1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Luận văn ThS. Xã hội học

98 797 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó tôi chọn đề tài: “Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa” để nghiên cứu, từ việc nghiên cứu đề tài này sẽ cũng cấp những luận cứ v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Luận văn có sự kế thừa các công trình nghiên cứu của những người đi trước, trên cơ sở đó tác giả luận văn bổ sung thêm những tư liệu mới và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả Luận văn

Hoàng Thị Thơi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này Để tôi có thể đạt được các mục tiêu và kết quả nhất định trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi đã nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Hoàng Bá Thịnh, cùng sự hợp tác giúp đỡ của tập thể cán

bộ, công chức, viên chức, người lao động tại phường Duy Tân, xã Đăk Cấm thuộc TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum Luận văn đã kế thừa đề tài "Đô thị hóa

và quản lý quá trình đô thị hóa trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên",

Mã số TN3/X15 thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 Vì vậy, nhân dịp này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Hoàng Bá Thịnh, cùng tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại tỉnh Kon Tum, đã tạo điều kiện hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ tận tình cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu một cách thuận lợi nhất

Trong phạm vi của công trình nghiên cứu này, cũng như bản thân tác giả còn hạn hẹp về kinh nghiệm Vì vậy, chắc chắn trong nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp

ý kiến của quý thầy cô giáo và toàn thể bạn đọc

Chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Học viên

Hoàng Thị Thơi

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô dân số tỉnh Kon Tum giai đoạn 2009 – 2013

Bảng 2.2 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn tỉnh Kon Tum

Bảng 2.3 Trình độ học vấn nguồn nhân lực theo giới tính tại địa bàn điều tra Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật nguồn nhân lực theo giới tính tại địa bàn điều tra

Bảng 2.5 Nghề nghiệp theo giới tính của đối tượng điều tra

Bảng 2.6 Lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nghề nghiệp và theo vị thế việc làm Bảng 2.7 Trình độ học vấn của nguồn nhân lực theo địa bàn điều tra

Bảng 2.8 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực theo địa bàn điều tra Bảng 2.9 Nghề nghiệp theo địa bàn điều tra

Bảng 2.10 Tiền lương, thưởng của các doanh nghiệp năm 2009

Bảng 2.11 Tình trạng sức khỏe của người lao động tỉnh Kon Tum và các tỉnh điều tra Bảng 2.12 Trạng thái hoạt động của nhân lực

Trang 7

Biểu đồ 2.8 Số lượng và cơ cấu trạng thái việc làm theo các ngành

Biểu đồ 2.9 Tỷ trọng đóng góp vào GDP (theo giá so sánh) và tỷ trọng lao động của các ngành

Biểu đồ 2.10: Số thí sinh cử đi đào tạo cử tuyển giai đoạn 1999-2010

Biểu đồ 2.11: Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2004-2010

Trang 8

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 24

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 25

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của luận văn 26

6 Câu hỏi nghiên cứu 26

7 Giả thuyết nghiên cứu 26

8 Phương pháp nghiên cứu 27

9 Khung phân tích 28

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 29

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 29

1.1.1 Khái niệm công cụ 29

1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực (Nguồn lực con người) 29

1.1.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa 31

1.1.1.3 Khái niệm lao động 31

1.1.1.4 Khái niệm việc làm 32

1.1.1.5 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực trong CNH- HĐH 33

1.1.2 Hệ thống các lý thuyết 33

1.1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng 33

1.1.2.2 Lý thuyết biến đổi xã hội 34

1.1.2.3 Lý thuyết xung đột 36

1.2.3 Quan điểm, Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực 37

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 39

1.2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 39

1.2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 39

1.2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 40

1.2.2 Hiện trạng các lĩnh vực ngành nghề tại tỉnh Kon Tum 42

Trang 9

2

1.2.2.1 Lĩnh vực Giáo dục - đào tạo 42

1.2.2.2 Lĩnh vực Y tế 43

1.2.2.3 Lĩnh vực dạy nghề 44

Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH KON TUM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 46

2.1 Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực 46

2.1.1 Quy mô nguồn nhân lực 46

2.1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực 47

2.1.2.1 Cơ cấu nhân lực theo giới tính 47

2.1.2.2 Cơ cấu nhân lực theo nhóm tuổi 54

2.1.2.3 Cơ cấu nhân lực theo việc làm, nghề nghiệp 55

2.1.2.4 Cơ cấu nhân lực địa bàn điều tra 56

2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 61

2.2.1 Trí lực của người lao động 61

2.2.1.1 Trình độ học vấn của nguồn nhân lực 61

2.2.1.2 Trình độ chuyên môn - kỹ thuật của nguồn nhân lực 62

2.2.2 Thể lực của người lao động 65

2.2.2.1 Thu nhập của người lao động 65

2.2.2.2 Tình trạng sức khỏe và tiếp cận với dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe 66

2.2.3 Tâm lực của nguồn nhân lực 67

2.2.3.1 Đặc điểm tâm lý - xã hội và những kỹ năng mềm của nhân lực 67

2.2.3.2 Mức độ lo ngại trước các vấn đề xã hội hiện nay 69

2.3 Sử dụng chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Kon Tum 70

2.3.1 Thực trạng về lực lượng lao động đang làm việc 70

2.3.2 Lực lượng lao động trong cơ cấu ngành kinh tế 70

2.3.3 Đánh giá, phân tích trong những nhóm ngành, nghề có sự thiếu hụt và dư thừa lao động 71

2.3.4 Tương quan giữa biến động quy mô nhân lực với phát triển sản xuất, dịch vụ 71

2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Kon Tum .72

Trang 10

3

2.4.1 Những nhân tố bên ngoài 72

2.4.1.1 Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa 72

2.4.1.2 Phát triển khoa học - công nghệ và hình thành nền kinh tế tri thức 73

2.4.2 Những nhân tố bên trong 73

2.4.2.1 Công tác đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh Kon Tum 73

2.4.2.2 Hệ thống quản lý, cơ chế, chính sách phát triển nhân lực 77

2.4.2.3 Một số yếu tố khác 80

2.5 Đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực hiện nay của tỉnh Kon Tum 80

2.5.2 Những điểm yếu 81

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 11

Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu đưa đất nước phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011 Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn thấp, Việt nam hiện nay vẫn là một nước đang trong quá trình phát triển, có nhiều cơ hội và thách thức; với nguồn nhân lực có qui mô lớn và cơ cấu trẻ nhưng chưa thực sự là động lực để phát triển kinh tế Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một bước đột phá chiến lược, yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo lợi thế cạnh tranh, bảo đảm đưa nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả

Con người luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho

Trang 12

5

sự phát triển nhanh và bền vững Nhận thức rõ điều này, Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định: Nguồn lực con người Việt Nam là vốn quý nhất trong điều kiện các nguồn lực khác của chúng ta còn hạn chế, do đó “lấy việc phát triển nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [ 9, tr.85]

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chương trình mang tính chất chiến lược về đầu tư và phát triển con người của riêng mình hướng theo một nguyên tắc chung là: Đặt con người vào trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thừa nhận vai trò quan trọng và quyết định của nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội vừa mang ý nghĩa bước ngoặt của tư duy nhân loại, vừa mở ra một triển vọng mới cho tất cả các nước Sự thành bại của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở mỗi nước đang tùy thuộc vào những bí quyết về đào tạo, sử dụng và phát huy nhân tố con người Và CNH- HĐH là con đường tất yếu để biến một nước có nền nông nghiệp lạc hậu như nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan

hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quá trình phát triển của một quốc gia, một địa phương cần phải có nhiều điều kiện cũng như các nguồn lực cần thiết Trong các nguồn lực cần thiết cho phát triển như: cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực… thì nguồn nhân lực ngày càng đóng vai trò quyết định và chi phối tất cả các yếu tố còn lại Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì vai trò, vị trí của nguồn lực con người ngày càng quan trọng hơn

Trong những năm gần đây, công tác phát triển nhân lực của tỉnh Kon Tum cũng không nằm ngoài xu hướng đó và đã đạt được một số thành tựu đáng kể, góp phần hỗ trợ đắc lực vào sự phát triển KT-XH và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tỉnh Tuy nhiên, so với yêu cầu của tình hình mới thì công tác phát triển nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế: trình độ học vấn

Trang 13

6

và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực còn thấp; các cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu về quy mô, năng lực và chất lượng đào tạo; năng suất lao động thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, sự phối hợp giữa các ngành quản lý, giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp và người lao động còn thiếu chặt chẽ

Trong giai đoạn 2011-2020, với nguồn nhân lực dồi dào, cần cù lao động thì chưa đủ để đáp ứng được yêu cầu phát triển Đặc biệt, tỉnh Kon Tum với quy mô nền kinh tế còn nhỏ, trình độ dân trí còn thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực càng có ý

nghĩa quyết định tới sự phát triển Do đó tôi chọn đề tài: “Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa” để

nghiên cứu, từ việc nghiên cứu đề tài này sẽ cũng cấp những luận cứ và cơ sở quan trọng về lý luận và thực tiễn mang đến cái nhìn cụ thể, sâu sắc về ảnh hưởng của chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trẻ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Nghiên cứu cũng chỉ ra những mặt tích cực và cả tiêu cực, những ảnh hưởng từ chất lượng nguồn nhân lực đến sự phát triển kinh tế - xã hội; từ đó đề xuất các giải pháp, đưa ra các kết luận, kiến nghị nhằm sử dụng và có định hướng phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tình hình chung của tỉnh, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hướng đến phát triển bền vững

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tổng quan nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới

Cho đến nay nhiều quan niệm về nguồn nhân lực đã được đưa ra Chẳng

hạn, Henry cho rằng nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng

Trang 14

7

tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế

xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [2006: 256]

Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực có tầm quan trọng mang tính toàn cầu Vì vậy, nhiều nhà khoa học, nhiều viện nghiên cứu, nhiều trường đại học, nhiều tổ chức quốc tế khác nhau đã tập trung nghiên cứu vấn

đề này Công trình kinh điển thường được nhắc đến trong lĩnh vực này là tác phẩm nổi tiếng của học giả Gary Becker “Human Capital A Theoretical and Empừical Analysis, with Special Reference to Education” (Vốn con người: Một phân tích lý thuyết và thực nghiệm, với sự tham chiếu đặc biệt đến giáo dục) Qua tác phẩm này Becker nhấn mạnh đến hiệu quả của việc đầu tư vào vốn con người (Becker, 1993 [1964, 1975]) Nghiên cứu này đã được dịch ra tiếng Việt với tên gọi “Vốn con người: Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm, liên quan đặc biệt đến giáo dục” và được xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa

học xã hội năm 2010 (Becker, 2010) [43]

UNESCO - Tổ chức Văn hoá, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề nguồn nhân lực Điều này được minh chứng qua nhiều công trình nghiên cứu Chẳng hạn ấn phẩm

“Educational planning and human resource development” (Kế hoạch giáo dục

và phát triển nguồn nhân lực” là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng của UNESCO Công trình nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm hiện đại về giáo dục và nguồn nhân lực qua việc phân tích sâu các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển (Harbison, 1968)

The WB - Ngân hàng Thế giới, một tổ chức quốc tế rất quan trọng, cũng quan tâm nhiều đến vấn đề nguồn nhân lực thông qua nghiên cứu của nhiều học giả uy tín Ví dụ như nghiên cứu “Quản lý nguồn nhân lực trong bối cảnh phi tập trung hóa” của tác giả Amanda E Green Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng quản lý nguồn nhân lực phải được coi là yếu tố thiết yếu

Trang 15

8

thuộc về quá trình phi tập trung hóa chứ không nên coi là một quá trình riêng

rẽ song song với phi tập trung hóa (Green, 2005)

UNDP, Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc cũng đặc biệt quan tâm đến nguồn nhân lực Từ năm 1990 đến nay hàng năm tổ chức này có báo cáo phát triển con người Báo cáo đầu tiên vào năm 1990 đã bàn đến định nghĩa phát triển con người và đo lường sự phát triển con người Báo cáo này cũng bàn đến một số chiều cạnh liên quan đến phát triển con người, chẳng hạn như mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển con người (UNDP, 1990) Qua từng năm khác nhau, Báo cáo phát triển con người lần lượt đề cập đến phát triển con người dưới nhiều góc độ khác nhau Chẳng hạn báo cáo Phát triển con người gần đây nhất của UNDP nhấn mạnh đến tính bền vững

và sự công bằng trong phát triển con người (UNDP, 2011) [46]

Nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố nguồn nhân lực, nhiều tác giả đã lấy ví dụ minh chứng từ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nước khu vực Đông Á Bài viết “Inequality and growth reconsidered: lesson from East Asia” (Xem xét lại sự bất bình đẳng và tăng trường: những bài học từ Đông Á) của 3 tác giả Nancy Birdsal, David Ross, Richarch Sabot nhấn mạnh sự tăng trưởng kinh tế thông qua yếu tố nguồn nhân lực Các tác giả này cho rằng vấn đề cốt lõi của phát triển kinh tế là đầu tư vào giáo dục để phát triển nguồn nhân lực (Birdsall, Ross, & Sabot, 1995) [41]

Training for Development in East Asia: The Political Economy of Skill Formation in Newly Industrialised Economies” (Tạm dịch: Giáo dục và đào tạo vì sự phát triển ở Đông Á: Hệ thống kinh tế chính trị của sự hình thành kỹ năng ở các nền kinh tế đã công nghiệp hóa mới đây) của các tác giả Ashton, Green, James, & Sung bàn về sự thân diệu của các nền kinh tế Hồng Công, Đài Loan, Singapore, và Hàn Quốc Ấn phẩm “Human resources in development along the Asian - Paciíĩc Rim” (Nguồn nhân lực trong phát triển

ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương) của tác giả Naohiro Ogawa, Gavin w

Trang 16

9

Jones, & Jeffrey G Williamson cho rằng sự tăng trưởng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương dựa trên nhân tố then chốt là nguồn nhân lực Sử dụng nhiều nguồn số liệu gần đây, các tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa sự phát triển nguồn nhân lực, cũng như sự mở rộng của hệ thống giáo dục trong quá trình phát triển ở khu vực này (Naohiro Ogawa, Gavin w Jones, & JeffreyG Williamson(Editors), 1993) [45]

Vấn đề nguồn nhân lực dưới góc độ quản lý cũng nhận được sự quan tâm sâu rộng Tài liệu “Strategic human resources management” (Chiến lược quản lý nguồn nhân lực) của Charles Greer phân tích sự tác động qua lại giữa nguồn nhân lực với các chiến dịch quản lý cũng như những định hướng về đầu tư phát triển nguồn nhân lực (Greer, 2003) Hai cuốn sách cùng có tên là

“Human resources management (Quản lý nguồn nhân lực) của các tác giả khác nhau là Lloyd Byars và Leslie Rue xuất bản năm 2003; J.M Ivacevich xuất bản năm 1995 đều đề cập đến vấn đề quản lý nguồn nhân lực ở những góc độ khác nhau (Byars & Rue, 2003; Ivancevich, 1995) [42]

Như vậy, từ các nghiên cứu về nguồn nhân lực kể trên, có thể thấy rằng chủ đề nguồn nhân lực cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu hết sức phong phú, đa dạng Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của nhiều tổ chức, học giả trên thế giới Điều này minh chứng tầm quan trọng của yếu tố con người, yếu tố nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội

2.2 Tổng quan nghiên cứu về nguồn nhân lực ở Việt Nam

Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển lịch sử, do đó vấn đề con người, đặc biệt là nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút

sự quan tâm của nhiều ngành khoa học Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề được đề cập nghiên cứu ở những mức độ và góc độ khác nhau Nhiều công trình đã nghiên cứu một cách

Trang 17

10

có hệ thống các vấn đề về nguồn nhân lực, về giáo dục- đào tạo, về nâng cao chất lượng, về sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, đáng chú ý là những công trình sau:

Ở Việt Nam, vai trò quyết định của nguồn nhân lực đã và đang được khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định việc “phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001) Đại hội nhấn mạnh rằng “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục

và đào tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001) Đặc biệt, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 được thông qua tại Đại hội IX đã định hướng những vấn đề then chốt của việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trẻ Cụ thể là:

Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001)

Cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển nguồn nhân lực, ngày 30 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội giai đoạn 2011-2015 Trước

Trang 18

11

đó, ngày 22/7/2011, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 Có thể nhận định rằng đây là những văn bản quan trọng định hướng thực tiễn phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn sắp tới

Tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển đất nước đã giành được sự quan tâm đặc biệt của các ngành khoa học xã hội

và nhân văn Một trong những minh chứng cụ thể cho điều này là chương trình KX-05 “Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Đây là một chương trình lớn nghiên cứu sâu nhiều chiều cạnh khác nhau liên quan nguồn nhân lực, từ đời sống văn hóa cho đến tình trạng sức khỏe, từ nghiên cứu phát triển trí tuệ cho đến giáo dục phổ thông và hướng nghiệp (Chương trình KX.05, 2001-2005)

Về chủ đề nguồn nhân lực, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực Triết học, Kinh tế học, Giáo dục học, Xã hội học, Tâm lý học đã có nghiên cứu, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực cũng như đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta Các nghiên cứu về nguồn nhân lực có thể được phân chia thành nhiều hướng lớn khác nhau

Thứ nhất là hướng nghiên cứu về con người và văn hóa Hướng nghiên

cứu này có hàng loạt công trình nghiên cứu quan trọng Trước hết phải kể đến cuốn sách “Con người, văn hóa, quyền và phát triển” do Mai Quỳnh Nam làm chủ biên Đây là cuốn sách tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong lĩnh vực nghiên cứu con người và nguồn nhân lực, như Vũ Khiêu, Phạm Minh Hạc, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Thi, Mai Quỳnh Nam, Nguyễn Đình Tấn, Mai Văn Hai Ngoài hai bài viết đề xuất cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay của Vũ Khiêu “Người Việt Nam trong mối quan hệ giữa triết học, đạo đức và tôn giáo”, và của Phạm Minh Hạc “Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực: Quan niệm và chính sách”, cuốn sách được kết cấu thành ba phần Phần thứ nhất

Trang 19

12

bàn về con người và văn hóa Phần này nhấn mạnh đến nhiều chiều cạnh khác nhau của văn hóa trong sự phát triển con người Phần thứ hai có tên gọi là

“Quyền con người” Phần này phân tích nhiều chủ đề khác nhau, từ tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người cho đến văn hóa pháp luật và phát triển con người Phần thứ ba của cuốn sách được đặt tên: “Phát triển con người - Phát triển nguồn nhân lực” Đây là phần bàn đến một loạt các vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, chẳng hạn như: vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội; công bằng xã hội và phát triển bền vững con người; dân chủ và phát triển con người; vấn đề phụ nữ và giới trong phát triển nguồn nhân lực tri thức hiện nay Có thể nói rằng cuốn sách này đã mang đến nhiều phát hiện quan trọng, nhiều phân tích sâu sắc, và gợi mở nhiều vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực cho các nghiên cứu tiếp theo (Mai Quỳnh Nam - Chủ biên, 2009) [10]

Công trình nghiên cứu “Con người và văn hoá: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển” do Trịnh Thị Kim Ngọc Chủ biên là một cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của các học giả như Vũ Khiêu, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Tài Thư, Hồ

Sĩ Quỹ, Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Trần Bạt, Hoàng Trinh, vv Cuốn sách gồm hai phần Phần một tập trung phân tích mối quan hệ giữa con người và văn hoá từ góc nhìn truyền thống lẫn hiện đại Hàng loạt chủ đề về quan hệ con người và văn hóa được bàn luận sâu như: triết học Trung Quốc

về con người; mối quan hệ con người, văn hoá và nguồn nhân lực trong một

số học thuyết phương Đông cổ đại; quan điểm về con người và văn hoá của một số danh nhân dân tộc tiêu biểu, con người và văn hoá nhìn từ lý thuyết về các “làn sóng văn minh” của Alvin Toffer vv Phần hai của cuốn sách nhấn mạnh đến con người và văn hoá trong thực tiễn phát triển con người ở Việt Nam Trong phần thứ hai này, nhiều chủ đề đáng lưu ý được phân tích sâu, nhất là vấn đề nhân tố con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau của thực tiễn đời sống như thị trường lao động, di cư, bảo vệ môi trường,vv Có thể nói

Trang 20

do Dương Phú Hiệp chủ biên Công trình nghiên cứu “về phát triển văn hóa

và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã có những luận giải sâu sắc về vai trò của việc xây dựng con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Phạm Minh Hạc & Nguyễn Khoa Điềm, 2003) Công trình “Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay” do Dương Phú Hiệp là một quyển sách tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu về văn hóa và con người Cuốn sách này không nghiên cứu văn hóa, hay con người riêng rẽ mà nhấn mạnh đến phát triển văn hóa và phát triển con người, bàn đến phát triển văn hóa và phát triển con người trong bối cảnh của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế Có thể nói rằng, cuốn sách đã góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam (Dương Phú Hiệp – Chủ biên, 201) Cùng hướng nghiên cứu này, bài viết “Quan niệm mới về nền văn hóa nhân bản lấy việc xây dựng và phát triển con người làm mục tiêu cơ bản” của tác giả Thành Duy cũng đáng lưu

ý Qua bài viết này tác giả đã nhấn mạnh đến một quan niệm quan trọng về con người - con người là động lực của chủ nghĩa nhân văn (Thành Duy, 2011) [30]

Hướng nghiên cứu thứ hai là hướng nghiên cứu về nguồn lực trí tuệ

Hướng nghiên cứu này cũng có nhiều công trình mà chúng ta rất cần bàn đến Trước hết là hai công trình nghiên cứu do Nguyễn Văn Khánh làm chủ biên với tên gọi “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam” (Nguyễn Văn Khánh - Chủ biên, 2010), và “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - lịch sử, hiện trạng

Trang 21

14

và triển vọng” (Nguyễn Văn Khánh - Chủ biên, 2012) Các công trình nghiên cứu này đã làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực ở Việt Nam, như thực trạng nguồn nhân lực, kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn nhân lực Các công trình nghiên cứu cũng đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước trong thế kỷ XXI

Cùng hướng nghiên cứu với Nguyễn Văn Khánh và cộng sự là nghiên cứu của Trần Hồng Lưu với tên gọi: “Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” Qua tác phẩm này, Trần Hồng Lưu đã góp phần làm rõ vai trò của tri thức khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Không chỉ bàn

về cấu trúc của tri thức khoa học, tác giả còn phân tích vai trò quan trọng của tri thức khoa học trong đời sống xã hội và trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Đồng thời, Trần Hồng Lưu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tri thức khoa học phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay (Trần Hồng Lưu, 2010) [29] Một nghiên cứu khác theo hướng này cũng đáng lưu ý là nghiên cứu:

“Phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức” của Phạm Thành Nghị Tác giả Phạm Thành Nghị cho rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập quốc tế, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến phát triển nguồn nhân lực hiện đại để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong quá trình phát triển Đặc biệt, là chúng ta cần chuẩn bị nguồn nhân lực lao động trí tuệ, lao động quản lý Đồng thời chúng ta phải chú trọng việc tạo dựng môi trường tự do, nhằm phát huy tính sáng tạo, độc lập để các loại hình lao động trí thức có thể phát huy sức mạnh, làm thay đổi nguồn cơ cấu nhân lực, có lợi cho nền kinh tế tri thức (Phạm Thành Nghị, 2007b) [24]

Một trong những công trình nghiên cứu rất quan trọng thuộc hướng nghiên cứu này là công trình “Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt

Trang 22

15

Nam trong công nghiệp hóa” do Phạm Tất Dong (2001) làm chủ biên Cuốn sách này đã bàn đến một trong những bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực Việt Nam là đội ngũ tri thức Đồng thời, cuốn sách cũng phân tích định hướng phát triển của đội ngũ tri thức trong bối cảnh công nghiệp hóa Có thế nói rằng, việc chỉ ra định hướng phát triển đội ngũ tri thức trong bối cảnh công nghiệp hóa ở Việt Nam là điều đặc biệt quan trọng, không chỉ trong việc xây dựng chính sách về đội ngũ tri thức, và còn có ý nghĩa thiết thực trong việc phát triển và sử dụng đội ngũ quan trọng này [20]

Hướng nghiên cứu thứ ba là hướng nghiên cứu nguồn nhân lực ở các địa phương, khu vực Đối với hướng nghiên cứu này, trước hết phải kể đến cuốn

sách “Phát triển và trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội” do Vũ Hy Chương (2010) chủ biên Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng bàn

về phát triển và trọng dụng nhân tài từ lịch sử đến hiện đại của thủ đô Hà Nội Cuốn sách được kết cấu thành 6 chương Chương một là chương vai trò của khoa học và nhân tài trong quá trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội Chương hai bàn về các lĩnh vực khoa học trong quá trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội Chương ba bàn về các triều đại phong kiến đối với khoa học và nhân tài ở Thăng Long - Hà Nội Chương bốn là chương chính sách phát triển khoa học và sử dụng nhân tài thời Pháp thuộc Chương năm là chương quan điểm và chính sách trọng dụng nhân tài của Hà Nội trong thời đại Hồ Chí Minh Chương cuối cùng nói về quan điểm, chính sách và giải pháp phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài phục vụ phát triển toàn diện thủ đô thời gian tới Qua sáu chương nội dung, cuốn sách đã làm rõ chính sách, thành tựu, vai trò và kinh nghiệm phát triển khoa học của Thăng Long -

Hà Nội, cũng như vai trò của các nhà khoa học trong quá trình phát triển Thăng Long - Hà Nội Cuốn sách cũng phân tích những bài học kinh nghiệm trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng, đãi ngộ, trọng dụng nhân tài ở thủ đô trong quá khứ và hiện tại Một thành tựu

Trang 23

Bài viết “Công bằng xã hội và phát triển con người bền vững” của Phạm Thành Nghị phân tích mối quan hệ giữa công bằng, bình đẳng và phát triển con người bền vững Tác giả nhấn mạnh rằng chênh lệch lớn giữa các tầng lớp, giữa các vùng miền là nhân tố dẫn đến việc mất cơ hội phát triển của nhiều nhóm người Hệ quả là, điều này sẽ tạo nên gánh nặng của quốc gia, của cộng đồng trong tương lai Tác giả chỉ ra rằng muốn đạt mục tiêu phát triển con người bền vững thì phải: tăng cường năng lực và sức khỏe con người; tạo cơ hội tiếp nhận công bằng nguồn lợi do tăng trưởng kinh tế mang

Trang 24

17

lại; tạo cơ hội để mọi người tham gia vào việc quyết định và xây dựng các quy trình tác động tới cuộc sống của họ; và phát triển phải đảm bảo không gây tác động tiêu cực đến các thế hệ tương lai

Một nghiên cứu khác đáng lưu ý là nghiên cứu của Dương Anh Hoàng:

“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Đà Nẵng” Nghiên cứu này đã phân tích và luận giải những đặc điểm quan trọng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đà Nẵng Nghiên cứu cũng đánh giá không chỉ thành tựu mà cả những hạn chế của thực tế phát triển nguồn nhân lực ở Đà Nẵng Đồng thời tác giả cũng nêu lên những nguyên nhân của những hạn chế đó Nghiên cứu này đã đề xuất các định hướng phát triển nguồn nhân lực ở Đà Nẵng phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế (Dương Anh Hoàng, 2012) [8]

Một hướng nghiên cứu quan trọng liên quan đến chủ đề nguồn nhân lực hiện nay là nghiên cứu sự phát triển con người trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trong hướng nghiên cứu này, đáng chú ý là cuốn sách “Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam” do Dương Phú Hiệp làm chủ biên Nội dung của cuốn sách tập trung phân tích các lý thuyết

về phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh toàn cầu hóa Cuốn sách cũng thảo luận sâu về những khía cạnh đáng quan tâm như những cơ hội và thách thức trong bối cảnh tác động của toàn cầu hóa đến phát triển văn hóa và phát triển con người Cuốn sách cũng thảo luận cách ứng xử trước tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển con người và văn hóa (Dương Phú Hiệp - Chủ biên, 2010b)

Trong hướng nghiên cứu nguồn nhân lực và toàn cầu hóa, chúng ta cần

đề cập đến công trình “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Phạm Minh Hạc chủ biên Nghiên cứu này đã luận giải nhiều vấn đề quan trọng của mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghiên cứu này coi nguồn nhân lực như là

Trang 25

Có thể nói rằng, những nội dung của cuốn sách “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” cung cấp nhiều cơ sở khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu nguồn nhân lực tré ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Một hướng nghiên khác liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực là các

nghiên cứu về chất lượng dân số Trước hết phải kể đến đề tài nhánh “Điều

tra, đánh giá về những dịch vụ xã hội cơ bản có liên quan đến chất lượng dân

số ở nông thôn Việt Nam”, do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm, trong khuôn

khổ đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu một số

vấn đề liên quan đến chất lượng dân số và đề xuất những chính sách phù hợp

về dân số và PTBV” do Trần Thị Trung Chiến chủ trì Đề tài này được tiến hành trong giai đoạn 1999-2001 Đề tài đã đề xuất một số kiến nghị về định hướng chính sách nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần của người dân nông

Trang 26

19

thôn Việt Nam (Phạm Tất Dong, Dương Quốc Trọng và Nguyễn Thị Kim Hoa, 2003) [22]

Một công trình quan trọng khác về chủ đề chất lượng dân số là đề tài

nhánh “Nghiên cứu các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số” do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước

“Nghiên cứu một số yếu tố sinh học, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số và đề xuất chính sách, giải pháp phù hợp” do Trần Thị Trung Chiến làm chủ nhiệm Đề tài đã hoàn thiện bộ công cụ đánh giá chất lượng dân số gồm 9 chỉ số (3 chỉ số về thể chất, 3 chỉ số về trí tuệ và 3 chỉ số liên quan đến tinh thần), ngoài ra đề tài cũng hoàn thiện các chỉ số phát triển cộng đồng (CDI), các dịch vụ xã hội cơ bản (BSM) và một số chỉ số khác Đồng thời, đề tài đã xác định được mối tương quan và tác động giữa một số yếu tố kinh tế - xã hội và chất lượng dân số (Phạm Tất Dong, Dương Quốc Trọng, Nguyễn Thị Kim Hoa và Trần Văn Chiến, 2006) [23]

Một công trình khác trong hướng nghiên cứu này cần đề cập đến là đề

tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội “Nghiên cứu chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội" do Nguyễn Thị Kim Hoa làm chủ nhiệm Đề tài này đã

xây dựng chỉ số đo chất lượng dân số (PQI) để tính riêng cho địa bàn đô thị, đặc biệt là đô thị thành phố Hà Nội- trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị trong cả nước Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của người dân đô thị thành phố Hà Nội Trên cơ sở phân tích các yếụ tố tác động đến chất lượng dân số, đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số đô thị thành phố Hà Nội Trong nghiên cứu này, chúng ta thấy rất rõ vai trò của vốn xã hội của người dân đô thị thành phố Hà Nội trong quá trình phát triển về thể chất, trí tuệ và đời sống văn hóa tinh thần của người dân và mối quan hệ giữa vốn xã hội với các yếu tố tác động đến chất lượng dân số (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2009) [13]

Trang 27

20

Một loạt các công trình nghiên cứu đáng lưu ý khác về nguồn nhân lực

đã phân tích chủ đề này dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể như sau:

Bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc đúc kết, xây dựng

hệ giá trị chung của người Việt Nam” của Phạm Minh Hạc đã vận dụng chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh để nghiên cứu nhằm đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, theo hướng hiện đại, hội nhập Tác giả cũng nhấn mạnh việc đúc kết và xây dựng giá trị chung của người Việt rất cần thiết, nhất là đối với thanh thiếu niên

Chuyên đề “Xây dựng con người, xây dựng xã hội học tập” của Phạm Tất Dong là một công trình nghiên cứu đáng lưu ý bàn đến việc xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Qua công trình này, tác giả không chỉ bàn về xã hội học tập như là một cuộc cách mạng về giáo dục, hay giáo dục chính quy trong xã hội học tập, mà còn đi sâu phân tích vấn đề con người và nhân cách con người, cấu trúc nguồn nhân lực, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, và những yêu cầu chung của thời đại đặt ra với vấn

đề xây dựng nguồn nhân lực Dưới một góc nhìn nhất định, đây là công trình gợi mở nhiều vấn đề trong việc nghiên cứu nguồn nhân lực ở Việt Nam Bài viết “Sự phát triển của các thế hệ người Việt Nam dưới tác động của lịch sử, văn hóa đất nước” của Lê Thi cho rằng biến đổi xã hội là nhân tố quan trọng phản ánh vị thế của từng thế hệ Bối cảnh biến đổi xã hội hình thành nên các thế hệ khác nhau, với những đặc điểm riêng về suy nghĩ, hành động dưới tác động của các hệ giá trị tư tưởng khác nhau, trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, trong các giai cấp, tầng lớp xã hội lịch sử khác nhau

Vì thế, quá trình phát triển của lịch sử luôn là nhân tố làm nảy sinh những nhóm thế hệ khác nhau (Lê Thi, 2007) [17]

Bài viết “Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quàn lý cấp cơ sở

- xung quanh việc thực hiện quyền phụ nữ” của Nguyễn Đình Tấn nêu lên một số quan điểm, giải pháp để nâng cao năng lực thực hiện quyền phụ nữ

Trang 28

Đề tài “Giáo dục nghề cho sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội” do Nguyễn Hồi Loan làm chủ nhiệm chỉ ra rằng sinh viên tốt nghiệp các trường đại học hiện nay rất khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với chuyên ngành được đào tạo Kết quả khảo sát cho thấy chi có 25% sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội sau tốt nghiệp 2 năm là xin được việc làm đúng với chuyên ngành đã được đào tạo, 60% xin được việc làm có liên quan đến ngành đã được đào tạo Để khắc phục tình trạng trên, đề tài đã xây dựng mô hình đào tạo gắn kết giữa công tác đào tạo của nhà trường với các tổ chức doanh nghiệp - nơi sử dụng nguồn nhân lực - tham gia vào công tác đào tạo của nhà trường Nội dung hợp tác này được thể hiện trên các nội dung sau: Tổ chức định kỳ đối thoại một năm hai lần giữa các doanh nghiệp với sinh viên toàn trường về cơ hội việc làm, yêu cầu cần phải đáp ứng của sinh viên về kiến thức, tay nghề,

kỹ năng nghề nghiệp, ý thức kỷ luật Các khoa đào tạo đề xuất các chuyên

đề mang tính thời sự, ứng dụng cao mời các nhà doanh nghiệp vào trực tiếp giảng dạy tại nhà trường cũng như đảm nhận vai trò giáo viên hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp Doanh nghiệp tham gia phản biện các chương trình đào tạo của các khoa Xây dựng mạng lưới thực hành tại các cơ sở doanh nghiệp cũng như đội ngũ doanh nghiệp hướng dẫn thực hành Tổ chức Hội chợ việc

Trang 29

22

làm tại khuôn viên của trường với sự tham gia của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường xuyên thông báo với nhà trường về nhu cầu tuyển dụng nhân sự Với nội dung hợp tác trên, công tác đào tạo của nhà trường đã gắn kết được đào tạo với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của xã hội (Nguyễn Hồi Loan, 2010) [14]

Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về chủ đề nguồn nhân lực Tuy nhiên, những nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ thì chưa có nhiều, về hướng nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ, công trình rất đáng lưu ý là của Đặng Cảnh Khanh với tên gọi: “Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - những phân tích xã hội học” Cuốn sách này bàn đến nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số trên nhiều chiều cạnh khác nhau như thể chất, sức khỏe, học tập, lao động, đời sống văn hóa tinh thần, lối sống và nhân cách Trong nghiên cứu này, nhiều nhận xét quan trọng được tác giả đưa ra Chẳng hạn, trình độ học vấn của nguồn nhân lực trẻ ở các dân tộc thiểu số còn thấp Hoặc là, thể chất và sức khỏe của nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số đã được tăng lên đáng kể so với trước đây tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời, qua nghiên cứu này tác giả cũng nêu lên các giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số miền núi phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Đặng Cảnh Khanh, 2006) Có thể nói rằng, nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ ngoài việc còn hạn chế về số lượng thì nội dung cũng chưa phong phú Nghiên cứu của Đặng Cảnh Khanh đã có những phân tích rất ý nghĩa, nhưng mới chỉ tập trung vào nguồn nhân lực ở khu vực miền núi

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu và thực tế tình hình trong nước hiện nay đều đã khẳng định vai trò có tính chất quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đặc biệt là với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cùng chung quan điểm với nhiều nhà

Trang 30

23

khoa học trên thế giới, nội hàm của khái niệm “nguồn nhân lực” đã được nhiều tác giả xác định là "dân số trong độ tuổi lao động với khả năng lao động”, trong đó con người là mục đích chứ không phải là phương tiện của sự phát triển xã hội Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới mà các học giả nhấn mạnh là gắn liền với “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý- xã hội) nhằm đáp ứng đòi hòi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” Có thể khẳng định rằng những vấn đề do các học giả đặt ra đã thể hiện những trăn trở về chất lượng nguồn nhân lực trong nước và là những đóng góp, gợi

mở quý báu cho hướng nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ hiện nay

“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của tác giả TS Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Cuốn sách tập trung làm rõ trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, vai trò, đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ Việt Nam- bộ phận tinh hoa trong nguồn nhân lực Việt Nam thời gian qua Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN

“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, do Mai Quốc Chánh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1999 Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Vấn đề con người, nguồn nhân lực cũng là đề tài nghiên cứu của một số luận án, luận văn đáng chú ý: Luận án tiến sĩ “ Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Đoàn Văn Khái (2000); Luận án tiến sĩ “ Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Tú Oanh (1999); Luận văn thạc sĩ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong

Trang 31

24

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Vũ Thị Phương Mai (2004); Luận văn thạc sĩ “Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” của tác giả Lê Thị Mai (2005)

Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bài viết về vấn đề nguồn nhân lực và đã được đăng tải trên các Tạp chí như

“Chính sách cử tuyển- một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số” của Nguyễn Thị Mỹ Trang- Lại Thị Thu Hà, Tạp chí Dân tộc học 2005

Các bài viết trên bước đầu đề cập đến các vấn đề cấp bách hiện nay như giáo dục- đào tạo, việc làm cho người dân Nhìn chung, chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp và có hệ thống về phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum Việc nhận thức rõ hơn, đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Kon Tum là cơ sở thực tiễn quan trọng để tìm ra phương hướng, giải pháp phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực này phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH vẫn là một đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu về “Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự

nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa” có thể vận dụng một số lý luận, lý thuyết

xã hội học để nghiên cứu về sự phát triển nguồn nhân lực của tỉnh hiện nay Đánh giá

và phân tích đưa ra những luận cứ khoa học có tính xác thực nhằm phản ánh đúng thực trạng vấn đề Nghiên cứu góp phần đem lại cơ sở khoa học cho việc hoạch định những chính sách của Nhà nước về chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong giai

đoạn mới

Trang 32

25

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ kết quả nghiên cứu đạt được là cơ sở thực tiễn đáng tin cậy để các cấp lãnh đạo, các ngành của tỉnh tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Kon Tum Từ đó giúp các nhà quản lý, các cấp, các ngành, các tổ chức có cái nhìn đúng đắn, toàn diện hơn về sự phát triển nguồn nhân lực hiện nay Làm rõ những thuận lợi và những hạn chế còn tồn tại trong sự phát triển nguồn nhân lực

Đưa ra những đề xuất khuyến nghị và những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ổn định và bền vững trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả được thực trạng phát triển nhân lực và phân tích, làm rõ những

điều kiện phát triển nhân lực của tỉnh, rút ra những thành tựu, hạn chế, thời cơ

và thách thức

Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum trong thời kỳ CNH- HĐH

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Kon Tum, làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng nguồn nhân lực

đó, đưa ra những giải pháp khả thi nhằm khắc phục những hạn chế về mặt chất lượng nguồn nhân lực, đề xuất một số phương hướng, giải pháp đào tạo nâng cao nguồn nhân lực cho phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh Kon Tum Xác định phương hướng, mục tiêu phát triển nhân lực của Tỉnh đến năm

Trang 33

quốc tế

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của luận văn

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ CNH- HĐH tại tỉnh Kon Tum

Thời gian nghiên cứu: Tháng 5/2014

Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại địa bàn phường Duy Tân, xã Đăk Cấm thuộc TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum

6 Câu hỏi nghiên cứu

Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Kon Tum hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Kon Tum hiện nay?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Chất lượng nguồn nhân lực hiện nay của tỉnh Kon Tum đã có những bước phát triển, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực

Trang 34

27

đã tăng lên thể hiện ở khả năng sáng tạo, thích ứng của người lao động Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn tại địa phương

Những yếu tố như chính sách đào tạo nâng cao năng lực, kỹ năng của người lao động, cơ chế quản lý, thu hút nguồn nhân lực và những chính sách đãi ngộ đối với người lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần có những chính sách đào tạo, dạy nghề phù hợp với từng đối tượng tại địa phương Mở rộng và phát triển thị trường lao động, đặc biệt là thông tin về tuyển dụng lao động Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phân tích tài liệu

Phân tích các tài liệu, các nghiên cứu về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, về chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH - HĐH Những báo cáo khoa học, bài viết trên các tạp chí khoa học xã hội, các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nguồn tư liệu phục vụ đề tài bao gồm các tư liệu, tài liệu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nội vụ tỉnh Kon Tum; Cục thống kê tỉnh Kon Tum và của các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước khác

8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đề tài xây dựng bộ công cụ bảng hỏi dành cho khách thể nghiên cứu là nguồn lao động trẻ, với các câu hỏi nhằm khai thác thông tin phục vụ cho việc tổng hợp số liệu nghiên cứu

Nội dung bảng hỏi gồm các thông tin:

Trang 35

Cỡ mẫu: Đề tài chọn 300 mẫu, đối tượng trong độ tuổi lao động tại

phường Duy Tân, xã Đăk Cấm thuộc TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum để thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu Số liệu từ đề tài "Đô thị hóa và quản lý

quá trình đô thị hóa trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên", mã số

TN3/X15

Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Lựa chọn phường Duy Tân và xã Đak Cấm

mỗi địa bàn 150 mẫu nghiên cứu, theo dạng mẫu ngẫu nhiên; người tham gia nghiên cứu hiện đang là người trong độ tuổi lao động (từ 18- 60 tuổi), hiện đang cư trú và làm việc tại 2 phường/xã trên

9 Khung phân tích

Điều kiện kinh tế - xã hội

* Chất lƣợng nguồn nhân lực

- Trí lực

- Thể lực

- Phẩm chất đạo đức người lao động

* Những chính sách đối với

nguồn nhân lực

- Chính sách đào tạo, dạy nghề

- Đãi ngộ, an sinh xã hội cho

nguồn nhân lực

- Giáo dục đạo đức, ý thức lao

động

Trang 36

29

Chương 1 CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực (Nguồn lực con người)

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”

Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Còn theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư

có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động,

là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong

độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động, nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy

Trang 37

30

động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…

Ở nước ta khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng tương đối rộng rãi kể

từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tuy nhiên cho đến nay mới sở mức

độ nghiên cứu, ở những góc độ, khía cạnh khác nhau

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực và phẩm chất” Tác giả Hoàng Chí Bảo quan niệm “Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người” Ngoài thể lực

và trí lực, theo tác giả “cái làm nên nguồn lực con người là kinh nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm tòi sáng tạo”

Trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: Nguồn lực con người là quý báu nhất… Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại Quan niệm này nêu lên một cách toàn diện những yếu tố cần có của

Trang 38

31

người lao động với tư cách là nguồn lao động- nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia

1.1.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa (industrialization) là quá trình biến đổi xã hội và kinh

tế từ một xã hội nông nghiệp (hay tiền công nghiệp), trong đó tích lũy tư bản trên đầu người rất thấp, lên xã hội công nghiệp Đó là một bộ phận của quá trình hiện đại hóa rộng lớn hơn Quá trình biến đổi xã hội và kinh tế đó gắn liền với quá trình đổi mới công nghệ, nhất là các cuộc cách mạng kỹ thuật

Hiện đại hóa (modernization) là một quá trình thường được hiểu là quá

trình biến đổi xã hội thông qua công nghiệp hóa, đô thị hóa và những biến đổi

xã hội khác nhằm làm thay đổi cuộc sống con người Đó là quá trình biến đổi

xã hội từ trình độ nguyên sơ lên trình độ phát triển và văn minh ngày càng cao Công nghiệp hóa là một bước đi, một giai đoạn trên con đường hiện đại hóa Thuật ngữ hiện đại hóa xuất hiện từ thời đại “Khai sáng”, với ý tưởng là bản thân con người có thể làm thay đổi và phát triển xã hội của mình Tiến bộ công nghệ và biến đổi kinh tế sẽ làm thay đổi giá trị đạo đức và văn hóa của

xã hội, sự gắn kết kinh tế - xã hội trong phát triển sẽ thúc đẩy sự tiến bộ và nâng cao năng lực của con người, đó cũng là những đặc trưng chủ yếu của quá trình biến đổi không ngừng của thế giới

1.1.1.3 Khái niệm lao động

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật và xã hội loài người và xã hội loài vật Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới

tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người Theo C Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt

Trang 39

gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn

bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người”

Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người Trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội

1.1.1.4 Khái niệm việc làm

Việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam là những hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm Ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) Theo cơ chế

đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp

Ngày nay, các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn

và khoa học hơn Điều 13, chương II Bộ luật Lao động quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Trang 40

33

Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:

Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động

và các thành viên trong gia đình

Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị

pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm

Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm

1.1.1.5 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực trong CNH- HĐH

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.v.v… của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.(Liên Hợp Quốc )

Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định

Về mặt chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: tình trạng

sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất…

1.1.2 Hệ thống các lý thuyết

1.1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng

Cho đến nay, thuyết cơ cấu chức năng vẫn có thể được coi là một trong những học thuyết lớn nhất trong xã hội học Nó được khơi nguồn từ cuối thế

kỷ XIX, thịnh hành trong suốt thế kỷ XX và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ

xã hội học hiện đại Đại diện của thuyết chức năng là: Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Talcott Parsons

Ngày đăng: 07/07/2015, 12:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Hồi Loan (2010), Giáo dục nghề cho sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội”, Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nghề cho sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Hồi Loan
Năm: 2010
17. Lê Thi (2007), Sự phát triển của các thế hệ người Việt Nam dưới tác động của lịch sử, văn hóa đất nước. Tạp chí Nghiên cứu Con người, 8-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Con người
Tác giả: Lê Thi
Năm: 2007
20. Phạm Tất Dong - Chủ biên (2001), Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong công nghiệp hóa
Tác giả: Phạm Tất Dong - Chủ biên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
24. Phạm Thành Nghị (2007b), Phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức, Tạp chỉ Nghiên cứu Con người số, 29, 20 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chỉ Nghiên cứu Con người số, 29
25. Phạm Thành Nghị (2008b), Tính chủ thể và phát triển con người vùng Tây Bắc, Tạp chí Nghiên cứu Con người, 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Con người
28. Trịnh Thị Kim Ngọc - Chủ biên (2009), Con người và văn hoá: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và văn hoá: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển
Tác giả: Trịnh Thị Kim Ngọc - Chủ biên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2009
29. Trần Hồng Lưu (2010), Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Hồng Lưu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
32. Vũ Hy Chương (2010), Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Hy Chương (2010), "Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Vũ Hy Chương
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
41. Birdsall, N., Ross, D., & Sabot, R. (1995), Inequality and Grovvth Reconsidered: Lessons from East Asia, The World Bank Economic Review, 9(3), 477-508 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Bank Economic Review
Tác giả: Birdsall, N., Ross, D., & Sabot, R
Năm: 1995
42. Byars, L., & Rue, L. (2003), Human Resource Management Boston: McGraw- Hill/Irwin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Resource Management
Tác giả: Byars, L., & Rue, L
Năm: 2003
43. Becker, G. s. ( 2010), vốn con người: Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm, liên quan đặc biệt đến giáo dục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: vốn con người: Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm, liên quan đặc biệt đến giáo dục
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
44. Coleman, J. s. (1984), Introducing Social Structure into Economic Analysis, The American Economic Review, 74(2), 84-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Economic Review, 74(2)
Tác giả: Coleman, J. s
Năm: 1984
45. Naohiro Ogawa, Gavin w. Jones, & Jeffrey G. Williamson(Editors) (1993), Human Resources in Development along the Asia-Pacifìc Rim, Singapore: Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Resources in Development along the Asia-Pacifìc Rim
Tác giả: Naohiro Ogawa, Gavin w. Jones, & Jeffrey G. Williamson(Editors)
Năm: 1993
46. UNDP. (1990), Human Development Report, New York, Oxíbrd: Oxíord University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Development Report
Tác giả: UNDP
Năm: 1990
15. Hồng Minh, 2007, Đề án dạy nghề cho nhóm yếu thế vùng đặc biệt khó khăn, TC Lao động – Xã hội, 320 Khác
16. Lê Văn Quyền, 2005, dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên DTTS tại Kon Tum, TC Lao động – Xã hội, 259 Khác
18. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum, Dự thảo QH phát triển giáo dục – đào tạo tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025 Khác
19. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum, Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn Khác
23. Phạm Tất Dong, Nguyễn Thị Kim Hoa, Dương Quốc Trọng, Trần Văn Chiến (2006), Nghiên cứu các yếu tố kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến CLDS, đề tài cấp Nhà nước nhánh I Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Quy mô dân số tỉnh Kon Tum giai đoạn 2009 - 2013 - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.1. Quy mô dân số tỉnh Kon Tum giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 53)
Bảng 2.2. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính và phân  theo thành thị, nông thôn tỉnh Kon Tum - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.2. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn tỉnh Kon Tum (Trang 54)
Bảng 2.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật nguồn nhân lực theo giới tính  tại địa bàn điều tra - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật nguồn nhân lực theo giới tính tại địa bàn điều tra (Trang 57)
Bảng 2.5. Nghề nghiệp theo giới tính của đối tượng điều tra  (Đơn vị: %; N=300) - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.5. Nghề nghiệp theo giới tính của đối tượng điều tra (Đơn vị: %; N=300) (Trang 59)
Bảng 2.6. Lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nghề nghiệp   và theo vị thế việc làm - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.6. Lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nghề nghiệp và theo vị thế việc làm (Trang 62)
Bảng 2.7. Trình độ học vấn của nguồn nhân lực theo địa bàn điều tra                                                                              (Đơn vị: %; N=300) - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.7. Trình độ học vấn của nguồn nhân lực theo địa bàn điều tra (Đơn vị: %; N=300) (Trang 63)
Bảng 2.8. Trình độ chuyên môn kỹ thuật  của nguồn nhân lực theo địa  bàn điều tra - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.8. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực theo địa bàn điều tra (Trang 64)
Bảng 2.9. Nghề nghiệp theo địa bàn điều tra - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.9. Nghề nghiệp theo địa bàn điều tra (Trang 66)
Bảng 2.10. Tiền lương, thưởng của các doanh nghiệp năm 2009 - Chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  Luận văn ThS. Xã hội học
Bảng 2.10. Tiền lương, thưởng của các doanh nghiệp năm 2009 (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w