1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu thơ Hàn Mặc Tử ở một vài phương diện thi pháp_Nguyễn Thành Ân

41 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu thơ Hàn Mặc Tử ở một vài phương diện thi pháp
Tác giả Nguyễn Thành Ân
Trường học Trường Đại Học
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 338,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm (0)
    • I. Cuộc đời (3)
    • II. Tác phẩm (4)
  • B. Tìm hiểu một vài phương diện thi pháp thơ Hàn Mặc Tử (5)
    • I. Quan niệm nghệ thuật về con người (6)
      • 1. Con người vũ trụ (6)
      • 2. Con người trong những trạng thái cảm xúc nghịch lý (7)
      • 3. Con người cô đơn, đau đớn (8)
      • 4. Con người thèm khát ái tình mà lại đầy mặc cảm khắc kỷ (10)
      • 5. Con người phân thân, con người trong tiềm thức (16)
      • 6. Con người mơ ước (19)
    • II. Không gian nghệ thuật (20)
      • 1. Không gian điểm hẹn ái tình (20)
      • 2. Không gian vây bủa, rớm máu (23)
      • 3. Không gian vượt thoát (25)
      • 4. Không gian kỳ dị lạ thường (0)
      • 5. Không gian vĩnh hằng (34)
    • III. Thời gian nghệ thuật (35)
      • 1. Thời gian truy đuổi (35)
      • 2. Thời gian gấp khúc, đứt gãy (36)
  • C. Kết luận (38)

Nội dung

Thơ mới là một hiện tượng văn học rất phong phú, đa dạng và phức tạp trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Nó thật sự là một cuộc cách mạng trong thi ca, thơ mới đã thực hiện một bước tổng hợp hết sức quan trọng giữa những thành tựu của thi ca phương Tây và thi ca phương Đông với truyền thống thi ca dân tộc. Nhờ bước tổng hợp đó mà thi ca Việt Nam đã góp phần tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa....

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

Cuộc đời

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912, mất năm 1940, mới 28 tuổi Quê Mỹ Lệ, Đồng Hới, Quảng Bình Tổ tiên họ Phạm, ông cố

Phạm Nhương, ông nội Phạm Bồi, vì liên can quốc sự trốn vào Thừa Thiên đổi ra họ Nguyễn Cha Nguyễn

Văn Toản, mẹ Nguyễn Thị Duy, anh Nguyễn Bá

Nhân, hai chị Như Nghĩa, Như Lễ, và hai em Nguyễn

Bá Tín, tên thật là Nguyễn Bá Hiếu, bắt đầu học tiểu học tại Quảng Ngãi Sau khi cha ông qua đời, mẹ ông chuyển đến Quy Nhơn, nơi ông bắt đầu sáng tác thơ Đường luật ở tuổi 16 với bút hiệu Minh Duệ Thị.

Ông học tại trường Qui Nhơn đến năm thứ ba trước khi chuyển đến Huế, nơi ông theo học tại trường dòng Pellerin, một vùng đất nổi tiếng với truyền thống thơ phú và nhiều nhân tài Tại đây, ông bắt đầu đăng thơ trên báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn dưới bút hiệu Phong Trần Trong bối cảnh Đông Dương đang trải qua khủng hoảng kinh tế, gia đình ông gặp khó khăn, buộc ông phải nghỉ học để làm việc, nhưng sau đó bị đau và mất việc Sau một thời gian làm báo ở miền Nam, ông trở lại Qui Nhơn, nhưng không lâu sau mắc bệnh hủi và qua đời tại Nhà thương Quy Hòa.

Khi vào Sài Gòn làm báo, ông sử dụng bút hiệu Lệ Thanh, kết hợp từ tên làng Mỹ Lệ và chánh quán Tân Thanh Ông đã giành giải nhất trong một cuộc thi thơ, từ đó bút hiệu Lệ Thanh trở nên nổi tiếng Ông cộng tác với nhiều báo như Trong Khuê Phòng, Đông Dương Tuần Báo, và Người Mới Năm 1936, khi chủ trương tờ phụ trương văn chương của báo Sài Gòn, ông đã đổi tên thành Hàn Mạc Tử Tập thơ Đường luật mang tên Lệ Thanh Thi Tập gồm ba bài thơ nổi bật: Thức khuya, Chùa hoang, và Gái ở chùa, được Phan Sào Nam (Phan Bội Châu) họa vận lại.

Năm 1936 tập thơGái quê xuất bản là một chuyển hướng sang Thơ mới.

Cuối năm 1936, Hàn Mặc Tử thành lập Trường thơ Loạn, gồm bốn thành viên chính: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, và Chế Lan Viên, sau đó có thêm Bích Khê, Hoàng Diệp, và Quỳnh Dao Trường thơ Loạn không chỉ là một nhóm thơ mà còn là nơi kết nối tình bạn và đam mê thi ca Sau khi Hàn Mặc Tử qua đời vào năm 1940, Trường thơ Loạn bắt đầu tan rã, mặc dù Yến Lan, Chế Lan Viên, và Bích Khê vẫn giữ mối quan hệ thân thiết Sự tồn tại của Trường thơ chỉ kéo dài thêm một thời gian ngắn qua các tác phẩm của Bích Khê, cho đến khi ông qua đời vào năm 1946, đánh dấu sự kết thúc của một phong trào thi ca đặc sắc.

Năm 1938, khi bệnh tình trở nên nghiêm trọng và gia cảnh khó khăn, Hàn Mặc Tử đã quyết định vào bệnh viện phong cùi Qui Hòa để chữa trị miễn phí, nhằm giảm bớt gánh nặng cho gia đình Ông qua đời vào năm 1940.

Tác phẩm

Hàn Mặc Tử là một tác giả đa tài với nhiều thể loại sáng tác, trong đó thơ ca chiếm ưu thế và mang lại nhiều thành tựu nổi bật Bên cạnh đó, ông cũng có những đóng góp đáng kể trong văn xuôi và kịch thơ, góp phần làm phong phú nền văn học Việt Nam Ngoài ra, Hàn Mặc Tử còn tham gia viết báo và viết tựa cho các tập thơ của các tác giả như Chế Lan Viên và Bích Khê.

Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ nổi bật của nền văn học Việt Nam, với các tác phẩm tiêu biểu như tập thơ "Lệ Thanh thi tập", "Gái quê", "Đau thương", "Xuân như ý", "Thượng thanh khí", cùng nhiều vở kịch thơ như "Cẩm châu duyên", "Duyên kỳ ngộ", "Quần tiên hội" và tác phẩm văn xuôi "Chơi giữa mùa trăng" Những tác phẩm này không chỉ thể hiện tài năng sáng tạo của ông mà còn phản ánh sâu sắc tâm tư và tình cảm của con người trong xã hội.

Tử thì chỉ cóGái quê là được xuất bản (1936) khi nhà thơ còn sống.

Lệ Thanh thi tập là một tác phẩm thơ cổ điển thuộc thể loại thơ Đường luật, nhưng hiện tại vẫn chưa xác định được số lượng bài thơ cụ thể do di cảo của Hàn Mặc Tử được lưu giữ bởi nhà thơ Quách Tấn, bạn thân của ông, đã bị thất lạc gần như hoàn toàn.

Gái quê, xuất bản năm 1936, là tập thơ mang đến những hình ảnh bình dị, mộc mạc của làng quê và những cảm xúc mãnh liệt của tình yêu tuổi thanh xuân Trong khi đó, Đau thương hay thơ Điên, được chia thành ba phần: Hương thơm, Mật đắng, máu cuồng và hồn điên, thể hiện nỗi đau khổ và sự rối loạn, tạo nên những khúc nhạc buồn day dứt và bầu không khí ảm đạm Lời thơ chứa đựng nỗi đau mãnh liệt, phản ánh tâm hồn cô độc và khổ não, từ lãng mạn chuyển mình sang tượng trưng.

Tập thơ "Xuân như ý và Thượng thanh khí" của Hàn Mặc Tử khám phá hành trình từ thực tại đến siêu thực, ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân trong tâm tưởng của thi nhân Đây không chỉ là một mùa xuân tự nhiên mà còn là biểu tượng cho những ước vọng, với hình ảnh hương thơm, hoa nở, và âm nhạc thiêng liêng, thể hiện chiều sâu tôn giáo và những giấc mơ huyền bí.

Cẩm châu duyên, vở kịch thơ với người tình tưởng tượng của tác giả: nàng

Thương Thương Lời thơ nhẹ nhàng, trong sáng với một mối tình thơ mộng và đậm đà.

Hàn Mặc Tử, cùng với người tình Thương Thương, khám phá nguồn thơ mới lạ giữa khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, nơi có suối, chim và âm thanh của tiếng tiêu, thể hiện tình yêu sâu sắc giữa hai người.

Quần tiên hội là một vở kịch thơ tiếp nối câu chuyện Duyên kỳ ngộ, mặc dù vẫn chưa hoàn thành Tác phẩm này mang đậm yếu tố "tiên cốt" hơn so với các vở kịch thơ trước đó.

Ánh trăng mùa thu chiếu sáng dòng sông, tạo nên không gian huyền ảo và thanh khiết, hòa quyện với âm nhạc và hương thơm Tác phẩm này không chỉ đặc sắc về nội dung mà còn tinh tế trong hình thức, mang lại những trải nghiệm sâu sắc cho người đọc.

Tìm hiểu một vài phương diện thi pháp thơ Hàn Mặc Tử

Quan niệm nghệ thuật về con người

Thi pháp học về hình tượng con người và cách xây dựng nhân vật đóng vai trò quan trọng trong văn học Con người là đối tượng chính mà văn học hướng tới, đồng thời là trung tâm thẩm mỹ mà các nghệ sĩ khai thác trong quá trình sáng tác qua các thời đại Thơ mới 1932- là một minh chứng cho điều này.

Năm 1945 đã mang đến cái nhìn sâu sắc về con người trong tình yêu, thể hiện qua những trạng thái mộng mơ, buồn sầu và cô đơn, đặc biệt là hình ảnh con người trong tiềm thức Quan niệm nghệ thuật về con người xuất phát từ nhu cầu tự bộc lộ của nhà thi sĩ, liên kết chặt chẽ với cái tôi trữ tình của họ Con người là trung tâm trong thế giới hình ảnh của thơ trữ tình, được hình tượng hóa ở nhiều mức độ khác nhau Hình tượng này không chỉ là sự khái quát hóa hiện thực mà còn phản ánh hiện thực chủ thể Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tinh thần của nhà nghệ sĩ, nhưng không đồng nhất với chính tác giả Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này.

Văn hóa phương Đông đặc trưng bởi việc coi con người là một phần của thế giới “Thiên, Địa, Nhân”, với con người được xem như một “tiểu vũ trụ” Sự tương thông và tương cảm giữa con người và thiên nhiên được thể hiện rõ trong văn chương Điều này dẫn đến việc sử dụng thiên nhiên như một “ngôn ngữ thứ hai” trong thơ ca, đặc biệt là thơ ca dân gian và trung đại, để diễn đạt các trạng thái tình cảm của con người Đặc điểm này tiếp tục được phát triển và cách tân trong Thơ mới.

Lữ “du hồn” vào thiên nhiên cho thấy sự phân cách giữa con người và thiên nhiên, như nỗi buồn của Bích Khê hay cảm xúc của Huy Cận Tuy nhiên, ở Hàn Mặc Tử, sự phân cách này không còn tồn tại; ông hòa nhập hoàn toàn vào thiên nhiên, tạo ra một chất siêu thực trong thơ ca Trong bài "Nói chuyện với Gái quê", Hàn Mặc Tử tự khắc họa hình ảnh của mình, thể hiện sự gắn kết sâu sắc với thế giới xung quanh.

Ta thường giơ tay níu ngàn mây Đi lại lang thang trên ngọn cây.

Hàn Mặc Tử không chỉ sử dụng ngôn từ một cách khéo léo mà còn sống thật với những hình ảnh mà ông tưởng tượng Như Chế Lan Viên đã nói, ông không phải là người làm thơ mà chính thơ ca đã chi phối cuộc sống của ông.

Hàn Mặc Tử thể hiện sự hòa nhập với thiên nhiên qua những hành động kỳ lạ như "ngoắt đám mây", "đuổi theo trăng", và "kìm sao bay" Nỗi đau và nỗi nhớ của con người không chỉ được diễn tả gián tiếp mà còn thông qua những tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến thiên nhiên, tạo ra những ấn tượng độc đáo và sâu sắc.

Em xé toang hơi gió

Em bóp nát tơ trăng

Em túm muôn trời lại

Em cắn vỡ hương ngàn…

Hàn Mặc Tử không nhân cách hoá sự vật mà coi chúng như con người, thể hiện qua việc ông ít sử dụng thủ pháp so sánh Ông mô tả sự vật một cách hiển nhiên, như trong câu chuyện về ánh trăng bị mắc trên cành trúc, cho thấy sự gắn bó sâu sắc giữa chủ thể và khách thể Điều này tạo ra những cảm xúc mạnh mẽ, phản ánh sự đồng điệu giữa tâm hồn thi sĩ và đối tượng Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thuý nhận định rằng trong thơ của ông có hiện tượng “người hoá trăng”, thể hiện sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên.

Lối tư duy “trăng hoá người” và “người hoá” mọi vật thể hiện sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên, nơi mà trời, trăng, gió và nắng đều mang những cảm xúc nhân văn Ví dụ, trời “từ bi cảm động ứa sương mờ”, trăng “choáng váng với hoa tàn”, gió “say ướt mướt trong màu sáng”, và hơi nắng “liếm cặp môi tươi” Quan điểm này gần gũi với tư duy nguyên thủy, nơi con người và sự vật hòa quyện Trong bài viết "Nghệ thuật là gì?", tác giả nhấn mạnh rằng để khám phá tính thiêng liêng của nghệ thuật, cần phải hòa mình vào vũ trụ rộng lớn và theo đuổi những khát vọng cao đẹp, từ đó sẽ nhận ra hình ảnh nghệ thuật rõ nét Quan điểm này cũng có sự tương đồng với suy nghĩ của Xuân Diệu.

“là thi sĩ nghĩa là ru với gió…” Thực tại tẻ ngắt nên các nhà thơ lãng mạn phải đi tìm

Trong thơ của ông, không gian trên cao được coi là nơi “chứa đầy hoa mộng”, khiến con người luôn hướng về phía trên Hình ảnh con người thường gắn liền với những biểu tượng vĩ đại như “thần trí dâng cao đến chính trời” hay “lên chơi cung quế” Trong tiền kiếp, con người được miêu tả như “chim phượng hoàng, vỗ cánh bay chín tầng trời Đâu Suất” Thay vì hình ảnh con người trên đường, thơ của ông chỉ khắc họa những nhân vật bay lượn trong không gian, cho thấy rằng càng lên cao, niềm hứng khởi của tác giả càng mãnh liệt.

Hồn vốn ưa phiêu diêu trong gió nhẹ Bay giang hồ không sót một phương nào Càng lên cao dây đồng vọng càng cao

2 Con người trong những trạng thái cảm xúc nghịch lý:

Hàn Mặc Tử là một thi sĩ nổi bật, với hành trình sáng tác độc đáo từ thơ cổ điển đến hiện đại Trong tập thơ Đường luật "Lệ Thanh", ông thể hiện hình ảnh một người đàn ông vĩ đại, mang trong mình "nam nhi chí" và sắc thái vũ trụ, qua các tác phẩm nổi bật như "Thức khuya", "Chùa hoang", "Tuồng đời" và "Cảnh khuya cảm tác".

Bài thơ "Đêm khuya tự tình với sông Hương" thể hiện nỗi buồn thu và chất đời sâu sắc của tác giả, phản ánh cảm hứng thời thế của một nhà nho xưa Tuy nhiên, trong tâm hồn của người nho sĩ tài tử này, còn ẩn chứa một con người khác với cảm hứng trữ tình lãng mạn, cho thấy sự đa dạng trong cảm xúc và suy tư của tác giả.

Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường Không dám sờ tay sợ lắm hương Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá Dám ôm hồn cúc ở trong sương.

Rõ ràng, nhân vật này mang tính cách bạo dạn, mặc dù vẫn còn ảnh hưởng bởi quan niệm truyền thống về mối quan hệ nam nữ Trong tác phẩm "Gái quê", hình ảnh của người này hiện lên như một kẻ si tình, mơ mộng và thầm nhớ thương.

Trong những đêm trăng sáng, anh lặng lẽ đi dạo bên hồ, cảm nhận hương thơm nồng nàn từ áo em Cảm xúc say mê khiến anh như lạc vào giấc mơ, yêu mến từng nét đẹp của em mà không cần phải thổ lộ.

Hàn Mặc Tử xuất hiện như một nhà thơ lãng mạn mới, từ bỏ y phục cổ điển để thể hiện con người sâu lắng và đầy cảm xúc của mình Ông mang đến những tư thế trữ tình và các cung bậc cảm xúc phong phú qua các tác phẩm nổi bật như Thơ Điên, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, và Quần tiên hội.

Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử, hình ảnh con người hiện lên như một chỉnh thể vừa nhất quán vừa phức tạp Thơ của ông chứa đựng sự bất hòa giữa các cực cảm xúc, đồng thời cũng thể hiện sự thống nhất tiềm ẩn giữa chúng Những cảm xúc nghịch lý này tạo nên nét độc đáo trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử.

3 Con người cô đơn, đau đớn:

Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật là một khía cạnh quan trọng trong thi pháp học, phản ánh quan niệm thế giới của nhà nghệ sĩ Nó không chỉ đơn thuần là môi trường xung quanh mà còn là một phần của vũ trụ và thiên nhiên Con người, với tư cách là hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật, không thể tách rời khỏi không gian tồn tại của họ Do đó, không gian nghệ thuật chính là hình tượng không gian trong tác phẩm, thể hiện cách nhìn nhận và cảm nhận của tác giả về thế giới.

1 Không gian điểm hẹn ái tình:

Hàn Mặc Tử, từ nền tảng Đường thi cổ điển, đã mang đến những cảm xúc lãng mạn và khao khát yêu đương, hòa nhập vào không gian thơ mới cùng với các thi sĩ như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận và Lưu Trọng Lư Những khát vọng tình yêu trong thơ của Hàn Mặc Tử đã tạo nên những rung động sâu sắc và nhịp đập hồi hộp trong hành trình sáng tác của ông Xuân Diệu thể hiện tình yêu qua “Mảnh vườn tình ái”, trong khi Nguyễn Bính cũng thường nhắc đến những chủ đề tương tự trong tác phẩm của mình.

Hàn Mặc Tử luôn nhìn nhận không gian “vườn quê” và “đất khách” như những điểm hẹn tình yêu lãng mạn Trong tác phẩm "Gái quê", không gian vườn tình được thể hiện qua vẻ đẹp của những miệt vườn xanh tươi ở xứ Huế, điều này đã được khắc họa sâu sắc trong thơ của ông, tạo nên bức tranh thiên nhiên đầy cảm xúc.

“đầy trinh tiết và đầy thanh sắc”.

Vườn đã trở thành một biểu tượng quen thuộc trong không gian ái tình của văn học, đặc biệt là trong tác phẩm của Hàn Mặc Tử Đối với thi sĩ này, vườn không chỉ là nơi hẹn hò mà còn là thế giới đầy cảm xúc, nơi tình yêu thăng hoa trong những hình ảnh tuyệt mỹ Những mảnh vườn tình ái trong thơ Hàn Mặc Tử mang đến vẻ đẹp rạo rực, phản ánh sâu sắc tâm hồn của một người luôn khao khát yêu thương.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Thơ Hàn Mặc Tử thường xuất hiện những hình ảnh hoa trái, gợi nhớ đến những vườn cam, vườn me, vườn dâu và vườn dưa Các điểm hẹn trong thơ của ông thường mang vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng, thanh vắng, đầy sắc thái, dễ gợi liên tưởng đến những nơi trai gái hẹn hò như bến nước, hồ nước và dòng suối Sự xuất hiện thường xuyên của những hình ảnh như bến sông trăng, dòng nước buồn thiu, bến Tầm Dương, bến Hàn Giang, bến lòng em, sông Hằng, sông Ngân và cầu Ô Thước không phải là ngẫu nhiên, mà thể hiện sâu sắc tâm tư và tình cảm của tác giả.

Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay.

Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm (Đà Lạt trăng mờ)

Thuyền anh neo đậu bến Hàn Giang (Khói hương tan)

Tôi ngồi ở bến Hàn Giang Khóc thôi mây nước bàng hoàn suốt đêm (Bến Hàn Giang)

Thu đây rồi ! Bước lên cầu Ô Thước (Đừng cho lòng bay xa)

Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ !

Ta nhìn trăng, khôn xiết ngâm ngùi trăng

Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng Thơ phép tắc bông kêu rên thống thiết.

Phan Thiết không chỉ là điểm hẹn tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử mà còn gắn liền với những hình ảnh thiên nhiên như khóm cây, đọt tre già, khóm thùy dương, bờ liễu và cành trúc, tạo nên dấu ấn kỷ niệm lứa đôi sâu sắc.

Trên đọt tre già trăng lưỡi liềm

Hỡi trăng hãy chặt khóm thùy dương (Tiếng Vang)

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu (Bẽn lẽn)

Bên khóm thùy dương em thướt tha Bên này bờ liễu anh trông qua

(Âm thầm) Ánh nắng lao xao trên đọt tre (Quả dưa)

Trên giàn thiên lý bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi vươn tới bầu trời, tạo nên hình ảnh thanh nhã và hữu tình trong khu vườn tình ái Đây là điểm hẹn của những giấc mơ yêu thương, nơi hoa lá xôn xao và ươm trồng những trái ngọt đặc biệt "Trái trăng chao vô hạn" không chỉ là một mảnh vườn trần gian, mà là không gian lãng mạn, nơi tình yêu được nảy nở và phát triển.

Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm Hoa lá hồ nghi sự lạ đời

Cuối cùng, không gian điểm hẹn ái tình của Hàn Mặc Tử là chốn nước non thanh tú thanh sạch, gió mát trăng trong: Ở đây có suối đoàn viên

Có cây phối hợp, có duyên ngọc vàng.

Vườn tiên mộng tưởng là chốn Bồng Lai, nơi Đào Nguyên hiện ra trong thơ ca, với âm thanh chim kêu, vượn hót, suối trong và tiếng tiêu trong sáng vang vọng, tạo nên không gian lãng mạn gọi mời bạn tình.

Ta reo lên giữa rừng thông rì rào, mang theo những tình cảm xa xăm Xin mời chàng thi sĩ tài hoa hãy ngồi xuống bên thảm ngọc trong vườn châu.

Hàn Mặc Tử đã chuyển mình từ mảnh vườn tình ái trần thế đến những điểm hẹn ái tình trong vườn thơ rộng lớn, nơi mà cảm xúc được thăng hoa không giới hạn Ông khám phá những không gian tâm tưởng như vườn trăng, vườn mơ và vườn tiên, bắt đầu từ bến sông trăng ở thôn Vỹ.

Thi sĩ đã tìm đến bến mộng và bến tình, với mục tiêu cuối cùng là bến lòng em Tuy nhiên, con thuyền tình ái trên dòng sông thi ca mộng tưởng vẫn mãi không thể cập bến lòng em.

2 Không gian vây bủa, rớm máu: Định mệnh số phận nghiệt ngã đã xô đẩy Hàn Mặc Tử đến vực thẳm cô đơn, dường như phải cách ly hoàn toàn với cuộc đời Nhà thơ luôn luôn sống trong cảm giác bị vây hãm, bủa vây trong cái không giantrời sâu, giếng thẳm Ám ảnh đó cứ đeo bám thi sĩ và hiện ra bằng tâm trạng cô độc khủng khiếp:

Tôi đang còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu ? (Những giọt lệ)

Chao ôi ! Ghê quá trong tư tưởng Một vũng cô liêu cũ vạn đời (Cô liêu)

Hàn Mặc Tử, sau khi mắc bệnh nan y, sống trong nỗi ám ảnh và mặc cảm về thân phận bị bỏ rơi Thi sĩ trải qua sự chới với và tuyệt vọng giữa không gian hãi hùng của trời sâu, nơi lưu đày những số phận bất hạnh.

Ngoài ám ảnh không gian trời sâu, Hàn Mặc Tử còn bị ám thị bởi không gian đáy giếng tối om bủa vây mịt mùng Thi sĩ đã:

Thét chòm sao hoảng rơi vào đáy giếng

Mà muôn năm rớm máu trong không gian.

Thi sĩ lại rùng rợn khi cảm nhận:

Người lắng nghe, lắng nghe trong đáy giếng Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống hư vô

Và hoảng sợ tột cùng:

Miệng giếng hả raNuốt ực bao laNuốt vì sao rồiLoạn rồi ! Loạn rồi, ôi giếng loạn!

Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng thiên Nhảy ùm xuống giếng vớt trăng lên (Trăng tự tử)

Hàn Mặc Tử thường cảm thấy bị số phận vây bủa, như đang rơi vào một vực thẳm hư vô không đáy với tốc độ nhanh chóng Cảm giác này tạo ra một tiếng vọng dài thê thiết trong không gian.

Trời hỡi bao giờ tôi chết đi Bao giờ tôi hết được yêu vì Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tợ si (Những giọt lệ)

Mặt trời nhuộm đỏ vũ trụ bao la, trong khi con người trở nên đơn độc và nhỏ bé, như bị giam cầm trong một khối lòng cứng tợ si Giờ đây, con người chỉ còn lại một mình, cô đơn giữa không gian rộng lớn.

Thời gian nghệ thuật

Thời gian và không gian là hai hình thức tồn tại cơ bản của thế giới và con người, không có gì tồn tại ngoài chúng Chúng tạo nên tính xác định cho sự vật, đồng thời có mối quan hệ biện chứng với nhau Thời gian có thể được coi là chiều thứ tư của không gian, là đại lượng cần thiết để xác định quá trình tồn tại, vận động và phát triển của mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới.

Thời gian nghệ thuật là hình tượng thời gian được sáng tạo trong tác phẩm, theo giáo sư Trần Đình Sử Trong thơ Hàn Mặc Tử, thời gian nghệ thuật thể hiện sự chủ quan của nhà thơ, không diễn ra theo mũi tên một chiều của thời gian khách quan Thay vào đó, nó mang tính cảm xúc và quan niệm, phản ánh cái nhìn riêng biệt và sâu sắc của thi sĩ.

Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ hiếm hoi thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn và bi kịch số phận qua không gian nghệ thuật độc đáo Dưới áp lực khắc nghiệt của định mệnh, ông sống như thể đang trải qua "cái chết" của chính mình, hàng ngày phải đối diện với những nỗi đau và sự cô độc.

Chiếc đồng hồ cát số phận đang vơi dần những hạt thời gian, khiến Hàn Mặc Tử liên tục sáng tạo để đối mặt với cái chết Sự ám ảnh về thời gian và nỗi lo lắng về tình yêu không trọn vẹn luôn ám ảnh tâm trí của thi sĩ.

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay (Đây thôn Vỹ Dạ)

Nhịp điệu thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử thể hiện sự gấp gáp và cuốn hút, với nhiều từ ngữ diễn tả các động thái và tâm trạng như đuổi, bắt, kịp, mau lên Trong Tựa Xuân như ý, Hàn Mặc Tử viết: “Cho mau lên dồn ánh nguyệt vào đây” và lặp lại “cho mau lời nguyện nóng lên không”, cho thấy sự hoảng hốt của nhà thơ trước dòng thời gian trôi đi.

Lòng anh luôn mơ hoảng với ngày trôi (Ái khanh hỡi)

Sự truy đuổi ngày càng quyết liệt:

Tôi gò trăng lại, tôi kìm sao bay (Chơi trên trăng)

Bắt ! Bắt ! Thơ bay trong gió loạn (Ước ao)

A ha ! Ta đuổi theo trăng (Rượt trăng)

Ta đi bắt nắng ngừng, nắng reo, nắng cháy (Ngủ với trăng)

Tôi vo tiếc mến như vo lụa Tôi giết thời gian trong nắm tay (Chơi trên trăng)

Em túm muôn trời lại

Em cắn vỡ hương ngàn (Em điên) Đến khi nỗi tuyệt vọng cùng cực thức dậy, nhà thơ tự nhủ lòng:

Thôi kéo về đừng cho lòng bay xa (Đừng cho lòng bay xa)

Thời gian nghệ thuật luôn mang dấu ấn chủ quan của nhà nghệ sĩ Với Hàn Mặc

Thời gian trong thơ của nhà thơ luôn ẩn hiện theo tâm trạng, đặc biệt là từ sau tác phẩm Thơ Điên, cảm giác vội vã và sự truy đuổi thời gian ngày càng trở nên rõ nét và thường xuyên hơn.

2 Thời gian gấp khúc, đứt gãy:

Số phận của Hàn Mặc Tử là một hành trình đầy trắc trở, đặc biệt trong tình yêu và cuộc sống Ông là một tài năng xuất chúng nhưng lại mang số phận bi thảm, thể hiện rõ nét nghịch lý của nhiều nghệ sĩ tài hoa như J.Leiba đã từng nhận định.

Thi nhân bạc đầu sớm hơn ai (Hoa bạc mệnh)

Hàn Mặc Tử trải qua nỗi đau và sự nghiệt ngã trong cuộc sống, khiến cho ám ảnh về sự gấp khúc và “đứt gãy” trở thành mô típ nghệ thuật trong thơ của ông Những thay đổi bất ngờ và đột ngột này phản ánh sâu sắc tâm trạng của thi sĩ.

Tiếng gà gáy rụng trăng đầu hạ Tôi hoảng hồn lên giận sững sờ.

“Trăng rụng” biểu thị sự kết thúc của đêm, nhưng thi sĩ lại gắn bó sâu sắc với ánh trăng trong những đêm dài, dẫn đến cơn giận dữ bùng phát Có những khoảnh khắc khi vầng trăng “ngã ngửa”, “sấp mặt” và “vỡ tan”, thể hiện sự hỗn loạn trong tâm hồn.

Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô (Say trăng)

Dòng mạch thời gian biến đổi theo tâm tưởng khiến mạch thơ thi nhân liên tục rẽ ngoặc:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ

Em lấy chồng rồi hết ước mơ.

Ngày mai, thi nhân sẽ tạm gác việc làm thơ, nhưng hôm nay vẫn đắm chìm trong sáng tác Trong khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, khi các cô thôn nữ say mê hát ca, nhà thơ bất ngờ cảm nhận nỗi buồn chia ly.

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Trong bài thơ "Đây thôn Vỹ Dạ", tâm trạng của thi nhân chuyển từ niềm vui với ánh nắng mới, vườn xanh như ngọc đến nỗi buồn chia ly khi trăng đêm xuất hiện Sự chuyển biến từ sáng sớm đến khuya mang đến cảm giác tiếc nuối và sâu lắng.

“đứt gãy” của tâm trạng đầy bất ngờ:

Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có trở trăng về kịp tối nay, nhưng đến đoạn cuối, thời gian trở nên ám ảnh với một màu sương khói nhạt nhòa trong tâm tưởng, khiến người ta không thể phân biệt được đêm và ngày Ở đây, sương khói mờ nhân ảnh tạo nên một không gian mơ hồ và đầy bí ẩn.

Ai biết tình ai có đậm đà.

Thời gian đồng hiện, xen lẫn giữa hiện tại, quá khứ và tương lai, phản ánh trạng thái tâm trạng và mặc cảm chia lìa của thi nhân Đây là một thời gian “gấp khúc” nội tâm, nơi mà tiếng đàn ngân nga ở chốn tiên cảnh cũng phải hãm bớt cung trầm lại, tạo nên sự tương phản giữa vẻ đẹp và nỗi buồn.

Ngay đến giấc mộng tình Thương Thương đẹp như mơ vây mà bất ngờ nhuốm màu ly biệt:

Anh sắp đi và hai hàng lệ ứa

Cả đau thương thương dồn dập xót tâm bào (…)

Anh chỉ ngó em trong chốc lát Để hồn thơ rào rạt với mây bay.

(…) Thôi chào em, giờ đi không trở lại Anh xa rồi mà hương phấn vẫn theo luôn (…)

Bỏ nàng đi để hồn ta mang mác (…)

Thôi thôi em mộng tàn theo châu lệ (Duyên kỳ ngộ)

Tình yêu nở rộ nhưng nhanh chóng tàn phai do sự chia ly bất ngờ, tạo nên nỗi ám ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử Những hình ảnh và ngôn ngữ của ông gợi lên cảm giác đột ngột, gấp khúc và đứt gãy, phản ánh thời gian ngắn ngủi của cuộc đời một thi sĩ tài hoa nhưng mệnh ngắn.

Ngày đăng: 30/04/2021, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w