Đối với học sinh giỏi – khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn.Còn đối với học sinh trung bình – yếu tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt nh[r]
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NAM TRÀ MY
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÀ NAM
Đề Tài:
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 1/6 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÀ NAM
Họ và tên: Trương Kiều Xuân Hương Chức vụ : Giáo viên tiểu học
Đơn vị: Trường Tiểu học Trà Nam
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Dạy Tiếng Việt ở tiểu học là trang bị cho HS những tri thức về hệ thống tiếng Việt, rèn luyện cho HS những kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong quá trình giao tiếp bao gồm các kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết.Trong đó kỹ năng đọc là hoạt động được chú ý đúng mức ngay từ lớp Một
Ở tiểu học, môn tiếng Việt rất quan trọng Học tốt môn tiếng Việt các em
có điều kiện học tốt các môn học khác Bởi thông qua việc dạy học môn tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy và cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài Đồng thời bồi dưỡng cho các em tình yêu tiếng Việt và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Để có thể bày tỏ ý nghĩa, tình cảm của mình, người ta phải nói hoặc viết tiếng Việt cả 2 dạng ngôn ngữ (lời nói, chữ viết) Có nghĩa là dạy cả 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) là dạy HS cả lĩnh hội và sản sinh các ngôn bằng tiếng Việt
Trong quá trình đổi mới phương pháp và nội dung dạy học của bậc tiểu học với mục tiêu giáo dục toàn diện các em được học 9 môn học, trong đó môn Tiếng Việt là môn học hết sức quan trọng Nhất là đối với lớp 1, là lớp đầu cấp Người ta thường nói “ Cấp 1 là nền, lớp 1 là móng”, móng có chắc thì nền mới vững
Dạy tiếng Việt cho học sinh đã biết nói được tiếng Việt đã khó như thế ,còn dạy cho học sinh vùng dân tộc thiểu số lại càng khó Đối với các em học sinh vùng dân tộc thiểu số, các em chưa biết gì hoặc cũng chỉ có biết và nói rất ít tiếng Việt Từ đây các em bắt đầu thay bằng tiếng mẹ đẻ để làm quen tiếng phổ thông(Tiếng Việt) Và cũng từ đây các em như được đi vào thế giới mới lạ hơn
Ở lớp Một các em học sinh bắt đầu làm quen với: Nghe,nói,đọc,viết Và kỹ năng đọc rất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em
nó sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ mình vừa đọc, hiểu được các lệnh các yêu cầu trong các môn học khác Mặt khác ở lớp Một các em được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp
Trang 2trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn Và các em sẽ ham học, tích cực trong học tập hơn nếu kết quả học tập của các em đạt khá - giỏi Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài này để nghiên cứu, tìm tòi ngõ hầu góp một phần nào cho việc rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1/6 trường Tiểu học Trà Nam, năm học 2010 – 2011
II / Cơ sở lý luận:
- Đối với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp Một nói riêng, các
kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” là những kĩ năng quan trọng hàng đầu Như chúng
ta đã biết: Đọc, viết là một dạng ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó
- Đọc, viết trở thành một yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với những người đi
học Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học
- Đọc, viết là công cụ để học các môn học khác Nó tạo ra hứng thú và
động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học, nó là kĩ năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh Nếu đọc yếu (đọc sai chữ, tốc độ chậm) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh
Kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi của kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em Nó thể hiện kết quả nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn ngắn, một đoạn thơ ngắn vv…
-Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết ghép vần, ghép tiếng, ghép từ, đọc câu còn yêu cầu các em phải đọc đúng, phát âm cho chuẩn Vì nếu các em phát
âm chuẩn đọc đúng các em sẽ viết đúng, và các em sẽ hiểu được ý của tiếng, từ, câu mà các em viết
- Dạy tiếng Việt tức là dạy tiếng thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số, mà
tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống mỗi con người, đó là công
cụ để giao tiếp và tư duy Lớp Một là lớp đầu cấp, mà giai đoạn đầu tiên học sinh được làm quen ở môn Tiếng Việt, ở giai đoạn học vần học sinh được tiếp xúc một cách tỉ mỉ với từng con chữ để biết đọc, biết viết tiếng giúp các em học tốt môn Tiếng Việt Vì thế, trẻ học tiếng Việt chính là học kĩ năng nghe nói đọc -viết tiếng phổ thông Từ những lý luận nêu trên có thể khẳng định rằng giai đoạn học môn Tiếng Việt 1 là giai đoạn quan trọng trong suốt quá trình học tiếng Việt của học sinh sau này
III/ Cơ sở thực tiễn:
Trong phạm vi cơ sở trường học và tình hình địa phương nơi công tác, tôi
đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
1/ Thuận lợi:
a/ Giáo viên:
- Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn.Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho
Trang 3học sinh tiểu học vv… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy
- Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút
ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy
- Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như hạnh kiểm
b/ Học sinh:
- Ở độ tuổi 6 – 7 của học sinh lớp 1.Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng vv…
- Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ huynh có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường, cho giáo viên,mà tích cực tiếp tay với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà
2/ Khó khăn:
Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi trên, bản thân tôi vẫn còn gặp một số khó khăn sau:
a/ Giáo viên:
- Tranh ảnh minh họa có sẵn cho môn Tiếng Việt còn hạn chế Giáo viên còn tự làm thêm đồ dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời gian đầu tư
b/ Học sinh:
- Hầu hết học sinh là người dân tộc thiểu số trình độ học sinh trong lớp không đồng đều.Tiếng phổ thông các em còn hạn chế thậm chí có những em chưa biết nói cũng như hiểu được tiếng phổ thông Bên cạnh những em phát triển, học tốt, tiếp thu tương đối nhanh vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến
- Do các em đã quen với môi trường ở lớp mẫu giáo chơi nhiều hơn học và
hôm nay đã sang với môi trường mới (lớp Một) học nhiều hơn chơi cho nên các
em còn quá bỡ ngỡ khi đến lớp, đến trường
- Sự tập trung chú ý chưa cao, tư duy chưa phát triển
- Đa số học sinh còn thụ động, nhút nhát, khó nhớ, mau quên.
- Nhận thức học tập của các em còn nhiều hạn chế
- Học sinh thường phát âm sai các âm đầu: tr/ch ; x/s; tiếng mang dấu thanh như : thanh huyền/thanh ngang; thanh sắc/ thanh hỏi… dễ lẫn lộn
- Bên cạnh đó, một số em chưa có ý thức học tập, không tập trung trong giờ học dẫn đến không nắm chắc hết các bài học
Trang 4-Còn một phần không ít phụ huynh ở vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số không và chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để con em mình đến lớp cũng như nhắc nhở các em học bài, đọc bài
ở nhà Một số phụ huynh còn nặng về phong tục tập quán lạc hậu,kiên cử…
- Cá biệt còn có trường hợp học sinh theo cha mẹ lên rẫy cả nhều ngày,vắng học thời gian lâu, thậm chí còn bỏ học vv… gây ảnh hưởng đến độ liên tục của bài học trong chương trình làm mất bài học, hổng kiến thức của học sinh
VI/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc tôi đã áp dụng những biện pháp sau:
1/NẮM BẮT THỰC TRẠNG, TÌNH HÌNH HỌC SINH QUA KHẢO SÁT ĐIỀU TRA KIẾN THỨC ĐẦU NĂM:
- Tìm hiểu để biết rõ số học sinh trong lớp đi học Mẫu Giáo và số học sinh không đi học Mẫu Giáo, hoặc đi học không đều Tìm hiểu nguyên nhân, lý do vì sao học sinh đó không đi học Mẫu Giáo
- Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái các em đã học ở Mẫu Giáo và kết quả điều tra đầu năm học 2010 – 2011 thu được như sau:
a)Tình hình HS đi học mẫu giáo năm học 2009-2010:
TSHS HS không học mẫu giáo HS đi học không đều HS đi học đều
b)Kết quả khảo sát nhận diện chữ cái:
TSHS HS không biết chữ cáinào HS biết 5-10 chữcái HS nhận biết các chữ cái
Như vậy tỉ lệ học sinh nhận diện một cách chắc chắn, chính xác bảng chữ cái còn thấp dẫn đến kết quả học tập chưa cao
Một trong những lý do dễ thấy là các em còn quá nhỏ, chưa ý thức tự giác,
cố gắng trong học tập Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học sinh Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi và các em sẽ thích học Nhận thức rõ được các khó khăn cơ bản
về học sinh, tôi đã có những biện pháp cụ thể sau:
2/ BIỆN PHÁP:
a/Tác động giáo dục:
- Phối kết hợp với phụ huynh đưa con em đến trường đầy đủ, thường xuyên nhắc nhở việc học bài đọc bài ở nhà của con em mình, đồng thời hướng
Trang 5dẫn phụ huynh cơ bản nắm được về cách đọc, các phát âm chữ cái, cách đánh vần vần, …để phụ huynh nắm rõ cách dạy học, hỗ trợ giáo viên kèm cặp con em mình ở nhà Và đặc biệt hơn là trong khi nói chuyện giữa cha mẹ với con em lúc
ở nhà thì nên sử dụng tiếng Việt và hạn chế bớt tiếng mẹ đẻ
- Phối kết hợp với cán bộ đoàn, đoàn viên tại cơ sở phát động phong trào
“ Tiếng trống học đêm” Phân công các đoàn viên có năng lực hướng dẫn, theo
dõi các em trong từng buổi học
- Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, tự làm thêm tranh ảnh, mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật
để tiết dạy vui, sinh động Đồng thời tạo điều kiện cho các em có đầy đủ sách giáo khoa, đồ dùng học tập cần thiết
- Xây dựng mô hình đôi bạn cùng tiến kèm cặp nhau
- Giáo viên có thể cho học sinh học yếu, đọc yếu để ngồi gần với một học sinh đọc thành thạo Bạn giỏi sẽ giúp bạn yếu khi chỉ chữ đọc bài, giúp bạn đánh vần, đọc tiếng và giúp bạn trong thao tác cài chữ để ghép vần, ghép tiếng
- Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh, ngay từ đầu năm giáo viên nên nắm vững trình độ học sinh trong lớp mình theo các mức giỏi, khá, trung bình, yếu Đối với các học sinh trung bình yếu Các em chưa nhận được mặt chữ cái hoặc chưa biết đủ 29 chữ cái đơn giản, giáo viên nên dành nhiều thời gian để bồi dưỡng cho đối tượng này, ôn và dạy lại 29 chữ cái cơ bản cho các em bắt đầu học lại những nét cơ bản
b/ Phần học các nét cơ bản:
Giáo viên nên dạy thật kỹ, thật tỷ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản.Để cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ này tôi phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và
so sánh.Dựa vào các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau
VD: Các nét chữ cơ bản và tên gọi:
Nét sổ thẳng
Nét ngang
Nhóm 1: Nét xiên \ Nét xiên phải
Nhóm 2: Nét móc Nét móc trên
Nét móc dưới Nét móc hai đầu Nhóm 3: Nét cong Nét cong hở phải
Nét cong hở trái Nét cong kín Nhóm 4: Nét khuyết Nét khuyết trên
Nét khuyết dưới Nét thắt
c/ Phần học âm:
Trang 6Sau khi cho học sinh học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản một cách vững vàng thì tiếp theo là phần học chữ cái
Giai đoạn này vô cùng quan trọng Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới
có thể ghép các được các chữ cái với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng đơn lại với nhau tạo thành từ, thành câu
Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sách báo như chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh hiểu
và nhận biết đó cũng là chữ a hay chữ g để khi gặp kiểu chữ đó được in trong sách báo trẻ dễ hiểu, dễ đọc không bị lúng túng
VD:
+ Âm g gồm 2 nét: Nét tròn nằm bên trái và nét khuyết dưới.
a cũng có 2 nét : Nét tròn bên trái và nét móc dưới.
+ Âm q gồm 2 nét : Nét tròn và nét sổ thẳng bên phải.
p gồm 2 nét : Nét tròn và nét sổ thẳng bên trái.
b gồm 2 nét : Nét tròn và nét sổ thẳng cao hơn nét tròn bên trái
Sang phần âm ghép ( chữ có hai âm ghép lại với nhau) Tôi cho học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để thấy được sự giống nhau
và khác nhau của các âm đó
VD:
+ Các âm ghép: ch - c
nh - n
th - t
kh - k
gh - g
ph - p ngh - ng + Còn lại các âm :
gi,tr, qu,ng tôi cho học kỹ về cấu tạo + Phân từng cặp âm phát âm khó:
ch - tr , x - s để học sinh phát âm chính xác và viết chính tả
Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện
sự tiến bộ của trẻ thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ… từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh
d/ Phần học vần:
Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng
Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen:nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em học vững VD:
Trang 7Học vần ăm :
1/ Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ăm: vần ăm gồm 2 âm: âm ă
và âm m đứng sau
Vị trí âm trong vần: âm ă đứng trước, âm m đứng sau
2/ Đánh vần vần ăm:
Hướng dẫn học sinh: âm ă đứng trước , ta đọc ă trước, âm m đứng sau ta đánh vần vần ăm như sau : á - mờ - ăm
Đọc trơn vần: : ăm
Kết hợp dùng bộ chữ học vần tiếng vần dành cho học sinh để ghép vần Yêu cầu các em: chọn đúng hai con chữ: ă và m
Ghép đúng vị trí : ă trước m sau
Nếu các em đã ghép đúng giáo viên hướng dẫn cách đánh vần và đọc trơn vần như trên các em sẽ nhận biết và đọc được vần ăm
Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế , nếu được áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năng phân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và thành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt Trong các bài dạy vần, sách giáo khoa Tiếng Việt 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài, giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần, sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với vần vừa học, để đọc tiếng, đọc
từ của bài
VD: dạy vần ăm có từ con tằm
Sau khi học sinh nắm vững vần ăm, nhìn và đọc được vần ăm một cách chắc chắn Giáo viên đưa ra từ con tằm và giúp học sinh nhận biết: Âm gì đứng trước vần ăm (âm t) dấu thanh gì ở trên vần ăm (dấu huyền) vậy ta có thể ghép
và đánh vần : tờ - ăm - tăm- huyền - tằm, đọc trơn : tằm, ghép từ : con tằm
3/ Các vần khó phát âm: ưu, ươu, ươ, uya, uynh, uych, uyên, uyêt, oan,
oang, oăn, oăng, oa, ao Tôi cho các em phát âm theo GV bằng cách nghe và nhìn theo khẩu hình để phát âm cho đúng Sau đó, tôi cho học sinh phát âm và nhận xét theo nhóm đôi, nhóm bốn…
Giáo viên có thể sử dụng tranh minh họa để cho học sinh hứng thú nhìn vào tranh ảnh sinh động hoặc mẫu vật thật để gợi trí tò mò, ham học hỏi của học sinh giúp các em chủ động trong giờ học
e/ Phần tập đọc:
- Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh Nhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu Học sinh khá- giỏi đã vững phần chữ cái, nắm vững phần vần, chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả năng nhận biết tốt Còn học sinh trung bình, yếu các em nhận biết còn chậm, chưa nắm chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm dẫn đến đọc
từ chậm và đọc câu rất khó khăn Vì thế đối với các học sinh này, sang phần tập đọc giáo viên cần hết sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội tập đọc cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều Giáo viên tránh nóng vội đọc trước
Trang 8cho các em đọc lại, dẫn đến tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh Giáo viên nên cho học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ
- Riêng đối với học sinh đọc còn chậm thì tôi cho các em đó đọc vài câu trong bài đó Tôi chỉ luyện cho các em đọc từ ít đến nhiều, không yêu cầu các em phải trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa như các học sinh khác
VD: Dạy bài tập đọc Trường Em (sách giáo khoa Tiếng Việt 1)
1/ Học sinh chưa đọc được tiếng trường, giáo viên nên cho các em đánh vần tiếng trường bằng cách phân tích như sau:
GV: Tiếng trường gồm có âm gì và ghép với vần gì? Có dấu thanh gì? HS: Tiếng trường gồm có âm tr ghép với vần ương và dấu thanh huyền GV: Vậy đánh vần tiếng trường thế nào?
HS: trờ - ương – trương – huyền – trường
GV: Đọc trơn tiếng này thế nào?
HS: Trường
Rồi cho học sinh đọc nối tiếp: trường em
2/ Học sinh yếu không đọc được tiếng trường
GV nên cho học sinh ôn lại cấu tạo vần ương trong tiếng trường
GV: Vần ương gồm có mấy âm?
HS: Vần ương gồm có 2 âm Âm đôi ươ và âm ng
GV: Vị trí các âm trong vần thế nào?
HS: Âm đôi ươ đứng trước, âm ng đứng sau
GV: Đánh vần và đọc trơn vần ương
HS: ươ- ng- ương, ương
GV: Thêm âm tr vào trước vần ương và dấu huyền trên vần ương.Ta đánh vần, đọc trơn tiếng thế nào?
HS: Trờ - ương – trương- huyền – trường, trường
Sau mỗi lần đánh vần,cho học sinh đọc trơn lại tiếng vừa đánh vần nhiều lần để khắc sâu vào trí nhớ học sinh
3/ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
Trong từng tiết dạy môn Tiếng việt, để giúp học sinh tích cực và ham học giáo viên cần sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau:
- Sử dụng tranh, ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu
- Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm hiểu
- Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên qua đến bài dạy
- Sử dụng thường xuyên bộ đồ dùng dạy, học Học vần lớp 1 của học sinh
và giáo viên
4/ PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY:
Có rất nhiều phương pháp và hình thức để áp dụng cho một tiết dạy nhắm đạt được một kết quả tốt cho giờ học Tuy nhiên không một phương pháp nào
Trang 9được coi là tối ưu, giáo viên nên sử dụng linh hoạt và đồng loạt nhiều phương pháp để giúp học sinh mình đọc ngày càng tốt hơn Sau đây là một số phương pháp thường được áp dụng trong giờ học:
a/ Phương pháp trực quan sinh động:
Đối với học hinh tiểu học nói chung và học sinh lớp Một nói riêng, phương pháp trực quan rất quan trọng đối với các em.Tôi thường dùng bộ đồ dùng dạy học Học vần lớp 1 để hướng dẫn, kết hợp với chữ viết mẫu của giáo viên Để hướng dẫn các em phát âm cho đúng, tôi cho các em nghe phát âm mẫu, đồng thời quan sát khẩu hình để phát âm cho chuẩn Để cho tiết dạy được sinh động và gây sự chú ý cho học sinh, tôi dùng tranh, ảnh, vật thật để hướng dẫn, thay cho lời giải thích
b/ Phương pháp đàm thoại, gợi mở:
Giáo viên đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lời nhằm phát hiện sự hiểu biết của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiện cách đọc
VD: - Chữ này là chữ gì? ( chữ a, o,b,c, d….)
Âm ch đứng trước, vần anh đứng sau, em đánh vần thế nào?( chờ- anh-chanh) Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên nên dùng ngôn ngữ dễ nghe, nhẹ nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu Hãy ôn tồn dẫn dắt học sinh từng bước một để dạy các em đọc từng chữ, từng tiếng, từng câu trong mỗi ngày
c/ Phương pháp luyện tập theo mẫu :
Phương pháp này thường gắn bó chặt chẽ với phương pháp giao tiếp Trong quá trình thực hành, HS phân tích, tổng hợp vần, luỵên đọc theo GV, nói theo mẫu câu trong SGK hay theo mẫu câu lời nói của GV … sẽ giúp được cho các em dần dần hình thành kĩ năng sử dụng lời nói
d/ Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh:
Trong tiết dạy tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài Đối với học sinh giỏi – khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn.Còn đối với học sinh trung bình – yếu tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy tập đọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tôi mời các em đọc yếu, trung bình lên bàn giáo viên để cùng đọc bài với cô.Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn Cùng đọc bài với các em trong giờ ra chơi ( nhưng vẫn để cho các em
có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi) Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ,nhưng tập trung nhất vẫn là hình thức khen trước lớp … để các em thích thú,tự tin và cố gắng hơn
e/ Phương pháp tổ chức các trò chơi:
Trong giờ học vần, tôi hay lồng ghép các trò chơi nhỏ để cả lớp cùng tham gia
VD trò chơi Ai nhanh – Ai đúng
Giáo viên ghi một số từ vào các mảnh bìa và đưa ra cho học sinh đọc Bạn nào đọc nhanh, đọc đúng 3 từ liên tiếp sẽ được cả lớp khen là giỏi và tôi thường
Trang 10hay chọn các học sinh trung bình, yếu để đọc nhiều hơn nhằm giúp các em cố gắng đọc để thi đua và tạo cho các em khả năng đọc nhanh, đọc đúng
g/ Phương pháp nhận xét nêu gương:
Để nâng dần chất lượng học sinh trong lớp, muốn cho trình độ học sinh đồng đều vào cuối năm học, tôi thường trò chuyện với học sinh trung bình – yếu
để dẫn dụ các em cố gắng hơn cho kịp bằng các bạn Tôi cho các em nhận xét các bạn giỏi trong lớp
VD: Bạn Quang, bạn Vi đọc giỏi, học giỏi vì các bạn ấy rất chăm chỉ đọc bài và đọc rất nhiều ở nhà Ở lớp các bạn cũng rất cố gắng đọc bài và luyện tập thêm để ngày càng đọc tốt đọc hay hơn Các bạn luôn thi đua với nhau xem ai đọc nhiều hơn, ai đọc đúng hơn và ai đọc hay hơn Các em cũng sẽ đọc giỏi như các bạn ấy nếu có cố gắng đọc nhiều, như các bạn : đọc chưa thông,đọc chưa nhanh thì đánh vần, đọc nhẩm nhẩm xong đọc to lên và cứ thế mà đọc mãi, đọc
đi đọc lại, đọc đến khi nào nhìn vào chữ là đọc được ngay mới thôi
Và tôi đã cũng đọc với các bạn nhỏ trung bình – yếu ấy, nhằm giúp đỡ khả năng đọc bài, cũng như giúp các em phân tích tiếng, cách đọc một tiếng, cách đọc sao cho nhanh như: nhẩm âm đầu → nhẩm vần → ghép âm đầu với vần → ghép dấu thanh thành tiếng vv…
h/ Phương pháp học nhóm:
Như đã nói ở trên, tôi cho học sinh giỏi kèm học sinh yếu, em giỏi ngồi gần em yếu để giúp bạn học tập ở lớp Còn khi về nhà tôi phân công và giao nhiệm vụ cho em đọc yếu đem sách đến để cùng học, cùng đọc bài với bạn giỏi gần nhà nhất Các nhóm trưởng hướng dẫn và kiểm tra trước khi vào lớp.Trước khi vào giờ học chính tôi cho các nhóm trưởng báo cáo kết quả học tập và sau đó tôi dành thời gian để khuyên nhủ động viên, biểu dương nhóm học tập tốt
i/ Phương pháp nhận xét phát âm của bạn và tự sửa phát âm:
Đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số thì việc phát âm chuẩn thì đặc biệt
khó khăn nhất là các tiếng mang âm đầu ch/tr; x/s; các tiếng mang vần ưu/iêu,ươu/iêu,au/âu/ao; các tiếng có mang dấu thanh như: thanh huyền/thanh ngang; thanh hỏi/thanh sắc…Để biết được bạn phát âm đúng hay sai, tôi cho
học sinh khác nhận xét và em đó phải tự phát âm lại cho đúng , nếu tiếp tục phát
âm sai, tôi cho HS khác đọc cho em đó phát âm lại cho đúng Như vậy tôi đã cho các em tự nhận xét và nhận xét; tự sửa và giúp bạn sửa phát âm Từ đó, các em biết được khi đọc sai, phát âm chưa chuẩn thì tự biết và phát âm lại cho đúng
V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình áp dụng các biện pháp, phương pháp trên để rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 Tôi đã thu nhặt được những kết quả đáng khích lệ sau:
1/Số học sinh yếu giảm dần trong năm học: