Caàn tieáp tuïc nghieân cöùu caùc baøi taäp boå trôï ôû moân nhaûy xa kieåu ngoài treân ñoái töôïng nöõ hoïc sinh ñoàng thôøi tieán haønh nghieân cöùu ôû noäi dung caùc moân hoïc khaùc ñ[r]
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong cuộc sống hiện nay, sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng trongđời sống của con người Với phương châm “ Khỏe để xây dựng và bảo vệtổ quốc” hơn nữa hiện nay đất nước ta đang tiến hành công cuộc “Côngnghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước” Vì vậy đòi hỏi con người không chỉhiểu biết về mặt kỹ thuật mà đòi hỏi con người có một sức khỏe tốt, mộttinh thần minh mẫn, một cơ thể cường tráng Đảng – Nhà nước, Bác Hồluôn quan tâm đến thế hệ trẻ Tháng 9- 1945 Trong thư gửi cho thiếu niênhọc sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên dưới chế độ mới – NướcViệt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Bác Hồ đã căn dặn “Cố gắng siêng nănghọc tập, ngoan ngoãn nghe thầy đua bạn, để sau này đóng góp vào côngcuộc kiến thiết đất nước” Bởi vì “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vanghay không, dân tộc Việt Nam có bước tới vinh quang để sánh vai với cáccường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công họctập của các cháu”
Trong văn kiện Đại hội VIII và Nghị Quyết Trung Ương khóa III củaĐảng về giáo dục và đào tạo và các công nghệ phải trở thành quốc sáchhàng đầu Chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ bước vào thế kỷ 21.Muốn vậy phải xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh toàn diện, khôngchỉ phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống mà còn phải làngười cường tráng về thể chất
Trang 2Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm bảo vệ tăng cườngsức khỏe hoàn thiện thể chất, rèn luyện nhân cách vàø trang bị những kỹnăng vận động cần thiết cho mỗi cá nhân trong cuộc sống.
Giáo dục thể chất và hoạt động TDTT giữ vai trò rất quan trọng, trongđó nhảy xa là một môn không thể thiếu được của nền giáo dục Trung học
cơ sở toàn diện nói chung, giáo dục thể chất học sinh trong trường Trunghọc cơ sở nói riêng Qua thực tế giảng dạy thể dục cho học sinh lớp 9trường THCS Lương Thế Vinh chúng tôi nhận thấy thành tích nhảy xa cònkhá thấp Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn trên chúng tôimạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu, ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh lớp 9 Trường Trung học cơ sở Lương Thế Vinh – Thành phố Buơn Ma Thuột – ĐăkLăk
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu ,ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tíchnhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh lớp 9 Trường trung học cơ sở LươngThế Vinh- Thành phố Buơn Ma Thuột- Tỉnh Đắk Lắk
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Để giải quyết mục đích nghiên cứu nói trên chúng tôi đề ra 2 mục tiêunghiên cứu sau:
Mục tiêu 1 :Lựa chọn và xác định các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thànhtích nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh lớp 9 Trường trung học cơ sởLương Thế Vinh- Thành phố Buơn Ma Thuột- Tỉnh Đắk Lắk
Trang 3Mục tiêu 2 : Đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao
thành tích nhảy xa kiểu ngồi cho nam học sinh lớp 9 Trường trung học cơ
sở Lương Thế Vinh- Thành phố Buơn Ma Thuột- Tỉnh Đắk Lắk
Trang 4CHƯƠNG 1TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác giáo dục thể chất.
Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục tháng 3 năm 1946, Bác Hồ đãviết: “… Mỗi người dân khỏe mạnh làm cho cả nước mạnh khoẻ, mỗi ngườidân yếu ớt làm cho cả nước yếu ớt một phần, dân cường, nước thịnh Tự tôingày nào cũng tập…”
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu Giáo Dục toàn diệncho thế hệ trẻ Trong đó Đức - Trí - Thể - Mỹ được coi là những vấn đềquan trọng nhằm giáo dục, hình thành nhân cách cho học sinh, sinh viên -những người chủ tương lai của đất nước, có phẩm chất cao về trí tuệ, cườngtráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức (Nghịquyết TW4 khoá VII)
Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992điều 41 có quy định: “Nhà nước và xã hội phát triển nền TDTT dân tộckhoa học và nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triểnTDTT, quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học…”.Trong văn kiện Đại Hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: “giáo dục và đào tạocùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu…chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ bước vào thế kỷ 21…” Đồng thời đãkhẳng định rõ: “ sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân conngười, đồng thời là vốn quý để tạo tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội,
Trang 5chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của cáccấp, các nghành, các đoàn thể…”
Chỉ thị 36 CT/TW của ban Bí Thư TW Đảng: “ Thực hiện Giáo dục thểchất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thànhnếp sống hằng ngày cho hầu hết học sinh, sinh viên và các tầng lớp dân cưtrong cả nước
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo trong thông tư số 11/ 97 GD-ĐT ngày01/8/1994 đã chỉ rõ: “…cải tiến tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và nội dungchương trình giảng dạy TDTT cho học sinh, sinh viên Đào tạo và bồidưỡng giáo viên TDTT cho trường học các cấp Tạo những điều kiện cầnthiết về cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện dạy và học thể dục bắtbuộc ở tất cả các trường học…”
Qua những Chỉ thị và Nghị quyết trên, cho thấy Đảng và Nhà nước tarất coi trọng việc tăng cường sức khoẻ cho nhân dân, nhất là đối với tầnglớp học sinh, sinh viên Trong việc xây dựng và phát triển đất nước nhưhiện nay, thì việc giáo dục và phát triển thể chất là một trong những biệnpháp tích cực nhất, góp phần tăng cường và bảo vệ sức khoẻ, cải tạo nòigiống… qua đó thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,cũng như thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng là xây dựng và bảovệ tổ quốc
1.2 Sơ lược các công trình nghiên cứu về giáo dục thể chất cho học sinh ở nước ta
Trang 6Ở nước ta trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu vềlĩnh vực giáo dục thể chất nhằm tìm ra những quy luật và lập những thangđiểm đánh giá sự phát triển thể chất của học sinh như:
* Đánh giá tình hình sức khoẻ học sinh (Cao Quốc Việt - Vũ Việt Bắc,năm 1972)
* Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và pháttriển TDTT trong nhà trường các cấp (PGS Vũ Đức Thu - Phùng Thị Hòa -Vũ Bích Huệ – Th.s Nguyễn Trọng Hải) cho thấy chất lượng giờ thể dụccòn thấp, hoạt động ngoại khoá chưa được chú trọng Các trường vùng cao,vùng sâu còn nhiều khó khăn nên đa số các trường, lớp không thực hiệngiờ thể dục
* Giáo Dục Thể Chất cho học sinh ở Hà Tĩnh (Nguyễn Văn Nam - Sở
GD và ĐT Hà Tĩnh) đã cho ra bài học kinh nghiệm trong 5 năm 1996) thực hiện việc đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy môn ThểDục Thể chất học sinh được nâng lên rõ rệt, năng lực vận động được tăngcường, các tố chất của cơ thể được phát triển tốt
(1991-* Tổng quan các công trình nghiên cứu phát triển thể chất học sinh ViệtNam trong 10 năm qua của Nguyễn Quỳnh Hương 1995
* Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thành Sơn - Trịnh Hữu Lộcvề: “Nghiên cứu tình hình phát triển hình thái, thể lực cơ thể học sinh lứatuổi 15 ở thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả nghiên cứu này đã cung cấpnhững hằng số sinh học mới của các lứa tuổi trên
* Điều tra, đánh giá tình trạng thể chất và xây dựng tiêu chuẩn thể lựcchung của người Việt Nam giai đoạn I, từ 6 - 20 tuổi (Uỷ ban TDTT - Viện
Trang 7KHTDTT Chủ nhiệm PGS.TS Dương Nghiệp Chí) căn cứ vào kết quảđiều tra thể chất nhân dân của người Việt Nam từ 6 - 20 tuổi Cho thấy sựphát triển thể chất của người Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt nhất vềchiều cao và cân nặng Cho thấy có sự khác biệt về thể chất giữa thành thịvà nông thôn.
* Công trình nghiên cứu về chương trình giảng dạy thể dục ( Lê VănLẫm - Trịnh Trung Hiếu - Vũ Đức Thu - Phạm Khắc Học - Trần Đồng Lâm
- Nguyễn Mạnh Liên và các cộng sự năm 1978 - 1985)
* Các công trình nghiên cứu này cũng đã cung cấp nhiều thông tin quývề tình hình phát triển thể chất của học sinh Qua đó tạo cơ sở cho việc sosánh, định hướng và đánh giá sự phát triển thể chất của học sinh trongtương lai
1.3 Lịch sử phát triển môn điền kinh.
1.3.1 Vài nét về điền kinh thế giới.
Điền kinh là môn có lịch sử lâu đời so với các môn thể thao khác Đibộ, chạy, nhảy, và ném đẩy là những hoạt động tự nhiên của con người Từnhững hoạt động với mục đích di chuyển để tìm kiếm thức ăn, tự vệ đếnphòng chống thiên tai, vượt chướng ngại vật, hoạt động này ngày cànghoàn thiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người và dần dần trởthành một phương tiện giáo dục thể chất, một môn thể thao có vị trí xứngđáng thu hút mọi người tham gia tập luyện
Các bài tập Điền kinh đã được loài người sử dụng từ thời cổ Hy Lạp,song lịch sử phát triển của nó được ghi nhận trong cuộc thi đấu chính thứcvào năm 776 trước Công nguyên
Trang 8Năm 1837 tại thành phố Legbi (Anh) cuộc thi đấu chạy 2km lần đầutiên được tổ chức Từ năm 1851 các môn chạy tốc độ, chạy vượt chướngngại vật, nhảy xa, nhảy cao, ném vật nặng bắt đầu được đưa vào chươngtrình thi đấu tại các trường đại học ở nước Anh.
Năm 1880, Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư nước Anh ra đời Đây làLiên đoàn điền kinh nghiệp dư đầu tiên trên thế giới Từ năm 1880 đếnnăm 1890, môn điền kinh phát triển mạnh ở nhiều nước như Pháp, Mỹ,Đức, Na Uy, Thụy Điển và các liên đoàn Điền kinh quốc gia lần lượt đượcthành lập ở hầu hết các châu lục
Từ 1896, việc khôi phục các cuộc thi đấu truyền thống của đại hội thểthao Olympic đã đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong việc phát triểnmôn điền kinh Từ đại hội thể thao Olympic Athen (Hy Lạp 1896), điềnkinh đã trở thành nội dung chủ yếu trong chương trình thi đấu tại các đạihội thể thao Olympic (4 năm tổ chức một lần)
Năm 1992, Liên đoàn điền kinh nghiệp dư quốc tế ra đời, với tên gọitắt là IAAF (International Amateur Athletic Federation) Đây là tổ chứccao nhất lãnh đạo phong trào điền kinh toàn thế giới Hiện nay tên gọi củaLiên đoàn điền kinh nghiệp dư quốc tế đã được chuyển thành Hiệp hộiquốc tế các liên đoàn điền kinh (International Association of AthleticFederations) với tên viết tắt là IAAF IAAF có 210 thành viên là các Liênđoàn điền kinh quốc gia và các vùng lãnh thổ ở các châu lục, trong đó cóLiên đoàn điền kinh Việt Nam Hiện nay trụ sở của IAAF đặt tại Monaco
Trang 91.3.2 Vài nét về điền kinh Việt Nam.
Nguồn gốc môn điền kinh nước ta đã được các nhà nghiên cứu xác địnhlà có từ lâu đời
Trong lịch sự hàng ngàn năm đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ nướccủa dân tộc Việt Nam, tổ tiên của chúng ta cũng đã rất quen thuộc vớihoạt động đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy Lịch sử đã ghi nhận chiến côngdưới sự lãnh đạo của vị anh hùng dân tộc Quang Trung, hàng chục vạnquân Tây Sơn đã hành quân thần tốc, từ Phú Xuân (Bình Định) đến ThăngLong để đánh tan quân Thanh xâm lược, giành độc lập cho đất nước
Động lực phát triển môn điền kinh đã tiềm ẩn trong lịch sử sinh tồn,dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Trong thời gian dài thực dân Pháp đô hộ nước ta, môn điền kinh pháttriển rất chậm và yếu ở cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam Theo tờ báo “Tươnglai Bắc Kỳ” (bằng tiếng Pháp), tại cuộc thi đấu điền kinh ở Hà Nội vàotháng 4/1925 bao gồm 9 môn: chạy 100m, 110m rào, 400m, nhảy cao, nhảysào, đẩy tạ, ném đĩa, ném lao, thành tích còn rất thấp như: chạy 100mnam: 11”3; chạy 1500m nam: 4’56”4; đẩy tạ nam: 10m45…
Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1975 đến nay, trong điều kiện Tổ quốchoà bình, độc lập, môn điền kinh tiếp tục được phát triển mạnh hơn so vớigiai đoạn trước đây Nhiều người tự rèn luyện thân thể bằng đi bộ, tậpchạy chậm Chương trình giáo dục thể dục thể thao nói chung và môn điềnkinh nói riêng đã được cải tiến trong các trường học Sau Đại hội ĐảngCộng sản Việt Nam lần thứ VI, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới,thực hiện chính sách “mở cửa” muốn làm bạn với tất cả các nước vì hoà
Trang 10bình và sự tiến bộ của nhân loại Trong công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạtđược những thắng lợi to lớn về kinh tế – xã hội, ngoại giao…từ đó mônđiền kinh có thêm điều kiện phát triển Điền kinh Việt Nam đã mở rộnggiao lưu, thi đấu với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Châu Á và thếgiới đạt nhiều thành tích đáng khích lệ.
1.4 Cơ sở lý luận của việc giảng dạy kỹ thuật nhảy xa “ kiểu ngồi” cho đối tượng học sinh Trung học cơ sở.
1.4.1 Các yếu tố cấu thành thành tích nhảy xa.
Theo PGS - TS Phạm Trọng Thanh, PGS - TS Lê Nguyệt Nga, ĐàoCông Sanh thì những yếu tố để vận động viên đạt thành tích cao gồn 5nhóm cơ bản sau: phẩm chất cơ bản của người vận động viên (cấu trúc cơthể, đặc điểm, thể chất, thể hình và tính cách) các tố chất cơ bản (nhanh,mạnh, bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động) kỹ năng, kỹ xảotrong phối hợp kỹ thuật, khả năng chiến thuật, khả năng trí tuệ (bao gồmsự hiểu biết về lĩnh vực TDTT, chính trị tư tưởng và tâm lí)
Nhảy xa bao gồm những động tác được liên kết lại với nhau thành mộtđộng tác kỹ thuật hoàn chỉnh, để tiện phân tích và giảng dạy người ta phânthành các giai đoạn: chạy đà và chuẩn bị giậm nhảy, giậm nhảy, bay trênkhông và rơi xuống đất
Về mặt lý thuyết, trong điều kiện không có sức cản của môi trườngkhông khí, điểm bay và điểm rơi trên một mặt phẳng thì vật bay xa của vậtthể được phóng ra tỉ lệ thuận với bình phương tốc độ bay ban đầu, Sin 2 lầngóc bay tỉ lệ nghịch với gia tốc rơi tự do
Trang 11Theo PTS Bùi Thị Dương - Trần Đình Thuận, muốn đạt được thành tíchcao trong nhảy xa điều cơ bản là cần kéo dài đoạn đường bay bằng cáchchạy lấy đà chuẩn xác và giậm nhảy tích cực.
Theo Dương Nghiệp Chí - Mai Văn Muôn thành tích trong các mônnhảy xa được xác định trước hết bởi độ cao và độ xa của quỹ đạo trọngtâm lúc bay Quỹ đạo trọng tâm lúc bay phụ thuộc phần lớn vào tốc độ bayban đầu, góc bay Vì vậy góc độ bay ban đầu, góc bay là những yếu tốquan trọng quyết định đến thành tích nhảy
Qua những quan điểm trên chúng ta thấy các yếu tố cấu thành, thànhtích nhảy xa:
Đặc điểm hình thái
Các tố chất thể lực
Kỹ năng kỹ xảo trong phối hợp kỹ thuật
Tâm lý
Dựa vào các điều kiện thực tế giảng dạy tại trường Trung học cơ sởLương Thế Vinh Trong luận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu một số bàitập bổ trợ kỹ thuật để nâng cao thành tích môn nhảy xa kiểu ngồi cho họcsinh của nhà trường
Trang 121.4.2 Kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi.
Nhảy xa bao gồm những động tác liên tục Nhưng để tiện phân tíchngười ta có thể chia kỹ thuật nhảy xa thành 4 giai đoạn sau:
Chạy lấy đà và chuẩn bị giậm nhảy
Giậm nhảy
Bay trên không
Rơi xuống đất
1.4.2.1 Chạy lấy đà và chuẩn bị giậm nhảy.
Mục đích của chạy đà là tạo ra tốc độ tối đa theo phương nằm ngangtrước khi giậm nhảy và chuẩn bị tốt cho việc đặt chân giậm nhảy chính xácvào ván giậm
Số bước chạy đà ở các vận động viên nam xuất sắc là 18 - 24 bước (khoảng 38 - 48m), còn ở các vận động viên nữ: 16 - 22 bước (khoảng 32 -42m) Số bước chạy đà tối ưu phụ thuộc nhiều vào trình độ huấn luyệnchuyên môn về chạy của vận động viên
Tính chuẩn xác của chạy đà phụ thuộc vào độ dài chuẩn và nhịp điệu
thực hiện các bước chạy trong đà
Bắt đầu chạy đà tốt cũng đóng vai trò quan trọng, vì vậy vận động viêncần có tư thế ban đầu và động tác ổn định Có một vài cách bắt đầu chạyđà: Đứng tại chỗ, đi bộ vài bước, chạy bước đệm vài bước… Thông thườnglà vận động viên đứng tại chỗ, một chân đặt vào vạch giới hạn của cự lyđà, chân kia để ở phía sau hoặc bắt đầu chạy đà bằng vài bước đi bộ hoặcchạy nhẹ nhàng rồi tăng dần tốc độ Đến khoảng giữa cự ly đà, độ ngả củathân trên giảm dần (chỉ còn 74 - 80o), tăng biên độ động tác của tay và
Trang 13chân Kết thúc đà, ở những bước cuối cùng, thân trên gần như thẳng đứng.Điều rất quan trọng là phải duy trì kỹ thuật chạy đúng cho đến bước đàcuối cùng, có cảm giác về “độ nẩy” khi tiếp xúc đất và kiểm tra được cácđộng tác của mình.
Hai phương án chạy đà thường được dùng là: tăng tốc độ đều trên toànđà và đạt tới tốc độ tối đa ở các bước cuối cùng (cách này phù hợp vớinhững người mới tập nhảy); cố gắng chạy nhanh ngay từ đầu, duy trì tốc độcao trên cự ly và lại cố gắng tăng tốc độ ở cuối cự ly Dù theo phương ánnào, vận động viên cũng cần đạt tốc độ chạy đà 9 - 10m/giây với nữ và 10
- 11m/giây với nam Để giậm nhảy chính xác ở mỗi vận động viên cần xácđịnh vạch báo hiệu 2 (nơi bắt đầu vào 4 - 6 bước cuối) Nếu chạy đà khôngcần điều chỉnh nhịp điệu, độ dài bước chạy đà mà vẫn có độ dài 4 - 6 bướccuối theo dự kiến thì mới đảm bảo giậm nhảy đúng ván giậm với tốc độ tốiưu
Thông thường độ dài bước cuối nên ngắn hơn bước trước đó 15 - 20 cm(nữ là 5 – 10 cm) Tuy vậy cũng có vận động viên có độ dài 2 bước cuốinhư nhau và thậm chí có trường hợp bước cuối dài hơn bước trước đó(R.Bimơn khi lập kỉ luật thế giới 8,90m có bước đà cuối dài 257 cm trongkhi bước trước đó chỉ dài 240 cm) Trước khi đặt chân giậm nhảy vào ván(khi còn cách 0,06 – 0,1 cm) người ta nhận thấy ở các vận động viên nhảycó sự căng sơ bộ các cơ vòm bàn chân và cơ tứ đầu đùi của chân giậmnhảy
Trang 14Khi tiếp xúc với ván giậm, toàn bộ trọng lượng cơ thể dồn lên chângiậm nhảy, do vậy chân giậm nhảy hơi khuỵu gối để giảm chấn động Khigiậm nhảy cần nhanh chóng duỗi hết các khớp chân giậm nhảy Kết thúcgiậm nhảy góc giữa thân trên và đùi chân lăng khoảng 950, bàn chân, cẳngchân, đùi của chân giậm gần như nằm trên một đường thẳng hơi ngã vềtrước với góc độ giậm nhảy khoảng 68 - 720 Tay bên chân giậm vung vềtrước – lên trên và dừng khi cánh tay song song với mặt đất Tay bên chânlăng gập ở khuỷu và đánh sang bên để nâng cao vai Động tác kết thúcgiậm nhảy như vậy gọi là bước bộ trên không.
1.4.2.3 Bay trên không.
Sau khi rời đất, trọng tâm cơ thể bay theo đường vòng cung Toàn bộcác động tác của vận động viên trong lúc bay là nhằm giữ thăng bằng vàtạo điều kiện thuận lợi để rơi xuống hố cát có hiệu quả nhất
Sau khi bay ở tư thế “bước bộ” được 1/3 – 1/2 cự ly, vận động viên kéochân giậm lên song song với chân ở phía trước (chân lăng) và nâng hai đùilên sát ngực Ở tư thế này, thân trên không nên gập nhiều về trước Tiếpđó, trước khi rơi xuống hố cát 2 chân hầu như được duỗi thẳng hoàn toàn
Trang 15đồng thời 2 tay đánh thẳng xuống dưới – về trước và ra sau Động tác cótính chất bù trừ này tạo điều kiện tốt cho việc duỗi thẳng chân trước khi rơixuống và giữ thăng bằng.
1.4.2.4 Rơi xuống đất.
Để đạt được độ xa của lần nhảy, việc thực hiện đúng kỹ thuật rơi xuốngđất có ý nghĩa rất lớn Không ít vận động viên do có kỹ thuật này kém nênđã không đạt được thành tích tốt nhất của mình
Trong tất cả các kiểu nhảy, việc thu chân chuẩn bị rơi xuống đất đượcbắt đầu khi tổng trọng tâm cơ thể ở cách mặt đất ngang với mức khi họ kếtthúc giậm nhảy
Để chuẩn bị cho việc rơi xuống đất, đầu tiên cần nâng đùi, đưa hai đầugối lên sát ngực và gập thân trên nhiều về trước Cẳng chân lúc này đượchạ xuống dưới, hai tay chuyển từ trên cao ra phía trước Tiếp đó là duỗichân, nâng cẳng chân để gót chân chỉ thấp hơn mông một chút Thân trênlúc này không nên gập về trước quá nhiều vì sẽ gây khó khăn cho việcnâng chân lên cao Tay lúc này hơi gấp ở khuỷu và được hạ xuống theohướng xuống dưới và ra sau Sau khi hai gót chân chạm đất cần gập chân ởkhớp gối để giảm chấn động và tạo điều kiện chuyển trọng tâm cơ thểxuống dưới – ra trước vượt qua điểm chạm đất của gót Thân trên lúc nàycũng cố gập về trước để giúp không đổ người về sau làm ảnh hưởng tớithành tích
Trang 161.5 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 14 – 15
1.5.1 Đặc điểm tâm lý.
Lứa tuổi 14 – 15 là lứa tuổi bắt đầu của sự trưởng thành Các hoạt độngcủa lứa tuổi này ngày càng phong phú và phức tạp hơn được thể hiện vaitrò của mình trong xã hội, vai trò của người lớn và thực hiện vai trò vớitính độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn
Vị trí của lứa tuổi này trong xã hội chưa được xác định rõ ràng, ở mặtnày họ được coi là người lớn, ở mặt khác lại không Do vậy phải tìm cáchtạo điều kiện để lứa tuổi này xây dựng một phương thức sống mới phù hợpvới mức độ phát triển chung của chúng, bằng cách khuyến khích chúnghành động có ý thức trách nhiệm riêng và khuyến khích sự giáo dục lẫnnhau trong tập thể thanh niên mới lớn Ở lứa tuổi này các em ý thức đượcrằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời do vậy thái độ ý thức củacác em ngày càng phát triển Thái độ của các em đối với môn học cũng cósự chọn lựa hơn và hình thành tính hứng thú học tập gắn liền với khuynhhướng nghề nghiệp Ở lứa tuổi này; tính chủ định phát triển mạnh, tri giácđạt đến mức cao, quan sát đã trở nên có hệ thống và toàn diện hơn Tuynhiên, sự quan sát này cũng không hiệu quả nếu như thiếu sự chỉ đạo dẫndắt của giáo viên, huấn luyện viên
Do cấu trúc của não bộ phức tạp và chức năng của não phát triển, do sựphát triển của quá trình nhận thức, ảnh hưởng của hoạt động học tập màhoạt động tư duy của lứa tuổi này có thay đổi quan trọng Các em đã bắtđầu có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng càng phát triển, tư duy
Trang 17có chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn đồng thời tính phê phán của
tư duy càng phát triển
Tóm lại: Ở lứa tuổi này, những đặc điểm chung của con người về mặttrí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tụchoàn thiện
Sự phát triển của ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triểnnhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự pháttriển tâm lý ở lứa tuổi này Sự hình thành ý thức ở lứa tuổi này là một quátrình lâu dài, trãi qua những mức độ khác nhau, qúa trình tự phát triển ýthức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính đặc thù riêng Ở lứa tuổi này cónhu cầu tìm kiếm và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quanđiểm về cuộc sống và hoài bão của mình
Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức xuất phát từ yêu cầu của cuộcsống và hoạt động, đơn vị mới mẻ của mình trong tập thể, những quan hệmới về thế giới xung quanh buộc mình phải ý thức được những nhân cáchcủa mình Các em bắt đầu nhận thức cái tôi của mình trong hiện tại vànhận thức được vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em đã biết thểhiện tinh thần trách nhiệm trong công việc mình làm, đã biết thể hiện lòngtự trọng, biết khắc phục khó khăn để đạt mục đích mình định ra Đây chínhlà đặc điểm thuận lợi nhất để rèn luyện các tố chất thể lực cho các em
1.5.2 Đặc điểm sinh lý.
Lứa tuổi 14 – 15 là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt thể lựcnhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể người lớn, làlứa tuổi bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối ổn định về mặt sinh lý, nhịp
Trang 18độ tăng trưởng chiều cao và trọng lượng đã chậm lại Các em gái đạt sựtăng trưởng của mình vào khoảng 14 – 15 tuần Trọng lượng các em traiđã bắt kịp các em gái và tiếp tục tăng lên Sức mạnh cơ bắp tăng nhanh.Nhìn chung đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khoẻ vàđẹp Đa số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thểnhư người lớn.
1.5.2.1 Hệ vận động.
Hệ xương:
Ở lứa tuổi 14 - 15 đang diễn ra quá trình cốt hóa Xương phát triểnmạnh về chiều dài làm tăng chiều cao của cơ thể, các cơ tăng khối lượngvà đạt 43 – 44% trọng lượng toàn cơ thể, bao khớp và hệ thống dây chằngmỏng, vì vậy độ linh hoạt của khớp cao Khả năng mềm dẻo giảm dầntheo lứa tuổi và độ bền vững của xương khớp tăng
Hệ cơ:
Lứa tuổi 14 – 15 là giai đoạn phát triển của hệ thống cơ vân cả vềlượng và chất Sự phát triển cơ bắp không đồng đều, khi các cơ bắp cơ lớnphát triển nhanh(cơ đùi, cơ cánh tay), các cơ co phát triển sớm hơn cơ duỗi,hàm luợng các chất vô cơ, hữu cơ trong tổ chức tăng, cùng với sự phì đạicủa cơ làm cho việc cung cấp máu cho chúng được cải thiện Hàm lượngđạm và các chất giàu năng lượng (miozin, creatin phot phat) và hoạt tínhcác men đều tăng lên trong cơ tương, tơ cơ, khả năng trao đổi chất của cơcũng tăng Vì vậy sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh là hợp lí nhưngcác bài tập phải đảm bảo các nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cảcác loại cơ
Trang 191.5.2.2 Hệ thần kinh.
Được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy, phân tích tổnghợp và trừu tượng hoá cũng phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt cho việchình thành phản xạ có điều kiện, ngoài ra do hoạt động mạnh của tuyếngiáp, tuyến sinh dục, tuyến yên, làm cho quá trình hưng phấn của hệ thầnkinh chiếm ưu thế Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnhhưởng đến hoạt động thể lực cần bắt buộc phải sử dụng các bài tập sao chophù hợp
1.5.2.3 Hệ tuần hoàn.
Các kích thước tuyệt đối, tương đối của tim tăng dần theo lứa tuổi, tuổi
15 – 18 khoảng 200 – 220g Tần số co bóp của tim giảm dần theo lứa tuổi
14 - 15 tuổi 70 – 80 lần/phút Huyết áp tăng theo lứa tuổi Ở lứa tuổi nàyhuyết áp tối đa 100 – 110mm Hg và huyết áp tối thiểu giao động từ 70 –85mm Hg Ở lứa tuổi 14 - 15 hệ thống tim mạch đang trong giai đoạn hoànthiện về cấu trúc và chức năng Dưới ảnh hưởng của quá trình phát triểnsinh học tự nhiên và sự tác động của tập luyện đã tạo ra những biến đổithích ứng như: Tần số giảm trong yên tỉnh, buồn tim giản rộng, thành timdày lên và lực co bóp cơ tim tăng là cơ sở tăng lưu lượng phút, lưu lượngtâm thu, huyết áp tối đa trong vận động Do đó ở lứa tuổi 14 -15, sau hoạtđộng mạch và huyết áp hồi phục tương đối nhanh nên phù hợp với các bàitập chạy dài và các bài tập có khối lượng và cường độ tương đối lớn
1.5.2.4 Hệ hô hấp
Ở lứa tuổi 14 - 15, hệ thống cơ hô hấp, thể tích lồng ngực phát triểnngày càng hoàn thiện dẫn đến biến đổi các chỉ số chức năng như: Tần số
Trang 20hô hấp giảm, thông khí phổi, dung tích sống, khả năng hấp thụ oxy tăng,nhưng chưa ổn định ở cuối giai đoạn dậy thì
Ở lứa tuổi này đã hoàn thiện vòng ngực, trung bình của nam khoảng 75– 80cm, diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 120 – 150 cm, dung lượng phổikhoảng 4,5lít, tần số hô hấp 10 – 20 lần/phút Vì vậy các bài tập phát triểnsức bền càng phù hợp với lứa tuổi này
1.6 Bài tập bổ trợ chuyên môn ở môn nhảy xa.
Sau khi tham khảo một số tài liệu và qua thực tiễn giảng dạy chúng tôiđã tổng hợp được các bài tập bổ trợ chuyên môn trong môn nhảy xa kiểungồi cho nam học sinh lớp 9 Trường trung học cơ sở Lương Thế Vinh-Thành phố Buơn Ma Thuột- Tỉnh Đắk Lắk
1.6.1 Bài tập để nắm vững kỹ thuật chạy đà:
Chạy đà có đặt vật chuẩn (chú ý độ dài bước)
Chạy đà bình thường có giậm nhảy lúc kết thúc (chạy 5 - 6 lần)
Chạy đà trên đường phủ thảm hay cỏ (chạy 2 - 4 lần)
Chạy qua phần đầu tiên của đà trên đường dốc,
phần thứ hai của đà (6 bước chạy) trên đường bằng, thực hiện 5 - 6lần
Chạy qua phần đầu tiên của đà (đến vạch kiểm tra) bằng 6 bướcchạy đà có đàn tính Thực hiện 4 - 5 lần
1.6.2 Bài tập để nắm vững kỹ thuật giậm nhảy:
Chạy 4 – 6 bước nhảy lên thang thể dục và đặt bàn chân lăng lênthang ngang
Chạy 3 bước giậm nhảy bước bộ qua rào cao 20 – 30 cm
Trang 21 Chạy 4 – 8 bước giậm nhảy chạm vật chuẩn.
Chạy đạp sau 6 – 8 m thực hiện giậm nhảy
Chạy bật lên bằng chân giậm rơi xuống bằng chân lăng và chạy
1.6.3 Bài tập để nắm vững kỹ thuật động tác trên không:
Giậm nhảy bước bộ vào hố cát
Giậm nhảy bước bộ qua rào cao 20 – 30 cm
Đu người trên xà ngang thực hiện động tác bước bộ lăng hông
Bước bộ chạm vật chuẩn
Chạy 3 bước giậm nhảy bước bộ
1.6.4 Bài tập để nắm vững kỹ thuật rơi xuống đất:
Đu người trên xà đơn thực hiện kỹ thuật rơi xuống đất
Giậm nhảy qua vạch báo hiệu làm động tác thu hai gối sátngực
Tại chỗ bật xa (chú ý động tác tiếp đất)
Đứng trên bục cao 20 – 30 cm tư thế bước bộ thu chân giậm vàrơi xuống hố cát
Thực hiện bước bộ thu chân giậm tiếp đất
Trang 22CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP – TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụngcác phương pháp nghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài.
Đọc và tham khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm hệthống hoá các kiến thức có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu phục vụ tốtcho việc thực hiện đề tài Ngay từ khâu chọn đề tài, xây dựng đề cương,bắt tay vào nghiên cứu và đến khi chuẩn bị dự thảo, báo cáo kết quả,người nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này
Phương pháp này cho phép chúng tôi hệ thống hóa các kiến thức cóliên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lý luận, xác định mụcđích, nhiệm vụ nghiên cứu, đồng thời xây dựng tổng quan, xử lý và phântích kết quả nghiên cứu của đề tài
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn gián tiếp (Sử dụng phiếu điều tra).
Phương pháp này nhằm tìm hiểu và xác định các bài tập được sử dụngtrong thực tiễn huấn luyện – giảng dạy Nhảy xa, chúng tôi dùng phiếuđiều tra theo phương pháp phân loại mức độ tin cậy của từng bài tập đểphỏng vấn các huấn luyện viên, giáo viên là những người có kinh nghiệmtrong công tác huấn luyện viên, giảng dạy môn Nhảy xa
Trang 232.1.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này nhằm mục đích đưa các bài tập mới vào thực tiễn, quathực nghiệm góp phần làm sáng tỏ những yếu tố tác động trực tiếp (yếu tốthực nghiệm) tới kết quả tập luyện của đối tượng nghiên cứu
Trước thực nghiệm cả hai nhóm đều được kiểm tra thành tích nhảy xađể lấy thành tích ban đầu Sau 3 tháng tập luyện chúng tôi tiến hành lấythành tích nhảy xa lần 2, để xác định các bài tập có hiệu quả nhằm nângcao thành tích nhảy xa
Để kiểm nghiệm trong thực tiễn các bài tập phát triển thể lực ở mônnhảy xa cho đối tượng nam học sinh Chúng tôi tiến hành thực nghiệm trênhai nhóm đối tượng theo qui ước sau:
+ Nhóm thực nghiệm A: gồm 40 học sinh được chọn ngẫu nhiên vàđược học theo các bài tập chuyên môn do chúng tôi lựa chọn, thời gian tậpluyện mỗi tuần một buổi, mỗi buổi 2 tiết
+ Nhóm đối chứng B: gồm 40 học sinh được chọn ngẫu nhiên và được
học theo chương trình sách giáo khoa của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo Thờigian tập luyện như nhóm thực nghiệm
2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Dựa trên kết quả sử lý số liệu từ các phiếu phỏng vấn gián tiếp theophương pháp trên, chúng tôi đã chọn được các bài tập bổ trợ chuyên mônnhằm nâng cao thành tích nhảy xa của đối tượng nghiên cứu
Trang 24* Thành tích nhảy xa (cm):
- Mục đích: dùng để kiểm tra kết quả học tập của đối tượng nghiên cứu.
- Dụng cụ sân bãi: thước dây bằng sắt, đơn vị đo tính bằng centimet, hốcát, cờ, giấy bút ghi chép
- Phương pháp kiểm tra và ghi nhận thành tích: khi nghe đọc tên thì họcsinh đó bước vào vị trí chuẩn bị chạy đà Sau khi thấy cờ phất lệnh, thì thựchiện lần nhảy của mình Mỗi lần nhảy chỉ với một học sinh thực hiện, mỗihọc sinh thực hiện nhảy 3 lần (toàn đà), lấy thành tích cao nhất của 3 lầnnhảy Thành tích chỉ được công nhận khi học sinh không bị vi phạm vàocác điều sau đây: đạp qua khỏi ván giậm nhảy, nhảy không đúng kiểungồi, nhảy ra khỏi hố nhảy
Thành tích được tính là khoảng cách từ vạch giậm nhảy đến điểm gótchân chạm đất gần ván giậm nhảy nhất (nếu có bộ phận khác của cơ thểchạm đất sau gót chân thì thành tích được tính từ điểm tiếp đất gần vạchgiậm nhảy của cơ thể đó)
2.1.5 Phương pháp toán thống kê.
Chúng tôi sử dụng phần mềm excel của máy vi tính, để tính các giá trịtrung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, sai số tương đối của giá trịtrung bình, t-student, độ tăng trưởng
2.1.5.1 Giá trị trung bình: ( n 30)
Trung bình cộng là đại diện chung nhất của các giá trị biến thiên ngẫunhiên trong mẫu Đồng thời là tham số phản ánh xu hướng tập trung củamẫu
Trang 25Trong đó:
: là ký hiệu tổng
X : là giá trị trung bình
X i : là trị số của từng cá thể
n: là tổng số các cá thể
2.1.5.2 Độ lệch chuẩn:
Độ lệch chuẩn cho biết sự phân tán hay tập trung của các trị số Xichung quanh giá trị trung bình
Trong đó: X i : là giá trị của từng cá thể
X : là giá trị trung bình của tập hợp mẫu
n: là tổng các cá thể
2.1.5.3 Hệ số biến thiên:
Để đánh giá độ đồng nhất giữa hai mẫu nghiên cứu
Nếu Cv 10% : thì giá trị trung bình mẫu có độ đồng nhất cao
Nếu 10%< Cv<20% : thì giá trị trung bình mẫu có độ đồng nhất trungbình
Nếu Cv>20% : thì giá trị trung bình mẫu có độ đồng nhất thấp(khôngnên dùng)