1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

skkn lớp 1 TV

10 558 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số kinh nghiệm trong dạy học môn tiếng việt lớp một
Trường học Không có thông tin
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản Không có thông tin
Thành phố Không có thông tin
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 67,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số kinh nghiệm trong dạy họcmôn tiếng việt lớp một I - Mở đầu: 1/ Thực trạng: Đổi mới giáo dục là một thử thách đối với giáo viên đứng lớp, chúng ta cần phải thay đổi quan niệm, điều

Trang 1

Một số kinh nghiệm trong dạy học

môn tiếng việt lớp một

I - Mở đầu:

1/ Thực trạng:

Đổi mới giáo dục là một thử thách đối với giáo viên đứng lớp, chúng ta cần phải thay đổi quan niệm, điều chỉnh các phơng pháp dạy học phù hợp để đạt

đợc hiệu quả giáo dục cao nhất để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục của nội dung sách giáo khoa mới Công việc thực sự không đơn giản chút nào

Có lẽ do trình độ giáo viên tiểu học chúng tôi đa số còn hạn chế, những khái niệm, lý luận “cao siêu” về giáo học pháp về các quan điểm giáo dục vĩ mô thờng không đợc chúng tôi quan tâm nhiều lắm Chúng tôi, những giáo viên

đứng lớp, cần những hớng dẫn cụ thể, những kinh nghiệm thực tiễn, những

ph-ơng pháp dạy học khả thi Qua ba năm thực hiện đổi mới giáo dục, nhờ sự chỉ

đạo đúng đắn của các chuyên viên Sở giáo dục, Phòng giáo dục và Ban giám hiệu nhà trờng, những giáo viên đứng lớp chúng tôi đã ít nhiều có đợc những kinh nghiệm quý báu cũng nh tự tin nghề nghiệp nhất định

2/ Lý do chọn đề tài nội dung chính và mục tiêu bài viết:

Để góp phần tích luỹ kinh nghiệm dạy học thực tiễn đối với các bạn đồng nghiệp là những giáo viên lớp 1 trong huyện nói riêng và trong tỉnh nhà nói chung, trong bài viết này tôi xin đợc nêu những kinh nghiệm bản thân đã thu thập đợc thông qua kiểm nghiệm thực tế và đã đạt đợc những kết quả khả quan; trình bày những điều tôi rất tâm đắc trong việc hoàn thiện phơng pháp dạy học của bản thân thông qua việc thực hiện đổi mới giáo dục lần này, cuộc đổi mới gây rất nhiều tranh cãi cũng nh hoài nghi trong d luận xã hội; và cũng qua bài viết này với t cách là một giáo viên đã qua nhiều năm dạy học, là giáo viên tiểu học tôi muốn khẳng định sự đúng đắn của đổi mới giáo dục và tính khoa học, hiệu quả của bộ sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 1 bằng những chứng minh thực tiễn mà bản thân tôi và các giáo viên khối một của trờng tiểu Nghĩa Thái -Tân Kỳ - Nghệ An chúng tôi đã trải nghiệm

3/ Bố cục của bài viết:

Trang 2

Bài viết đợc chia thành ba phần:

Phần 1: Các biện pháp nâng cao chất lợng dạy học tôi đã áp dụng và đã

thu đợc kết quả tốt

Phần 2: Các bài học kinh nghiệm hữu ích đã giúp tôi hoàn thiện phơng

pháp dạy học của mình

Phần ba: Khẳng định sự đúng đắn của đổi mới giáo dục, những kết quả tốt

đẹp mà bộ sách giáo khoa môn Tiếng việt lớp 1 đã mang lại cho học sinh và giáo viên và một số đề nghị điều chỉnh theo chủ quan là cần thiết để bộ sách hoàn thiện hơn

Phần I Các biện pháp nâng cao chất lợng dạy học

Môn tiếng việt lớp 1

Theo tôi, thực hiện đầy đủ các hớng dẫn của sách giáo viên - ban hành kèm bộ SGK - giáo viên đã hoàn thành đợc quá nữa nhiệm vụ của mình Các

ph-ơng pháp dạy học nêu trong sách hớng dẫn, tuy còn vài chi tiết cha phù hợp ở nơi này nơi khác, nhng căn bản là rất khoa học giúp giáo viên thực hiện thành công các mục tiêu giáo dục mà nội dung sách giáo khoa yêu cầu Bản thân tôi đã vận dụng sách hớng dẫn kết hợp với sự sáng tạo riêng của mình nh sau:

1/ Tích cực hoá việc dạy học thông qua việc dạy nói và ngợc lại:

Mở đầu bài học giáo viên cho học sinh có cơ hội trình bày ý nghĩ của mình bằng lời nói nh thảo luận tranh minh hoạ; giáo viên hớng dẫn và yêu cầu học sinh đa ra nhận xét cách đọc của bạn… Bằng các biện pháp giáo viên luôn Bằng các biện pháp giáo viên luôn tạo cho các em học sinh cơ hội đợc trình bày các suy nghĩ chủ quan của bản thân bằng lời nói để có thể phát huy tối đa năng lực ngôn ngữ nói của học sinh thông qua việc nhận xét, tự tìm hiểu các nội dung các bài đọc, biết cách trình bày nhận xét và đánh giá độc lập

2/ Dùng hình ảnh dí dỏm, động tác … trực quan để dạy nghĩa từ: trực quan để dạy nghĩa từ:

Hình ảnh trực quan là rất quan trọng đối với việc cung cấp từ ngữ cho học sinh và nếu hình ảnh trực quan có đợc tính dí dỏm là tuyệt hảo, đặc biệt đối với các từ có cách đọc gần giống nhau hay dễ lẫn lộn nh: Tay - Tai; Trăn - trăng, bàn

- bàng… Bằng các biện pháp giáo viên luôn không khí lớp học lúc nào cũng đầy ắp tiếng cời vui vẻ sảng khoái khi

Trang 3

phát hiện ra nhữg lỗi ngớ ngẩn của mình một cách rõ ràng bằng những hình ảnh

cụ thể trong các tình huống: “… Bằng các biện pháp giáo viên luôn Khi “tay/tai” bà “tay/tai” mẹ còn dắt vòng đi men… Bằng các biện pháp giáo viên luôn” - “bé ngắm “trăng/trăn” - “cây “bàng - bàn” ở sân trờng”… Bằng các biện pháp giáo viên luôn tôi vẽ hình hí hoạ miêu tả hai nội dung tơng phản nh cai tay và cái tai, vầng trăng và con trăn, cây bàng và cái bàn… Bằng các biện pháp giáo viên luôn Tôi cũng đã minh họa những từ chỉ động tác và yêu cầu học sinh thực hiện các động nh “ngoe nguẩy”, “lom khom”, hoặc yêu cầu học sinh đóng vai trong các “tiểu phẩm” để làm sống động các tình huống xuất hiện ngữ cảnh của từ ngữ nh “hốt hoảng” - trong bài “nói dối hại thân”,

“mừng quýnh” trong bài “bác đa th”… Bằng các biện pháp giáo viên luôn Tính dí dỏm trong việc dùng hình ảnh trực quan để giảng từ đã có những tác động kép chẳng những giúp học sinh hiểu

đúng nghĩa từ mà còn giúp các em nhớ lâ nhờ yếu tố dí dỏn, gây ấn tợng, tránh

đợc áp lực nặng nề của việc học đồng thời học sinh không cảm thấy mệt mỏi vì học tập

3/ Dạy đọc qua bài hát và dạy hát các bài đọc đã đợc phổ nhạc:

Biện pháp này tôi phát hiện qua thực tiễn và thấy rằng rất hiệu quả Khi học đến các bài đọc trong sách giáo khoa đã đợc phổ nhạc mà các em đã đợc học hồi ở Mẫu giáo, các em thờng “hát” luôn các bài đọc (bài ca dao Cái Bống, bài thơ Mèo con đi học, bài thơ đi học) đã làm tôi nghĩ đến biện pháp dạy đọc qua các bài hát trong giờ sinh hoạt Tôi chọn các bài hát dân ca có các giai điệu dễ hát cho học sinh học nh “Lý cây bông”, “Trống cơm” “Lý Ngựa Ô”… Bằng các biện pháp giáo viên luôn Để dạy một bài hát, tôi viết bài hát cần học lên bảng cho học sinh đọc theo tiết tấu cho

đến khi thành thạo mới cho học sinh học hát thực sự Biện pháp này có hiệu quả tốt vì các em không có cảm giác đang học mà là cảm giác đang hò hát vui vẻ Các từ ngữ, ý tởng đã đợc một cách nhẹ nhàng thoải mái

4/ Tạo bầu không khí thi đua tích cực:

Tôi luôn chú ý trớc bầu không khí thi đua tích cực trong lớp Tuỳ theo độ dài ngắn của bài đọc tôi chia lớp thành các nhóm thi đua với nhau sao cho tất cả các em đều đợc tham gia đọc Ví dụ nh: Khi một tổ đọc thì các tổ khác lắng nghe và có nhận xét, chọn “Ban giám khảo”chấm điểm cụ thể - mô phỏng cách làm của chơng trình truyền hình “Vờn cổ tích” - cho các tổ thi đua… Bằng các biện pháp giáo viên luôn Khi tổ chức thi đua tôi luôn chú ý tạo bầu không khí thi đua tích cực không phải ganh

đua, để thực hiện điều này, tôi yêu cầu học sinh phải nhận thấy trớc hết phải là u

điểm của bạn sau đó mới là những thiếu sót của bạn nếu có

Trang 4

5/ Dạy nói và viết thông qua các môn học khác nh: Toán, Tự nhiên và xã

hội, Đạo đức Đặc biệt ở môn toán, ở học kỳ hai, đã có dạng bài toán giải toán có lời văn, trong đó yêu cầu học sinh phải đọc đề, viết lời giải… Bằng các biện pháp giáo viên luôn môn Toán cần phát huy khả năng t duy độc lập nên nhu cầu trao đổi thảo luận là không cần thiết mà cần tập trung cho các em chẳng những khả năng đọc hiểu đề và biết trình bày lời giải bằng chữ viết mà còn biết phân tích đề toán và lập luận, trình bày t duy của bản thân bằng lời nói Các môn học Tự nhiên và xã hội, Đạo đức cũng cần phát huy khả năng nói, nghe, đọc, viết của học sinh Nh vậy, đồng thời cần dùng các môn học này nh là phơng tiện củng cố các kỹ năng ngôn ngữ của học sinh Nói tóm lại các môn học hỗ trợ nhau thông qua việc sử dụng ngôn ngữ của học sinh

6/ Gắn liền việc học với thực tiễn:

Tận dụng mỗi khi có cơ hội tốt mở đầu, trong khi hay kết thúc tiết học -tôi yêu cầu các em học sinh thông báo những gì các em đã xem trên truyền hình, nghe đai, các khẩu hiệu các em đọc đợc trên đờng, hoặc xem báo… Bằng các biện pháp giáo viên luôn để các em đ

-ợc sử dụng ngôn ngữ độc lập với những đề tài rất “thời sự” đối với các em, về các vấn đề mà các em quan tâm hoặc có liên quan đến các kiến thức các bài học Không khí lớp học lúc đó rất sôi nổi, các em tranh nhau ra những điều mắt thấy, tai nghe bằng chính ngôn ngữ của mình Biện pháp này đã động viên các em học sinh tự giác và tích cực sử dụng các kỹ năng nghe, đọc, quan sát và biết cách thu nhận, xử lý và truyền đạt thông tin, qua dó nâng dần các kỹ năng ngôn ngữ của học sinh - thực hiện mục tiêu chính của bộ môn tiếng việt mà sách giáo khoa mới yêu cầu

Có thể nói “linh hồn” của đổi mới giáo dục hiện nay chính là yếu tố này Vai trò “nhà tổ chức” các hoạt động cần đợc thực hiện nh thế nào chính là chìa khoá giúp giáo viên quan niệm đúng và thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Tôi đã bắt chớc những hình thức trò chơi trên đài truyền hình - chủ yếu là chơng trình

v-ờn cổ tích - để tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động vui - học nh trò chơi

“dãy từ”, “thi kể chuyện” cùng với hoạt động “đóng vai” trong các tiểu phẩm, làm không khí lớp lúc nào cũng vui vẻ, sôi nổi Muốn làm đợc nh vậy, bản thân giáo viên phải nổ lực rất nhiều từ các nói năng, kể chuyện, động viên… Bằng các biện pháp giáo viên luôn hơn thế nữa giáo viên cần phải tự hoàn thiện mình để có thể đảm đơng vai trò là ngời tổ chức và quản lý các hoạt động Giáo viên chẳng những phải có kiến thức rộng

Trang 5

mà còn phải có những “tài lẻ” nh biết hát, biết vẽ, ứng xử nhanh, nói năng lu loát chuẩn mực… Bằng các biện pháp giáo viên luôn nói chung phải là một thần tợng trong mắt trẻ thơ mới có thể

đảm đơng tốt vai trò nhà tổ chức hoạt động của mình Ví dụ chúng ta phải thờng xuuyên xem truyền hình nắm bắt thời sự, học hỏi cách tổ chức các hoạt động, phải đọc sách báo mở mang kiến thức, phải để ý các sự kiện chính trị xã hội có thể liên quan đến bài học… Bằng các biện pháp giáo viên luôn

8/ Học các thành ngữ cao dao, tục ngữ:

Nét đẹp của một ngôn ngữ chính là thành ngữ, tục ngữ và những câu ca dao mộc mạc đậm đà bản sắc dân tộc Tôi tận dụng những sự kiện thực tế của lớp để cung cấp cho các em những thành ngữ, tục ngữ hoặc những câu ca dao giúp các em tiếp nhận một cách trực tiếp ý nghĩa và cách sử dụng chúng cho

đúng lúc, có hiệu quả biểu cảm cao Ví dụ: Có một số học sinh trả lời sai, các bạn trong lớp cời chê nhạo bạn đó, tôi liền tận dụng tình huống này cung cấp cho các em câu ca dao: “Cời ngời chớ có cời lâu” “Cời ngời hôm trớc hôm sau ngời cời” Vào những ngày thời tiết thay đổi, chúng tôi học những câu nh: “chuồn chuồn bay thấp thì ma… Bằng các biện pháp giáo viên luôn” “chớp đông nhay nháy, gà gáy cấm ma”, “ếch kêu uôm uôm, ao chuông đầy nớc”… Bằng các biện pháp giáo viên luôn

9/ Động viên học sinh đọc sách và giới thiệu sách báo bổ ích:

Ngoài việc động viên các em đọc sách báo tôi còn giúp phụ huynh chú ý

đến việc nay Tôi giới thiệu và khuyên phụ huynh nên mua những tờ báo viết riêng cho lứa tuổi nhi đồng và động viên họ cùng đọc báo với con, giúp chúng có thói quen đọc báo Ngoài đọc báo tôi cũng giới thiệu những truyện tranh bổ ích cho phụ huynh học sinh tìm mua và khuyến khích con đọc nh truyện tranh Đô

Rê Môn, Thần Đồng Đất Việt Lu ý phụ huynh chọn sách báo phù hợp cho con

em đọc phải vừa sức, thích hợp với sở thích, không nên gò ép các cháu đọc mà phải giáo dục từ từ Lúc đầu có thể đọc cho các cháu nghe, vừa đọc vừa xem hình Dần dần khi chúng đã yêu thích thì để cho chúng tự đọc, nhắc nhở các cháu đọc sách ở nơi đủ ánh sáng, t thế đọc thích hợp, thoải mái, thờng xuyên hỏi han về những gì chúng đã đọc đợc, phải tỏ ra thực sự quan tâm và động viên khen ngợi sẽ là một động lực mạnh mẽ cho trẻ ham đọc sách báo từ đó tác động mạnh đến ý thức tự học của trẻ

Bằng những biện pháp nêu trê, đơng nhiên chất lợng dạy học bộ môn Tiếng Việt sẽ có hiệu quả rất cao và qua thực tiễn trong lớp của tôi cũng nh các lớp 1 khác trong trờng Tiểu học Nghĩa Thái - Tân Kỳ - Nghệ An đều có kết quả rất tốt

Phần II Bài học kinh nghiệm dạy học

Trang 6

Bộ môn tiếng việt lớp 1

Bài học tâm đắc nhất tôi nhận ra ở lần đổi mới giáo dục này là việc “Dạy”

đã thực sự hoà nhập vao việc “Học” đối với giáo viên Nó vừa là phơng tiện, vừa

là cứu cánh của việc hoàn thiện phơng pháp dạy học mới đối với từng giáo viên Hai khái niệm “dạy” và “học” phải đợc hiểu là một từ “dạy học” và không thể tách rời theo hai ý nghĩa sau đây:

- Khái niệm dạy học là một thực thể thống nhất:“ ” Việc dạy là làm cho việc học xẩy ra, dạy là làm cho học sinh học, do đó phải gọi nó là dạy học -không thể tách rời

- Khái niệm dạy học là một quan hệ nhân quả hai chiều:“ ” Để có thể

“dạy học” theo khái niệm trên ngời giáo viên phải học Nh vậy có thể nói giáo viên phải học để dạy và ngợc lại quá trình dạy đó đã giúp giáo viên học đợc rất nhiều Do đó khái niệm “dạy học” cũng không thể tách rời

Lúc này các từ “dạy” hay “dạy dỗ” không thể truyền đạt đầy đủ và đúng nghĩa công việc của ngời thầy nữa mà phải là “dạy học” Mới thoạt nghe có vẻ

nh đơn giản, không có gì mới mẻ nhng hiểu đúng và đầy đủ tinh thần đổi mới giáo dục theo quan niệm trên không phải chuyện một sớm một chiều Bản thân tôi cũng đã phải trải qua một thời gian trải nghiệm thực tế mới cảm nhận đợc tinh thần ấy Đã từ lâu chúng ta “ngủ yên” trong vị thế ngời thầy, ngời khai sáng, ngời mang kiến thức đến cho học sinh … Bằng các biện pháp giáo viên luôn vị thế của ngời “cho” và học sinh là ngời “nhận” Và tất yếu sự nhận của học sinh sẽ là một quá trình thụ động, cấu hơn là quá trình Tất yếu, kết quả của phơng pháp dạy học này hạn chế rất nhiều thậm chí còn làm thui chột các khả năng tự học và khả năng sáng tạo của học sinh, tôi hiểu ra rằng chính cách dạy và học thông tin một chiều đã dẫn đến tình trạng có nhiều giáo viên tiểu học đã hoàn thành ngừng việc học sau khi tốt nghiệp ra trờng vì cho rằng ta đã có đủ kiến thức để dạy dỗ các em học sinh Kiến thức của bậc tiểu học có gì là ghê gớm đâu mà cần phải học tập thêm

Việc học theo tinh thần cũ là một quá trình của sự ghi nhớ, nhớ càng nhiều càng tốt, các yếu tố tối cần thiết nh sáng tạo, lòng khát khao học tập và nhất là các học, khả năng tự học, tự nghiên cứu không có đợc bao nhiêu trong cách giảng dạy cũ Nh phần một đã trình bày, các biện pháp nâng cao chất lợng dạy học chất lợng dạy học môn Tiếng Việt lớp một đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi, học tập Không phải học các định luật vật lý nguyên tử, thuyết tơng đối, thuyết

Trang 7

l-ợng tử… Bằng các biện pháp giáo viên luôn hay gì gì cao siêu khác mà chính là cách học làm cho học sinh sinh ham học, học cách làm cho chúng biết cách tự học, chúng ta phải học cách làm cho học sinh phát huy trí lực, học cách làm cho học sinh biết cách hoà mình vào cuộc sống thật xung quanh để có thể thích nghi tốt với xã hội này Nh vậy trớc hết chúng ta phải là ngời hiếu học, phải là ngời biết cách học mới có thể dạy cho ngời khác ham học và biết cách học Nh tinh thần khuyến học của Liên Hiệp Quốc đại ý là “học những điều mình yêu thích, học những điều cần thiết cho công việc Học để thoả mãn nhu cầu hiểu biết, học để làm việc tốt hơn, học để hoà nhập tốt với cộng đồng, học để chung sống hoà bình Do đó mọi ngời phải học tập suốt đời và một xã hội văn minh là một xã hội học tập”

Trong suốt quá trình dạy học theo phơng pháp đổi mới, học sinh của chúng tôi luôn đợc sống trong không khí học tập vui tơi Việc học tập đợc diễn

ra tích cực, trong đó mỗi cá thể đều đợc bộc lộ đầy đủ, hết “công suất” Các biện pháp tôi đã thực hiện đều có xuất phát điểm từ quan niệm dạy học là một quá trình làm cho sự học diễn ra, để có thể đáp ứng đợc những yêu cầu đó, tôi đã học mọi lúc, mọi nơi Ví dụ: Trớc đây tôi xem truyền hình chỉ để giải trí, giờ đây ngoài giải trí ra tôi đã học đợc cách hoạt động giáo dục, cách điều khiển những hoạt động vui mà học đó Các chơng trình khoa học trên truyền hình, sách báo, các bản tin thời sự đã đợc gắn liền với nhu cầu học tập của học sinh Sự học đã

đ-ợc gắn liền với cuộc sống thật hàng ngày Việc lên lớp hàng ngày không còn là một chuỗi những chu kỳ lên lớp để thông tin một chiều bất định, nhàm chán Mỗi ngày lại có thêm những điều mới mà ta có thể học đợc từ thực tiễn Ví dụ: Tôi đã học đợc biện pháp dạy đọc qua bài hát từ chính học sinh của mình khi chúng hát các bài tập đọc trong sách giáo khoa

Phơng pháp dạy học mới chú ý nhiều đến phát huy khả năng t duy, tạo

điều kiện cho học sinh bộc lộ bản thân nhng không phải vì vậy mà bỏ qua việc ghi nhớ thông tin để biến nó thành kiến thức Tôi cũng đã tích luỹ đợc một số kinh nghiệm hữu ích đối với môn Tiếng Việt nh sau:

1/ Nguyên tắc lập đi lập lại nhiều lần: Luôn hiệu quả cho sự ghi nhớ Do

đó giáo viên cần làm những bảng tóm tắt quy tắc chính tả giúp học sinh ghi nhớ

Ví dụ: Quy tắc chính tả: C - G - Ng; a, ă, â, o, ô, ơ/K - GH-NGH: e, ê, i Rèn luyện bằng cách lập lại nhiều lần bằng những hình thức bài tập khác nhau sẽ giúp học sinh mau nhớ và nhớ đợc lâu

Trang 8

2/ Nguyên tắc ấn tợng và trực quan: Cũng giúp học sinh mau nhớ và nhớ

đợc lâu Ví dụ: Gắn hình ảnh khác nhau cho học sinh ghi nhớ các từ dễ viết lẫn lộn nh: Cái tay và cái tai bằng hình ảnh mẹ nắm tay con và mẹ nắm tai con Sách giáo khoa cũng có những bài tập tơng tự tuy nhiên giáo viên cần sáng tạo thêm tuỳ theo tình hình thực tế của lớp mình phụ trách bị lỗi nào mà điều chỉnh

3/ Dù ta có trí nhớ tốt đến đâu cũng không thể nhớ hết những biện pháp chúng ta đã vận dụng trong giảng dạy:

Do đó chúng ta cần ghi chép lại những biện pháp lớn nhỏ ta đã áp dụng có hiệu quả, ta đã học đợc của bạn đồng nghiệp khi dự giờ Việc tích luỹ các tài liệu, những t liệu về các kiến thức liên quan đến nội dung giảng dạy là rất cần thiết cho việc dạy học Theo tài liệu, t liệu… Bằng các biện pháp giáo viên luôn giáo viên cần phải có là: từ điển Tiếng Việt, các tranh ảnh liên quan đến bài học, sách ngữ pháp Tiếng Việt, các tập thơ viết cho thiếu niên, nhi đồng, sổ tích luỹ kinh nghiệm (ghi chép những trò chơi, những biện pháp giải nghĩa từ bằng tình huống, hình ảnh điệu bộ, những tiểu phẩm… Bằng các biện pháp giáo viên luôn) các bài hát có thể dùng để dạy đọc (trong đó có dự kiến vạch nhịp, phách cho học sinh đọc trớc khi học hát)

Phần III Một số nhận xét và đóng góp ý kiến về sách giáo khoa tiếng việt lớp một

Đổi mới giáo dục là một yêu cầu cấp bách D luận xã hội vừa đồng tình vừa hoài nghi với những đổi mới giáo dục Là những giáo viên đứng lớp, chúng tôi thật sự rất “ngán” đổi mới Một cách tự nhiên không ai muốn phá vỡ những

“trật tự” mà chúng ta đã quen thuộc mặc dù biết rằng nó đã qua lạc hậu Việc thay sách giáo khoa lần này cũng nh những lần trớc cũng có những d luận từ nhiều phía, trong ngành giáo dục và ngoài xã hội Qua bốn năm thực hiện, với t cách là một giáo viên tiểu học, tôi có thể khẳng định rằng: Bộ sách giáo khoa lớp một nói chung và sách giáo khoa môn Tiếng Việt nói riêng là u việt hơn bộ sách

cũ nhiều Bộ sách giáo khoa này giúp cho học sinh và cả giáo viên thoát đợc cách học cũ Bằng kinh nghiệm bản thân tôi đã nêu ở phần hai, giáo viên chúng tôi dã tiếp thu đợc quan điểm dạy học mới và thực hiện dễ dàng hơn Đối với môn Tiếng Việt, chúng ta đã chuyển từ việc học chữ thành học ngôn ngữ - rèn

Trang 9

luyện đồng thời bốn kỹ của ngôn ngữ là nói, nghe, đọc, viết - phát huy đợc t duy

độc lập, tích cực

Sau đây là một vài số liệu chứng minh kết quả đó:

Năm học Sĩ số

học sinh

Số học sinh lên lớp

Kỹ năng nói tốt

Kỹ năng nghe tốt

Kỹ năng

đọc tốt

Kỹ năng viết tốt

Số học sinh giỏi

Giai đoạn cha

hay sách

Giai đoạn đã

thay sách

Hai năm cha thay sách không có đánh giá hai mặt này, nhng các kỹ năng diễn đạt bằng lời, nắm bắt thông tin qua lời nói của học sinh không tốt bằng thời gian đã thay sách

Các số liệu trên có thể khẳng định bộ sách giáo khoa mới môn Tiếng Việt

có kết quả tốt hơn so với sách giáo khoa cũ Cần chú ý rằng đây là số liệu học sinh của lớp tôi dạy, ở một số lớp khác - do giáo viên cha có kinh nghiệm - số liệu chênh lệch giữa cha thay sách và đã thay sách còn chênh lệch nhiều hơn

Tuy nhiên từ sách giáo khoa đến sách hớng dẫn vẫn còn những khiếm khuyết mà ở góc độ là giáo viên dạy lớp, tôi xin có ý kiến điều chỉnh một vài bất hợp lý của sách giáo khoa lớp một nh sau:

Một số hình ảnh minh họa còn cha phù hợp với từ ngữ:

1/ (Sách Tiếng Việt lớp một tập I bài 47) từ con nhện có hình con nhện nhả tơ từ miệng - điều này trái với thực tế học sinh quan sát thấy con nhện nhả tơ

từ bụng

2/ (Sách Tiếng việt lớp một tập I bài 47) (sách Tiếng Việt lớp một tập II)

từ buồng chuối - hình chụp là hoa chuối (buồng chuối cha đợc hình thành)

3/ Sách Tiếng Việt lớp 1 tập II bài tập đọc Kể cho bé nghe) cha có phần minh họa cái quạt hòm một vật dụng hiện nay không còn phổ biến rất khó cho giáo viên giải thích và minh hoạ

4/ (sách Tiếng Việt lớp 1 tập II bài tập đọc Hồ Gơng) các hình ảnh minh họa đợc chụp từ xa nên không rõ câu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa

Trang 10

Những thiếu sót trên và nhiều điểm mẫu thuẩn khác tôi đã có tập hợp và gửi qua bộ phận chuyên môn trờng trình lên cấp đề nghị sửa chữa cho phù hợp

III - kết luận:

Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ, tôi viết ra với mong muốn đợc góp phần với các bạn đồng nghiệp trong Huyện và trong Tỉnh về việc hoàn thiện

ph-ơng pháp dạy học của mình, chia sẻ những cảm nhận và nhận thức về đổi mới giáo dục từ góc độ là một giáo viên đứng lớp Trong bài viết không tránh khỏi những nhận định chủ quan kính mong quý thầy cô góp ý sửa chữa

Xin chân thành cảm ơn!

Ngày đăng: 15/06/2013, 01:25

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w