 1826;

9 Có nhà thờ Lão Tử độc nhất - Linh Hựu quán, nay là nơi tọa lạc của nhà thờ Tây Linh (1829);

10 Có nhiều phủ phòng của các ông hoàng, bà chúa nhất;

11 Chung quanh Kinh thành và Hoàng thành có nhiều hồ có tên tuổi được ghi vào bản đồ địa chính nhất: Theo L.Cadiere (BAVH 1913), riêng trong Kinh thành có đến 32 hồ, những hồ nổi tiếng nhất là hồ Tịnh Tâm, hồ Học Hải, hồ Xã Tắc, hồ Khám Đường;

12 Kinh thành và vùng chung quanh có nhiều sông nhất: sông Ngự

Hà, sông Hương, sông Đông Ba, sông Bạch Yến (sông An Hòa), sông Cái Vạn, sông Thọ Lộc, sông Lợi Nông (còn có tên sông Phủ Cam, sông An Cựu), sông Phổ Lợi, tổng cộng 7 con sông;

13 Do nhiều hồ, nhiều sông nên Huế cũng có nhiều cầu cổ nổi tiếng nhất: trong Hoàng thành có 2 cầu, 6 cầu đi vào Hoàng thành (trước 3 cầu, sau 1 cầu, bên phải và bên trái 2 cầu), khu vực hồ Tịnh Tâm trong Kinh thành có 5 cầu có mái che (Cầu Bồng Do-

Hồ Tịnh Tâm Ảnh: Hoài Hương

Trang 17

anh, cầu Hồng Cừ, cầu Bích Tảo, cầu Lục Liễu, cầu Bạch Tần), Ngự Hà xuyên qua Kinh thành, nối sông Cái Vạn với sông Đông

Ba có 10 cầu (cầu xe lửa, cầu Hoằng Tế, cầu Tây Thành Thủy Quan, cầu Vĩnh Lợi, cầu Bình Kiều, cầu Khánh Ninh, cầu Ngự

Hà, cầu Đông Thành Thủy Quan, cầu Thanh Long, cầu Bác Tế),

10 cầu đi vào Kinh thành (10 cửa vào Kinh thành có 10 cầu), 3 cầu bắc qua sông Hương (cầu Trường Tiền, cầu Phú Xuân, cầu

Dã Viễn); 6 cầu bắc qua sông Lợi Nông (cầu Ga, cầu Nam Giao, cầu Bến Ngự, cầu Kho Rèn, cầu An Cựu), 3 cầu bắc qua sông Thọ Lộc (Đập Đá, cầu Vỹ Dạ, cầu Vân Dương), 3 cầu bắc qua sông Đông Ba (cầu Gia Hội, cầu Đông Ba, cầu Bãi Dâu), 2 cầu bắc qua sông Cái Vạn (cầu Bạch Hổ, cầu Cái Vạn), 1 cầu bắc qua sông Kim Long (sông đã cạn nhưng vẫn có cầu Kim Long), 7 cầu bắc qua sông Bạch Yến (cầu Xước Dũ, cầu Huyền Không, cầu An Ninh Hạ, cầu An Hòa, cầu Huyền Yến, cầu Cửa Hậu, cầu Bao Vinh) mới thống kê sơ bộ đã có đến trên 58 cầu, chưa kể cầu Chợ Dinh bắc qua sông Hương

Cửa Thư ng Tứ Ảnh: Hoài Hương

Trang 18

II Do ảnh hưởng của Kinh đô Huế:

1 Huế là nơi có nhiều chùa nhất: Theo lịch sử Phật giáo xứ Huế, tại Thừa Thiên Huế có 124 ngôi chùa chính, chưa kể 318 khuôn hội (Niệm Phật đường);

2 Huế có Thiền sư Liễu Quán có ảnh hưởng lớn nhất (đặc biệt đối với Phật giáo xứ Đàng Trong);

3 Có chuông chùa Thiên Mụ lớn nhất: 3.285 cân (2.021 kg), cao 2,6m, rộng 1,2m;

4 Có chiếc trống cổ chùa Đông Thuyền lớn nhất: Đường kính khoảng 2m, chiều dài có đến 3m Bên trong lòng trống có những

móc thép kéo chéo với nhau Do đó ở Huế có câu: “Trống Đông Thuyền, chiêng (chuông) Thiên Mụ”

5 Có nhiều nhà vườn nổi tiếng nhất: nhà vườn An Hiên, vườn nhà

bà Công chúa Ngọc Sơn, nhà vườn Lạc Tịnh viên;

Cầu Tràng Tiền Ảnh: Hoài Hương

Trang 19

6 Có Sở Nhà thương (nay là bệnh viện Trung ương Huế) để chữa trị bệnh cho dân theo Tây y, do triều đình Huế thành lập sớm nhất (1894);

7 Có trường Quốc Học do triều đình Huế mở để dạy cho người Việt Nam học văn minh văn hóa phương Tây sớm nhất (1896);

8 Quốc Học cũng là ngôi trường xuất thân của nhiều lãnh tụ cách mạng nhất: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bí thư Trần Phú, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà thơ Tố Hữu, Bí thư Sài Gòn Gia Định Nguyễn Chí Diểu, nhà lý luận Mác-xít Hải Triều v.v và v.v (chưa kể những lĩnh vực khác);

9 Có trường nữ Trung học Đồng Khánh (nay là Hai Bà Trưng) được

Trang 20

III Do thiên nhiên ban tặng cho Th a Thiên Huế:

1 Đèo Hải Vân hiểm trở và cao nhất: 490m (Đệ nhất hùng quan);

2 Vùng núi Bạch Mã cao 1.450m, có khí hậu ôn đới ở gần biển nhất (từ chân núi Bạch Mã ra bờ phá Cầu Hai chỉ 3km);

3 Có sông Hương đẹp nhất;

4 Có lượng mưa hàng năm lớn nhất và các trận mưa kéo dài nhất.Nguyễn Bính đã từng than:

Trời mưa ở Huế sao buồn thế,

Cứ kéo dài ra mãi mấy ngày

Đến Tố Hữu cũng phải kêu lên:

Nỗi niềm chi rứa Huế ơi,

Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên.

Hải Vân uan

Trang 21

IV Do người dân Huế tạo nên:

1 Có nhiều món ăn nấu theo lối Huế nhất (theo nhà địa lý Trần Đình Gián, Việt Nam có 3.000 món ăn thì Huế đã có gần 1.700 món, chiếm trên phân nửa món ăn Việt Nam)

2 Có quần hai ống và chiếc áo dài ra đời sớm nhất (đầu thế kỷ XVIII, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát);

3 Kho tàng ca nhạc truyền thống và dân ca có nhiều làn điệu nhất (35 làn điệu chính), trong đó ca Huế (23 làn điệu chính): Thuộc cung Bắc (hơi Khách): Lưu thủy, Kim tiền, Long ngâm, Cổ bản, Lộng điệp, Phú lục Chín bản Tàu: Phẩm tuyết, Nguyên tiêu,

Hồ quảng, Bình bán, Tây mai, Liên hườn, Xuân phong, Long

hổ, Tẩu mã; Thuộc cung Nam (hơi Ai): Nam ai, Nam bình, Quả phụ, Tương tư khúc; Thuộc cung Nam hơi Dựng: Hành Vân, Nam Xuân, Cổ bản dựng, Tứ đại cảnh Dân ca: Hò (5 điệu chính): Hò

Bún ò Huế

Trang 22

Mái nhì, hò Mái đẩy, hò Giã gạo, hò Hụi (hò Nện), hò Ô Lý (7 làn điệu chính): lý Giao duyên (cũng gọi là Huê tình), lý Hoài xuân,

lý Con sáo, lý Qua đèo, lý Tử vi, Lý Mười thương, lý Tình tang Trên đây là những kỷ lục dễ thấy Còn biết bao lĩnh vực khác chưa

có điều kiện để điều tra thống kê, so sánh nên chưa dám đề cập đến như: Phá Tam Giang - vùng phá nước lợ rộng nhất vùng Đông Nam

Á (trên 56km2), phụ nữ Huế viết văn bạo nhất, Huế có nhiều người làm công tác ngoại giao nhất, những người đi xa có máu đồng hương đậm đà nhất v.v

Dù chưa thống kê và so sánh hết nhưng với những kỷ lục nêu trên thì đã thấy không một thành phố trực thuộc tỉnh – và vùng chung quanh nào lại có những kỷ lục quốc gia như Huế

Làm sao phân biệt Thuận Hóa, Huế, Phú Xuân?

Ba địa danh này đều nằm trên một vùng đất có tên gọi là Huế Tùy theo thời gian mà từng tên gọi có ý nghĩa rộng hẹp khác nhau

Trước khi công chúa nhà Trần - Trần Huyền Trân - về làm dâu nước Chăm-pa, mảnh đất Thuận Hóa thuộc hai châu Ô và châu Ry (Lý) Năm 1306, vua Chế Mân lấy đất hai châu Ô, Ry làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân Năm 1307, nhà Trần đổi tên hai châu này thành châu Thuận (bằng lòng) và châu Hóa (thay đổi) và sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt (tên nước ta lúc đó) Sang đầu triều Lê, sáp nhập hai châu Thuận và Hóa lại thành lộ rồi trấn, rồi xứ Thuận Hóa Xứ Thuận Hóa lúc ấy rất rộng, gồm cả lãnh thổ tỉnh Quảng Trị, tỉnh Thừa Thiên, phần phía bắc thành phố Đà Nẵng và một phần đất tỉnh Savanakhét (Lào) ngày nay Năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vua

Lê, chúa Trịnh cho vào trấn đất Thuận Hóa và ông đã dựng nghiệp

“vạn đại dung thân” cho con cháu nhà Nguyễn sau này

Từ Thuận Hóa đọc gọn lại và trại ra thành từ Huế Đầu thế kỷ XVII, A De Rhodes đến Thuận Hóa và ghi tên địa danh này trong

sách của ông là Kẻ Huế (trong lúc đó ông ghi vùng Thăng Long - Hà

Nội là Kẻ Chợ)

Trang 23

Phú Xuân là một ngôi làng cổ thuộc huyện Hương Trà nằm trên bờ bắc sông Hương, được chúa Ngãi vương Nguyễn Phúc Thái (1687-1691) chọn làm nơi đặt thủ phủ của xứ Đàng Trong; từ năm 1687, chúa Võ vương Nguyễn Phúc Hoạt (Khoát) (1738-1765) chọn làm Đô thành Phú Xuân và vua Quang Trung (1788-1792) chọn làm Kinh đô của nước Việt dưới thời Tây Sơn (1788-1801) Đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long xây dựng Kinh đô mở rộng trên đất của 8 làng nhưng vẫn lấy tên là Phú Xuân kinh Sau này Phú Xuân kinh chỉ là khu vực phía bắc của thành phố Huế.

Chùa Thiên Mụ tranh thêu

Trang 24

Ngày nay, người ta hiểu Thuận Hóa là đất cũ của hai châu Ô và Ry xưa, Thuận Hóa đọc gọn lại và trại ra thành Huế Nói đến Huế là ám chỉ vùng văn hóa trong phạm vi hai tỉnh Trị Thiên và một phần phía bắc Đà Nẵng, khác với thành phố Huế chỉ là một đơn vị (tỉnh lỵ) thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay Còn Phú Xuân là nơi đặt Kinh đô của vua Quang Trung và nhà Nguyễn nằm trong thành phố Huế bây giờ Trong lịch sử cận đại, khi nhà Nguyễn đã suy sụp, người Pháp thắng thế không gọi triều đình nước Đại Nam mà gọi là triều đình Huế Chữ Huế được dùng ở đây có nghĩa rộng đến cả Trung kỳ.

Tên sông Hương có tự bao giờ? Vì sao đặt tên là sông Hương?

Không rõ hồi còn nằm trong vương quốc Chăm-pa, con sông Hương

hiện nay mang tên gì Theo Ô châu cận lục - ra đời năm 1553(1) - và

Phủ biên tạp lục, viết năm 1776 đều gọi là sông Linh Giang Nhiều tài

liệu khác cho biết sông Hương đã từng mang tên sông Lô Dung, sông Dinh, Yên Lục, sông Huế v.v

Chưa tìm được tài liệu để biết đích xác năm khai sinh cái tên sông Hương Thơ văn đề cập đến sông Hương sớm nhất có lẽ là của Nguyễn

Du - nhà thơ, làm quan đầu triều Nguyễn Trong một bài thơ chữ Hán,

1 Ô châu cận lục - Dương Văn An nhuận sắc, Bùi Lượng phiên dịch, Văn hóa Á Châu, SG 1961 tr 17

Sông Hương nhìn từ đồi Vọng Cảnh

Trang 25

Nguyễn Du viết:

“Hương Giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu”

Tạm dịch: Sông Hương là một mảnh trăng, xưa nay đã gợi lên bao

mối sầu

Đến Huế sau Nguyễn Du mấy chục năm, Đào Tấn - nhà soạn tuồng vĩ đại thời Tự Đức - cũng trong một bài thơ chữ Hán đã viết

về sông Hương

“Cộng ẩm Hương Giang thủy

Vô nhân thức thủy hương”

Tạm dịch:

Cùng uống nước sông Hương

Không có (mấy) người cảm được cái mùi thơm của nước.

Mùi thơm của nước sông Hương không phải là mùi hương tưởng tượng của các nhà thơ Mùi hương của nước sông Hương là có thật

Hoàng hôn trên dòng Hương iang Ảnh: Hoài Hương

Trang 26

Cụ Vân Bình Tôn Thất Lương (1887-1951) - một vị hoàng tộc, uyên

thâm sử học và văn học cổ điển Việt Nam, tác giả bài Hương Giang hành(1) - đã cho biết nguồn gốc của mùi thơm đó khi nói về con sông xinh đẹp này Vân Bình viết: “Hương Giang phát nguyên từ hai nguồn

tả, hữu trạch nguyên ở miền thượng lưu tỉnh Thừa - Thiên, quanh co gành bãi ruộng vườn, chảy lần qua Kinh thành, đến cửa Thuận An rồi ra Đông Hải Hai bên bờ tả hữu trạch có giống Thạch xương bồ là một vị thuốc trường sanh, có mùi thơm, mọc hai bên bờ khe, nước khe lần hóa ra thơm Hương giang (sông Thơm) bởi đó mà có danh vậy

Cỏ thơm có giống Thạch xương bồ, Sanh ở hai nguồn tả, hữu trạch Hơi thơm dầm nước, nước trong veo Hợp thành sông thơm chảy róc rách.

Con sông nhỏ chảy qua hai huyện Hương Thủy và Phú Vang là sông Thọ Lộc hay sông Như ?

Từ bờ nam sông Hương về thôn Vỹ Dạ nổi tiếng ở phía Đông thành phố Huế, người ta phải đi qua Đập Đá Cái đập bằng xi măng này chắn ngang cửa nhánh sông Hương chảy về hướng đông nam giữa hai huyện Hương Thủy và Phú Vang Sau năm 1975, một số bản đồ

và văn thơ đăng trên báo chí ở Thừa Thiên Huế gọi con sông nhỏ này

là sông Như Ý

Được biết tất cả sông núi, làng xã, di tích ở phủ Thừa Thiên trước kia đều đã được Quốc sử quán triều Nguyễn đưa vào sách Đại Nam nhất thống chí Tìm trong bộ sách quan trọng này không thấy có con sông nào có tên là Như Ý cả Trong lúc đó con sông mà ngày nay gọi

là Như Ý thì Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Thọ Lộc(2) Sông Thọ Lộc chảy qua 26 dặm rồi hiệp với sông Lợi Nông chảy vào vùng phá

Hà Trung

1 Hoàng Trọng Thược - Hương Bình thị phẩm Huế 1962 tr 125

2 Tập Thượng, bản dịch của Nguyễn Tao

Trang 27

Sông Bồ bắt nguồn từ đâu? ( ng Phan H u D CLB Văn

hóa Huế t i Hà Nội hỏi)

Bồ là tên dân gian có từ thời Ô, Ry của Chiêm Thành Tên chính thức ghi trong trong Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Phú c.Sông Bồ ở phía bắc huyện Hương Trà 20 dặm (theo Huỳnh Tịnh Của, một dặm = 135 trượng, mỗi trượng = 10 thước mộc So với thước Tây (metre), mỗi thước mộc tương đương 0, 4 thước Tây Vậy một dặm:

135 × 10 × 0, 4 tức khoảng 540m bây giờ); bờ phía nam của sông thuộc huyện Hương Trà, bờ phía bắc (thượng lưu) thuộc huyện Phong Điền

và (hạ lưu) thuộc huyện Quảng Điền

Phần mở đầu ài Phú c iang

tức sông Bồ trong sách Đại Nam nh t

thống chí đời Duy Tân tập Thừa Thiên

phủ thư ng tr

Trang 28

Sông Bồ có bốn nguồn:

Nguồn thứ nhất: từ phía đông thác Lỗ Mộ núi Sơn Hồ chảy đi 6

dặm đến khe Trái

Nguồn thứ hai: từ núi Bồng Trượng (hay Bồng Bạt) chảy qua phía

bắc 7 dặm rồi hiệp với khe Trái, lại chảy qua đông 25 dặm đến ngã

ba Hiền Sĩ

Nguồn thứ ba: từ phía đông khe Để ở núi Sơn Quả chảy quanh co

chừng 1 dặm đến Bến Than, lại chảy 12 dặm hiệp với sông Hiền Sĩ

Nguồn thứ tư: từ phía nam núi Thị Toại qua ấp Xuân Lộc 19 dặm

đến sông Cổ Bi, 12 dặm hiệp với sông Hiền Sĩ rồi chảy về phía đông

8 dặm đến con sông có tục danh là sông Phú c Đến đây sông Phú

c chia làm hai nhánh Nhánh thứ nhất, qua phía bắc chợ Thanh Lương, lại chảy 9 dặm qua khe Hương Cần, rồi 7 dặm đến khe Vân

Cù, chảy thêm một dặm qua xã Thanh Hà và chảy thêm 3 dặm nữa đến ngã ba Thanh Phước mà vào sông Hương Nhánh thứ hai: qua phía đông xã Bác Vọng đến đầm An Xuân mà vào phá Tam Giang

Một húc sông Bồ đoạn chảy ua thị tr n Sịa

Trang 29

Tên núi Ngự có tự bao giờ, vì sao gọi là núi Ngự?

Trong Ô châu cận lục (1553) - cuốn địa chí đầu tiên của vùng Thuận

Hóa - Phú Xuân - không viết gì về núi Ngự Bình ngày nay Khi viết về

sự kiện chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái dời dinh phủ từ Kim Long về

làng Phú Xuân (1687), Lê Quí Đôn trong Phủ biên tạp lục (1776) mới

cho biết: “Người ta lấy hòn núi tròn Mạc Sơn cao chính làm tiền án (bình phong ở phía trước) ngôi phủ mới”(1) Các sử thần triều Nguyễn

viết Đại Nam thực lục Tiền biên, khi thuật lại chuyện năm 1687, chúa

Nghĩa dời dinh phủ về Phú Xuân ở Quyển VI, tr.51 chỉ cho biết: “ dời dựng phủ mới sang Phú Xuân, lấy núi đằng trước (tức núi Ngự Bình) làm án ”(2) mà không cho biết tên cũ của hòn núi làm án (sau này có tên là Ngự Bình) là tên gì Như vậy, theo Lê Quý Đôn, núi Ngự xưa

Trang 30

Núi Ngự Bình bằng thẳng, vuông vức, đột khởi lên như một chiếc bình phong nằm ở bờ nam sông Hương Cho nên trước thế kỷ XIX, dân

gian gọi nó là Bằng Sơn Khi thiết kế Kinh thành Huế (1803-1804)

ở bờ bắc sông Hương, vua Gia Long chọn hòn núi này (Mạc Sơn hay Bằng Sơn) làm tiền án giữ trước kinh thành và đặt cho tên mới là Ngự Bình Sơn (núi Ngự Bình)

Suốt hai thế kỷ qua, núi Ngự Bình nằm bên bờ nam sông Hương

là biểu tượng văn hóa sang trọng nhất của vùng Thuận Hóa xưa Núi Ngự sông Hương đã gợi hứng cho biết bao bài thơ, bản nhạc, tranh vẽ tuyệt vời dành cho thành phố Huế đẹp và thơ

Núi Bạch Mã được phát hiện từ năm nào, có gì đặc biệt?

Bạch Mã ở phía Nam tỉnh Thừa Thiên, cách Huế 55km, do một kỹ

sư người Pháp tên là Gérard tìm thấy ngày 28-7-1932, Bạch Mã là một vùng rừng núi diện tích khoảng 15km2, chỗ cao nhất là 1.450m tại

Hình ảnh sông Hương núi Ngự ua nét cọ của họa sĩ Tôn Th t Đào

Trang 31

đình Lâm Viên và chỗ thấp nhất là Thác Bạc 1.050m, có khí hậu mát

mẻ, ôn hòa, nhờ ảnh hưởng của gió bể và độ cao, về mùa nắng nhiệt

độ lên xuống từ 19oC đến 20oC như Đà Lạt Bạch Mã là một nơi nghỉ mát lý tưởng ở Việt Nam Vì thế, ở đây đã có 139(1) biệt thự xinh xắn được xây cất theo những lối kiến trúc đặc biệt (như khách sạn Morin, các biệt thự của các viên chức cao cấp họ Thân, họ Hồ Đắc ) tạo cho Bạch Mã một bộ mặt rất mỹ lệ trên núi đồi phóng khóang, giữa cây cao rừng rậm Những thắng cảnh nổi tiếng của Bạch Mã có thác Đỗ Quyên, đồi Bảo An, suối Hoàng Yến, Ngũ Hồ v.v Tuy nhiên, vì chiến tranh, nhà cửa ở đây hầu hết đã đổ nát, các thắng cảnh bị hoang phế Bạch

Mã, ngoài giá trị là một khu nghỉ mát, còn là một khu rừng nguyên sinh với nhiều thảo mộc, chim thú quí hiếm Năm 1986, núi Bạch Mã

đã được công nhận là vườn quốc gia, đường nhựa đã lên đến đỉnh Một

số kiến trúc cũ đã được trùng tu làm nơi ăn ở cho khách tham quan

1 Theo Tỉnh Thừa Thiên, Địa phương chí in năm 1973, tr 15 cho biết có đến 300 biệt thự

Đường lên hu ngh dư ng trên núi Bạch M

Trang 32

Xin nói cụ thể hơn về di tích trên đ o Hải Vân để có

sự thống nhất khi hướng dẫn du lịch?

Một số tư liệu của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo cho rằng: Hải Vân quan chỉ là một cái cửa trên đèo Hải Vân, con đường Cái quan (đường xuyên Việt) ngày xưa đã đi qua cửa đó Nhiều người lại viết phía trên cái vòm cửa Hải Vân, mặt phía Nam có biển đá đề ba chữ Hán lớn Hải Vân quan, mặt phía Bắc vòm cửa đề 6 chữ Thiên hạ

đệ nhất hùng quan

Nhiều tài liệu khác viết ngược lại cho rằng ba chữ Hải Vân quan

ở mặt Bắc (nhìn về phía Huế) và Thiên hạ đệ nhất hùng quan nằm ở mặt Nam (nhìn về Đà Nẵng)

Có người viết 6 chữ Thiên hạ đệ nhất hùng quan ở mặt Bắc vòm cửa đã mất từ lâu; có người cải chính rằng 6 chữ ấy vẫn còn nằm ở

Thác Đ Quyên

Trang 33

chỗ cũ, phải lên trên cao một chút mới thấy Vậy nên hiểu như thế nào cho chính xác? Để trả lời vấn đề này xin trích dẫn ở đây một số

tư liệu như sau:

“Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), triều Nguyễn cho xây đắp cửa Hải Vân, ở đỉnh núi Hải Vân, phía trước phía sau đều đặt một cửa quan, (ngạch trước viết 3 chữ Hải Vân quan, ngạch sau viết 6 chữ “Thiên hạ

đệ nhất hùng quan” (cửa ải hùng mạnh nhất thiên hạ) Cửa trước bề cao và bề dài đều 15 thước, bề ngang 17 thước 1 tấc, cửa sau cao 15 thước, dài 11 thước, ngang 18 thước 1 tấc, cửa tò vò đều cao 10 thước

8 tấc, bề ngang 8 thước 1 tấc, hai bên là tả hữu cửa quan xếp đá làm tường, trước sau liền nhau Sai Thừa Thiên và Quảng Nam thuê dân làm, vài tháng làm xong”

Tài liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn, công trình nghiên cứu của ông H, Cossarat (BAVH, 1921) cùng với tài liệu điền dã cho biết di tích tại đỉnh đèo Hải Vân là đồn ải kiên cố gồm có một hệ thống phòng thành, các ụ đặt súng thần công, doanh trại dành cho sĩ quan và lính giữ ải, kho thuốc súng đặc biệt là đoạn đường giao thông nối hai cửa

ải chạy giữa hai bức thành đá kiên cố hình vòng cung dài trên 60m Cửa trước (hướng Nam Bắc, nhìn về phía Đà Nẵng, hiện còn gần như nguyên vẹn), chiều cao và bề dài đều 15 thước Bề ngang 17 thước(1) 1 tấc Cửa sau cao 15 thước, dài 11 thước, ngang 18 thước 1 tấc Cửa tò

1 1 thước ta 0,425m

Toàn cảnh đ o Hải Vân

Trang 34

vò (cũng gọi là cửa vòm) của hai cửa trước và sau đều cao 10 thước 8 tấc, bề ngang 8 thước 1 tấc

Phía trên cửa vòm mặt trước cửa trước có gắn một phiến đá hình chữ nhật chạm nổi theo chiều ngang 3 chữ Hải Vân quan, Phía trái phiến đá chạm theo chiều dọc 7 chữ nhỏ Minh Mạng thất niên cát nhật tạo (xây dựng vào một ngày tốt năm Minh Mạng thứ 7) Phía trên cửa vòm mặt trước cửa sau (hướng về Huế) có gắn một phiến đá cũng có hình chữ nhật chạm nổi theo chiều ngang 6 chữ: “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” (cửa ải hùng mạnh nhất thiên hạ) Di tích cửa sau mang

6 chữ Hán này vẫn còn

Phế tích đồn ải Hải Vân thuộc quyền quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đang được nghiên cứu để trùng tu Sau khi được trùng tu tôn tạo chắc chắn di tích đồn ải Hải Vân sẽ được giới thiệu chính thức cho khách tham quan

ập ghềnh uốn húc đường lên đ o Hải Vân phía B c

Trang 35

Cửa nhìn về phía Huế c g n iển Thiên hạ đệ nh t hùng uan

chụp năm tư liệu của H Cossarat

T m iển chạm nổi sáu chữ Thiên hạ đệ nh t hùng uan v n còn nguyên v n

trên phế tích cửa ải nhìn về phía Huế

Trang 36

Gọi là đ o Ải Vân hay Hải Vân? Tên đó có từ bao giờ? Vì sao người ta nói Ải (hay Hải) Vân là “Đệ nhất hùng quan”?

Trên đỉnh đèo Hải Vân còn có di tích cửa Hải Vân với biển đề năm Minh Mạng thứ 7 (1826) với 3 chữ Hải Vân quan rõ ràng Như vậy tên của cái đèo cao nhất Việt Nam nầy là Hải Vân chứ không phải

“Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng” Liền vượt qua núi

xem xét hình thể, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc (Duy Xuyên) xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ”(2)

1 Ngay cả hai ông Dohamide và Dohamie đồng tác giả Dân tộc Chàm lược sử in lần thứ nhất 1965 cũng không biết tên cũ là gì nên dùng tên đèo Hải Vân, xem tr 75

2 ĐNNTC (Tiền biên), bản dịch, T1, Nxb Sử học, Hà Nội 1962, tr 42

M t Nam cửa ải Hải Vân ngày nay

Trang 37

Hoàng tử thứ sáu trấn giữ Quảng Nam của chúa Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên Hơn mười năm trấn giữ Quảng Nam (1602 - 1613), Nguyễn Phúc Nguyên đã giúp chúa Tiên mở mang bờ cõi về phía nam và tổ chức Hội An thành một đô thị cửa biển quan trọng Người

có công đầu mở mang phố Hội An để hôm nay được công nhận là Di sản thế giới có thể nói chính là Nguyễn Phúc Nguyên Đèo Hải Vân

và phố Hội An có một quan hệ lịch sử bắt đầu từ thời điểm ấy (1602).Thời quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân (1774 - 1786), Lê Quí Đôn

viết sách Phủ biên tạp lục đã cho biết trên tại đỉnh đèo Hải Vân có

một “đồn tuần quán Ải”(1) và quân Trịnh “đã cho làm đỉnh đèo Hải Vân một dẫy lũy kiên cố, để chống giữ với những bất trắc ở phía nam”(2) Khoảng trung tuần tháng năm năm Bính Ngọ (1786), đạo quân chủ lực của Tây Sơn không đánh lũy Hải Vân từ phía đông nam lên (bờ biển Đà Nẵng) mà đi đường thượng đạo phía tây nam Phú Lộc leo lên đỉnh núi Hải Vân rồi từ trong mây mù trên cao tấn công xuống Bị đánh bất ngờ, quân Trịnh phải bỏ lũy tháo chạy nhưng cũng bị bắt

và bị giết gần hết Chủ tướng Trịnh là Hoàng Nghĩa Hồ phải bỏ mạng chốn sa trường (3)

Thời Tây Sơn không rõ có xây dựng lại lũy Hải Vân hay không vì cho đến nay chưa tìm được một tư liệu nào để khẳng định việc này Thời Gia Long (1802 - 1819), theo Đại úy Rey, trên đỉnh Hải Vân không có

sự phòng thủ nào quan trọng Chỉ có một cơ quan thu thuế nhỏ, vài quán ăn, nơi ở bình dân.(4) Việc phòng thủ lớn tại đèo Hải Vân chủ yếu thực hiện dưới thời Minh Mạng

Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), triều Nguyễn cho “Xây đắp cửa Hải Vân, ở đỉnh núi Hải Vân, phía trước phía sau đều đặt một cửa quan

(ngạch trước viết ba chữ “Hải Vân quan”, ngạch sau viết sáu chữ

“Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.(Cửa ải hùng mạnh nhất thiên hạ)

Cửa trước bề cao và bề dài đều 15 thước, (5) bề ngang 17 thước 1 tấc,

1 Phủ biên tập lục tập 1 - bản dịch Lê Xuân Giáo, phủ QVKĐTVH xb, SG, 1972, tr 204

2 Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, Nxb QDND, Hà Nội 1977

- tr 114

3 Nguyễn Lương Bích Sđd, tr 116

4 Theo H Cossarat, Le ortin du col des nuages, BAVH 1921, tr 72

5 1 thước ta 0,425m

Trang 38

cửa tò vò đều cao 10 thước 8 tấc, bề ngang 8 thước 1 tấc, hai bên tả hữu cửa quan xếp đá làm tường, trước sau liền nhau Sai Thừa Thiên

và Quảng Nam thuê dân làm, vài tháng làm xong Phái biền binh 4

đội Hữu sai và 2 đội Ứng sai chở súng ống đến để đấy (súng quá sơn bằng đồng 5 cổ, ống phun lửa 200 ống, pháo thăng thiên 100 cây và

thuốc đạn theo súng) theo viên tấn thủ đóng giữ Chuẩn định từ Hải Vân trở ra Bắc thuộc hạt Thừa Thiên, từ ngoài Hải Vân trở vào Nam thuộc quản hạt Quảng Nam”.(1)

Đoạn tư liệu chính thức vừa trích trên lấy trong sách Đại Nam thực lục chính biên So với thực tế do người Pháp khảo sát hồi đầu thế kỷ

X thì hệ thống phòng thủ ở ải Hải Vân quan có thêm một vài chi tiết nữa Hệ thống ải Hải Vân có mục đích bảo vệ cho Kinh đô Huế được xây dựng từ đỉnh đèo Hải Vân xuống tận làng biển An Cư (người Pháp

đọc trại L’An Cư ra thành Lăng Cô) Ngoài Hải Vân quan là đồn nhất, còn có Đồn nhì ở lưng chừng đèo (theo H Cosserat ở gần km71) và

1 ĐNTLCB, tập VIII, Nxb KHXH, Hà Nội 1964, tr 22 và 23

Bia đá ên trong cửa ải Hải Vân ngày nay

Trang 39

Đồn ba tại một trái đồi ở Lăng Cô - nơi sau nầy vua Khải Định xây

nhà nghỉ mát (1) Tên gọi Đồn nhì ngày nay vẫn còn được giới tài xế

Huế - Đà Nẵng dùng Tài liệu của triều Nguyễn cho biết có 5 khẩu súng quá sơn (canon), nhưng theo C.Paris thì có đến 6 khẩu bằng đồng (bronze) và bằng gang (fonte), được đặt mỗi bên 3 khẩu, chế tạo

từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826) C.Paris đã cho biết kích thước của

2 khẩu tiêu biểu: Khẩu thứ nhất dài 1m77, lòng súng có đường kính 0m11, khẩu thứ hai dài 1m89, lòng súng cũng có đường kính 0m11.Năm Minh Mạng thứ 10 (1829), vua “Sai các quân Thị nội Thần sách đều cử một suất đội và 50 biền binh đi thú Hải Vân quan mỗi tháng thay phiên nhau một lần”.(2) Năm Minh Mạng thứ 11 (1930) “Đặt thêm một phòng thủ úy ở Hải Vân (trước đặt một viên) Lệ trước: Biền binh trú phòng mỗi tháng một lần thay phiên, còn phòng thủ úy đóng giữ mãi Vua cho rằng nơi ấy lam chướng hơi nặng, đổi lại: biền binh

15 ngày một lần thay phiên, phòng thủ úy một tháng một lần thay phiên”.(3) Cũng vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836), tháng 10, ải Hải

1 Theo H Cossarat, Le ortin du col des nuages, BAVH 1921, tr 75

2 ĐNTLCB, tập IX, Nxb KHXH, HN 1964, tr 330

3 ĐNTLCB, tập XVII, Nxb KHXH, HN (?), tr 252

Sơ đồ tổng thể ải Hải Vân do H Cassarat thực hiện năm và HVV sao lại

Trang 40

Vân được phát “Bản vẽ các hiệu cờ các nước ngoại dương”(1) để tiện theo dõi tàu nước ngoài vào vùng biển Hải Vân Năm Minh Mạng thứ

18 (1937) mùa thu, sức dân đến ở hai bên đường đèo Hải Vân để “cho

từ đỉnh núi đến chân núi, đoạn nào cũng có nhà ở nối liền nhau, cho người đi đường có nơi dừng chân tạm trú, đói có chỗ ăn, khát có chỗ uống ”(2) Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), vua dụ bộ Công rằng: “Núi Hải Vân là núi rất có tiếng ở nơi kỳ điện, thực là đất thiêng, chuẩn

bị cho xây dựng đền thờ thần núi ấy về giới phận phủ Thừa Thiên,

do kinh doãn thuê dân làm, hàng năm đến tế vào tháng trọng xuân (tháng 2) (sau tế Nam Hải Long Vương 1 ngày) (3) Năm Minh Mạng thứ 21 (1839), tháng 5, vua dụ: “Hải Vân là chỗ hiểm trở thiên nhiên Trước đây trẫm ngự chơi Quảng Nam, thấy đường sá gập ghềnh, đi lại không tiện, đã sức sai mở rộng sửa sang Nay nghĩ trải qua năm tháng đã lâu, tất gai góc đã um tùm Vậy đều phải chiểu theo địa phận từng hạt liệu thuê dân phu phụ cận, phàm chỗ nào bậc đá đổ khuyết thì xây vá lại, chỗ nào cây cỏ mọc xen vào thì phát bỏ đi Cần trong

Ngày đăng: 19/05/2021, 21:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w