1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lớp từ xưng hô trong tiếng thái đối chiếu với tiếng việt

87 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng phương pháp hệ thống để nghiên cứu từ xưng hô, chúng tôi tiến hành miêu tả, phân tích các cách dùng từ xưng hô theo từng hệ thống, từng nhóm như hệ thống đại từ, hệ thống danh t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

LỚP TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG THÁI

ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

MỤC LỤC Trang

Chương 1: NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Chương II: CÁCH XƯNG HÔ BẰNG ĐẠI TỪ TRONG TIẾNG THÁI

Chương III: CÁCH XƯNG HÔ BẰNG DANH TỪ THÂN TỘC

TRONG TIẾNG THÁI

3.2.2 Xưng hô giữa dâu, rể với các thành viên trong gia đình người Thái 47

3.2.2.2 Xưng hô khi dâu rể có con

52

3.2.4 Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Thái 61 3.2.4.1 Xưng hô khi anh, chị - em còn nhỏ và chưa có gia đình 62

3.2.4.2 Xưng hô giữa anh, chị và em ở tuổi khôn lớn và có gia đình riêng 63 3.2.5 Xưng hô giữa cha mẹ và con trong gia đình người Thái 66

Trang 3

3.3 Tiểu kết 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đây là kết quả của nhiều năm tháng học tập và bước đầu nghiên cứu khoa học của chúng tôi Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, những vấn đề về từ xưng hô, cách xưng hô trong tiếng Thái mới chỉ giải quyết ở một chừng mực nhất định, hy vọng sẽ còn được nghiên cứu tiếp

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ quí báu của các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy và của nhiều thầy cô giáo khác ở trường Đại học Vinh, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, nhất là GS Phạm Đức Dương - Viện Đông Nam Á, GS Nguyễn Văn Lợi - Viện Ngôn ngữ học, Ông Cầm Trọng - Viện Dân tộc học, TS Vi Văn

Trang 5

MỞ ĐẦU

I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam có 54 dân tộc đẹp như một tấm thảm với 54 màu sắc hài hoà Quả đúng như vậy, tấm thảm ấy được dệt bởi những màu sắc của 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc là một sợi chỉ màu chủ đạo, tạo nên thành tố văn hoá của riêng mình Đó là lịch sử, là ngôn ngữ, là hoạt động kinh tế, là các phong tục tập quán liên quan đến những nhu cầu thiết yếu của mỗi con người Những thành tố văn hoá ấy vừa có nét tương đồng và dị biệt Mức độ giống nhau, khác nhau nơi đậm, nơi nhạt và chính điều đó đã đan xen bền chặt tạo thành tài sản vô giá của đất nước và con người Việt Nam

Ngôn ngữ là một bộ phận của văn hoá, là biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc Ngôn ngữ dân tộc là yếu tố xã hội, là dấu hiệu để nhận ra dân tộc ý thức về tiếng mẹ đẻ là biểu hiện đặc sắc của ý thức dân tộc, bởi vì

“Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quí trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp" (Hồ Chí Minh)

Cho nên, muốn bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc thì trước hết cần bảo

vệ ngôn ngữ dân tộc F Saussure từng viết: “Phong tục của một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ và mặt khác, trong chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [3, 47] Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu

số nói chung và tiếng Thái nói riêng là một việc làm cần thiết Bởi hiện nay,

“Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đang mất đi hàng ngày trước mắt chúng ta,

mà điều còn nguy hại hơn, đáng tiếc hơn, rất nhiều ngôn ngữ nay chưa hề được nghiên cứu.”[26, 88]

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ cũng nhấn mạnh “Ở Việt nam vấn đề nổi bật hiện nay không phải là sự tranh dành lãnh thổ hay xung khắc tôn giáo…Mà điều hết sức quan trọng với Việt nam là sự phát triển đời sống văn hoá- xã hội của các dân tộc thiểu số Cho nên mặt ngôn ngữ cần được quan tâm” [38, 12] Trong cuộc sống,

con người giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được thực hiện trong giao tiếp Xưng hô không có vai trò gì đáng kể trong các văn bản khoa học, văn bản hành chính, nhưng muốn đi vào cuộc sống thường nhật, vào các

Trang 6

cuộc trò chuyện, vào tâm tư tình cảm thì không thể không biết cách xưng hô Có nhiều ngôn ngữ, cách xưng hô tương đối đơn giản, ngược lại, có những ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Thái (Việt nam) cách xưng hô lại phức tạp hơn nhiều

Cách xưng hô của mỗi dân tộc là sự ứng xử của chính dân tộc ấy Đề

tài “Lớp từ xưng hô trong tiếngThái đối chiếu với tiếng Việt’’ nhằm giới

thiệu những nguyên tắc xưng hô riêng biệt của tiếng Thái đúng như nó vốn

có, điều mà các công trình nghiên cứu tiếng Thái trước đây ít chú ý tới

II MỤC ĐÍCH VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Mục đích nghiên cứu

- Miêu tả hệ thống từ xưng hô trong tiếng Thái bao gồm: Đại từ nhân xưng và danh từ thân tộc

- So sánh với lớp từ xưng hô trong tiếng Việt

2 Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi hẹp của từ xưng hô là các đại từ nhân xưng – từ xưng hô đích

thực Ở đề tài này, chúng tôi không chỉ nghiên cứu các đại từ nhân xưng mà

còn nghiên cứu cả các danh từ thân tộc Từ đây, để tiện nghiên cứu, chúng tôi

gọi các đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc, bằng cụm từ: Từ xưng hô

Tiếng Thái thuộc nhóm Tai Tây Nam, ngôn ngữ Tày-Thái, dòng Tai, ngữ hệ Tai - KaĐai Vị trí của Tiếng Thái trong dòng họ Tai - KaĐai như sau:

Tai - Kađai

Kam Thủy Lakkja

Cơ lao, La chí, Pu péo, La ha, Nùng vẻn

Cam, Thủy,

Mu LaoThen, Mạc

Tây Nam

Pu Giay

Tày, Nùng Thái (Xiêm)

Trang 7

Cộng đồng ngôn ngữ Tày-Thái có 8 dân tộc, với 3,1 triệu người chiếm 4,8% dân số cả nước Gồm các dân tộc Tày, Nùng, Sán chay, Giáy, Bố y sinh sống ở miền Đông Bắc Còn các dân tộc Thái, Lào, Lự phân bố từ miền

Bắc đến miền Tây Thanh Hoá, Nghệ An (xem bản đồ)

Dân tộc Thái là một trong những dân tộc thiểu số có số dân đông thứ hai ở Việt Nam Theo số liệu điều tra dân số năm 2003, họ có 1.328.725 người, cư trú tập trung ở vùng Tây Bắc thuộc các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Hoà Bình, và miền Tây hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An

Đây là một trong những dân tộc thiểu số có nền văn hoá truyền thống khá phát triển ở Việt Nam Trong đó nền văn hoá dân gian, nền văn học thành văn cũng như những tri thức lịch sử, xã hội học rất phong phú, và rất

đa dạng Chẳng hạn, người Thái ở Việt Nam đã có Luật tục (customary law) dưới hình thức thành văn phản ánh sự phát triển xã hội của họ mà không phải dân tộc nào ở Việt Nam cũng có

Ở Việt Nam, tuy được coi là một dân tộc thiểu số thống nhất nhưng người Thái có sự khác biệt địa phương khá rõ rệt Sự khác biệt ấy thể hiện ở chỗ, ở mỗi vùng khác nhau họ có những tên gọi địa phương khác nhau Những tên gọi địa phương ấy ít nhiều phản ánh những dị biệt về ngôn ngữ, văn hoá, phong tục tập quán và rất có thể phản ánh nguồn gốc định cư từ những vùng, những thời điểm khác nhau (Trần Trí Dõi) Người Thái Tây

Bắc có sự phân biệt giữa người Thái Trắng và người Thái Đen; Người Thái

ở Thanh Hoá có tên gọi Thái Đèng; ở miền Tây Nghệ An không còn tồn tại tên gọi Thái Đen, Thái Trắng như vùng Tây Bắc mà thay vào đó là tên gọi

để chỉ ba nhóm địa phương Tày Mường, Tày Thanh và Tày Mười Trước đây

ba nhóm này tự nhận là những dân tộc riêng biệt, chỉ từ năm 1979 khi bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam được công bố thì ba nhóm này mới tự nhận là những bộ phận của dân tộc Thái và mang tên gọi chung là Thái

Theo số liệu tổng hợp của Ban dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An tính đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2003, dân tộc Thái ở Nghệ An có 281.415 người Người Thái ở đây cư trú chủ yếu ở các huyện niền núi Quế phong, Quỳ

Trang 8

Châu, Quỳ hợp, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, đan xen với các dân tộc Kinh, Khơmú, HMông, Thổ Lịch sử phân bố người Thái ở đây đang còn là vấn đề phải tiếp tục tìm hiểu, vì đang còn những ý kiến khác nhau Dù sao Thái vẫn là cư dân có mặt sớm ở vùng này

Ở Nghệ An người Thái không chỉ là dân tộc thiểu số có số lượng đông nhất trong tỉnh (chiếm 71% tổng số các dân tộc ít người) mà còn có trình độ phát triển kinh tế xã hội cao hơn các dân tộc khác và có nền văn hóa độc đáo

Tiếng Thái đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp của nhân dân các dân tộc vùng giữa và vùng cao Tại huyện Kỳ Sơn 90% dân số Khơmú biết tiếng Thái, 80% dân số HMông nói tiếng Thái Trên lĩnh vực kinh tế, học tập kinh nghiệm của người Thái, người Khmú xuống núi khai phá đất làm ruộng nước Người Mông ở Na Ngòi (Kỳ Sơn) cũng bỏ nương rẫy làm ruộng nước Một bộ phận người Thổ (Poọng) trước đây du canh du cư, nay học tập kinh nghiệm người Thái họ cũng làm ruộng nước

Về phương diện văn hóa, nhà ở, cách cấu trúc làng bản của nhiều dân tộc chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Thái Nhóm dân tộc Poọng ở Tương Dương, nhóm Cuối ở Tân Kỳ thuộc dân tộc Thổ về cách thức làm nhà, cấu trúc làng bản về cơ bản đã hòa nhập vào tập quán Thái Trang phục cổ truyền của Khơmú, Ơ Đu hiện nay gần như biến mất

Trong quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, đã xuất hiện hiện tượng đồng hóa tự nhiên Người Ơ Đu và người Thái ở Tương Dương đang diễn ra quá trình đồng hóa tự nhiên rất mạnh mẽ Điều này đặt ra cho chúng

ta nhiệm vụ cấp bách là giải quyết tốt mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại giữa thống nhất và đa dạng, làm sao một mặt thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, mặt khác phải gìn giữ bản sắc văn hóa và làm giàu tinh hoa văn hóa của từng tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Người Thái ở Nghệ An có thói quen gọi một nhóm người hay một dân tộc theo hình thái sinh hoạt kinh tế, chẳng hạn, Tày Huổi (người Thái ở khe suối), Tay Na (Thái làm ruộng nước), Tay Pao (bộ phận người Thái sống ven sông).v.v

Trang 9

Con Cuông là huyện miền núi nằm về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ

An, có lịch sử lâu đời từ thời kì văn hóa Hòa Bình xa xưa Con Cuông, quê hương của đồng bào các dân tộc ít người, nơi đã từng chứng kiến và góp sức

người sức của làm nên: "Miền Trà lân trúc chẻ tro bay" (Đại cáo bình Ngô

của Nguyễn Trãi)

Con Cuông có 13 xã và một thị trấn Người Thái phân bố khắp 13 xã, thị, gồm có 9072 hộ, với số dân là 46.006 người trong đó tập trung đông nhất

là các xã Môn Sơn, Lục Dạ, Chi khê, Lạng khê, Cam Lâm, Mậu Đức, Đôn Phục, Bình Chuẩn, Thạch Ngàn NgườiThái ở Con Cuông có đầy đủ 3 nhóm địa phương: Tày Mường, Tày Thanh và Tày Mười

Nhóm Tày Mường (tự nhận là Thái Trắng), còn gọi là Hàng Tổng, tên phiếm chỉ là Tày Dọ, đây là nhóm có chủ mường Theo nghĩa của tiếng Thái thì “Tày Mường” tức là người chủ ở trong mường Tên Hàng Tổng có lẽ xuất

hiện muộn hơn, bởi vì nó mang gốc Việt theo tên gọi cấp hành chính tổng,

xã ở vùng Thái sau cải cách hành chính của Minh Mệnh từ thế kỷ trước.[5 -

tr 320]

Nhóm Tày Thanh (tự nhận là Thái Đen), còn gọi là Man Thanh, không

có chủ ở mường tức không phải người gốc của mường Theo cách giải thích

của họ “Thanh” là tên gốc quê cũ của người Thái từ Thanh Hoá và Mường Thanh (Điện Biên) Theo Đặng Nghiêm Vạn thì Man, Mùn hay Miền có nghĩa là người Vì thế Man là một từ gốc Hán do người Hán ở Trung Nguyên

dùng để chỉ các dân tộc ở Nam Trung Quốc Nhóm Tày Thanh có tên phiếm chỉ là Nhại, trong tiếng Thái “nhại” có nghĩa là di chuyển hoặc "nhại" còn

được dùng trong các hoạt động như “nhại hươn, nhại bản” (di chuyển nhà,

di chuyển chỗ ở) Phải chăng ở đây Nhại là tên chỉ bộ phận Thái mới di

chuyển đến, lúc đầu chỉ ở tạm sau đó mới định cư lâu dài[5]

Nhóm Tày Mười (tự nhận là Thái Đen), là nhóm có số dân ít hơn so với hai nhóm trên Tày Mười là tên gọi theo tên gọi theo tên quê hương cũ của họ là Mường Muổi, Thuận Châu, Sơn La di cư vào Nghệ An từ thời Lê Ngoài tên Tày Mười họ còn có tên phiếm chỉ là Mười hua cốp (do hai nhóm

Thái trên gọi họ với hàm nghĩa khinh miệt, ăn ở bẩn thỉu)

Trang 10

Mặc dù tên gọi khác nhau, nhưng về cơ bản các nhóm Thái ở đây thống nhất trên mọi phương diện kinh tế- văn hoá- xã hội Thế nhưng trên thực tế, ba nhóm Thái trên có những sắc thái riêng mang tính đặc trưng của mỗi nhóm, từ cung cách và thói quen sinh hoạt hàng ngày cho đến y phục trang sức, tín ngưỡng, âm, thanh điệu của tiếng nói, đặc biệt là phong tục tập quán Thiết nghĩ đây là một vấn đề hết sức phức tạp nhưng rất lý thú, cần có thời gian đi sâu nghiên cứu kỹ

Ở luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến một vấn đề rất nhỏ, đó là

cách xưng hô của người Thái Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ,

chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu một nhóm đó là Tày Thanh (tự nhận là Thái Đen) ở hai xã Môn Sơn và Thạch Ngàn thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ

An Từ đây, khi chúng tôi nói Từ xưng hô trong tiếng Thái thì được hiểu là

từ xưng hô trong tiếng Thái Tày Thanh ở Huyện Con Cuông Tỉnh Nghệ An

III NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nguồn tư liệu

Luận văn nghiên cứu từ xưng hô của tiếng Thái ở một địa bàn hẹp đó

là hai xã Môn Sơn và Thạch Ngàn Vì thế việc đầu tiên phải làm là điền dã, sưu tầm ngữ liệu ở hai địa bàn trên Tại đây, chúng tôi quan sát, phỏng vấn

và ghi âm các cuộc đối thoại của người Thái Từ đó thống kê các từ xưng hô

mà người Thái sử dụng trong giao tiếp hàng ngày Chúng tôi mở rộng đối tượng quan sát và phỏng vấn: Từ các cháu thiếu nhi, các em trường dân tộc nội trú đến các cụ già trong bản Đặc biệt quan tâm đến các Thầy Mo, Ông Mối, Bà Một vì họ là tầng lớp “Tri thức” dân tộc, nên họ am hiểu phong tục tập quán của dân tộc mình

Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu từ xừng hô, cách xưng hô của người Thái qua cứ liệu văn học dân gian Đặc biệt người thực hiện đề tài này có may mắn sinh ra và lớn lên trong một gia đình người Thái, còn giữ được những nét truyền thống đặc sắc của dân tộc mình, và có những hiểu biết về ngôn ngữ cũng như văn hoá của người Thái Điều này thuận lợi rất lớn cho bản thân tôi thực hiện đề tài này

Trang 11

2 Phương pháp nghiên cứu

Các nhà ngôn ngữ học cấu trúc đã giải quyết vấn đề ngôn ngữ trên cơ

sở hệ thống Vận dụng phương pháp hệ thống để nghiên cứu từ xưng hô, chúng tôi tiến hành miêu tả, phân tích các cách dùng từ xưng hô theo từng hệ thống, từng nhóm như hệ thống đại từ, hệ thống danh từ thân tộc được dùng làm từ xưng hô…

Phương pháp so sánh - đối chiếu được chúng tôi sử dụng nhằm phát hiện những nét tương đồng và dị biệt chủ yếu của từ xưng hô, cách xưng hô trong tiếng Thái và tiếng Việt Chúng tôi chọn tiếng Thái làm ngôn ngữ cần phân tích, cần làm sáng tỏ và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu, là điều kiện làm sáng tỏ đặc điểm xưng hô của tiếng Thái - ngôn ngữ được đối chiếu Trên cơ sở tìm ra sự tương đồng và dị biệt giữa cách xưng hô của hai ngôn ngữ, chúng tôi cũng chỉ ra sự khác nhau về sắc thái biểu cảm, phạm vi sử dụng của các từ xưng hô tương đương

IV LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

1.Vấn đề từ xưng hô trong tiếng Việt không phải là vấn đề mới, nó được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm Ngay từ năm 1651 khi biên soạn cuốn “Từ điển Bồ Đào Nha - La tinh” ALexandre de Rhes đã dừng lại

khá lâu để miêu tả các từ xưng hô của Tiếng Việt Ông viết “Chữ tôi dùng để

bề dưới xưng bề trên có nghĩa như bầy tôi, tôi tớ” Nhiều danh từ thân tộc có

chức năng xưng hô như danh từ Cậu, Bác… cũng được A de Rhes miêu tả

kỹ Những miêu tả của ông hoàn toàn đúng với cách xưng hô của Tiếng Việt

ở thế kỷ XVII [Dẫn 38, tr 17]

Năm 1951 M B Emeneau trong công trình “Studies in Vietnamese Grammar” cũng đã dành một số trang viết về đại từ, đặc biệt là tập trung bàn

về đại từ xưng hô và chú ý nhiều đến nhóm từ xưng hô lâm thời có nguồn

gốc danh từ Ông cho rằng “Trong Tiếng Việt rõ ràng là có đại từ nhân xưng (đích thực) mà một bộ phận nghĩa của nó là nhằm chỉ rõ người nói và người nghe nhưng chúng bị hạn chế rất nhiều trong khi xuất hiện về sự bày tỏ niềm kính trọng đối với người nghe…” [21, tr9] Ở đây ta thấy ông đã chỉ ra

Trang 12

những hạn chế của đại danh từ nhân xưng đích thực trong Tiếng Việt Ông

gọi các danh từ được dùng làm từ xưng hô là các “Đại danh từ cương vị” Ông nhận xét về các đại danh từ cương vị như sau: “Đa số các đại từ đó đều trùng làm một với những danh từ chỉ những người bà con cùng huyết thống” [20, tr9] Theo thống kê của M B Emeneau thì có mười ba đại danh

từ nhân xưng cương vị trùng với các danh từ chỉ bà con thân thuộc như Anh,

Bà, Bác, Cậu, Con…

Nếu Emeneau chú ý nhiều đến sự mô tả hệ thống cấu trúc của từ xưng

hô Tiếng Việt thì L C Thompson lại đặc biệt chú ý đến mức độ (level) tức là sắc thái biểu cảm của các đại từ nhân xưng Theo sự mô tả của ông thì đại từ

Tôi mang sắc thái cung kính (respectful) Đại từ Ta với ý nghĩa bề trên (Superior) Đại từ Tao, Mày lại có 2 mức độ: Vừa có ý suồng sã (abrupt), vừa có ý thân mật, thoải mái (familiar) Ông viết “các hình thái hỗn xược Tao, Chúng tao (ngôi trên), mày, chúng mày (chúng bay) biểu lộ hoặc một sự

thân mật giữa người nói và người nghe, hoặc nêu lên rằng người nói cho người nghe là thua kém mình nhiều Trong cách dùng này, các hình thái

thường là hỗn xược và sắc thái này khiến cho ngày nay chúng tôi được dùng trong đối thoại hằng ngày” [ Dẫn 38, tr 8]

Như vậy, L C Thompson chia đại từ nhân xưng thành 4 mức độ giao tiếp Nhưng trong bài viết “Đại danh từ nhân xưng Tiếng Việt” [35], tác giả Nguyễn Phú Phong thu gọn 4 mức độ này thành 2 và chia đại từ nhân xưng thành 2 hệ thống, V và H Hệ thống V phản ánh thứ bậc trong quan hệ Hệ thống H không Tác giả Nguyễn Phú Phong đã tóm tắt cả 2 hệ H (hệ hoành)

và V (hệ tung) qua các đại danh số ít trong bảng sau:

Ngôi 1 Ngôi 2 Ngôi 3

Hệ tung V Tôi

Qua bảng hệ thống này ông lí giải: “Ngôi 2 ở hệ V còn trống, nghĩa là không có đại từ nhân xưng “chính hiệu” ở ngôi này Để điền vào chỗ này, người ta có thể sử dụng một danh từ, thường là danh từ chỉ quan hệ họ hàng,

Trang 13

chỉ chức ngôi trong xã hội…” [tr11] Từ đó ông trình bày cách nhìn của mình

về 2 hệ thống này và tập trung nghiên cứu vấn đề số nhiều của đại danh từ

nhân xưng Ông nhận thấy rằng ngữ nghĩa của từ xưng hô “trong lắm trường hợp không thể xác định cho một từ tách rời, đứng riêng biệt mà phải xét trong khung cảnh từng cặp, nhất là cặp ngôi 1- ngôi 2, nghĩa là cặp đại danh từ nhân xưng đối thoại.” [tr12]

Những thao tác nghiên cứu của Nguyễn Phú Phong đã mang lại một cách nhìn rành mạch, khúc chiết hơn về vấn đề số nhiều của đại danh từ nhân xưng… Cho đến các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Chiến và nhiều tác giả khác như Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Yến, Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Thị Châu, Bùi Khánh Thế, Mai Xuân Huy, Phạm Ngọc Thưởng, Trương Thị Diễm thì từ xưng hô được tiếp cận theo hướng mới: hoạt động

hành chức của từ xưng hô Theo Nguyễn Văn Chiến: “Vấn đề sẽ rõ ràng và

lí thú hơn khi chúng ta xem xét những từ xưng hô dưới ánh sáng của lý thuyết dụng học và dân tộc học giao tiếp” [15, 60]

Người đầu tư nhiều công sức vào mảng đề tài này là Nguyễn Văn Chiến Với các công trình nghiên cứu của ông, từ xưng hô Tiếng Việt được nghiên cứu bằng phương pháp tiếp cận hệ thống Tất cả từ xưng hô Tiếng Việt được nghiên cứu như là một chỉnh thể nguyên vẹn Đó là một hệ thống cấu trúc các yếu tố trỏ người trong sinh hoạt giao tiếp - đối thoại, nội dung

và giá trị của từng yếu tố được xác định nhờ vào sự đối lập giữa yếu tố ấy với tất cả những yếu tố còn lại trong hệ thống thông qua những quan hệ phạm trù - Nguyễn Phú Phong gọi là “Phạm trù nhân xưng”

Hướng tiếp cận từ xưng hô dưới ánh sáng của lý thuyết ngữ dụng học

và dân tộc học giao tiếp đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam ủng hộ Các tác giả đã không dừng lại ở việc nghiên cứu giao tiếp chung chung mà đi sâu nghiên cứu các phạm vi cụ thể trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ Đáng chú ý là hàng loạt bài viết của Bùi Minh Yến trên tạp chí ngôn ngữ như

“Xưng hô giữa vợ chồng trong gia đình người việt”, “Xưng hô giữa anh chị

và em trong gia đình người Việt”, “Xưng hô giữa ông bà và cháu trong gia đình người Việt”

Trang 14

Tác giả Mai Xuân Huy với bài viết “Thử khảo sát các cung bậc của ngôn ngữ trong giao tiếp vợ chồng người Việt” đã đi sâu tìm hiểu cách dùng

ngôn ngữ theo sự thay đổi của các cung bậc tình cảm khác nhau giữa hai thành viên Chồng - Vợ trong phạm vi gia đình người Việt Nguyễn Văn Chiến đã tiến hành khảo sát các phạm trù nhân xưng Tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu với các ngôn ngữ cùng loại hình (như Lào, Khơ Me) và ngôn ngữ khác loại hình (như Nga, Anh, Tiệp) Cùng với Nguyễn Văn Chiến, khuynh hướng nghiên cứu từ xưng hô trong sự so sánh với các ngôn ngữ khác cũng được nhiều tác giả tiến hành như: Hoàng Anh Thi đối chiếu với tiếng Nhật, Nguyễn Minh Thuyết và Kim Young Soo đối chiếu với tiếng Hàn Quốc, Bùi Mạnh Hùng đối chiếu với tiếng Bungari, Phạm Ngọc Thưởng đối chiếu với tiếng Nùng…Những kết quả nghiên cứu về từ xưng hô của các tác giả đi trước đã đem lại những gợi mở bổ ích, đặt cơ sở cả về lý thuyết và thực tiễn cho đề tài của chúng tôi

Điểm qua lịch sử nghiên cứu từ xưng hô Tiếng Việt để thấy rằng vấn

đề từ xưng hô Tiếng Việt đã được nghiên cứu nhiều Từ đó chúng tôi có một cách nhìn so sánh với tình hình nghiên cứu từ xưng hô trong Tiếng Thái

2 Song song với việc nghiên cứu tiếng Việt, các học giả phương Tây cũng có nhiều công trình nghiên cứu cho các ngôn ngữ thuộc nhóm Tày - Thái Đó là các tác giả mà hậu thế khi nghiên cứu các ngôn ngữ này không thể không nhắc đến: W Schmidt, G A Grierson, H Maspéro, F Savana, G

H Luce, A.G Haudricourt, R Shafer, P Bene dict, S.E Jakhontov… Và Haudricourt là một trong những học giả có những công trình lớn về lĩnh vực Đông Nam Á học Những đóng góp của ông trong ngôn ngữ Tày - Thái chủ

yếu ở lĩnh vực ngữ âm học, lịch sử xã hội học của dân tộc này, ông viết “Từ hơn nửa thế kỷ nay, các ngôn ngữ Thái là một đối tượng chọn lọc để áp dụng ngôn ngữ học so sánh vào các ngôn ngữ đơn âm tiết ở Viễn Đông Một số ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ có chữ viết, có một nền văn học quan trọng và có những từ điển đúng đắn.” [34, 78] Qua công trình nghiên cứu của ông ta

thấy được “sự biến đổi và tái lập hệ thống âm vị tiếng Tày - Thái cổ” Tức là

Trang 15

có sự biến đổi về phụ âm đầu, nguyên âm, âm cuối và âm tiết.[Xem thêm 34, tr80- 83] …

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đã tìm hiểu kỹ về dân tộc Thái ở nhiều khía cạnh như văn hoá học, xã hội học, lịch sử học…Các tác giả

“Người Thái ở Tây Bắc”- Cầm Trọng, 1979; “Văn hoá Thái Việt Nam”-

Cầm Trọng- Phan Hữu Dật, 1995 ; “Luật tục Thái” Ngô Đức Thịnh- Cầm

Trọng; “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”

Lã Văn Lô- Đặng Nghiêm Vạn, 1968 …Đã cho chúng ta thấy toàn cảnh xã hội dân tộc Thái sinh động với những phong tục, tập quán đặc sắc, thấy được nguồn gốc và sự phát triển của dân tộc này Các tác giả “Đại cương về các

dân tộc nói ngôn ngữ Thái Tày ở Việt Nam”- Lê Sĩ Giáo; “Giới thiệu về chữ Thái Lai Pao của người Thái Tương Dương Nghệ An”- Trần Trí Dõi - M

Ferlus (Pháp), lại cung cấp một số đặc điểm về ngôn ngữ của dân tộc Thái

như: Là ngôn ngữ đơn lập, có chữ viết gần với chữ Phạn…Rải rác một số bài

viết: “Mối quan hệ giữa Tiếng La Ha và Tiếng Thái”, Hoàng Văn Ma; “Giao thoa văn hoá và việc xây dựng đời sống văn hoá hiện nay ở các vùng người Thái”, Lê Sĩ Giáo; “Giao thoa văn hoá Thái”, Trương Sĩ Hùng - Hoàng Kim Dung…Có bàn đến sự giao thoa, tiếp xúc của ngôn ngữ Thái với các ngôn ngữ khác, nhưng cũng chỉ dừng ở mặt xã hội học

Theo các công trình ngôn ngữ học, nhất là công trình của giáo sư Phạm Đức Dương, tiếng việt (kinh) có cơ tầng (substrat) Môn-Khơ Me nhưng lại vận hành theo cơ chế Tày- Thái [47, 38]

Tóm lại, các tác giả đi trước đã có công lớn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu các khía cạnh của ngôn ngữ Thái Tuy nhiên nếu nói ở góc độ

ngôn ngữ học đối chiếu so sánh thì chưa có một công trình hoàn chỉnh, đầy

đủ nào bàn về ngôn ngữ của dân tộc này Đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ gợi

mở sự quan tâm của các học giả

V ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:

1 Qua việc nghiên cứu đề tài "lớp từ xưng hô trong tiếng Thái đối chiếu với tiếng Việt" làm tăng thêm sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc anh

Trang 16

em trong " đại gia đình các dân tộc Việt Nam" qua sự hiểu biết, tiếp xúc và giao lưu ngôn ngữ

2 Góp phần giữ gìn kỷ cương, luân lí qua cách xưng hô, giao tiếp trong cộng đồng dân tộc Thái

3 Đề tài chỉ bó hẹp trong địa bàn nhỏ nhưng có giá trị nhất định trong việc tìm hiểu về ngôn ngữ dân tộc Thái nói chung

VI CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm:

Chương 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài

Chương 2: Cách xưng hô bằng đại từ trong tiếng Thái

Chương 3: Cách xưng hô bằng danh từ thân tộc trong tiếng Thái

Trang 17

Chương 1 NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 KHÁI NIỆM TỪ XƯNG HÔ VÀ CÁC Ý KIẾN KHÁC NHAU

1.1.1 Khái niệm

Từ xưng hô bao gồm các từ, ngữ, các cấu trúc ngôn ngữ được sử dụng

để xưng hô giao tiếp Trong Tiếng Việt lớp từ xưng hô chứa đựng một tập hợp các từ loại khác nhau rất phong phú và đa dạng

Từ xưng hô là những từ thuộc nhiều lớp từ loại của ngôn ngữ được đưa ra sử dụng để “xưng” (tự quy chiếu) và “hô” (quy chiếu vào người

khác) Tác giả Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa: ”Phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi bao gồm những phương tiện chiếu vật nhờ vào đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn Như thế phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay trong cuộc giao tiếp đang diễn ra với điểm gốc là người nói.”

[11, 73]

Diệp Quang Ban khi định nghĩa về đại từ nhân xưng ông viết: “Đại từ nhân xưng là những từ dùng để chỉ ra người hay vật tham gia quá trình giao tiếp” [6, 125]

Hữu Quỳnh, tác giả cuốn “Ngữ pháp Tiếng Việt hiện đại” cũng đã

khẳng định: ”Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế

và trỏ người Đại từ xưng hô trong Tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng

để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan

hệ thân tộc hay quan hệ xã hội” [37, 163]

Phạm Ngọc Thưởng, trong luận án tiến sĩ của mình đã kết luận:

“Những đại từ nào chỉ rõ vai nhân vật tham gia trực tiếp vào hành vi xưng

hô mới được coi là những đại từ xưng hô thực thụ Đại từ ngôi thứ ba không phải là từ xưng hô” [38, 55]

Trương Thị Diễm, trong luận án “Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ

thân tộc trong giao tiếp Tiếng Việt”, thì lại cho rằng “Từ hô là từ dùng để

Trang 18

“xưng” (tự xưng) và vừa dùng để “hô” (theo từ điển Hán Việt “hô danh” tức là “gọi tên”) Ở đây không chỉ hô gọi người đang trực tiếp giao tiếp với mình ở ngôi thứ hai (đối xứng) mà còn hô gọi những người ở ngôi thứ ba: người được nói tới” [21, 22] Ở đây Trương Thị Diễm đã không loại bỏ ngôi

thứ ba ra khỏi từ xưng hô

Như vậy, qua các định nghĩa ta thấy, các ý kiến về từ xưng hô có sự

khác nhau Loại ý kiến thứ nhất cho rằng “chỉ có ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai mới thật sự là các ngôi xưng hô" còn ngôi thứ ba vì không trực tiếp tham

gia vào cuộc giao tiếp nên đại từ ngôi thứ ba không phải là từ xưng hô (Đỗ Hữu Châu) Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng không thể loại bỏ đại từ ngôi thứ

ba vì “Nhân vật ngôi thứ ba không thể vô can đối với các nhân vật ở ngôi một và ngôi hai được” (Trương Thị Diễm)

Theo quan điểm của chúng tôi thì, toàn bộ đại từ nhân xưng ở cả ba ngôi đều thuộc hệ thống từ xưng hô vì, nếu loại bỏ những từ hô gọi thuộc ngôi thứ ba ra khỏi hệ thống từ xưng hô thì sẽ rất khó khăn khi giải quyết các

từ xưng hô”kiêm ngôi” (phân biệt với “Từ chuyên ngôi” - từ dùng của Đỗ

Hữu Châu) như Người ta, Mình và đặc biệt là các từ xưng hô thân tộc, tên

riêng Đại bộ phận lớp từ này là kiêm cả ba ngôi

1.1.2 Các ý kiến khác nhau

Trong luận án tiến sĩ của mình Trương Thị Diễm đã chỉ ra rằng, " Việc nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng việt diễn ra thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là giai đoạn chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và giai đoạn thứ hai là giai đoạn ảnh hưởng của ngữ pháp giao tiếp" [21, 17]

1.1 2.1 Đầu tiên các nhà Việt ngữ gọi tất cả các từ ngữ được dùng để thực hiện hành vi xưng hô là “Đại từ nhân xưng” Theo đó, đại từ nhân xưng (xưng hô) được chia thành hai nhóm:

a) Đại từ xưng hô chuyên dùng: Tôi, Tao, Tớ, Hắn, Họ…

b) Đại từ xưng hô lâm thời - những yếu tố đaị từ hoá để xưng hô như: Danh từ chỉ quan hệ thân tộc, Danh từ chức nghiệp, Danh từ chỉ học hàm, học vị, Từ ngữ chỉ nơi chốn…

Trang 19

Trần Trọng Kim gọi mảng này là “Đại danh từ” Ông quan niệm

“Những tiếng đại danh từ phần nhiều là do những tiếng danh từ mà ra Những tiếng từ ấy có khi dùng để chỉ bên Nam như “Ông”, “Thầy”, “Chú”,

“Cậu”, “Anh”, “Thằng”, “Chàng”… Có tiếng chỉ dùng để chỉ bên Nữ như

“Bà”, “Mẹ”, “Cô”, “Thím”, “Mợ”… Có tiếng dùng để nói chung cả bên Nam, bên Nữ như “Người”, “Cố”, “Cụ”, “Bác”, “Em”…[Dẫn 38, tr8]

Trong “Tiếng Việt hiện đại”, Nguyễn Hữu Quỳnh cũng viết: “Đại từ xưng hô trong Tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng hô và các đại

từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan

hệ xã hội.” [37, 163] Theo đó ông xem các danh từ như: Anh, Chị, Em, Ông

Bà, Chú, Bác, Con, Đồng chí…cũng là đại từ

Nguyễn Văn Chiến ở bước đầu nghiên cứu về từ xưng hô cũng nhất

loạt xem các từ xưng hô lâm thời đều thuộc từ loại đại từ “Khác với hàng loạt ngôn ngữ Ân Âu biến hình, hệ thống đại tư nhân xưng ngôn ngữ quốc gia Đông Nam Á thường là những hệ thống mở, không thuần nhất về chủng loại các yếu tố tạo thành Tính không thuần nhất này là hậu quả của một xu hướng ngôn ngữ chung, khá phổ biến trong khu vực: Tiếp nhận những yếu tố phi đại từ, chủ yếu là những hệ thống từ loại lân cận, trên những “bậc” những “trình độ tích hợp” khác nhau vào hệ thống đại từ” [Tạp chí TV và

các NN ĐNA, 1988]

Trên đây các tác giả đã quan niệm đại từ nhân xưng bao gồm toàn bộ những từ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủ thể giao tiếp với mục đích xưng hô Đó là kết quả của giai đoạn nghiên cứu cấu trúc luận Các tác giả của giai đoạn này chưa thật sự ý thức được vấn đề từ xưng hô và hiện tượng xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ Thực sự khi dùng thuật ngữ đại từ nhân xưng (Personal Pronoun) để chỉ toàn bộ lớp từ này, các tác giả đã ít nhiều nhận thấy chưa ổn M B Meneau đã thấy rằng việc dùng thuật ngữ “Đại từ nhân xưng” gọi nhóm này là không ổn, khái niệm “ngôi” (Person) ngữ pháp học của các từ này không xác định như các đại từ nhân xưng của Tiếng Anh, Tiếng Pháp… ngôi của các từ này chỉ xác định trong ngữ cảnh Những khó khăn này đã được giải quyết với sự ra đời của thuật ngữ “Từ xưng hô”

Trang 20

1.1.2.2.Thuật ngữ “từ xưng hô” là kết quả nghiên cứu của ngữ pháp giao tiếp dựa trên lí thuyết kí hiệu của Benveniste Lí thuyết này đã phân biệt

sự khác nhau giữa kí hiệu đại từ và kí hiệu danh từ Kí hiệu đại từ tồn tại với chức năng “thay thế” và nội dung của nó là “rỗng”, trong khi đó nội dung kí hiệu danh từ là”đặc” và có chức năng định danh Đại từ không có ý nghĩa biểu vật, không gọi tên (định danh) sự vật, khái niệm, hiện tượng trong thực

tế khách quan Nghĩa của đại từ là trỏ và thay thế Nghĩa của đại từ chỉ xác định được trong giao tiếp Trương Thị Diễm trong luận án tiến sĩ của mình

đã đưa ra ý kiến: “Một khi đã xem đại từ là “những từ không có ý nghĩa biểu vật” thì cũng khó chấp nhận được tất cả những từ trong Tiếng Việt “dùng để trỏ và thay thế cho một chủ thể trong giao tiếp với mục đích xưng hô” vào từ loại đại từ Bởi vì ngoài những từ mà các tác giả gọi là đại từ nhân xưng đích thực vốn không có nghĩa biểu vật và dùng để qui chiếu ba ngôi như thường thấy ở hầu hết các ngôn ngữ thì trong Tiếng Việt còn rất nhiều từ cũng mang chức năng xưng hô nhưng nghĩa biểu vật của nó vẫn nhận ra rất

rõ (ví dụ những từ anh, chị, cô, bác, kỹ sư, bác sĩ)” [21, 20]

Như chúng ta đã biết, khái niệm từ xưng hô có ngoại diên rộng hơn đại từ nhân xưng rất nhiều Ngoài các đại từ nhân xưng thực thụ, chúng còn tiếp thu rất nhiều từ thuộc các từ loại khác nhau vào hệ thống để đảm nhận

chức năng xưng hô Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Trước hết để xưng hô, tất cả các ngôn ngữ đều có các đại từ xưng hô Đại từ xưng hô trong Tiếng Việt (ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai ) là: Tôi, Tao, Ta, Mình, Mày, Bay, Chúng tôi, Chúng mày, Chúng tao, Chúng mình, Bọn mình… ý nghĩa biểu cảm trong các đại từ xưng hô của Tiếng Việt quá đậm - Tiếng Việt thiếu hẳn một đại từ ngôi thứ hai hoàn toàn trung tính như you Tiếng Anh- Cho nên chúng không thể được dùng trong giao tiếp ở ngữ vực qui thức và phi qui thức, theo phép lịch sự trang trọng, tôn kính, chúng thường chỉ được dùng trong ngữ vực thân tình với thái độ từ thân mật đến suồng sã hoặc kinh rẻ Tuỳ theo ngữ cảnh mà Tiếng Việt còn dùng các phương tiện sau đây để xưng hô: Tên riêng, các danh từ thân tộc, các từ chỉ chức nghiệp, những từ chuyên dùng

để xưng hô, một số tổ hợp dân dã…” [tr 75-77]

Trang 21

Do đó, hợp lí hơn là không nên xem đường ranh giới giữa các từ loại

là cái gì đó rạch ròi, bất biến; và nên dùng thuật ngữ “từ xưng hô” để chỉ toàn bộ lớp từ này Đây chính là giải pháp mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đưa ra trong những năm gần đây

1.2 CHỨC NĂNG CỦA TỪ XƯNG HÔ

Có thể nói, chức năng chủ yếu của từ xưng hô là thiết lập quan hệ tiếp xúc giữa những người đối thoại và duy trì cuộc thoại giữa các bên tham gia Ngoài chức năng thiết lập quan hệ tiếp xúc (chức năng mở đầu cuộc thoại),

từ xưng hô còn có chức năng biểu lộ thái độ, tình cảm cũng như vị thế của các nhân vật hội thoại Nói cách khác, từ xưng hô là một vốn từ đặc biệt, đa chức năng Ở luận văn này chúng tôi chỉ tìm hiểu chức năng định vị và chức

năng thể hiện quan hệ liên cá nhân của từ xưng hô

1.2.1 Chức năng định vị của từ xưng hô

Trong công trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, tác giả Đỗ Hữu

Châu đã khẳng định: “Trong ngôn ngữ tất cả các câu nói, bằng cách này hay cách khác đều phải có yếu tố đóng vai trò định vị” [10, 130]

Khái niệm định vị được J.Lyons phát biểu như sau: "Định vị được hiểu là sự xác định và sự đẳng nhất người, quá trình, sự kiện mà người ta nói đến và qui chúng với một ngữ cảnh không - thời gian nào đó được tạo nên và được duy trì bởi hành động phát ngôn và bởi sự tham gia của một người nói duy nhất và ít ra là với một người nghe" [dẫn38, tr 16]

Từ định nghĩa của J.Lyons, chúng ta thấy sự định vị trong lời nói phải được thực hiện bởi các nhân vật hội thoại- người nói và người nghe

Ba phạm trù định vị đã được ngữ pháp hóa và đã được nghiên cứu trong ngữ pháp cổ điển là phạm trù ngôi (nhân xưng), địa điểm và thời gian

Ở luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu phạm trù định vị trong ngôi nhân xưng qua các từ xưng hô- yếu tố định vị của ngôi

Chúng ta đều biết, con người luôn ở vào thế giao tiếp với nhiều lớp người, loại người khác nhau về địa vị xã hội, lứa tuổi, giới tính, trình độ học

Trang 22

vấn và giao tiếp cũng diễn ra ở những hoàn cảnh rộng, hẹp khác nhau như không gian, thời gian cũng như tính chất qui thức hay bất qui thức của cuộc giao tiếp Chính vì thế các nhân vật hội thoại luôn luôn phải lựa chọn và sử dụng các từ xưng hô sao cho phù hợp với từng loại quan hệ vai và phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Có nghĩa là, tùy vào mối quan hệ của ego (tôi) với người đối thoại mà ego có thể xưng "em" ở vị trí 1, nhưng có thể xưng "chị"

ở vị trí 2, hoặc xưng "mẹ" ở vị trí 3 Việc thay đổi này được thực hiện nhờ vào điểm gốc qui định chỗ đứng của ego Nói rõ hơn, ego có thể thay đổi từ xưng hô khi vị thế của ego không còn giữ nguyên vị trí ban đầu Điều này chứng tỏ vị thế của nhân vật giao tiếp là tương đối

Trong giao tiếp, chúng ta thường có một bộ tiêu chí để định vị vị thế của mình và vị thế của người đối thoại như tuổi tác, quan hệ gia đình, quan

hệ xã hội, vị thế giao tiếp Nói từ xưng hô có chức năng định vị trong quá trình hội thoại điều ấy có nghĩa là từ xưng hô có tác dụng bộc lộ vị thế của người nói về người nghe Người nói tự xác định và " ý thức" về vị thế của người đối thoại so với bản thân mình mà sử dụng các từ xưng hô tương ứng Đồng thời, qua các từ xưng hô, người nghe cũng nhận biết được thái độ, tình cảm của người nói đối với mình

Từ xưng hô có thể giúp cho người ngoài cuộc cũng có những hiểu biết nhất định về quan hệ của các nhân vật hội thoại Chẳng hạn, một người được gọi là "chú" hay tự xưng là "chú" tất hẳn ẩn dấu quan hệ đã được xác định qua từ xưng hô đó Tùy điểm gốc và vật chuẩn đưa ra ta mới có thể kết luận được quan hệ của các nhân vật hội thoại Nếu yếu tố định vị ở đây là quan hệ

xã hội đơn thuần thì người được gọi hay xưng là "chú" thường là người có

độ tuổi chênh lệch so với người đối thoại khoảng một thế hệ (từ 15-20 tuổi)

và ở đây ta cũng chỉ đoán nhận được mối quan hệ giữa hai nhân vật hội thoại trên là quan hệ tuổi tác, giới tính Nếu yếu tố định vị là quan hệ trong gia đình thì nhân vật được gọi là "chú" thường là em trai ruột (hay em họ)của bố lấy thế hệ con làm chuẩn

Giáo sư Đỗ Hữu Châu khi nói về sự định vị xã hội, đã chỉ rõ " Trong tiếng việt, ngoài một số từ như "ngài", "bệ hạ" các từ định vị xã hội đều

Trang 23

dựa vào sự định vị trong gia đình, họ hàng như "ông", "bà", "anh", "chị" làm cơ sở" [11, 237] Sự định vị này khiến cho các mối quan hệ ngoài xã hội

trở nên thân thiết hơn

Như vậy, gọi một nhân vật nào đó là "em" hay "anh" hoặc bất luận một từ nào khác trong hệ thống từ xưng hô là phụ thuộc vào sự định vị vị thế của người nói

Trong hoạt động giao tiếp, tùy vào hoàn cảnh giao tiếp, tùy vào từng đối tượng giao tiếp cụ thể mà các nhân vật hội thoại có thể lựa chọn các nguyên tắc định vị khác nhau Hai nguyên tắc định vị thường được sử dụng trong giao tiếp là nguyên tắc tự ngã trung tâm và nguyên tắc lấy người khác làm trung tâm Sử dụng nguyên tắc tự ngã trung tâm tức là người nói lấy bản thân mình, lấy cái tôi (ego) của mình mà giao tiếp với nhân vật khác Nguyên tắc tự ngã trung tâm không những là cách định vai giao tiếp, vai người nói (ngôi 1) và vai người nghe (ngôi 2) mà còn là cách thể hiện vị thế, thể hiện quan hệ liên các nhân của nhân vật hội thoại.Trong nguyên tắc tự ngã trung tâm vị thế của nhân vật ngôi 2 là một trong những yếu tố để nhân vật ngôi1 lựa chọn từ xưng hô trong giao tiếp Chẳng hạn, nhân vật ngôi 2 nhiều tuổi hơn nhân vật ngôi 1, do đó ở vị thế cao hơn, trong trường hợp này nhân vật ngôi 1 có thể tự xưng là em, cháu, tôi, tùy vào mối quan hệ - quan

hệ liên cá nhân giữa nhân vật ngôi 1 và nhân vật ngôi 2

Nguyên tắc lấy người khác làm trung tâm hay còn gọi là nguyên tắc

gọi thay ngôi Nguyên tắc gọi thay ngôi “là một vế đặc biệt của sự xưng hô

mà người được gọi lại giữ một "vai" khác trong mối quan hệ xã hội với người khác thay vì đang xưng hô với mình" [15, 62]

Nguyên tắc gọi thay ngôi được các nhân vật hội thoại sử dụng hết sức linh hoạt, phong phú và đa dạng Nhờ nguyên tắc gọi thay ngôi mà các nhân vật giao tiếp có thể vượt qua được những "mâu thuẫn", những băn khăn khi phải lựa chọn từ xưng hô Chẳng hạn, trong gia tộc, A là anh của B nhưng B

có địa vị xã hội cao hơn A Nếu A dùng cặp từ xưng hô anh- em thì có sự

"mâu thuẫn" giữa quan hệ gia tộc và địa vị xã hội Do đó, " trường hợp gặp người đối thoại có thứ bậc thấp hơn mình nhưng đã lớn, đã có cương vị

Trang 24

trong xã hội là phải đổi lại cách xưng hô bằng cách thay vào đó cách xưng

hô của bậc con, bậc cháu mình (chẳng hạn, thay em bằng chú, bằng cô; thay cháu bằng anh, bằng chị) [55, 142] Nhiều khi không nhất thiết là người đối

thoại có địa vị xã hội thấp hơn mình mới phải sử dụng nguyên tắc thay ngôi Chẳng hạn, một vị giáo sư đi đón cháu ở mẫu giáo, gặp cô giáo của cháu mình, vị giáo sư có thể nói: "xin phép cô, tôi đón cháu về" Xét về tuổi tác, vị giáo sư hơn tuổi cô giáo của cháu mình Xét về cương vị xã hội, giáo sư cũng có cương vị cao hơn nhưng vẫn gọi người đối thoại bằng "cô" thay cho cháu mình Việc gọi thay ngôi ở đây thể hiện thái độ tôn trọng của vị giáo sư đối với cô giáo của cháu mình

Tóm lại, với những từ xưng hô nhất định, nhân vật giao tiếp có thể bộc

lộ nhận thức của mình với đối tượng cùng giao tiếp Mặt khác, từ xưng hô cũng xác định rõ hơn quan hệ giữa người nói, người nghe qua chức năng định vị của mình

1.2.2 Chức năng thể hiện quan hệ liên cá nhân

Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau

Theo Đỗ Hữu Châu quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp

có thể xét theo hai trục, trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền

uy (power), trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách (distance), còn gọi là trục thân cận (solidarity) Trong xã hội, con người khác nhau về địa vị xã hội Cái gọi là địa vị xã hội có thể do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp mà

có Theo trục quyền uy thì những người giao tiếp ở mức độ cao - thấp hoặc bình đẳng với nhau và quan hệ vị thế là phi đối xứng, có nghĩa là một khi đã xác định đúng thì sẽ giữ nguyên trong quá trình giao tiếp, không thể qua thương lượng mà thay đổi vị thế Trên trục khoảng cách các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi mà cũng có thể xa cách nhau Trục này có hai cực: thân tình và xa lạ thuận với mức độ hiểu biết về nhau của những người giao tiếp

Trang 25

nhưng không nhất thiết đã hiểu nhau thì sẽ thân nhau Thân cận là trục đối xứng, có nghĩa là trong quá trình giao tiếp nếu Sp1 dịch lại gần Sp2 thì Sp2 cũng sẽ dịch lại gần Sp1 (tất nhiên trừ trường hợp có người không cộng tác, từ chối sự biến đỏi đó) và ngược lại Qua thương lượng có thể thay đổi khoảng cách [11, tr17]

Giữa hai trục quyền uy và thân cận có sự tương ứng Khoảng cách địa

vị xã hội càng lớn thì người ta càng khó gần gũi nhau Tuy nhiên không phải bao giờ hai trục nay cũng đi đôi với nhau

Vị thế xã hội và mức độ thân cận cũng là những yếu tố thuộc hình ảnh tinh thần mà những người tham gia giao tiếp xây dựng về nhau Khi trò chuyện với người chưa từng quen biết, thông thường chúng ta phải thăm dò

để xác định vị thế xã hội của người đó Trừ tuổi tác, để xác định được đúng

vị thế của người giao tiếp, chúng ta phải dựa vào những chỉ dẫn từ bên ngoài như cách ăn mặc: "hơn nhau tấm áo manh quần" , điệu bộ, cử chỉ, cách nói năng cho đến bên trong như những hiểu biết, hứng thú.v.v mà người giao tiếp với mình để lộ ra trong quá trình giao tiếp

Quan hệ liên cá nhân chi phối cả quá trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn Trong các ngôn ngữ, đặc biệt trong tiếng Việt, xưng

hô chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cá nhân Qua xưng hô mà Sp2 nhận biết Sp1 đã xác định quan hệ vị thế và quan hệ thân cận giữa anh ta với mình như thế nào Bởi chính quan hệ liên cá nhân chi phối mạnh cách xưng hô cho nên những người đối thoại cũng thường thay đổi cách xưng hô để thử nghiệm hoặc bày tỏ ý muốn thay đổi quan hệ liên cá nhân sử dụng từ xưng

hô là một chiến lược thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại [11, 18]

Có thể nói, từ xưng hô là một trong những dấu hiệu ngôn ngữ thể hiện

rõ quan hệ dọc và ngang- quan hệ liên cá nhân của nhân vật giao tiếp Các nhân vật sử dụng từ xưng hô ở trục quan hệ nào để giao tiếp với nhau phụ thuộc vào quan hệ giữa mình với người đối thoại, phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, chủ đề giao tiếp và mục đích giao tiếp cũng như chiến lược giao tiếp

Trang 26

Từ xưng hô không những có tác dụng bộc lộ vị thế của nhân vật giao tiếp trên hai trục quan hệ dọc và ngang mà còn có tác dụng bộc lộ thái độ, tình cảm của nhân vật hội thoại

Xét về mặt dụng học, chức năng của từ xưng hô là làm nổi rõ quan hệ giữa người nói và người nghe Đồng thời, người ngoài cuộc cũng có thể nhận biết được mối quan hệ của các nhân vật hội thoại qua các từ xưng hô Quan hệ được nói tới ở đây trước hết là quan hệ về thái độ, tình cảm, ứng xử của các nhân vật hội thoại Vậy những quan hệ đó nổi rõ theo cấp độ nào, thân mật hay lạnh nhạt, tôn trọng hay khinh bỉ, hay trung hòa về sắc thái tình cảm Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có sự đóng góp của từ xưng hô

Trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong một cuộc thoại, nếu như các nhân vật giao tiếp thay đổi từ xưng hô so với cách xưng hô ban đầu thì quan

hệ giữa các nhân vật tương tác cũng thay đổi Sự thay đổi này có thể diễn ra hai chiều: tích cực hoặc tiêu cực, từ lạnh nhạt sang thân mật và ngược lại

Như vậy, chúng ta có thể ghi nhận sự đóng góp của từ xưng hô trong việc bộc lộ sắc thái tình cảm và quan hệ của các nhân vật giao tiếp Có thể nói, hai chức năng, định vị và bộc lộ sắc thái tình cảm của từ xưng hô đều góp phần tạo nên vị trí của nó khi đi vào sử dụng Hai chức năng này gắn bó chặt chẽ với nhau và cùng thúc đẩy quá trình giao tiếp Nếu như vai trò định

vị của từ xưng hô giúp cho nhân vật giao tiếp xây dựng được sự thỏa thuận, phân vai nói / nghe (giữa người nói và người nghe) thì vai trò bộc lộ sắc thái tình cảm có tác dụng bộc lộ cái riêng của người nói, tức là bộc lộ thái độ, tình cảm của người nói đến người nghe và ngược lại

Nhờ chức năng định vị của từ xưng hô, nhân vật hội thoại có thể lựa chọn những từ cần dùng một cách chính xác Và chức năng bộc lộ sắc thái tình cảm giúp người nói và người nghe lựa chọn được những từ có giá trị thẩm mĩ, góp phần tăng hiệu quả giao tiếp

1.3 HỆ THỐNG TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG THÁI

Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Thái không phong phú và đa dạng như trong tiếng Việt Tiếng Việt có trên 20 đại từ nhân xưng chuyên dùng Trong

Trang 27

tiếng Thái số lượng đại từ nhân xưng chuyên dùng ít hơn, tiếng Thái không có

các đại từ như gã, ả, thị, y, vị, ngươi; và các từ nàng, chàng, thiếp chỉ dùng

trong các điệu khắp, lăm (một hình thức hát đối đáp) chứ không được dùng làm từ xưng hô, nhưng trong tiếng Thái các đại từ có đủ sắc thái từ thân mật, suồng sã đến kính trọng Trong tiếng Việt, bên cạnh các đại từ nhân xưng chuyên dùng còn có một số lượng lớn các từ và ngữ khác để xưng hô Trong

số này có: Danh từ chỉ quan hệ thân tộc (ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, cô, bác, con, cháu ) Danh từ chỉ quan hệ xã hội (bạn, đồng chí, đồng hương ) Danh

từ chỉ chức vụ xã hội hoặc những nghề nghiệp đặc biệt (chủ tịch, tổng thống,

bộ trưởng, thầy, cô, bác sĩ, ) Danh từ riêng mà cụ thể là tên của nhân vật giao tiếp hoặc tên của những người thân như chồng, con Đối với tiếng Thái, bên cạnh đại từ xưng hô chuyên dùng thì danh từ thân tộc cũng được làm từ xưng hô với những qui tắc chặt chẽ Ngoài ra chúng ta ít gặp cách xưng hô dùng các danh từ riêng, danh từ chỉ quan hệ xã hội, danh từ chỉ chức vụ trong giao tiếp của người Thái Điều này chúng tôi sẽ nói rõ ở những chương sau

1.4 TIỂU KẾT

Trong chương này, chúng tôi nêu một số vấn đề mang tính chất tiền đề

lí thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, những vấn đề gồm:

1 Xưng hô trong tiếng Việt là một vấn đề được quan tâm từ rất sớm

và đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Tuy vậy, vấn đề về từ xưng hô vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau

2 Nghiên cứu từ xưng hô trong hội thoại, nghĩa là nghiên cứu từ xưng

hô trong hoạt động hành chức của chúng Vì thế, các nhân tố chi phối từ xưng hô như vị thế xã hội, quyền uy của các nhân vật giao tiếp hay tính quy thức hay không quy thức của ngữ cảnh cũng được xét tới làm cơ sở để nghiên cứu từ xưng hô

Các phương tiện dùng để xưng hô trong tiếng Việt là những đơn vị ngôn ngữ chúng tôi dùng làm cơ sở để đối chiếu với các phương tiện dùng để

Trang 28

xưng hô trong tiếng Thái Theo giả thiết của chúng tôi, quá trình đối chiếu hai hệ thống từ xưng hô (Việt - Thái) sẽ dẫn tới những hiện tượng sau:

Thứ nhất, có những đơn vị ngôn ngữ được dùng làm từ xưng hô trong

hệ thống này nhưng lại thiếu vắng (không được dùng làm từ xưng hô) trong

hệ thống kia

Thứ hai, có những đơn vị ngôn ngữ được sử dụng làm từ xưng hô trong cả hai hệ thống ngôn ngữ (Việt, Thái) nhưng ở mỗi hệ thống ngôn ngữ, những đơn vị đó sẽ có những cách sử dụng và sắc thái biểu cảm khác nhau

Thứ ba, có những đơn vị ngôn ngữ được dùng làm từ xưng hô với cách sử dụng và sắc thái (ở một hoàn cảnh nhất định với một nét sắc thái nhất định) giống nhau giữa hai hệ thống (Việt, Thái)

Tất cả những hiện tượng giống/ khác nhau, tương đương / không tương đương, có / không có những đơn vị dùng làm từ xưng hô cũng như cách dùng và sắc thái biểu cảm của các từ đó giữa hai ngôn ngữ sẽ được chúng tôi lí giải, phân tích kỹ ở chương sau

Chúng tôi nghiên cứu từ xưng hô tiếng Thái theo các bước sau:

- Miêu tả các nét nghĩa và sắc thái biểu cảm của từ xưng hô tiếng Thái

- Phạm vi sử dụng từ xưng hô: phạm vi gia đình và phạm vi xã hội

Trang 29

Chương II CÁCH XƯNG HÔ BẰNG ĐẠI TỪ TRONG TIẾNG

THÁI

Để hệ thống hóa danh sách đại từ xưng hô tiếng Thái, chúng tôi lập bảng danh sách các từ xưng hô dựa trên tính chất định vị (định vị ngôi nhân xưng) của từng đại từ Như vậy, bảng danh sách đại từ xưng hô tiếng Thái được chia thành

ba ngôi: các đại từ ngôi 1, các đại từ ngôi 2 và các đại từ ngôi 3 Tuy nhiên, trong tiếng Thái cũng như tiếng Việt, có những đại từ ở thể lưỡng ngôi: vừa ở ngôi thứ

nhất, vừa ở ngôi thứ 2 hay ngôi thứ 3 như đại từ Mình trong tiếng Việt, đại từ Hau, Tu cú trong tiếng Thái Ở đây chúng tôi sẽ miêu tả đại từ nhân xưng tiếng

Thái theo từng nhóm như đại từ nhân xưng ngôi 1, đại từ nhân xưng ngôi 2

2.1 ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG (Xem bảng 1)

* Căn (Tao, Tôi): Ngôi 1 số ít

Đại từ nhân xưng mang sắc thái trung tính Có tính khái quát cao, sử dụng trong giao tiếp không phân biệt tuổi tác, vị thế Có ý nghĩa tương

đương từ "Câu" trong Tiếng Nùng Trong Tiếng Tày Mường thì gọi là "Cu"

* Thàu (mày): Ngôi 2 số ít

Được dùng phổ biến nhưng với sắc thái suồng sã Căn và thàu làm thành một cặp xưng hô tương ứng.Ví dụ:

pó (bố) : Thàu pay ết lờ mà? (Mày đi đâu về?)

Lục (Con): Căn pay liểng khoài mà (tao đi chăn trâu về)

Muốt Muốt căn

Muốt Muốt thàu

3 Trung tính

Kính trọng

Mằn Xiêu

Muốt Muốt mằn

Khau

Trang 30

Muốt Muốt tu

Muốt hau

*Mừng (Không có từ tương đương trong tiếng Việt): Ngôi 2 số ít

Được dùng phổ biến với sắc thái lịch sự, kính trọng Có ý nghĩa tương

đương từ "you" trong tiếng Anh Thường người ở vị thế thấp dùng để chỉ

người ở vị thế cao hơn.Ví dụ:

Mia (Vợ): Lèng nỉ mừng dú hươn bò?

(Bữa cơm tối nay anh có ăn ở nhà không?)

Phua (Chồng): Bọ, căn nhằng mừa hươn lùng cồ

(Không, tôi phải sang nhà bác cả)

Lục (con): Mự ná mừng pay háy bò?

(Ngày mai bố có lên rẫy không)

pó (bố): Căn pay khin long bán nưa

(Tao đi ăn đám cưới làng trên.)

* Mằn (nó):

Đại từ nhân xưng ngôi 3 không trực tiếp tham gia vào hoạt động xưng

hô, mà chỉ là từ dùng để chỉ người được nói tới, có vị thế thấp hơn, với sắc thái trung tính

Ví dụ:

Phua (Chồng): I hống pay ka lơ?

(Con chị cả đi đâu?)

Mia (Vợ): Mằn nhăng pay háy

(Nó còn đi rẫy)

* Xiêu: Không có từ tương đương trong tiếng Việt

Đại từ xiêu thường được người ở vị thế thấp chỉ người ở vị thế cao hơn nhưng ở ngôi thứ 3 với sắc thái kính trọng Ví dụ:

- Lùng thàu dù hươn bó?

(Bác trai mày ở nhà không?

Bó, xiêu pay dam lan lẻo

(Không, ông ấy đi thăm cháu rồi)

* Khỏi (tôi): Ngôi 1 số ít

Trang 31

Đây vốn là một danh từ có nghĩa là "tôi tớ", "tôi đòi"; Hiện nay "khỏi"

đã đại từ hóa và được sử dụng rộng rãi trong một số ngôn ngữ: Tày, Thái,

Nùng Được dùng với sắc thái kính trọng, lịch sự Khỏi và ngài làm thành

một cặp xưng hô tưng ứng, chủ yếu được sử dụng trong phạm vi xã hội Điều này chúng tôi sẽ nói rõ ở phần sau

*Ngai: Ngôi 2 số ít, mang sắc thái lịch sự, kính trọng Không có từ

tương đương trong tiếng Việt, Tương đương với "you" trong tiếng Anh

2 2 CÁCH XƯNG HÔ BẰNG ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG.

Các nhân vật hội thoại khi dùng đại từ nhân xưng bị lệ thuộc vào một

số nhân tố Những nhân tố chính chi phối cách sử dụng từ xưng hô thường là tuổi tác, vị thế xã hội của các nhân vật tham gia giao tiếp (có thể gọi là tính quyền uy); không gian giao tiếp (có thể gọi là tính quy thức hay phi quy thức) Tuy nhiên, trong thực tế, giao tiếp bằng đại từ nhân xưng cũng còn chịu chi phối bởi nhiều nhân tố khác nữa, như nhân tố giới tính, nhân tố kiêng kị v.v Với những nhân tố chi phối vừa nêu trên, chúng ta thấy rằng đại từ nhân xưng thường biểu thị cho cả quan hệ ngang (quan hệ cùng lứa)

và cả quan hệ dọc (quan hệ trên dưới) Sau đây chúng tôi sẽ miêu tả, phân tích các đại từ nhân xưng trong tiếng Thái

2.2.1 Đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số ít:

Trang 32

Bảng 2 thể hiện những nhân tố cụ thể chi phối dùng đại từ nhân xưng ngôi1 số ít

Trang 33

Trên Dưới Ngang

vai

Gia đình

xã hội

(tao)

Trong hoàn cảnh giao tiếp phi quy thức, người ở vị thế cao, bậc trên

thường dùng căn để tự xưng với người có vị thế thấp hơn, biểu thị thái độ

suồng sã, hách dịch Ví dụ:

Căn bá thàu zin bó?

(Tao nói mày nghe không)

Thàu pay xoóc lua năm căn bó?

(Mày đi kiếm củi với tao không)

Với sắc thái ý nghĩa này, đại từ "căn" tiếng Thái tương đương từ "tao" tiếng Việt Có nghĩa là đại từ "tao" trong tiếng Việt cũng được người ở vị thế

trên sử dụng để xưng hô với người ở vị thế thấp trong hoàn cảnh không quy thức với sắc thái suồng sã

Như vậy, khi ego có tuổi tác, địa vị cao hơn người đối thoại thì anh ta

mới có thể dùng "căn" (tiếng Thái), "tao" (tiếng Việt) để xưng với người có

vị thế thấp hơn mình Trong trường hợp này, đại từ "căn" tiếng Thái cũng như đại từ "tao" của tiếng Việt biểu thị cho quan hệ phi đối xứng của nhân

vật hội thoại

Cũng trong hoàn cảnh giao tiếp không quy thức, khi những người ở vị

thế bằng vai, như bạn bè, vợ chồng xưng "căn" với nhau lại biểu thị thái độ

thân mật, gần gũi.Ví dụ:

Trang 34

Bạn: Thàu mà đảy kỉ mử lẻo?

(Mày về được mấy hôm rồi) Bạn: Căn hiêng mà

(Tao mới về) Vợ: Mưng hờ lục pay bó?

(Anh cho con đi không) Chồng: Căn hờ pay mằn bo pay

(Tao cho nhưng nó không đi)

Trong những loại vai ngang bằng nhau như bạn - bạn, vợ - chồng đại

từ căn (ngôi 1), thàu, mừng (ngôi2) là những dấu hiệu ngôn ngữ biểu thị cho

mỗi quan hệ của các nhân vật hội thoại - quan hệ đối xứng

"Căn" được sử dụng trong quan hệ vai vợ - chồng có điểm cần lưu ý, khi người Thái xưng hô căn - thàu, mừng với nhau thì không nên hiểu và chuyển dịch nét nghĩa của đại từ căn - thàu, mừng = mày - tao Trong loại quan hệ vai này có nét nghĩa của anh - em Lúc này, tính chất của đại từ căn

- thàu, mừng tiếng Thái gần như tính chất của đại từ I - You tiếng Anh ở phạm vi này, tính khái quát của đại từ "căn "trong tiếng Thái cao hơn đại từ

"tao" trong tiếng Việt

Trong quan hệ vai bạn - bạn, giữa đại từ "căn" tiếng Thái và đại từ

"tao" tiếng Việt cũng có nét giống nhau là dùng trong giao tiếp không quy

thức với sắc thái thân mật, gần gũi

Nhưng xét về yếu tố tuổi tác thì việc sử dụng đại từ căn và tao giữa

hai thứ tiếng lại có sự khác nhau Ở chỗ, bạn bè người Việt thường chỉ xưng

tao - mày với nhau khi còn trẻ Khi đã có gia đình riêng và con cái, bạn bè người Việt thường xưng tôi và gọi bạn mình là bác, chú, cô tức gọi thay con cháu mình Hoặc xưng tôi và gọi anh, chị theo nguyên tắc " xưng

khiêm, hô tôn" của người Việt

Sự xuất hiện của người thứ ba như con, cháu hay người xa lạ cũng khiến cho xưng hô giữa bạn - bạn ở người Việt cần chuẩn mực hơn Do đó,

họ không thể dùng cặp từ tao - mày để xưng hô

Trang 35

Như vậy, đại từ tao (và đại từ mày ngôi thứ hai tương ứng) hầu như

vắng bóng trong xưng hô ở những cặp vai bạn- bạn đã đứng tuổi của người Việt Trong quan hệ vai bạn - bạn của người Việt có sự thay đổi từ xưng hô

theo độ tuổi Ngược lại, ở tiếng Thái, cặp từ xưng hô căn - thàu vẫn được

những người bạn già thường xuyên sử dụng để xưng hô thân mật với nhau

Chúng ta có thể hình dung những nét giống / khác nhau giữa đại từ

"căn" tiếng Thái và đại từ "tao" tiếng Việt qua bảng sau: (bảng 3)

trên

Vai

dưới

Ngang bằng

không quy thức

Quy thức

Thân mật

Suồng

Gia đình

Xã hội

Lưỡng

vi

Căn + bạn - bạn + + + + + + Kéo dài

ít thay đổi Tao + bạn- bạn + + + + Ngắn,

có thay đổi

Căn cứ vào những điều phân tích, miêu tả và qua bảng trên, chúng ta

có thể nhận xét những nét giống / khác nhau giữa hai đại từ căn và tao

Những điểm giống nhau: ở bất cứ quan hệ vai nào trên / dưới hay

ngang bằng, ở phạm vi sử dụng trong gia đình / ngoài xã hội hay lưỡng vi

(vừa dùng trong gia đình vừa dùng ngoài xã hội), đại từ căn và tao đều giống

nhau là chỉ được các nhân vật hội thoại sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp không quy thức (informal)

Căn và tao chỉ được hai loại quan hệ vai sử dụng: người ở vị thế cao

xưng với người ở vị thế thấp hay những người có vị thế ngang bằng nhau

Nếu xưng hô chuẩn mực, người ở vị thế dưới không thể dùng căn, tao để tự

xưng trước người ở vị thế trên

Những điểm khác nhau: Đại từ căn trong tiếng Thái được sử dụng

rộng rãi trong nhiều cặp vai khác nhau như bạn - bạn, vợ - chồng với sắc thái

Trang 36

gần gũi, thân mật Trong khi đó, ở loại vai ngang bằng, đại từ tao của tiếng

Việt chỉ được dùng trong quan hệ vai bạn - bạn chứ không thể dùng trong vai

vợ - chồng Tuy nhiên, ở nhiều cặp vợ chồng người Việt, khi mâu thuẫn lên

đến đỉnh điểm và xung đột xẩy ra thì đại từ tao - mày vẫn được sử dụng

trong các phát ngôn của họ

Cặp đại từ căn - thàu, mừng được sử dụng trong quan hệ vai giữa vợ

và chồng người Thái không có sự thay đổi về thời gian Nghĩa là, từ khi lấy

nhau cho đến khi về già họ vẫn sử dụng cặp xưng hô căn- thàu, mừng với

nhau Điều này chúng tôi sẽ lí giải rõ ở phần sau

Trong quan hệ vai bạn - bạn, đại từ căn được sử dụng với thời gian dài, ít thay đổi Ngược lại, cùng loại quan hệ vai bạn - bạn, đại từ tao chỉ

được cặp bạn người Việt sử dụng trong một thời gian ngắn, có thay đổi Nói

rõ hơn, yếu tố tuổi tác chi phối tới cách sử dụng đại từ tao trong quan hệ vai

bạn - bạn của người Việt Trái lại, yếu tố tuổi tác hầu như ít tác động tới cách

dùng đại từ căn trong quan hệ vai bạn - bạn của người Thái

Do được nhiều loại vai sử dụng nên phạm vi hoạt động của đại từ căn rộng hơn phạm vi hoạt động của đại từ tao Căn được dùng trong gia đình

như giữa vợ chồng, dùng ngoài xã hội như bạn - bạn và được dùng cả trong

gia đình cũng như ngoài xã hội (có tính lưỡng vi) Trong khi đó, tao của

tiếng Việt chỉ hoạt động ở hai phạm vi: phạm vi xã hội như bạn - bạn và phạm vi trung gian (trong trường hợp người ở vị thế trên xưng với người ở vị thế dưới)

Xét trong nội bộ tiếng Thái, khi sử dụng đại từ căn cần lưu ý: Đại từ căn đi với đại từ mưng được sử dụng trong xưng hô các ngành Thái, các địa phương có sự khác nhau Người Thái tày Mường sử dụng cặp đại từ căn - mừng để xưng hô trong gia đình và ngoài xã hội, biểu hiện thái độ thân mật,

kính trọng và cả suồng sã Trong khi đó người Thái tày Thanh lại có cách dùng khác Ở tày Thanh, khi người có vị thế thấp hơn xưng hô với người có

vị thế cao hơn mình thì họ dùng cặp đại từ xưng hô căn - mừng, biểu hiện sự

kính trọng Còn khi xưng hô với người có vị thế ngang bằng hoặc thấp hơn

mình thì họ sử dụng cặp đại từ xưng hô căn - thàu, biểu hiện sự thân mật

Trang 37

hoặc suồng sã Chẳng hạn, khi chồng xưng hô với vợ thì dùng cặp từ căn - thàu, nhưng khi vợ xưng hô với chồng thì phải dùng cặp từ căn - mừng Ví dụ:

(Không, tao còn đi coi rẫy)

Như vậy, trong xưng hô của người tày Thanh có sự phân biệt trong

quan hệ vai Cũng đều xưng là căn nhưng người ở vị thế cao hơn thì dùng căn -thàu để xưng hô, trong khi đó người ở vị thế thấp thì lại dùng căn - mừng để xưng hô

Đại từ "tôi" của tiếng Việt cũng được sử dụng khác nhau ở những phương ngôn khác nhau Trong phương ngôn Hà Nội, người ở vị thế thấp ít khi xưng "tôi" với người ở vị thế cao hơn mình Ngược lại, trong phương

ngôn Nghệ Tĩnh, người ở vị thế thấp vẫn thường xưng "tôi" (tui) trước người

ở vị thế cao mà không bị coi là hỗn láo

* Đại từ Khỏi:

Đây là một đại từ nhân xưng khá đặc biệt Trong nhiều tài liệu, khỏi được dịch ra tiếng Việt bằng từ "tôi" và thường được coi là một từ tương đương Tuy nhiên, phạm vi và chức năng sử dụng giữa khỏi và tôi khác nhau khá xa Khỏi là đại từ được người ở vị trí thấp sử dụng để xưng với những người ở vị thế cao hơn Khác với trong tiếng Tày, Nùng khỏi không có đại từ

nào ở ngôi 2 để tạo thành cặp xưng hô tương ứng, thì trong tiếng Thái người

ta vẫn dùng một đại từ ngai để tạo thành cặp xưng hô tương ứng Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của chúng tôi, thì từ ngài có thể là Việt hóa, trong tiếng

Thái cổ không có từ này Mặc dù vậy, ngày nay trong cách xưng hô của

người Thái thì cặp xưng hô khỏi - ngai vẫn được dùng phổ biến Dù ở bất cứ hoàn cảnh giao tiếp qui thức hay không qui thức, khỏi luôn luôn biểu thị một

Trang 38

giá trị biểu cảm là lịch sự, kính trọng của người ít tuổi với người cao tuổi, người ở vị thế thấp đối với người có vị thế xã hội cao hơn

Người tự xưng là khỏi có thể nói với bậc ông bà: ù (ông), áu (bà); với bậc cô, bác: của (cô), chú (ao), Lùng (bác trai) Khỏi có thể dùng để xưng thay cho lan (cháu), lục (con), noọng (em) sắc thái hoàn toàn như nhau trong

các câu:

- U ơi, lan pay a nớ (ông ơi cháu đi nhé)

hay - U ơi, khỏi pay a nớ (ông ơi, tôi đi nhé)

- ái ơi, noọng mưa nớ (anh ơi em về nhé)

hay - Ái ơi, khỏi mưa nớ (anh ơi tôi về nhé)

Xét về phạm vi sử dụng, đại từ "khỏi" chủ yếu được dùng trong quan

hệ xã hội ví dụ:

- Lùng ơi hờ khỏi tham tàng mừa bán Mét

(Bác ơi cho cháu hỏi đường về bản Mét)

- Mể khỏi bọ dú hươn pá ạ

(Mẹ cháu không có nhà bác ạ)

Trong phạm vi gia đình, chỉ có con dâu, con rể mới xưng khỏi với bố

mẹ chồng, bố mẹ vợ - khiểu xưng hô khách khí Tuy nhiên, lối xưng hô kiểu này chỉ phổ biến trong tiếng Thái tày Mường, còn trong Thái tày Thanh thì con dâu, con rể khi xưng hô với bố mẹ chồng, vợ lại có những từ xưng hô riêng với những quy tắc nghiêm ngặt, chúng tôi sẽ trình bày rõ ở phần sau

Trong quan hệ thông gia, người Thái gọi thông gia của mình là "ảnh loong", "mể loong" (ảnh, mể = bố, mẹ; loong = thông gia) và tự xưng là

"khỏi", hoặc có khi thân mật hơn họ chỉ gọi "ảnh", " mể" (bố, mẹ), thực chất đây là cách gọi thay vai, lấy vai con để gọi người có quan hệ thông gia với mình Có khi, họ xưng hô với nhau bằng cặp đại từ "khỏi - ngai" Ví dụ:

- Ngai mà dam khay khỏi nhằng phảo pay mòi nà, ngai dú hươn thà khỏi nơ

(Ông đến thăm nhưng tôi còn vội đi thăm ruộng, ông ở nhà chờ tôi nhé)

Ờ ngai háy pay khỏi dù hươn lăm lan

(Vâng ông cứ đi đi tôi ở nhà chơi với cháu)

Trang 39

Cách xưng hô này nhằm đề cao sự tôn trọng nhau của hai bên thông gia, nó không còn mang tính chất khách khí nữa

Có thể nói, trong xưng hô ngoài xã hội của người Thái, người ít tuổi

xưng khỏi với người cao tuổi là lối xưng hô rất văn hóa và lịch sự Trong

tiếng Việt không có đại từ ngôi thứ nhất với sắc thái lịch sự để xưng với

người ở vị thế trên như trường hợp đại từ khỏi trong tiếng Thái Thiết nghĩ

đây là một cách xưng hô cần được duy trì và sử dụng rộng rãi

Tóm lại, cũng như tiếng Việt, những đại từ xưng hô ngôi thứ nhất, số

ít trong tiếng Thái là kết quả của sự tự quy chiếu của người nói

Trong tiếng Thái, dùng đại từ để tự xưng trước người đối thoại phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố như hoàn cảnh giao tiếp (quy thức hay phi quy thức), phạm vi giao tiếp (gia đình, xã hội), tuổi tác, giới tính của nhân vật hội thoại

Đại từ xưng hô ngôi thứ nhất, số ít trong tiếng Thái có sự chuyên biệt hóa rất cao về vị thế của người sử dụng và phạm vi sử dụng Đặc biệt là đại từ

khỏi, là đại từ để những người ít tuổi tự qui chiếu, tự định vị trước người cao

tuổi

Có thể nói, khỏi là đại từ dùng để tự xưng trong giao tiếp ngoài xã hội

với sắc thái lịch sự, văn hóa của người Thái Đây cũng là điểm khác biệt giữa những đại từ xưng hô ngôi thứ nhất, số ít của tiếng Thái và tiếng Việt Ở tiếng Việt không có đại từ nào có tính chuyên biệt về vị thế và phạm vi sử

dụng như đại từ khỏi của tiếng Thái

2.2.2 Đại từ xưng hô ngôi thứ hai số ít:

Trong tiếng Thái có ba đại từ nhân xưng biểu thị ngôi thứ hai, số ít là thàu, mừng, ngai

Gọi người đối thoại bằng đại từ nào phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh giao tiếp, vào tuổi tác, phạm vi sử dụng, đặc biệt là vị thế của người gọi Bảng 4 sau đây sẽ trình bày những yếu tố chi phối cách dùng đại từ ngôi thứ hai, số ít trong tiếng Thái

Trang 40

Gia đình

Xã hội

căn thì sẽ gọi người thứ hai là thàu Có hai loại vai dùng đại từ thàu để trỏ

người đối thoại

Thứ nhất, trong quan hệ phi đối xứng, người ở vị thế cao dùng thàu để

chỉ người ở vị thế thấp hơn mình Chẳng hạn như cha mẹ, ông bà, chú bác gọi con cháu (phạm vi gia đình) Ngoài xã hội, những người cao tuổi dùng

thàu để gọi những người ít tuổi Do đó, phạm vi sử dụng của đại từ thàu có

tính lưỡng vi - dùng trong gia đình và ngoài xã hội Trong quan hệ vai người

trên kẻ dưới, tính cặp đôi của đại từ căn - thàu là một chiều Nghĩa là vai trên, người có quyền uy tự xưng là căn và gọi người đối thoại là thàu Ngược lại, người có vị thế thấp kỡ mới gọi người ở vị thế thấp là thàu Trong giao

tiếp ngoài xã hội, để giữ phép lịch sự, với những người ít tuổi nhưng chưa

quen biết, người cao tuổi không dùng thàu mà dùng các danh từ khác như lan (cháu), noọng (em) để gọi

Thứ hai, trong quan hệ đối xứng, những người ở vị thế ngang bằng

nhau như bạn bè dùng thàu để trỏ người đối thoại với sắc thái thân mật, gần gũi Ở loại quan hệ vai ngang bằng, tính cặp đôi của đại từ căn - thàu là hai chiều Nghĩa là, người nói và người nghe cùng luôn phiên xưng và hô căn- thàu với nhau

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Grant Evans Bức khảm văn hóa châu á tiếp cận nhân học, Nxb văn hóa dân tộc, HN, 2001. Người dịch: Cao Xuân Phổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức khảm văn hóa châu á tiếp cận nhân học
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
2. Yu X. Xtêpanov Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương-Trần Khang, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Anh Quế dịch, Nxb ĐH và trung học chuyên nghiệp, HN 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương
Nhà XB: Nxb ĐH và trung học chuyên nghiệp
3. Ferdinand De Saussre Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nxb KHXH, HN, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Nhà XB: Nxb KHXH
6. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung, Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1), Nxb GD, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb GD
7. Nguyễn Nhã Bản Cơ sở ngôn ngữ học, Vinh 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
8. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên) Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
9. Đỗ Hữu Châu Từ vựng ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb GD
10. Đỗ Hữu Châu Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, H, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Đỗ Hữu Châu Đại cương ngôn ngữ học, tập 2- Ngữ dụng học, NXBGD, H, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Nhà XB: NXBGD
12. Đỗ Hữu Châu- Bùi Minh Toán, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb GD, H, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb GD
13. Nguyễn Văn Chiến Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á, ĐHSP ngoại ngữ, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á
14. Nguyễn Văn Chiến Sắc thái địa phương của danh từ thân tộc trong tiếng Việt, Ngôn Ngữ, số 2, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái địa phương của danh từ thân tộc trong tiếng Việt
15.Nguyễn Văn Chiến Từ xưng hô trong tiếng việt, tạp chí những vấn ngôn ngữ học và văn hóa, 1993, tr60-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xưng hô trong tiếng việt, tạp chí những vấn ngôn ngữ học và văn hóa
16. Cầm Cương Chữ Thái- một sản phẩm trí tuệ của xã hội bản mường, một di sản văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Thái ở Việt Nam, VH&LS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Thái- một sản phẩm trí tuệ của xã hội bản mường, một di sản văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Thái ở Việt Nam
18. Phạm Đức Dương Văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Trung tâm KHXH & NV QG Viên nghiên cứu ĐNA, nxb KHXH, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Nhà XB: nxb KHXH
19. Trần Trí Dõi Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa thông tin, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
21. Trương Thị Diễm Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ, Vinh 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt
23. Con Cuông huyện của ngõ miền Tây xứ Nghệ, UBND huyện Con Cuông, Nxb NA, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con Cuông huyện của ngõ miền Tây xứ Nghệ
Nhà XB: Nxb NA
24. Ninh Viết Giao Truyện cổ Thái, Nxb Nghệ Tĩnh 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Thái
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh 1991
25. Lê Sĩ Giáo Dân tộc học đại cương, Nxb GD, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Nhà XB: Nxb GD

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w