1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ phần mở đầu trong ca dao trữ tình việt nam

102 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 471,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng nh- các thể loại khác, phần mở đầu của ca dao trữ tình bao giờ cũng có một hình thức, cấu trúc nhất định, nhằm chuyển tải một phần quan trọng của nội dung văn bản.. Việc nghiên cứu

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

tr-ờng đại học vinh

Trang 2

mục lục

Trang Phần mở đầu

6.1- H-ớng nghiên cứu từ góc độ văn học dân gian 5

Phần nội dungCh-ơng 1

Khái quát về ca dao và phần mở đầu

trong ca dao trữ tình

II- Phần mở trong văn bản và trong ca dao trữ tình 25

Trang 3

1.1- ThÓ lôc b¸t (bao gåm thÓ chÝnh thøc vµ thÓ biÕn thøc) 30

trong ca dao tr÷ t×nh I- C¸c tõ ng÷ biÓu thÞ néi dung më ®Çu cña ca dao tr÷ t×nh 56

Trang 4

1- Mở đầu là từ ngữ chỉ thời gian 56

8- Mở đầu là từ ngữ chỉ các hoạt động giao tiếp 76

10- Mở đầu là từ ngữ chỉ cuộc sống sinh hoạt của con ng-ời 77

13- Mở đầu là từ ngữ chỉ hình ảnh vũ trụ, thiên nhiên 80

II- Vai trò của phần mở đầu với nội dung và phần kết trong bài ca dao 85

trữ tình

1.1-Phần mở đầu có vai trò làm nguyên cớ khi tỏ tình 85 1.2- Phần mở đầu có vai trò làm nền để thể hiện tâm trạng 86 1.3- Phần mở đầu có vai trò đ-a đẩy khi diễn x-ớng 88 1.4- Phần mở đầu có vai trò nêu vấn đề, định h-ớng 89

2- Vai trò của phần đầu với phần kết trong bài ca dao trữ tình 90

III- Các loại quan hệ ngữ nghĩa của phần mở đầu với toàn bài ca dao 92

Trang 5

Phần mở đầu

1- Lý do chọn đề tài.

Ca dao trữ tình là tiếng nói tâm tình của ng-ời lao động Tiếng nói đó nhằm bộc lộ thái độ cảm xúc thẩm mỹ của con ng-ời, tr-ớc những đối t-ợng khác nhau của tự nhiên, xã hội

Đây là mảng đề tài phong phú nhất, phát triển mạnh nhất của ca dao, mảng đề tài này đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học quan tâm Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung khai thác ở các mặt, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, thi pháp ca dao mà ít chú ý tới một khía cạnh khác d-ới góc độ ngôn ngữ học Đó là chức năng, ý nghĩa, vai trò, quan hệ của phần mở

đầu bài ca dao nhìn trong tổng thể của văn bản

Cũng nh- các thể loại khác, phần mở đầu của ca dao trữ tình bao giờ cũng

có một hình thức, cấu trúc nhất định, nhằm chuyển tải một phần quan trọng của nội dung văn bản Đồng thời nó cũng có một vị thế riêng, đặc thù riêng trong việc phát triển nội dung và triển khai chủ đề văn bản Song tuy theo nội dung phản ánh của từng tiểu loại ca dao mà phần mở đầu có hình thức, cấu tạo và quan hệ khác nhau

Việc nghiên cứu phần mở đầu trong ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng, giúp chúng ta hiểu thêm tính tổng thể của văn bản, đồng thời lý giải

đ-ợc mối quan hệ giữa các phần của văn bản

2- Mục đích nghiên cứu của đề tài.

Nghiên cứu phần mở đầu trong ca dao trữ tình nhằm mục đích:

- Qua khảo sát: cấu tạo, nội dung ý nghĩa, vai trò, chức năng, quan hệ của các kiểu mở đầu trong ca dao trữ tình, nhằm làm cho ng-ời đọc một phần hiểu thêm bản chất, cách thức của các kiểu mở đầu đó

- Giúp ng-ời nghiên cứu và giảng dạy văn học, giảng dạy ngôn ngữ, có cái nhìn tổng thể về văn bản, nhất là văn bản ca dao

3- Đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.

3.1- Đối t-ợng nghiên cứu

Luận văn lấy các kiểu mở đầu trong ca dao ng-ời Việt làm đối t-ợng nghiên cứu Khi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu kiểu mở đầu trong quan hệ với nội dung văn bản, với các phần khác trong bài ca dao

Trang 6

3.2- Phạm vi nghiên cứu

Ca dao trữ tình là mảng đề tài lớn, da dạng, phong phú, luận văn chỉ đề cập tới các kiểu mở đầu ở các khía cạnh:

- Ca dao trữ tình với đề tài thiên nhiên đất n-ớc

- Ca dao trữ tình với đề tài quan hệ xã hội

- Ca dao trữ tình với đề tài tình cảm gia đình

- Ca dao trữ tình với đề tài tình yêu lứa đôi

Về t- liệu phục vụ cho việc s-u tầm khảo sát:

Ca dao trữ tình chọn lọc - NXB Văn học - 2001 - Nhóm tác giả Lữ Huy Nguyên, Đặng Văn Lung, Trần Thị An

Tục ngữ - Ca dao - Dân ca Việt Nam - NXB Văn học - Vũ Ngọc Phan

4- Ph-ơng pháp nghiên cứu.

Các ph-ơng pháp đ-ợc sử dụng khi nghiên cứu luận văn này:

4.1- Ph-ơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Khảo sát số liệu, thống kê số

liệu sau khi đã khảo sát, phân loại số liệu, nhóm các kiểu câu mở đầu

4.2- Ph-ơng pháp phân tích đối chiếu:

Sau khi có số liệu, ng-ời nghiên cứu miêu tả, phân tích các kiểu mở đầu,

có thể đối chiếu với một số thể loại khác để làm nổi bật vấn đề

5- Cái mới của luận văn.

Luận văn nêu một cách hệ thống, chuyên sâu về các kiểu mở đầu trong ca dao trữ tình và mối quan hệ giữa phần mở đầu với các phần khác trong bài ca dao

6- Lịch sử vấn đề.

Ca dao là đề tài hấp dẫn, thu hút nhiều nhà nghiên cứu, nhiều lĩnh vực nghiên cứu, từ góc độ văn học, thi pháp học và ngôn ngữ học Song từng lĩnh vực nghiên cứu lại có những cách nhìn nhận riêng để khai thác các khía cạnh khác nhau của ca dao:

6.1- H-ớng nghiên cứu từ góc độ văn học dân gian

Hoàng Tiến Tựu (tái bản 1999) nghiên cứu ca dao về các mặt: nội dung phản ánh của ca dao, nghệ thuật của ca dao, kết cấu của ca dao, VHDG Việt Nam - Giáo trình đào tạo giáo viên THCS - hệ CĐSP - NXB Giáo dục - 1999

Trang 7

Bùi Mạnh Nhị (1999) nghiên cứu đặc tr-ng cấu trúc của bài ca dao trữ tình dân gian (Folklore) ở khía cạnh: Công thức truyền thống và đặc tr-ng cấu trúc của ca dao, dân ca trữ tình (Những công trình nghiên cứu VHDG Việt Nam)

Đặng Văn Lung (1999) nghiên cứu những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình: Sự trùng lặp về hình ảnh, sự trùng lặp về ngôn ngữ (những công trình nghiên cứu VHDG Việt Nam)

Nguyễn Tấn Phát (1999) nghiên cứu nội dung phản ánh của ca dao, dân ca Nam Bộ (Những công trình nghiên cứu VHDG Việt Nam)

Chu Xuân Diên (1997) nghiên cứu lịch sử xã hội, đất n-ớc và con ng-ời trong cao dao, dân ca Việt Nam - Cấu tứ trong thơ trữ tình dân gian và những truyền thống nghệ thuật của ca dao dân ca Việt Nam (Văn học dân gian Việt Nam) NXB Giáo dục

6.2- H-ớng nghiên cứu từ góc độ thi pháp

Nguyễn Xuân Kính (1992) nghiên cứu tổng thể của ca dao về các mặt thi pháp:

- Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp ca dao

- Ngôn ngữ trong ca dao

- Kết cấu trong ca dao

- Một số biểu t-ợng trong ca dao

(Thi pháp ca dao - NXB KHXH - HN - 1992 Trần Đình Sử (1998) nghiên cứu những đặc điểm của ca dao:

Đinh Gia Khánh - Nghiên cứu đặc điểm câu mở đầu trong thơ ca dân gian

- Thông báo khoa học - Văn học, ngôn ngữ, tr-ờng Đại học tổng hợp HN 1996

Điểm qua một số công trình nghiên cứu về ca dao, chúng ta có thể nói rằng: ca dao là mảng đề tài phong phú nhất cho những nhà nghiên cứu quan tâm

Trang 8

Song việc nghiên cứu ấy, chỉ tập trung và các vấn đề: nội dung, hình thức, thể loại ca dao

7 Bố cục của luận văn.

Luận văn tiến hành nghiên cứu trong ba ch-ơng:

Ch-ơng 1: Khái quát về ca dao và phần mở đầu trong ca dao trữ tình

Ch-ơng 2: Đặc điểm hình thức, phần mở đầu trong ca dao trữ tình

Phần nội dung

Ch-ơng 1Khái quát về ca dao và phần mở đầu

trong ca dao trữ tình

I Khái quát về ca dao và ca dao trữ tình

1- Khái quát về ca dao

Ca dao và dân ca là hai thuật ngữ đ-ợc dùng trong giới nghiên cứu văn học

và âm nhạc Song nội dung của hai thuật ngữ này, nhất là thuật ngữ ca dao thì lại

đ-ợc xác định không giống nhau Tuỳ cách hiểu, tuỳ quan niệm của mỗi ng-ời

mà nội dung thuật ngữ đ-ợc trình bày, đ-ợc diễn giải bằng những cách khác nhau

Về dân ca, cách hiểu t-ơng đối thống nhất là những bài hát dân gian do quần chúng nhân dân sáng tác, diễn x-ớng, l-u truyền

ở dân ca, yếu tố văn học (lời ca) và âm nhạc (làn điệu) cũng với thể thức diễn x-ớng, gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Có loại dân ca l-u truyền chủ yếu ở một vùng, một miền và có quan hệ mật thiết với sinh hoạt văn hoá, tinh thần của vùng đất đã sản sinh ra nó Chẳng hạn, dân ca quan họ Bắc Ninh, hát dặm Nghệ Tĩnh, hò Đồng Tháp Có loại dân ca l-u hành phổ biến ở nhiều nơi, nhiều địa ph-ơng khác nhau nh-: Điều cò lả, hát trống quân ở đồng bằng Bắc bộ, hò chòi ở miền Trung

Trang 9

Về khái niệm ca dao: có nhiều quan niệm khác nhau Theo D-ơng Quảng Hàm: ca dao thì ca là hát, dao là bài hát không có ch-ơng khúc

Đó là những bài hát ngắn, l-u truyền trong dân gian, th-ờng tả tính tình, phong tục của ng-ời bình dân Theo cách hiểu này thì ca dao và dân ca đồng nghĩa với nhau, chúng không có ranh giới phân biệt Phải chăng, từ thuở mới khai sinh, các tác giả dân gian chỉ làm ca dao để hát, nên thuật ngữ ca dao mới đ-ợc xác định

Đó là những bài hát ngắn

Thuật ngữ ca dao đ-ợc sử dụng rộng rãi ở n-ớc ta từ thế kỷ thứ XX, những việc xác định nội hàm của nó ở các nhà nghiên cứu, s-u tầm, biên soạn sách văn học dân gian những thập niên sau này lại có thêm nội dung mới, cách hiểu mới

Thời xa x-a, trong sinh hoạt văn nghệ, các nghệ sỹ dân gian làm ra các bài hát ngắn để hát Chúng gồm hai phần, lời ca và làn điệu Dần dần theo thời gian, lời bài hát phát triển thành một thể thơ dân gian Các thế hệ tiếp theo dựa vào phong cách cấu tạo của thể thơ này mà đặt thêm những lời ca mới, hoặc để hát theo những làn điệu mới, sáng tác, hoặc để ngâm, để đọc Một số tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn sáng tác theo phong cách dân gian đi vào đời sống đ-ợc nhân dân hoá, cũng trở thành ca dao Do vậy, khái niệm ca dao đã mang một nội dung mới, không đồng nhất với ca dao nữa

Giáo s- Hoàng Tiến Tựu trong tập "Văn học dân gian Việt Nam" tập 2 trang 139 viết: Ca dao là bộ phận chủ yếu quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, đ-ợc hình thành và phát triển trên cơ sở các thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình

truyền thống (ngắn và t-ơng đối ngắn) của ng-ời Việt

2- Khái quát về ca dao trữ tình

Ca dao trữ tình là những bài ca mà nội dung và hình thức diễn x-ớng của

nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có tính chất nghi lễ Những bài ca này vẫn đ-ợc hát trong lao động nh-ng nội dung cơ bản của nó là nhằm bộc lộ tâm t- tình cảm của nhân vật trữ tình, bộc lộ tình yêu tha thiết của nhân dân đối với quê h-ơng đất n-ớc, tình yêu lứa đôi, tiếng ca tình nghĩa của nhân dân trong quan hệ gia đình và những mối quan hệ khác Những bài ca này có thể đ-ợc hát, đ-ợc hò, ít nhiều có lề lối có tổ chức hoặc hát đơn lẻ

có đối đáp hoặc không đối đáp (ví dụ: hò chèo ghe, hát điệu lý )

Xu h-ớng khám phá, phát triển cơ bản của thể loại này là thế giới nội tâm vô cùng đa dạng của nhân dân Mỗi bài ca mang một vẻ đẹp riêng của một vì sao

Trang 10

lấp lánh nh-ng cũng mở rộng đến vô biên chiều rộng và chiều sâu của thế giới bên trong, đậm chất trữ tình của con ng-ời

Đây là thể loại nẩy nở khắp mọi vùng đất n-ớc, một thể loại quen thuộc, gần gũi với mọi lứa tuổi Tiếng hát trữ tình của nó, có thể vọng đến mọi nhà, vang trên đồng ruộng, bến n-ớc, ngoài biển khơi xa tít chiều sâu trong nội dung bài ca, vẻ đẹp duyên dáng trong hình thức cấu tạo của nó, sức hấp dẫn thu hút kỳ lạ của những làn điệu đậm đà màu sắc dân tộc đã đem đến cho ng-ời đọc một sự đam mê say đắm

Tất cả các điều ấy, đã gây cho chúng ta, một cảm giác khoan khoái, dễ chịu, có thể ví nh- ng-ời đang sống mệt mỏi, nơi ngột ngạt ồn ào, bỗng đ-ợc hít thở không khí trong lành t-ơi mát, nơi h-ơng đồng gió nội vào những đêm thu yên tĩnh

3- Những đặc điểm của ca dao

Ca dao là mảng đề tài phong phú nhất, đa dạng nhất của văn học dân gian

Đồng thời ca dao cũng là đề tài phong phú nhất về mặt thể loại Nghiên cứu về

ca dao, chúng ta không thể không nghiên cứu về mặt cấu tạo của nó Việc nghiên cứu này, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể cả nội dung và hình thức trong một văn bản cụ thể

3.1- Về mặt thể loại

Nhìn chung đa số ca dao đ-ợc sáng tác theo thể thơ: lục bát, thể song thất lục bát, thể song thất, thể hỗn hợp, thể vãn

3.1.1- Thể lục bát:

Đa số lời ca trong ca dao đ-ợc sáng tác theo thể lục bát Nhắc tới ca dao,

ng-ời ta nhắc đến thể loại này

Vì sao phần lớn bài ca dao đ-ợc sáng tác theo lể lục bát Vì thể thơ này mới nghe qua ng-ời ta dễ nghĩ rằng: Nhịp điệu lặp lại nhàm chán, theo kiểu dòng trên 2 - 2- 2, dòng d-ới 2 - 2 - 2 - 2 Trên thực tế, nhịp điệu thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt vô cùng Ngoài ra, với sự không gò bó, không bị hạn chế

về độ dài, ngắn của tác phẩm (số l-ợng cặp thơ tuỳ thuộc vào tác giả) Thể lục bát có sở tr-ờng trong việc diễn đạt cảm xúc rất phong phú, thể hiện nội dung hết sức đa dạng của hiện thực

Theo thống kê, trong số 1010 lời ca (CDVN) có 975 lời đ-ợc sáng tác theo thể lục bát, chiếm tỷ lệ 96,5% Các thể còn lại nh-: song thất lục bát, song thất, thể hỗn hợp, chiếm 3,5%

Trang 11

Ví dụ: Chàng về để thiếp cho ai

Chiều hôm vắng vẻ, sáng mai lạnh lùng

(Ca dao Việt Nam)

Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi

(Ca dao Việt Nam)

Lửng lơ vầng quế soi thềm H-ơng đ-a bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đáy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng

Đèn ta thấp thoáng bóng trăng

Ai đem ng-ời ngọc thung thăng chốn này

(Ca dao Việt Nam) 3.1.2- Thể song thất lục bát:

Những bài ca thuộc thể loại này, bao gồm một khổ thơ bốn dòng, trong đó hai dòng bảy tiếng đứng đầu, tiếp đến một dòng sáu tiếng, cuối khổ thơ một dòng tám tiếng

Đêm năm canh, trông ngắm lần lần Khoảnh làm chi, bấy chúa xuân Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi

(Ca dao Việt Nam)

N-ớc giếng vàng, vừa trong vừa mát Nâu chợ Chùa nhuộm lạt lâu phai Cá Cựa Nh-ợng, khoai Mục Bài Khuyên ai về huyện Cẩm, kẻo một mai tiếc thầm

(Ca dao Việt Nam) 3.1.3- Thể song thất:

Trong ca dao, thể loại này không phổ biến, song không phải là không có Thể loại này đ-ợc cấu tạo gồm hai dòng thơ, mỗi dòng bảy tiếng Hai dòng thơ

đã tạo cho văn bản vẻ đẹp hài hoà cân đối

áo vá quàng chí quyết vợ anh

(Ca dao Việt Nam)

Trang 12

Trầu không vôi ắt là thuốc lạt Cau không hạt ắt là cau già

(Ca dao Việt Nam) 3.1.4- Thể hỗn hợp:

Thể hỗn hợp là thể thơ sáng tác không theo một niêm luật nào, mang tính

tự do, không bị gò ép số tiếng, số câu Dài hay ngắn là do nội dung phản ánh rộng, hẹp của bài ca, thể loại này chiếm khoảng 1%

Ai ngồi, ai câu

Ai sầu, ai thảm

Ai th-ơng, ai cảm

Ai nhớ, ai trông Thuyền ta thấp thoáng bên sông

Đ-a câu mái đẩy chạnh lòng n-ớc non

(Ca dao Việt Nam)

Đ-ờng không đi không biết Chuông không đánh sao kêu Nghe lời anh nói bao nhiêu Khiến lòng thắc thẻo, trăm chiều xót đau

(Ca dao Việt Nam)

Hai bài ca dao trên có kiểu cấu trúc tự do Số tiếng trong mỗi dòng thơ và

số câu trong bài ca dao hoàn toàn khác nhau

ở ví dụ 1, dòng thơ đầu, sáu tiếng, tiếp đến, bốn dòng sau, mỗi dòng bốn tiếng, và cuối cùng là một cặp lục bát

ở ví dụ 2, hai dòng thơ đầu, mỗi dòng năm tiếng, hai câu cuối bài ca là một cặp lục bát

3.1.5- Thể vãn:

Đây là thể thơ đơn giản đ-ợc dùng trong đồng giao và những lời ca khẩn

nguyền, phù chú Thể vãn bao gồm các loại:

- Vãn hai: Ông giăng

Ông giăng Xuống đây Cùng chị

- Vãn ba: L-ng đằng tr-ớc

Trang 13

Tè he chân rụt

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

- Vãn năm: Kẻ trong nhà đói khổ

Trời gió rét căm căm Nơi -ớt để mẹ nằm Nơi khô xê con lại Chỗ khô bồng con lại

(Ca dao trữ tình Việt Nam) 3.2- Nội dung phản ánh của ca dao

Ca dao là nguồn thơ dân gian vô tận, có lịch sử lâu đời và sức sống mạnh

mẽ Chúng ta có thể hình dung ca dao Việt Nam nh- một dòng sông lớn, bắt nguồn từ hàng trăm con sông, thậm chí hàng ngàn con sông, con suối ca dao, dân ca của các địa ph-ơng, các vùng, miền trong cả n-ớc Tuy việc s-u tầm ch-a

đầu đủ, song ca dao là tiếng nói tâm hồn, tiếng nói tình cảm của nhân dân trong tr-ờng kỳ lịch sử dân tộc Vì vậy, ca dao không chỉ lớn về số l-ợng tác phẩm mà còn hết sức phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức nghệ thuật

Trong dòng văn học dân gian, ca dao đ-ợc coi là một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình Với tính cách là thơ ca trữ tình, ca dao mang một đặc

điểm nổi bật đó là lối thơ trữ tình trò chuyện ở ca dao, dù kết cấu theo lối đối

đáp hay lối kể chuyện, chủ thể trữ tình ẩn hay hiện, ta luôn thấy bóng dáng một nhân vật đang trò chuyện, tức là kể chuyện hoặc giải bày cảm nghĩ, tâm tình của ng-ời khác

Trong quá trình biểu hiện, giá trị độc đáo của ca dao là ở chỗ, nó phản ánh chân thực tâm hồn, khí sắc dân tộc Sinh ra giữa thiên nhiên khắc nghiệt, sống triền miên trong xã hội hà khắc, là trải qua bai chiến tranh loạn lạc, dân tộc này không thể không nói đến khổ đau và căm giận, nh-ng cội nguồn và sức mạnh

Trang 14

của nó lại chủ yếu là chất t-ơi sáng, rắn rỏi của tâm hồn, là tình bầu bạn, là tình cảm yêu th-ơng, là tình nghĩa thuỷ chung, là lòng trung hậu với gia đình, quê h-ơng đất n-ớc

Trong việc phản ánh, ca dao không t-ờng thuật những biến cố lịch sử, song nếu ta hiểu lịch sử là toàn bộ cuộc sống của nhân dân, thì ca dao chính là cuộc sống của nhân dân N.V.Gô Gôn đã từng nhận xét về dân tộc Nga: "Một lịch sử chân thực, sinh động, nhiều màu vẻ lịch sử qua những tên đất, tên ng-ời, lịch sử qua niềm t-ởng nhớ của lòng dân, lịch sử qua những phong tục, tập quán thổ nghi của các làng quê, lịch sử của những "sử, cuộc, nỗi, niềm" của cuộc đời hàng ngày”

Khác với truyện cổ tích, nếu nh- truyện cổ tích chiếu rọi một ánh sáng hy vọng và một cuộc sống khác, khác hẳn với cuộc đời hàng ngày, tẻ nhạt, khô cằn thì ca dao, tìm thi hứng ở ngay cả cuộc đời hàng ngày đó Cuộc đời đầm mồ hôi lao động, n-ớc mắt, tủi nhục, song cũng có lúc ấm áp những nhịp đập bồi hồi của tình cảm yêu th-ơng, dạt dào những khoái cảm của niềm vui, của sự đùa cợt Bởi vậy, ca dao đ-ợc coi là pho bách th- đời sống mọi mặt của nhân dân

Ngoài những đặc điểm nêu ở trên, trong ca dao, chủ thể trữ tình ch-a phải

là một cá nhân riêng lẻ, ch-a phải là một con ng-ời có thể khai thác những suy nghĩ và tình cảm của mình ở những góc độ riêng t-, mà các nhân vật trữ tình còn gắn bó không tách rời với đời sống nhân dân, còn hoàn toàn đắm mình trong môi tr-ờng của nhân dân và chỉ là tính cách, là chủ thể cái khí quan, qua đó biểu hiện chất trữ tình của đời sống nhân dân Vì vậy, ta chỉ thấy ở ca dao một số nhân vật trữ tình nhất định, những con ng-ời cùng cảnh ngộ Qua ca dao, đó là những tiếng hát cất lên từ chính trái tim mình của những chàng trai, cô gái trong quan

hệ tình duyên, những ng-ời phụ nữ, kẻ làm con, ng-ời làm dâu, ng-ời làm vợ, làm mẹ trong nghịch cảnh về hôn nhân gia đình, những ng-ời lao động trong công việc làm ăn, trên đồng ruộng hay trên sông n-ớc, trong cảnh ngộ nghèo khó

Chúng ta có thể gói gọn trong một câu: ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng, tr-ớc hết và chủ yếu là tiếng hát than thân và tiếng hát nghĩa tình của ng-ời nông dân và ng-ời lao động sông n-ớc trong khung cảnh làng xã Việt Nam

Trang 15

4- Những đặc điểm của ca dao trữ tình

4.1- Khái niệm về ca dao trữ tình

Ca dao trữ tình là bộ phận lớn nhất, phát triển mạnh nhất, phong phú và đa dạng nhất của ca dao Nó chẳng những là phần lời thơ các loại dân ca trữ tình nh- hát cò lả, hát trống quân, hát quan họ mà con bao gồm cả những lời trữ tình trong các loại dân ca mà chức năng gốc của nó không phải là trữ tình nh-: các

điệu hò lao động, các loại dân ca gắn với nghi lễ phong tục Dù sinh ra từ loại ca dao, dân ca nào, địa ph-ơng và thời kỳ lịch sử nào, thì ca dao trữ tình cũng là tiếng nói từ đáy lòng của ng-ời lao động, nhằm trực tiếp bộc lộ thái độ cảm xúc thẩm mỹ của con ng-ời tr-ớc những đối t-ợng cụ thể khác nhau của tự nhiên, xã hội

đ-ợc miễn là phải dừng lại ở câu thứ tám

Cách hiệp phần: chữ cuối câu lục, vần với chữ sáu câu bát, rồi chữ cuối câu bát lại vần với chữ cuối câu lục sau

Tiếng chuông Trấn vũ canh gà Thọ X-ơng

Mịt mù khói toả ngàn s-ơng Nhịp chày Yên Thái, mặt g-ơng Tây Hồ

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Câu tám có hai vần, một vần ở tiếng thứ sáu gọi là vần l-ng, một vần ở tiếng thứ tám gọi là vần chân Cứ một cặp câu, một lần đổi vần, bao giờ cũng gieo vần bằng

Luật bằng trắc: Luật bằng trắc thể lục bát đ-ợc tóm tắt bằng mô hình nh- sau: Câu sáu: b - b - T - T - b - b

Câu tám: b - b - T - T - b - b - T - b

(b là bằng, T là trắc)

Trang 16

Về nhịp: Nhịp của câu lục bát khá đa dạng Câu 6 có thể ngắt theo nhịp 2-2-2 (nhịp đôi) hoặc 2-4; 3-3; 4-2 Câu 8 có thể ngắt theo nhịp 2-2-2-2; 4-4;6-2 Nhịp tự nhiên của câu thơ lục bát là nhịp đôi

Do tính chất uyển chuyển của nhịp, với sự không gò bó, không bị hạn chế về độ dài ngắn của tác phẩm, thể lục bát có sở tr-ờng trong diễn đạt cảm xúc, thể hiện các nội dung hết sức đa dạng của hiện thực

Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen Thài lài mọc cạnh bờ sông Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài

(Ca Dao trữ tình Việt Nam)

Một số lời ca lục bát biến thể, trong khuôn hình về vần vẫn đ-ợc giữ nguyên, còn số tiếng trong mỗi dòng thơ có thể thay đổi, với lẽ đó, trong thể biến thức, ta th-ờng gặp một số biến thức nh- sau:

- Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên

Ví dụ: Chàng trẩy đi tr-ớc, mắt thiếp tôi chạy quanh

Chân đi thất thểu lời anh dặn dò

(Ca dao trữ tình Việt Nam )

T-ởng giếng sâu, nối sợi gầu dài Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

- Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi

Dừa Tam Quan hết n-ớc thì em đây mới hết tình

( Thi pháp ca dao)

Trang 17

Lời nguyền tr-ớc cũng nh- sau

Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta

( Thi pháp ca dao)

- Cả hai dòng, lục và bát thay đổi

Đó băn khoăn đó nhớ, đây bùi ngùi đây th-ơng

Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng sang

Trót đã mang vào kiếp bồng bềnh Xuống ghềnh lên thác, một lòng ta th-ơng nhau

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Ngoài ra biến thể lục bát còn có tác dụng trong việc châm biếm trào phúng

Ngày ba m-ơi tết có thịt treo trong nhà

(Thi pháp ca dao )

Nhác trông lên thấy bóng cô mình Múa may nhày nhót, rập rình với chú công văn

( Thi pháp ca dao)

Nh- vậy, hình thức lục bát biến thể chỉ có trong ca dao với những chức năng nh- đã phân tích trên Hình thức này không có trong truyện thơ tự sự, cũng nh- thơ trữ tình bác học làm theo thể lục bát

4.2.2- Thể song thất lục bát

Đây là thể thơ bao gồm: Một khổ thơ bốn dòng, trong đó hai dòng bảy tiếng, một dòng sáu tiếng, cuối khổ thơ là một dòng tám tiếng Muốn đặt dài hay ngắn tuỳ ý, miễn là phải đặt cho trọn từng đoạn

Trang 18

May áo chàng cùng sóng áo em Chữ tình cùng với chữ duyên Xin đừng thay áo mà quên lời thề

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Đồng Đào Nguyên lạch n-ớc quanh co Trách mình không đắn nỏ đo

Rã rời duyên nợ oan ch-a hỡi trời

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Về vần: Thể song thất lục bát đ-ợc thể hiện bằng mô hình

là vần trắc Chữ cuối câu bảy d-ới, vần với chữ cuối câu sáu đều là vần bằng, chữ cuối câu sáu, vần với chữ sáu câu tám, đều là vần bằng theo thể lục bát Nh- vậy mỗi đoạn

Trang 19

Việc thay đổi cấu trúc bất th-ờng nh- vậy, nhằm thể hiện những cảm xúc mạnh

mẽ của tác giả và diễn đạt những nội dung có tính chất bất ngờ, không bình th-ờng

Đêm canh chày thức đủ năm canh

Thể vãn đ-ợc sử dụng nhiều trong hát dặm Nghệ Tĩnh, nhiều khi còn đ-ợc dùng

để hát đối nam nữ hoặc trong một số loại ca dao, dân ca nh- những bài hát trẻ em Chẳng hạn thể vãn nằm trong hát dặm Nghệ Tĩnh có một số phong cách riêng, gắn liền với lối hát của loại dân ca này Hai câu vần trắc láy lại ở mỗi đoạn thơ hát dặm, có giá trị nh- một điệp khúc Nếu dùng đúng chỗ, thì có thể gây đ-ợc ấn t-ợng mạnh mẽ

Đêm nằm nghĩ lại, khúc nhôi đoạn tr-ờng

Sáng dậy ra th-a làng Lính anh đi không đ-ợc Việc quan làng n-ớc Làng đã đặt tên cho Phải cúi đầu mà lo Phải cúi đầu mà gánh

Trang 20

Ví dụ: Anh nói với em

Nh- rựa chém xuống đá

Nh- rạ cắt xuống đất Nh- mật rót vào tai

Bây chừ anh đã nghe ai

Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa ri

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Tuy nhiên, Thể vãn th-ờng hay gặp thấy trong ca dao cổ Trong ca dao trữ tình, vào những giai đoạn phát triển, thể vãn ít đ-ợc dùng hơn so với thể lục bát và song thất lục bát

4.2.5- Thể hỗn hợp

Đây là loại thể, sáng tác không theo niêm luật nào, là một sự hỗn hợp bao gồm nhiều thể loại khác nhau trong một bài ca Sự hỗn hợp khá đa dạng Trong ca dao, thể thơ này không đ-ợc dùng nhiều bằng thể lục bát nh-ng nhiều hơn so với thể song thất lục bát hoặc thể song thất

Để anh gánh n-ớc Cao Bằng về ngâm N-ớc Cao Bằng ngâm thì trắng gạo Anh biết em có liệu đ-ợc chăng Trần trần nh- cuội cung trăng Biết rằng cha mẹ có bằng lòng không

Để anh chờ đợi luống công

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Khổ thơ này gồm nhiều cặp lục bát xen vào hai câu thất Bài ca dao là một sự hỗn hợp hai thể loại, thể lục bát và song thất lục bát

4.3- . Nội dung phản ánh của ca dao trữ tình

Ca dao trữ tình là mảng đề tài phong phú nhất của ca dao Việt Nam Bộ phận ca giao này, phản ánh nhiều sự việc, nhiều tâm trạng khác nhau của tự nhiên, xã hội và con ng-ời Trong việc phản ánh đó, chúng ta th-ờng gặp một số nội dung cơ bản sau

đây

4.3.1- Ca dao trữ tình phản ánh thiên nhiên đất n-ớc

Thiên nhiên là yếu tố có mặt trong nhiều thể loại của văn học dân gian nh- thần thoại, cổ tích, truyền thuyết Song ở mỗi thể loại, thiên nhiên đ-ợc nhìn nhận ở những ph-ơng diện khác nhau

Trang 21

Trong ca dao, nhất là những lời ca miêu tả cảnh đẹp quê h-ơng đất n-ớc đã đi vào ca dao những hình ảnh hết sức đẹp đẽ, giàu sức gợi cảm, thẩm mỹ

Đ-ờng vô Xứ Nghệ quanh quanh Non xanh n-ớc biếc nh- tranh hoạ đồ

Về đề tài thiên nhiên, bên cạnh những lời ca, lời lẽ hồn nhiên, ta bắt gặp nhiều lời ca , nhiều kết cấu chặt chẽ, hoàn chỉnh, ngôn ngữ khá điêu luyện

Gió đ-a cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ cánh gà Thọ X-ơng

Mịt mù khói toả ngàn s-ơng Nhịp chày Yên Thái mặt g-ơng Tây Hồ Bên cạnh những bài ca phải ánh vẻ đẹp của đất n-ớc, chúng ta còn bắt gặp nhóm các lời ca phản ánh diễn biến các hiện t-ợng tự nhiên nh- : Gió, m-a, nắng

- Về gió: Tháng giêng là tiết gió may

Tháng hai gió mát trăng bay vào đèn

- Về m-a: Tháng giêng là tiết m-a xuân

Tháng hai m-a bụi dần dần m-a sa

- Về nắng: Tháng giêng là nắng hơi hơi

Tháng hai là nắng giữa trời nắng ra

Những lời ca dao về thời tiết vừa nêu trên, phần lớn đ-ợc sản sinh trong sinh hoạt dân ca Đặc biệt là trong hình thức đối đáp nam - nữ, vì thế, chúng ta th-ờng gặp những câu mở đầu và kết thúc nh- sau:

Anh đây tài tử trí cao Lắng nghe anh hoạ bài sao trên trời

Bài thơ em hoạ đã xong Mặt đất anh hoạ vài dòng anh nghe

Sự phong phú và đa dạng của thiên nhiên cũng nh- tình yêu và sự cảm xúc tinh

tế về thiên nhiên của nhân dân, chẳng những đ-ợc thể hiện trong những bài ca dao lấy thiên nhiên làm đối t-ợng phản ánh mà còn đ-ợc phản ánh rất nhiều trong các bộ phận

ca dao khác nh-: Ca dao lao động, ca dao tình yêu lứa đôi không chỉ là một loại đề tài, thiên nhiên còn là nguồn cảm hứng, nguồn chất liệu, ph-ơng tiện nghệ thuật hết sức quan trọng và th-ờng xuyên của tác giả ca dao Vì thế, thiên nhiên có mặt và đầy

ắp trong ca dao, làm cho ca dao t-ơi mát, hấp dẫn, sống động và tr-ờng tồn Nếu ta bỏ hết những câu, những bài nói về thiên nhiên thì chắc rằng thiên nhiên sẽ bị thu hẹp và nghèo nàn đến mức không thể t-ởng t-ợng nổi Thiên nhiên phong phú và đa dạng đã giúp nhân dân tạo đ-ợc bao hình ảnh nghệ thuật, giàu sức khái quát, gợi cảm theo lối

Trang 22

ẩn dụ, t-ợng tr-ng, hoán dụ nh-: "Hạt m-a sa", "Con cò", "Cái vạc"

4.3.2- Ca dao trữ tình phản ánh tình cảm gia đình

Gia đình là mảng đề tài quan trọng và th-ờng xuyên của văn học dân gian

Đặc biệt là trong ca dao và truyện cổ tích.Gia đình đ-ợc phản ánh trong ca dao, chủ yếu là gia đình nông thôn trong thời kỳ phong kiến tự chủ Trong việc phản

ánh, ca dao không chỉ phản ánh những tình cảm tốt đẹp mà còn phản ánh sự xung đột, mâu thuẫn, nhiều khi gay gắt giữa các thành viên trong gia đình

Trong các mối quan hệ, tình cảm vợ chồng và tình cảm với cha mẹ là hai loại tình cảm đ-ợc nói nhiều nhất trong ca dao, đặc biệt là tình mẫu tử Nhiều câu ca dao trong bộ phận ca dao này ra đời từ rất sớm, nh-ng vấn nh- tiếng nói của ngày hôm nay và chắc chắn vẫn t-ơi xanh tr-ờng tồn với thế hệ ngày mai

Công cha nh- núi Thái Sơn Nghĩa mẹ nh- n-ớc trong nguồn chảy ra Tình mẫu tử là tình cảm đặc biệt của con ng-ời Tình cảm đ-ợc nói nhiều

và nói một cách thiết tha trừu mến ở những lời ca dao nói về ng-ời con gái, nhất

là ng-ời con gái lấy chồng xa

Chiều chiều ra đừng bờ sông Muốn về quê mẹ mà không có đò

Về tình cảm vợ chồng, trong ca dao trữ tình có rất nhiều lời ca có nhiều hình ảnh đặc sắc, thể hiện tình cảm trừu mến đó

Chẳng dậm thì thuyền chẳng đi Dậm ra nát ván, thuyền thì lonh đanh

Đôi ta lên thác xuống ghềnh

Em ra đứng mũi, để anh chịu sào Bên cạnh những tình cảm tốt đẹp mà ca dao trữ tình phản ánh, chúng ta còn gặp những xung đột, những mâu thuẫn trong gia đình Những xung đột, những mâu thuẫn bao gồm: Vợ chồng, cha mẹ, chị em, con cái Trong các mối quan hệ đó, quyết liệt nhất, phổ biến nhất vẫn là mẹ chồng, nàng dâu, chị dâu,

Cha mẹ bú mớm nâng niu

Trang 23

Tội trời xin chịu không yêu bằng chồng Tay mang khăn gói sang sông

Sự xung đột trong gia đình, đặc biệt là gia đình đa thê, mâu thuẫn giữa vợ cả và vợ lẽ diễn ra th-ờng xuyên, quyết liệt Tất cả nỗi khổ, chính là ng-ời vợ lẽ Bỡi vậy hầu nh- mọi lời ca, đều nói về ng-ời vợ lẽ

Lấy chồng làm lẽ khổ thay

Đi cấy, đi cày chị chẳng kể công Tối tối, chị giữ mất chồng Chị cho mảnh chiếu nằm không ngoài nhà

Sáng sáng, chị kêu ơ hai Dậy mà nấu cám, thổi cơm, băm bèo

4.3.3- Ca dao trữ tình phản ánh đề tài xã hội

Đây là bộ phận ca dao phản ánh những nỗi khổ, lời thở than, oán trách của tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội phong kiến ngày x-a (ng-ời làm thuê, con ở, ng-ời tá điền, ng-ời đi phu vv ) song nhiều nhất vẫn là ng-ời phụ nữ

Đứa con ở trong gia đình, họ không chỉ than thân trách phận mà còn bộc

lộ sự phản kháng với chủ nhà một cách c-ơng quyết

Tóc quăn chải l-ợc đồi mồi Chảy đứng chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn

Nên thì tớ ở tớ ăn Không nên tớ giả đầu quăn tớ về Với ng-ời lính và vợ ng-ời lính đã để lại trong ca dao trữ tình nhiều lời ca giàu ý nghĩa xã hội

Kìa ai tiếng khóc nỉ non

ấy vợ chú lính trèo hòn đèo ngang Chém cha lũ giặc chết hoang

Trang 24

Để cho thiếp phải gánh l-ơng theo chồng

Gánh qua xứ Bắc xứ Đông Hết gạo theo chồng lại gánh theo con Bên cạnh lời ca nói về nỗi khổ của ng-ời lính và đứa ở, chúng ta còn gặp những lời ca than thân trách phận của ng-ời phụ nữ Bộ phận ca dao này, th-ờng

đ-ợc sáng tạo theo thể tỉ và đ-ợc mở đầu bằng cụm từ "thân em", "em nh-" vừa gợi cảm vừa có tính khái quát cao

Thân em nh- tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai Tất cả những vấn đề nêu trên, đều toát lên vấn đề thiếu tự chủ Đó là nỗi khổ lớn nhất của ng-ời phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày x-a

4.3.4- Ca dao trữ tình phản ánh tình yêu lứa đôi

Ca dao về tình yêu, bao gồm toàn bộ lời ca về đề tài tình yêu nam nữ Bộ phận ca dao này ra đời trong sinh hoạt dân ca của nhân dân, chủ yếu là trong hát giao duyên Đây là bộ phận lời ca lớn nhất, trong số ca dao truyền thống đã đ-ợc s-u tầm, phần lớn những bài ca dao hay th-ờng thuộc bộ phận lời ca này

Căn cứ vào chủ đề, đề tài, chúng ta có thể chia ca dao tình yêu thành bốn

bộ phận chính: ca dao tỏ tình, ca dao t-ơng t-, ca dao thề nguyền, ca dao hận tình

Nhân vật trữ tình trong ca dao tình yêu là chàng trai và cô gái Các nhân vật này th-ờng x-ng hô với nhau bằng những cặp đại từ nhân x-ng và những hình t-ợng ẩn dụ, t-ợng tr-ng quen thuộc: "anh -em" "thiếp - chàng", "mình - ta",

"mận - đào"

Đặc điểm của bộ phận ca dao này là tính lãng mạn và sự lí t-ởng hoá ở

đây có hàng trăm cách tỏ tình khác nhau giữa các chàng trai, cô gái Có nhiều cách nói độc đáo, sáng tạo hết sức tế nhị

Đầu làng cây chuối, cuối làng cây dừa

Anh đã có vợ hay ch-a

Mà anh ăn nói gió m-a ngọt ngào

Mẹ già anh ở nơi nao

Để em tìm vào hầu hạ thay anh

Khi yêu nhau, ng-ời ta càng lạc quan yêu đời Từ đó, họ nhìn thấy nhiều

điều tốt đẹp của thế giới xung quanh mà bình th-ờng họ không hề nhìn thấy Vì thế trong ca dao tỏ tình, không có ng-ời xấu, cảnh nào buồn, lời nào nhạt Tất cả

đều phơi phới, mới mẻ có duyên

Trang 25

- Đôi ta nh- lửa mới nhen Nh- trăng mới mọc nh- đèn mới khêu

Hoặc: - Tình anh nh- n-ớc dâng cao

Tình em nh- giải lụa đào tẩm h-ơng

ở bộ phận ca dao t-ơng t-, nhiều trạng thái tâm lý tình cảm khi yêu

đ-ơng, nhất là khi xa cách, đ-ợc phản ánh rất thực và hồn nhiên

Th-ơng ai rồi lại nhớ ai Mặt buồn r-ời r-ợi nh- khoai mới trồng Nếu nh- ở bộ phận ca dao tỏ tình, các chàng trai chủ động nói nhiều hơn, hay hơn thì bộ phận ca dao t-ơng t- có phần ng-ợc lại Phần lớn lời ca hay là lời nữ giới

Bóng trăng em ngỡ bòng đèn Bóng cây em ngỡ bóng thuyền anh sang Khác với ca dao tỏ tình và t-ơng t-, bộ phận ca dao thề nguyền lại toát lên sức mạnh phi th-ờng của nghị lực, ý chí ở đây các chàng trai, cô gái thể hiện sự sáng suối giám nhìn thẳng vào thực tế khó khăn, chấp nhận mọi thử thách, v-ợt qua mọi trở ngại để thể hiện tình yêu của mình

Rủ nhau xuồng biển mò cua

Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Ai ơi chua ngọt đã từng Rừng xanh n-ớc bạc ta đừng quên nhau Mặc dầu quyết tâm lớn, hẹn -ớc nhiều, song tình yêu nam nữ vẫn bắt gặp nhiều trở ngại Đó là nguyên nhân làm cho bộ phận ca dao này phát triển phong phú khắp mọi nơi Đây là những lời ca nặng nề, bi thiết, giàu tính hiện thực, giàu

ý nghĩa xã hội

Trách ng-ời quân tử bạc tình Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao Nói tóm lại: Ca dao trữ tình là mảng đề tài hết sức phong phú Ca dao phản ánh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân trên mọi miền đất n-ớc

Là sáng tạo của tập thể, trải qua nhiều thế hệ, tất cả mọi ng-ời đều đem tài năng của mình đã làm cho ngôn ngữ ca dao đẹp đẽ, trong sáng, phong phú, giàu tính hiện thực Bởi vậy ca dao đã phản ánh nhiều sự việc, nhiều tâm trạng khác nhau của con ng-ời và cuộc sống

Từ tình yêu thiên nhiên, từ cội nguồn lịch sử xã hội đến tình yêu lứa đôi,

Trang 26

tình cảm gia đình là cả một chặng đ-ờng lịch sử lâu dài đã đi vào ca dao nh- mạch nguồn xuyên thấm vào lòng đất không bao giờ ng-ng cả

Nghiên cứu ca dao, chúng ta tiếp xúc với một loại văn bản, đẹp về ngôn ngữ, trong sáng về nội dung Đây là sản vật vô giá đối với con ng-ời và những nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu ngôn ngữ với thể loại này

I - Phần mở trong văn bản và trong ca dao trữ tình.

1- Khái niệm về văn bản và phần mở đầu trong văn bản

1.1- Văn bản là gì ?

Văn bản là một sản phẩm ngôn ngữ, do con ng-ời tạo ra trong quá trình giao tiếp Tr-ớc hết, chúng ta cần hiểu văn bản là một đơn vị ngôn ngữ đ-ợc tổ chức từ các câu, bao gồm nhiều câu Chẳng hạn một bài văn, một bài thơ, một bản báo cáo Tuy vậy, có những văn bản chỉ có một câu nh- một câu châm ngôn, một câu tục ngữ, một lời quảng cáo Dù số lời có ngắn nh-ng đó là một văn bản vì những đơn vị này có những đặc điểm của một văn bản, tồn tại nh- văn bản

Văn bản bao gồm nhiều câu nh-ng giữa các câu đó phải liên hệ gắn bó với nhau, để trở thành một chỉnh thể thống nhất Tính chỉnh thể này đ-ợc thể hiện ở một số ph-ơng diện nh- sau:

Mỗi văn bản tập trung thể hiện một chủ đề Chủ đề này đ-ợc phát triển qua các chủ đề bộ phận nh-ng toàn văn bản luôn luôn đảm bảo tính nhất quán chủ đề

Một văn bản trình bày trọn vẹn về mặt nội dung thông báo Tất nhiên tính trọn vẹn này có nhiều mức độ khác nhau nh-ng văn bản th-ờng đạt đến mức độ trọn vẹn nhất so với đơn vị thấp hơn (câu và đoạn văn) Tính nhất quán về chủ đề

và tính trọn vẹn về nội dung, khiến cho văn bản gọi tên bằng một đầu đề hoặc tiêu đề

Mỗi văn bản có một kết cấu bên trong khá chặt chẽ Đó không phải là một tập hợp hỗn độn giữ các câu mà các câu trong văn bản, có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ và chiếm một vị trí thích hợp trong văn bản Các mối liên hệ này, tạo nên kết cấu của văn bản Đó là kết cấu của một chỉnh thể

Nh- vậy ta có thể hiểu: văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ, th-ờng bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, có tính nhất quán về chủ đề và tính trọn vẹn về nội dung, đ-ợc tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ, độc lập và giao tiếp

Trang 27

Thông th-ờng, văn bản đ-ợc chia thành ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung triển khai và phần kết luận Mỗi phần nh- vậy có những đặc điểm riêng về hình thức, cấu tạo và chức năng chuyển tải thông tin trong cấu trúc chung nội dung của văn bản

Các loại hình phong cách văn bản khác nhau thì cách thể hiện những phần

đó cũng khác nhau Nó góp phần tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và phân tích các loại văn bản

Để phục vụ cho đề tài này, chúng tôi xin nêu một số điểm cơ bản về phần

mở đầu của văn bản

1.2- Phần mở đầu trong văn bản

Việc nghiên cứu phần mở đầu trong văn bản, đ-ợc một số nhà nghiên cứu quan tâm, nh-ng ch-a có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về kiểu mở đầu trong văn bản Có chăng, đoạn văn mở đầu trong văn bản chỉ đ-ợc xem xét quan tâm với t- cách đoạn văn nói chung, có chức năng mở đầu văn bản Các tác giả ít chủ ý tới việc tìm hiểu đoạn văn hoặc khổ thơ mở đầu trong văn bản cụ thể

1.2.1- Đặc điểm phần mở đầu trong văn bản

Xác định phần mở đầu trong văn bản là vấn đề hết sức khó, ít có tác giả nghiên cứu tới vấn đề này Phần mở đầu mới đ-ợc xem xét ở vị trí là phần mở

đầu của văn bản Vì vậy nó làm nhiệm vụ của phần mở đầu nói chung Tác giả Diệp Quang Ban, trong cuốn "Văn bản và liên kết tiếng Việt" chỉ rõ, đoạn văn

mở làm nhiệm vụ phần mở hoặc mở văn bản (Trang 213,214)

Phần mở đầu trong văn bản, với t- cách là đơn vị ngôn ngữ cấu thành văn bản, bao giờ cũng có hình thức và nội dung nhất định

1.2.2- Về hình thức cấu tạo

Phần mở trong văn bản th-ờng nằm ở phần đầu trong văn bản hoặc đứng

đầu một phần của văn bản Mỗi loại văn bản có một kiểu mở đầu phù hợp với nội dung mà văn bản thể hiện Mỗi văn bản, phần mở đầu thực hiện những chức năng phản ánh khác nhau Mỗi loại văn bản, phần mở đầu có các kiểu cấu tạo khác nhau, chẳng hạn: trong văn xuôi, đoạn văn mở đầu có thể là đoạn văn bình th-ờng, cũng có thể là đoạn văn có cấu tạo đặc biệt (một từ, một cụm từ )

Ng-ợc lại, trong ca dao, phần mở đầu khác với văn xuôi Vì tác giả dân gian sáng tác ra ca dao không phaỉ để đọc mà để diễn x-ớng Vì vậy phần mở

đầu trong ca dao là những lời ca để hỏi, để kể, để khuyên, để cảm

Ng-ời về em dặt câu này

Trang 28

Đâu hơn ng-ời lấy đâu bằng đợi em

1.2.3- Về nội dung

Thông th-ờng, phần mở đầu trong văn bản, biểu thị nội dung t-ơng đối trọn vẹn hoặc nội dung đó phụ thuộc vào phần tiếp theo của văn bản Nội dung phần mở đầu của văn bản, liên quan tới kiểu phong cách văn bản, bởi vì mỗi loại văn bản đề cập tới một lĩnh vực nhất định trong đời sống xã hội Tuy nhiên, nhìn trên những nét cơ bản, nội dung, chức năng phần mở đầu trong văn bản có nhiệm

vụ giới thiệu nội dung đ-ợc trình bày, dẫn dắt ng-ời đọc đi vào vấn đề Bởi vậy

nó còn đ-ợc gọi là phần đặt vấn đề Phần này có mục đích, thu hút sự chú ý của ng-ời đọc, kích thích sự suy nghĩ, lôi cuốn ng-ời đọc và quá trình tìm hiểu nhận thức

Ví dụ: "Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi bên lò s-ởi, trong một căn buồng

ấm áp Tự nhiên trong câu chuyện, một ng-ời nói đến những cơn giận, tự nhiên

đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều kết quả không hay Rồi mỗi ng-ời bày tỏ ý kiến riêng của mình"

(Một cơn giận- Thạch Lam)

Trong tổng thể của văn bản, phần mở đầu có vai tròi hết sức quan trọng không chỉ về ph-ơng diện nội dung mà còn thể hiện ý t-ởng triển khải nội dung, bộc lộ cảm hứng , gợi trí tò mò, làm nên giọng điệu cho phần tiếp theo của văn bản

Ví dụ: Mở đầu truyện "thằng Quýt" bằng một giọng mỉa mai, châm chọc của

Nguyễn Công Hoan: "X-a nay, ng-ời ta chỉ th-ờng đ-ợc nghe thấy bọn thằng Quýt con đòi kể lệ ông Thám nó ác, bà Phán nó nghiệt, chứ đố ai đã nghe thấy các ông chủ, bà chủ phàn nàn đứa ở ác nghiệt bao giờ"

2- Phần mở trong ca dao

Giống nh- văn xuôi, bài ca dao là một văn bản, trong bài ca dao nói chung, ca dao trữ tình nói riêng, giữa phần mở và phần nội dung lời ca có kết cấu chặt chẽ, có quan hệ qua lại khăng khít với nhau, có chức năng phản ánh khác nhau và có vị trí thích hợp trong văn bản Các mối liên hệ này, tạo nên kết cấu văn bản Đó là kết cấu của một chỉnh thể Trong chỉnh thể đó, việc xác định ranh giới giữa các phần trong bài ca dao là vấn đề khó, phức tạp Với luận văn này, ng-ời nghiên cứu phân định ranh giới giữa các phần trong bài ca dao chỉ mang tính t-ơng đối Theo ý chúng tôi, giữa phần mở đầu và phần nội dung lời ca trong bài ca dao đ-ợc xác định bởi những cơ sở nh- sau:

Trang 29

- Dựa vào vị trí phần mở dầu trong văn bản

- Dựa vào chức năng biểu hiện của câu mở đầu trong văn bản

- Dựa vào hình thức đơn vị câu mở đầu

- Dựa vào ranh giới phần mở và phần nội dung lời ca

Chẳng hạn bài ca dao sau đây:

Trên trời có đam mây xanh Bên sông n-ớc chảy có nàng quay tơ

Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành Nàng buồn nàng bỏ cửu canh Chàng buồn chàng bỏ, học hành chàng đi

- Về vị trí: hai câu đầu bài ca dao là phần mở đầu, hai dòng thơ này đứng

đầu bài ca dao

- Chức năng biểu hiện: hai dòng thơ đầu miêu tả cảnh thiên nhiên, giới thiệu nhân vật Đây là những yếu tố để gợi hứng Qua yếu tố gợi hứng để thể hiện tâm trạng ở nội dung lời ca

- Dựa vào đơn vị hình thức câu mở đầu: hai câu đầu là câu trần thuận (tả, kể)

- Ranh giới giữa phần mở và phần nội dunglời ca khá rõ ràng: Hai câu miêu tả cảnh thiên nhiên có vai trò làm nền, phần còn lại biểu thị tâm trạng của nhân vật

Ca dao trữ tình là những bài ca mà nội dung và hình thức diễn x-ớng của

nó không nhằm mục đích nghi lễ Nội dung cơ bản của ca dao trữ tình là nhằm bộc lộ tâm t-, tình cảm của nhân vật, bộc lộ tình yêu tha thiết của nhân dân với quê h-ơng đất n-ớc, tình yêu lứa đôi, tiếng ca tình nghĩa của nhân dân trong quan hệ gia đình

Trang 30

2- Ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng đ-ợc sáng tác chủ yếu theo các thể loại: Lục bát, song thất lục bát, song thất, thể hỗn hợp, thể vãn Trong các thể loại trên thể lục bát đ-ợc sử dụng nhiều nhất

Ca dao Việt Nam cũng nh- các loại hình nghệ thuật khác, đ-ợc sáng tạo nên do nhu cầu của hiện thực đời sống lịch sử xã hội của các thành phần dân c- trên lãnh thổ Việt Nam qua các thời đại Mặt khác nó cũng nằm trong quỹ đạo sáng tạo nghệ thuật của loại hình trữ tình dân gian thế giới Bởi vậy phản ánh hiện thực là nội dung cốt lõi của ca dao cũng nh- ca dao trữ tình

3- Việc nghiên cứu phần mở đầu trong văn bản, đ-ợc một số nhà nghiên cứu quan tâm nh-ng ch-a có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về kiểu

mở đầu trong văn bản Có chăng, đoạn văn mở đầu trong văn bản, chỉ đ-ợc xem xét quan tâm với t- cách đoạn văn nói chung, có chức năng mở đầu văn bản

Khi nghiên cứu phần mở đầu trong văn bản, chúng ta đề cập đến hai vấn

đề: hình thức cấu tạo và nội dung phản ánh của phần mở đầu văn bản Đây là hai vấn đề cơ bản tạo nên tính hoàn chỉnh một bộ phận của văn bản

Về phần mở trong ca dao: trong ca dao, giữa phần mở đầu và phần nội dung lời ca có kết cấu bên trong khá chặt chẽ, có mối quan hệ qua lại khăng khít với nhau và có vị trí thích hợp trong văn bản Các mối quan hệ này tạo nên kết cấu của văn bản Đó là kết cấu của một chỉnh thể Bởi vậy việc xác định ranh giới giữa phần mở đầu và phần nội dung lời ca, khá phức tạp Việc phân định này chỉ mang tính t-ơng đối khi nghiên cứu ca dao

Trang 31

sắp xếp hỗn độn giữa các câu các phần Giữa các phần trong văn bản, luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, để tạo nên tính chính thể của văn bản

Với lẽ đó, khi nghiên cứu đặc điểm, hình thức cấu tạo phần mở đầu trong

ca dao trữ tình, chúng ta xem xét ở một số ph-ơng diện nh- sau:

Gió thu khêu dục, gẹo ng-ời tình chung

Buồn tênh cái tiếng thu chung

Đêm thu ta biết, vui cùng với ai?

Thờ ơ trúc muốn gẹo mai Vì tình nên phải miệt mài đêm thu

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh Tiếc công Bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu r-ợu nắm nem Mải vui quên hết lời em dặn dò

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu sáng tác theo thể lục bát có số l-ợng lớn nhất Theo thống kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca (CDTT VN) có 1742 lời

có phần mở đầu sáng tác theo thể lục bát, chiếm tỷ lệ 91,1%

1.1.2- . Thể biến thức:

Khi thể chính thức có sự thay đổi về số tiếng ở cặp lục bát gọi là thể biến thức Căn cứ vào sự thay đổi số tiếng ở các dòng thơ, chúng ta có các kiểu biến thức nh- sau:

Trang 32

- Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên

Bình th-ờng, trong cặp lục bát, câu thứ nhất sáu tiếng, câu thứ hai tám tiếng Trong biến thể này, dòng thứ nhất (dòng lục) có sự biến thể về số l-ợng tiếng

Ví dụ: N-ớc mắt láng lai chứa hoài không ngớt

Trời hỡi trời sao, chẳng bớt nhớ th-ơng Sợi chỉ hồng em lỡ vấn v-ơng

Gặp anh một bữa nhớ th-ơng muôn ngày

(Ca dao trữ tình Việt Nam) N-ớc chảy xuôi, con cá buôi lội ng-ợc

N-ớc chảy ng-ợc, con cá đ-ợc chảy xuôi

Anh với em, xa cách ngậm ngùi Mong cho gặp mặt, xác vùi cũng -ng

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

- Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi:

Tr-ờng hợp này, dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi, thay đổi về số l-ợng tiếng không theo đúng luật lục bát

Công anh chẳng thấy chỉ thấy những th-ơng cùng sầu

Lại đây ăn một miếng trầu Kẻo mai tóc nhuộm trên đầu hoa râm

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Đ-ờng về Kiếp Bạc bao xa

Đ-ờng về Kiếp Bạc có cây đa bồ đề

Có yêu anh cắp nón ra về Giàu ăn khó chịu, chớ hề thở than

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

- Sự thay đổi cả dòng lục và dòng bát:

Biến thức theo thể này, toàn cặp lục bát có sự thay đổi về số tiếng

Ví dụ: - Mình nói với ta mình chửa có chồng

Để ta mang cốm, mang hồng sang chơi

Ta sang mình có con rồi

Để cốm ta mốc, hồng thì cong tai

- N-ớc xanh xanh, chảy quanh cồn cát trắng

Trang 33

Con chim Ph-ợng hoàng rày vắng tiếng kêu

Ơi ng-ời th-ơng ơi, ta nhắn một điều Dẫu mà mai quán, chiều lều cũng -ng

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Vì sao trong ca dao trữ tình, thể lục bát lại xuất hiện hiện t-ợng này (xem

đặc điểm trong ca dao trữ tình, ch-ơng 1 - mục 4)

Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu sáng tác theo thể lục bát biến thể có số l-ợng ít hơn so với phần mở đầu sáng tác theo thể lục bát chính thức Theo thống

kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca (CDTTVN) có 132 lời sáng tác theo thể lục bát biến thức chiếm tỷ lệ 6,9%

1.2- Phần mở đầu theo thể song thất lục bát:

Theo thể loại này cứ hai câu bảy chữ (bảy tiếng) rồi đến một câu sáu chữ, một câu tám chữ Cứ bốn câu, tạo thành một đoạn Chúng ta muốn đặt dài hay ngắn là tuỳ ý

Trong phần mở đầu ca dao trữ tình, thể loại này xuất hiện ít Theo thống

kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca (CDTTVN) thể loại này chỉ xuất hiện 11 lần,

tỷ lệ 0,57% Theo Phan Ngọc, cấu trúc từng khổ: 7+7+6+8 tiếng, cho phép thê loại này nói lên sự đi về của cảm xúc nh- đợt sóng lên cao, xuống thấp, rồi lại dàn ra đón lấy một đợt sóng khác "Suy nghĩ về thể thơ song thất lục bát, T.75"

Chàng xa thiếp, vạn kẻ vạn th-ơng

Trăm năm chiếu nỏ bén gi-ờng

Ví nh- đòn gánh gãy giữa đ-ờng chàng ơi

(Ca dao trữ tình Việt Nam) 1.3- Phần mở đầu theo thể song thất

Trong ca dao trữ tình, loại này ít xuất hiện, chỉ trừ trong một số tr-ờng hợp

đặc biệt Trong 1912 lời ca, loại thể này chỉ xuất hiện bảy lần, tỷ lệ 0,36%

Trang 34

Ví dụ: Chồng chềnh nh- nón không quai

Nh- thuyền không lái nh- ai không chồng

Gái có chồng nh- gông treo cổ Gái không chồng nh- phản gỗ long đanh Phản long đanh anh còn đóng đ-ợc Gái không chồng chạy ng-ợc chạy xuôi Không chồng khổ lắm ai ơi

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Tr-ờng hợp này mở đầu bằng một cặp lục bát, kết thúc bằng một dòng lục,

ở giữa là hai cặp song thất Qua ví dụ trên, chúng ta thấy phần mở đầu trong ca dao trữ tình khá phong phú, đa dạng Mặt đa dạng này khiến cho ca dao thể hiện

đ-ợc nhiều nội dung, nhiều tâm trạng khác nhau

2- Số l-ợng câu mở đầu trong bài ca dao trữ tình

Trong ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng, số l-ợng câu (dòng) trong phần mở đầu rất đa dạng Tuỳ thuộc vào nội dung rộng, hẹp của bài ca dao

mà bài ca dao đó có số l-ợng câu mở đầu phù hợp Trong những bài ca dao trữ tình ngắn (một cặp lục bát), giữa hai dòng thơ có sự liên kết với nhau khá chặt chẽ, việc xác định ranh giới giữa phần mở đầu và phần kết thúc bài ca rất khó khăn Cho nên việc xác định ranh giới đó cũng chỉ mang tính chất t-ơng đối

Tình em nh- giải lụa đào tẩm h-ơng

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Th-ơng ai em đứng em trông

Nhớ ai mỏi mắt bên sông đợi chờ

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trách gà vội gáy tan canh

Không lâu tý nữa cho tình thở than

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Căn cứ vào chức năng thể hiện và số l-ợng câu mở đầu (dòng thơ) trong bài ca dao trữ tình, chúng ta có số l-ợng câu mở đầu nh- sau:

2.1- Phần mở đầu là một câu

Phần mở này th-ờng nằm trong những bài ca dao ngắn (một cặp lục bát) trong

đó câu lục là câu mở câu bát là câu kết Hai phần này kết hợp với nhau khá chặt chẽ, để

Trang 35

tạo nên tính chỉnh thể của văn bản Nội dung phản ánh của bài ca dao thuộc loại này th-ờng là những phán đoán đơn giản, rõ ràng

Tình ta tháng tháng, năm năm vẫn tròn

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trời m-a bong bóng phập phồng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Ngoài thể lục bát, chúng ta còn gặp một số rất ít lời ca có kiểu câu mở đầu một dòng không phải thể lục bát mà thể song thất hoặc thể tự do

Cắt dây tình nào có dao đâu

- Dòng sông Thanh n-ớc trong lại mát

Mái tóc thề thơm ngát h-ơng hoa

(Ca dao trữ tình Việt Nam) N-ớc chảy re re, con cá he nó xoè đuôi phuợng

Anh xa em rồi trong bụng còn th-ơng

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Trong ca dao trữ tình, số bài ca dao có phần mở đầu bằng một dòng thơ (chủ yếu là cặp lục bát) xuất hiện nhiều nhất Theo thốn kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca (CDTTVN) có 1188 lời có kiểu mở một dòng, tỷ lệ 62,1%

2.2- Phần mở đầu là hai câu

Phần mở này, th-ờng nằm ở những bài ca dao dài, ít nhất là bốn dòng thơ trở lên Nội dung phản ánh của bài ca dao rộng Ranh giới giữa phần mở và phần nội dung rõ ràng, rành mạch

ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy đ-ợc nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Có rửa thì rửa chân tay Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Trang 36

Nhác trông lên núi Thiên Thai Thấy hai con quạ ăn xoài trên cây

Đôi ta dắt díu lên đây

áo trải làm chiếu chăn quây làm màn

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Trong ca dao trữ tình, những bài ca dao có phần mở đầu bằng hai dòng thơ xuất hiện t-ơng đối nhiều Theo thống kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca, có

648 lời có kiểu mở đầu bằng hai dòng thơ, tỷ lệ 33,8%

là 28 lời, tỷ lệ 1,46%

Ví dụ: Tay anh cầm chai r-ợu buồng cau

Đi ngã đằng sau thầy mẹ chê khó

Đi ngã đằng ngõ, chú bác chê nghèo

Nhắm chừng duyên nợ cheo leo Sóng to, thuyền nặng, không biết chống chèo có qua không

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Kiểu mở đầu bài ca dao bằng bốn dòng thơ, th-ờng xuất hiện trong những bài

ca trữ tình dài Nội dung phản ánh của bài ca dao gồm nhiều chi tiết Ranh giới giữa phần mở đầu và phần nội dung lời ca rõ ràng dễ phân biệt

B-ớc xuống v-ờn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Trang 37

Em lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay

Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không Bây giờ em đã có chồng

Nh- chim trong lồng nh- cá cắn câu Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim trong lồng biết thuở nào ra

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trầu này trầu tĩnh trầu tình

Trầu têm cánh ph-ợng trầu mình trầu ta

Trầu này trong tráp bỏ ra Trầu têm cánh ph-ợng cau vừa chạm xong

Miếng trầu có bốn chữ tòng Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà

Nào là chào mẹ chào cha Cậu, cô, chú, bác mời ra xơi trầu

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu bằng bốn dòng thơ, so với kiểu mở đầu bằng ba dòng thơ thì kiểu mở này xuất hiện nhiều hơn Theo thống kê của chúng tôi, trong số 1912 lời ca thì kiểu mở đầu bằng bốn dòng thơ xuất hiện 81 l-ợt, tỷ lệ 4,23%

Nói tóm lại: Trong ca dao trữ tình, số l-ợng câu mở đầu trong phần mở

đầu của bài ca dao, phụ thuộc vào nội dung phản ánh của bài ca dao đó Bài ca dao có nội dung phản ánh nhiều vấn đề, nhiều chi tiết thì số l-ợng câu mở đầu nhiều hơn Và ng-ợc lại bài ca dao có nội dung phản ánh hẹp, ít chi tiết thì số l-ợng câu mở đầu ít hơn Trong số bốn kiểu mở đầu vừa nêu trên, kiểu mở đầu bằng một dòng thơ và hai dòng thơ chiếm tỷ lệ lớn nhất Đây là những bài ca dao

có phần nội dung đơn giản Các bài ca dao đó đã trở thành lời ăn tiếng nói hàng ngày trong cuộc sống sinh hoạt của ng-ời nông dân

3- Phân loại câu mở đầu theo mục đích phát ngôn

Nghiên cứu câu mở đầu trong phần mở đầu của ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng, chúng ta không nên nghiên cứu theo xu h-ớng ngữ pháp cấu trúc (ngữ pháp truyền thống) Vì rằng về mặt ngữ pháp, giữa câu thơ và câu trong văn xuôi hoàn toàn khác nhau Với lẽ đó, khi nghiên cứu cấu tạo câu trong

ca dao, chúng ta nên dựa vào mục đích giao tiếp trong ngôn ngữ để xem xét Vì

Trang 38

rằng ng-ời ta sáng tác ca dao với mục đích diễn x-ớng, ca hát, chứ không phải

để đọc, để viết Căn cứ vào mục đích giao tiếp, câu mở đầu trong phần mở đầu của ca dao trữ tình bao gồm các loại câu nh- sau:

3.1- Phần mở đầu là câu trần thuật

Trong ca dao trữ tình, đây là loại câu đ-ợc dùng nhiều nhất, có số l-ợng lớn nhất Câu trần thuật là loại câu dùng để kể, để tả, để thuật, để thông báo về những hiện t-ợng, những hoạt động trạng thái, tính chất trong hiện thực khách quan, thể hiện nhận định, đánh giá của ng-ời nói về một sự vật hiện t-ợng nào

đó

ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy đ-ợc nàng

Hà Nội, Nam Định dọn đ-ờng đ-a dâu

Tỉnh Thanh cung đốn trầu cau Nghệ An thì phải thui trầu mở bò

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Chơi xuân quá lứa đi rồi

Vắt tay mà ngẫm cõi đời mà lo

Trông g-ơng luống những thẹn thò Một mai tóc bạc l-ng gù mới dơ

Th-ơng thay xuân chẳng đợi chờ Tiếc thay xuân những hững hờ với xuân

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Hai dẫn chứng vừa nêu trên, dẫn chứng thứ nhất phần mở đầu là những câu tả Qua cảnh thiên nhiên để thể hiện tâm trạng -ớc mong Bài ca dao đ-ợc sáng tác theo thể hứng, qua ngoại cảnh để nói lên nỗi lòng ở dẫn chứng thứ hai phần mở đầu là câu kể, qua lời kể, nhân vật trữ tình tiếc nuối tuổi xuấn đã qua Giờ đầy nhìn lại chỉ lo lắng cho tuổi già chóng tới

Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu có kiểu câu trần thuật chiếm số l-ợng lớn nhất Phần nhiều lời trong các bài ca dao là lời miêu tả tâm trạng, cảm xúc,

sự việc theo thống kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca, có 1426 lời có phần mở

đầu là câu trần thuật, tỷ lệ 74,4%

3.2- Phần mở đầu là câu hỏi

Câu hỏi trong bài ca dao trữ tình đ-ợc sử dụng nhiều trong hát dao duyên

Trang 39

Hát dao duyên là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian của ng-ời lao động Qua sinh hoạt văn hoá, các chàng trai, cô gái có thể hỏi nhau để tỏ tình, nguyện -ớc cùng nhau Khi hỏi, có thể hỏi những điều ch-a biết hoặc còn hoài nghi mà ng-ời hỏi muốn nghe trả lời hoặc giải thích cho rõ thêm

Còn không hay đã chung tình với ai ?

Hôm x-a tát n-ớc gầu giai

Có phải nhân ngãi hay ai tát cùng

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Gặp đây anh hỏi thực nàng

Còn không hay đã, đá vàng cùng ai

Còn không để chúng anh chờ

Hay là đã có nơi nhờ thì thôi

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trúc nhớ mai, mai về trúc nhớ

Trúc trở về, mai nhớ trúc không

Bây giờ kẻ Bắc ng-ời Đông

Kể sao cho xiết tấm lòng t-ơng t-

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

So với kiểu câu trần thuật, trong phần mở đầu của các bài ca dao trữ tình thì phần mở đầu có kiểu cấu tạo bằng câu hỏi xuất hiện ít hơn Theo thống kê, trong số 1912 lời ca có 80 lời có phần mở đầu là câu hỏi, tỷ lệ 4,18%

3.3- Phần mở đầu là câu cầu khiến

Trong ca dao trữ tình, đây là câu nhằm mục đích yêu cầu ng-ời nghe thực hiện nội dung đ-ợc nêu trong câu Nó chứa đựng ý muốn, nguyện vọng hay mệnh lệnh của ng-ời nói với ng-ời nghe

Đừng nhang khói nữa mà h- mất đời

(Ca dao trữ tình Việt Nam) Lấy ai thì lấy một ng-ời

Tàu bè chi mà chờ chín m-ời khúc sông

Lấy chồng theo thói nhà chồng Bao nhiêu thói cũ trả lòng mẹ cha

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Trang 40

Gió vàng hiu hắt đêm thanh

Đ-ờng xa dặm vắng xin anh đừng về

Mảnh trăng đã trót lời thề Làm chi để gánh nặng nề riêng ai

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu bài ca dao có kiểu cấu tạo là câu cầu khiến xuất hiện t-ơng đối nhiều Trong số 1912 lời ca (CDTTVN ) có 375 lần kiểu câu này xuất hiện, tỷ lệ 19,6% Kiểu câu này xuất hiện nhiều nhất ở mạng văn hoá ứng xử Căn cứ vào nội dung cầu khiến và mục đích cầu khiến, câu cầu khiến trong phần mở đầu bài ca dao trữ tình bao gồm một số kết cấu nh- sau:

3.3.1- Dùng đại từ phiếm chỉ "ai" đứng đầu câu

Kiểu kết cấu nh- thế này có mô hình: dùng đại từ phiếm chỉ "ai" ở đầu câu, tiếp theo là một đồng từ có ý nghĩa khuyên bảo, sau động từ khuyên bảo là một danh từ chỉ địa danh (địa danh mà danh từ biểu thị th-ờng rất cụ thể):

Câu cầu khiến có kiểu cấu tạo nh- thế này, biểu thị đối t-ợng đ-ợc khuyên bảo rất rộng, không nhằm vào một đối t-ợng cụ thể nào

Mặc lụa chợ Hạ, uống chè H-ơng Sơn

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Ai về Phú Thọ cùng ta

Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mồng m-ời

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Ai qua núi Tản sông Đà

Ghé qua Tú Vũ mặn mà tình th-ơng

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Theo số liệu thống kê, trong ca dao trữ tình có 375 lời khuyên nằm ở phần

mở đầu bài ca dao, trong số 375 có lời khuyên, có 90 lời dùng đại từ phiếm chỉ

"ai" đứng đầu câu, tỷ lệ 24%

3.3.2- Dùng phụ từ đứng đầu câu, kết hợp với động từ hoặc tính từ đứng sau để biểu thị ý nghĩa khuyên bảo

Câu có kiểu kết cấu nh- trên, lời khuyên chủ yếu khuyên về hành động

Những của đầy nồi là của không ngon

(Ca dao trữ tình Việt Nam)

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w