1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

DOI MOI PHUONG PHAP DAY HOC

31 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học
Trường học Trường THPT Lương Tâm
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thường thể hiện ở hai loại công việc đan xen, kế tiếp nhau: đó là một loại công việc được thực hiện bởi HS dưới sự hướng dẫn của GV (đọc hiểu, quan sát, vẽ hình, tính toán, chứng minh, [r]

Trang 1

Chuyên Đề:

ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, DẠY HỌC THEO

CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG

A – PHẦN MỞ ĐẦU:

I LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

Hiện nay, do nhiều lí do mà việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các trường phổthông, giáo viên chưa đề cao đến việc kiểm tra đánh giá ở lĩnh vực nhận thức của học sinh Như giáo viên mớichỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của người học mà chưa chú ý đến yêu cầuthực hiện những công việc có ý nghĩa giống với những thách thức đời thường sẽ gặp sau này để xem ngườihọc hình thành kỹ năng đến mức nào Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì cái quan trọng nhất trong việc đàotạo ở THPT là dạy cách học, do vậy việc nâng cao mức độ đánh giá cần được quán triệt khi chọn nội dungđánh giá cũng như hình thức đánh giá và đặc biệt cần phải bảo đảm nguyên tắc "Kiểm tra đánh giá của giáoviên phải kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của người học và kiểm định được chính xác, khách quanthành quả học tập và mức độ đạt được mục tiêu dạy học"

Trường THPT Lương Tâm không đứng ngoài thực trạng đó Hơn ai hết, là một giáo viên TrườngTHPT trên quê hương mà mình đã sinh ra và lớn lên, tôi nhận thức rõ trách nhiệm đặt lên vai của mình Phải

có biện pháp, phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá làm động lực

để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả Vì vậy, chọn đề tài tìm ra các giải pháp đánh giá toàn diện,chính xác kết quả học tập cần sử dụng đồng bộ, có hiệu quả các hình thức kiểm tra đánh giá đúng kết quả họctập của học sinh từ đó đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên đáp ứng yêu của thực tế và đây cũng làhướng quy hoạch giáo dục trong tương lai Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích,tôi đã nghiên cứu chuyên đề: “Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, dạyhọc theo chuẩn kiến thức kĩ năng ở trường THPT Lương Tâm”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Qua việc nghiên cứu nhằm có thể tìm ra một cách kiểm tra, đánh giá chính xác có hiệu quả và có thểlựa chọn cho mình một cách dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh Từ đó có thể góp phần nhỏ bé vào củamình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

 Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực đổi mới phương pháp dạy học.

 Đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Vì thời gian quá ngắn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu ở Trường THPT Lương Tâm, nơi tôi đang công tác

V ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực đổi mới phương pháp dạy học, dạy học theo chuẩn KTKN

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

+ Nghiên cứu các Văn kiện Đại hội Đảng, Hiến pháp, Luật Giáo dục, Điều lệ trường trung học, Hướng dẫnthực hiện chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục, Sở GD - ĐT Hậu Giang, trường THPT Lương Tâm

+ Nghiên cứu tài liệu chuẩn KTKN, tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn KTKN của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo+ Giáo trình, sách của các nhà khoa học

+ Tài liệu, Tạp chí

+ Sử dụng internet,…

 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Quan sát, đàm thoại, trao đổi, quan sát,

+ Tổng kết kinh nghiệm giảng dạy

B – NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ:

I ĐỔI MỚI TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ:

Trang 2

1 PHẦN MỞ ĐẦU:

Ta đã biết, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học từ trướcđến nay Vấn đề đặt ra là tại sao cần phải đổi mới kiểm tra đánh giá?

Theo quan điểm mới: Kiểm tra đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu điều chỉnh quá trình dạy và học,

là động lực để đổi mới PPDH của GV và đổi mới phương pháp học của HS, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Kiểm tra đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của HS, phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của học sinh,

khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vào tình huống thực tế, làm bộc lộ những

cảm xúc, thái độ của HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Nhưng

thực tế kiểm tra đánh giá của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu này:

 Kiểm tra miệng còn thực hiện máy móc, nội dung kiểm tra chủ yếu nhắc lại kiến thức của bài cũ.

Cũng chính vì điều này học sinh có thói quen học bài thuộc lòng

 Còn kiểm tra 15 phút thực tế GV thường sử dụng với mục đích chính là thực hiện theo qui định của

kế hoạch dạy học để lấy cho đủ số cột điểm quy định, nên tác dụng của loại bài này chưa phát huy đầy đủ.

 Ở dạng bài kiểm tra 1 tiết cũng vậy, tuy được thực hiện khá đầy đủ và có ý thức trách nhiệm, nhưng

nội dung kiểm tra không đảm bảo được số lượng và chất lượng Về nội dung, gần đây GV đã quan tâm đánh

giá kĩ năng, nhưng chưa thường xuyên GV thường chỉ kiểm tra một vài nội dung cho là quan trọng, học sinh có thể đoán, sau đó học tủ…

2 NGUYÊN NHÂN:

Một số nhà giáo dục nêu một vài hạn chế về đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT hiện nay, cầnđiều chỉnh để đáp ứng mục tiêu mới của giáo dục THPT như sau:

- Nội dung đánh giá: Thiên về đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức, quá coi trọng lí thuyết

và chưa quan tâm đúng mức đến việc đánh giá sự thông hiểu, vận dụng kiến thức trong giải quyết vấn đề vàthực hành

- Cách đánh giá: Chỉ chú trọng đánh giá bằng điểm số mà thiếu nhận xét cụ thể Chưa chú trọng đánhgiá từng cá thể HS

- Công cụ đánh giá: Các đề kiểm tra và thi hiện nay chủ yếu là đề kiểm tra viết Nhiều bài kiểm tra

chủ yếu gồm một số câu tự luận, do đó thiếu khách quan (vì đánh giá phụ thuộc vào người chấm) và khôngthể bao quát những kiến thức, kỷ năng cơ bản của từng giai đoạn học tập Các đề kiểm tra chưa góp phần phân loại học lực của học sinh một cách rõ nét.

- Người đánh giá: GV giữ độc quyền về đánh giá, HS là đối tượng được đánh giá

- Việc sử dụng kết quả đánh giá: còn hạn chế, hầu hết nhà trường chỉ dùng kết quả điểm số để phân

loại học lực của học sinh và để xét thi đua

3 BIỆN PHÁP:

Để đáp ứng được mục tiêu mới của giáo dục nói chung và giáo dục THPT nói riêng là tạo ra nhữngcon người chủ động, sáng tạo, thích ứng với yêu cầu CNH, HĐH đất nước, cũng như hòa nhập lao động khuvực và thế giới, việc đánh giá phải đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ trên những mặt sau:

- Đổi mới mục đích đánh giá: Cung cấp thông tin quan trọng và chính xác về quá trình học tập môn

toán cho HS, cũng như quá trình dạy môn toán trong trường THPT cho GV, cho Ban giám hiệu của trườngTHPT, cho cán bộ quản lý bộ môn của sở; để từ những thông tin căn bản này rút ra được những quyết địnhđúng đắn và kịp thời tác động đến việc dạy học môn toán nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS

Trang 3

- Đổi mới nội dung đánh giá: phải bao quát đầy đủ những nội dung đã học Đề kiểm tra không chỉ

thể hiện đủ các kiến thức kĩ năng mà còn phải thể hiện đúng mức độ, bảo đảm sự phân hóa trình độ của HS

Đề phải phù hợp với chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng, sát với trình độ HS

- Đổi mới cách đánh giá: Cùng với cách đánh giá bằng điểm số, phải cũng chú trọng đến việc đánh giá bằng lời nhận xét cụ thể Khắc phục thói quen chấm bài ít cho những lời phê chỉ rõ ưu khuyết điểm của

học sinh khi làm bài, thói quen ít hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học

của mình.

Thực hiện đối tượng được đánh giá bởi cá nhân, tập thể, thầy giáo và bạn bè Thông tin đánh giá đưa

ra ở hình thức chấm điểm, ở hình thức đối thoại thầy trò, trò với bạn bè Không chỉ ở giờ trên lớp mà còn ởcác hội thi, ở các xêmina, thực hành ngoài trời

- Đổi mới công cụ đánh giá: Môn toán THPT sử dụng chủ yếu các loại công cụ đánh giá sau: Đề kiểm

tra viết trong đó sử dụng các câu hỏi TNKQ và TL, vở bài tập, sơ đồ, bảng biểu, mô hình, đề cương, chuyên

đề xêmina, thực hành giải toán trên MT, thực hành đo đạc ngoài trời,…

4 KINH NGHIỆM THỰC TẾ:

4.1.Về kiểm tra miệng: Có thể tiến hành trong các cách sau:

4.1.1 Kiểm tra vào đầu tiết học:

+ GV ra bài tập, gọi 1 HS lên bảng làm và cả lớp cùng làm trên giấy, sau đó GV có thể thu bàilàm của một vài em để chấm Cuối cùng cả lớp tham gia nhận xét bài làm trên bảng

+ GV dò bài cá nhân, cho làm bài tập áp dụng trên bảng và kiểm tra vở bài tập ở nhà, kết hợp

cả 2 để nhận xét đánh giá cho điểm

+ Tiết sửa bài tập Gọi học sinh làm bài tập trên bảng, kiểm tra vở bài tập, kết hợp cả 2 để nhậnxét đánh giá cho điểm

+ Nếu cần kiểm tra nhiều công thức cùng lúc cho nhiều HS để xem việc học bài ở nhà như thếnào Ta cần qui định từng nhóm công thức cho HS học và sẽ kiểm tra cùng lúc cho nhiều HS bằng cách trả lờitrên giấy khi nghe GV yêu cầu trả lời nhóm công thức nào trong thời gian nhất định Sau đó GV thu và chấm

4.1.2 Kiểm tra trong quá trình dạy bài mới:

+ Trong quá trình dạy có những câu hỏi cần HS tư duy trả lời, nếu các em xung phong trả lờiđúng, GV nhận xét, đánh giá cho điểm

4.1.3 Kiểm tra thông qua một số hoạt động khác:

+ Kiểm tra thông qua công việc giao về nhà như: Làm đồ dùng trực quan, soạn kiến thức ônchương, soạn một số bài tập liên quan đến một chủ đề nào đó, giải một số bài tập nâng cao mà GV chothêm…

+ Thông qua hoạt động ngoại khóa môn toán ở lớp hoặc ở trường+ Thông qua thực hành giải toán nhanh trên MT, thực hành đo đạc thực tế

Điểm kiểm tra miệng ta có thể cho nhiều cột, sau đó lấy điểm trung bình các cột để ghi vào sổ chính.

4.2 Kiểm tra 15’:

+ Nội dung kiểm tra áp dụng kiến thức của bài mới vừa học+ Hình thức kiểm tra có thể tự luận hoàn toàn hoặc trắc nghiệm khách quan hoàn toàn+ Mức độ đề: Phải có một ý tưởng vận dụng nào đó (khoảng 1 điểm đến 2 điểm) để kiểm trakhả năng vận dụng của các em, vì thông thường dạng bài này GV hay cho tương tự như ví dụ hay bài tập vừalàm

4.3 Kiểm tra một tiết:

+ Nội dung kiểm tra: Kiến thức phải dàn trãi cả chương cần kiểm tra + Mức độ đề: Phải ra đề theo ma trận hai chiều đã thảo luận thống nhất cả tổ chuyên môn Câu

hỏi phải phù hợp với yêu cầu tư duy: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao

Trang 4

Kiến thức kĩ năng phải dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng của bộ và phù hợp đối tượng học sinhđang kiểm tra.

+ Hình thức kiểm tra: Trắc nghiệm khách quan 3 điểm, tự luận 7 điểm

Phải có trắc nghiệm khách quan để kiểm tra kiến thức được rộng hơn Hạn chế ra mỗi câu TNKQ làmột bài toán nhỏ làm mất nhiều thời gian của HS Chỉ có điều cách tổ chức kết hợp như thế này cũng khó chokhâu phân phối đề như thế nào là hợp lý nhất để HS có điều kiện làm bài tốt nhất, hơn nữa một số đề ra quánặng so với thời lượng làm trong 45’ vì mỗi câu TNKQ đều là một bài toán nhỏ

+ Cách tổ chức kiểm tra: Nếu được nên kiểm tra tập trung toàn khối một đề, để qua đó GVnắm được tình hình học tập của lớp mình so với các lớp khác mà có biện pháp giáo dục kịp thời và ban giámhiệu nắm được tình hình học tập chung của khối mà có biện pháp chỉ đạo

4.4 Khi chấm bài: GV phải cho điểm chi tiết từng câu, phải sửa sai cho học sinh những chổ nhầm lẫn hoặcsai sót nhỏ, phải có nhận xét chỉ rõ ưu khuyết điểm của HS qua bài làm, nên có lời động viên để HS khôngnản lòng

4.5 Chấm trả bài phải kịp thời: Bài 15’ thời gian chấm trong 1 tuần, bài 45’ thời gian chấm trong 2 tuần, nếutrả bài trể không sửa sai kịp thời cho HS, thậm chí HS không còn nhớ vì sao mình sai, GV sửa bài không còntác dụng vì HS quên mất kiến thức làm bài đó rồi, hơn nửa GV không nắm được sự phản hồi từ phía HS đểđiều chỉnh PPGD kịp thời Khi trả bài nên dành một tiết tự chọn để sửa bài kiểm tra cho cả lớp và chỉ ra một

số thiếu sót của HS qua bài vừa làm Phân tích tìm lý do vì sao HS chưa làm tốt, tìm cách giúp HS nâng caokết quả cho lần sau

5 ĐỀ NGHỊ:

+ Một số GV đề nghị: Việc kiểm tra đánh giá cần khách quan, chính xác và công bằng Có thể đánhgiá cả quá trình học và sự tiến bộ của HS, chứ không chỉ dựa vào kết quả của bài kiểm tra Chẳng hạn HS phátbiểu xây dựng bài sôi nổi, có ý kiến hay, làm được bài tập khó… GV có thể cộng điểm vào các bài kiểm tra15’, 45’ để tạo động lực học toán cho HS

II ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:

- Những yêu cầu quan trọng trong đổi mới PPDH là:

+ Phát huy tính tích cực, hứng thú học tập của HS và vai trò chủ đạo của GV;

+ Thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của GV và HS, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý,tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề quá tải (nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới); bồidưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc khôngnắm vững bản chất;

+ Tăng cường ứng dụng CNTT trong dạy học, khuyến khích sử dụng hợp lý CNTT, sử dụng các PTnghe nhìn, thực hiện đầy đủ bài thực hành, liên hệ thực tế trong giảng dạy phù hợp với nội dung từng bài học;+ GV sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu, tác phong thân thiện, khuyến khích,động viên HS học tập, tổ chức hợp lý cho HS làm việc cá nhân và theo nhóm;

+ Dạy học sát đối tượng, coi trọng bồi dưỡng HS khá giỏi và giúp đỡ HS học lực yếu kém

1 Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở trường Trung học phổ thông:

1.1 Phương pháp vấn đáp

Vấn đáp ( đàm thoại ) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

Trang 5

- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.

- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn

- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữatrò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sựtìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, họcsinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy

1.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo

Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau

- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

o Tạo tình huống có vấn đề;

o Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;

o Phát hiện vấn đề cần giải quyết

- Giải quyết vấn đề đặt ra

o Đề xuất cách giải quyết;

o Lập kế hoạch giải quyết;

o Thực hiện kế hoạch giải quyết

- Kết luận:

o Thảo luận kết quả và đánh giá;

o Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;

o Phát biểu kết luận;

o Đề xuất vấn đề mới

Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

+ Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh

+ Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

+ Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện và xác định vấn

đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

+ Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

Các mức Đặt vấn đề Nêu giả thuyết Lập kế hoạch Giải quyết

Trang 6

1.3 Phương pháp hoạt động nhóm

Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp

Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

- Phân công trong nhóm

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm

- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

· Tổng kết trước lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

- Thảo luận chung

- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còngọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động.Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới

1.4 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giảđịnh

Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau :

- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị – xã hội

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

Cách tiến hành có thể như sau :

o Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai

o Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

o Các nhóm lên đóng vai

o Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai

- Vì sao em lại ứng xử như vậy ?

Trang 7

- Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử ? Khi nhận được cách ứng xử ( đúng hoặc sai )

o Lớp thảo luận, nhận xét : Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp ? Chưa phù hợp ở điểm nào ? Vì sao ?

o Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống

v Những điều cần lưu ý khi sử dụng :

o Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại

o Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

o Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề

o Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia

o Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai

o Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

o Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

o Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

o Phân loại ý kiến

o Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý

1.6 Lược đồ tư duy

1.6.1 Khái niệm:

Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những

ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thểđược viết trên giấy, trên bảng trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

1.6.2 Cách làm:

• Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề

• Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nộidung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh

• Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữtrên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

• Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

1.6.3 Ứng dụng của lược đồ tư duy:

Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

• Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;

• Trình bày tổng quan một chủ đề;

• Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;

• Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;

• Ghi chép khi nghe bài giảng

1.6.4 Ưu điểm của lược đồ tư duy:

• Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;

• Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;

• Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;

• HS được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng

1.7 Sử dụng phần mềm hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học:

Powerpoint với rất nhiều ưu điểm và tính năng mạnh mẽ, linh hoạt đã trở thành phần mềm trình chiếu được GV sử dụng nhiều trong giảng dạy môn Toán Là phần mềm trình diễn, do đó

Powerpoint phải cần đến các phần mềm hỗ trợ khác, như Cabri, Geometer Sketchpad, Geogebra Trong phần này chúng ta sẽ lần lượt tiếp cận về cách nhúng, chèn vào bài giảng các dữ liệu được xây dựng từ các phần mềm Cabri II Plus, Cabri 3D, Geometer Sketchpad và Geogebra

Trang 8

1.7.1 Nhúng (Tích hợp) Cabri II Plus trong Powerpoint

Để có thể nhúng Cabri II Plus trong Powerpoint, ta cần thực hiện các bước sau:

Trước hết ta cần tải phần mềm Cabri II Plus Plugin, từ Website chính thức có địa chỉ www.cabri.com Sau

khi tải, ta tiến hành cài đặt phần mềm này, chỉ cần nhấp chuột và thực hiện đúng chỉ dẫn

Công việc của ta liên quan đến các slide Powerpoint và các tệp dạng *.fig của Cabri Trước hết ta tạo một thư mục và để tệp *.ppt và tệp *.fig vào cùng thư mục vừa tạo, việc này giúp chúng ta khi chèn sẽ dễ dàng tìmđược các tệp Cabri cần thiết

Thực hiện lệnh Insert => Object trong Powerpoint xuất hiện cửa sổ chọn đối tượng nhúng có dạng như

Trang 9

Sau khi nhấn chuột lên lệnh Insert sẽ xuất hiện cửa sổ để tìm tệp *.fig cần chèn

Khi cửa sổ này xuất hiện ta tìm thư mục chứa tệp *.fig cần chèn Sau khi tìm thấy ta nhấn nút Open, khi

đó trong slide của Powerpoint sẽ xuất hiện hình ảnh của tệp *.fig chính xác như khi tệp này nằm trong cửa

sổ làm việc của Cabri II Plus

Phần mềm Cabri II Plus Plugin là phần mềm hỗ trợ, cho phép ta đã tích hợp được Cabri II Plus trong Powerpoint Điều này có nghĩa rằng tệp *.fig nhúng vào trong Powerpoint sẽ làm việc hệt như trên cửa sổ của Cabri II Plus

1.7.2 Nhúng (tích hợp) Cabri 3D trong Powerpoint

Trang 10

Để có thể nhúng Cabri 3D trong Powerpoint, trước hết cần tải phần mềm Cabri 3D Plus Plug-in từ

Website chính thức có địa chỉ www.cabri.com Sau khi tải, ta tiến hành cài đặt, chỉ cần nhấp chuột và thực hiện đúng chỉ dẫn

Công việc của ta liên quan đến các slide Powerpoint và các tệp dạng *.cg3 của Cabri Trước hết ta tạo một thư mục và để tệp *.ppt và tệp *.cg3 vào cùng thư mục vừa tạo, việc này cho phép chèn dễ dàng các tệp Cabri cần thiết tìm được

Thực hiện lệnh Insert => Object trong Powerpoint xuất hiện cửa sổ chon đối tượng nhúng có dạng như

Trang 11

Sau khi nhấn chuột lên lệnh Insert sẽ xuất hiện cửa sổ để tìm tệp *.fig cần chèn

Khi cửa số này xuất hiện chúng ta tìm thư mục chứa tệp *.cg3 cần chèn Sau khi tìm thấy ta nhấn nút

Open, khi đó trong slide của Powerpoint sẽ xuất hiện hình ảnh của tệp *.cg3 chính xác như khi tệp này

nằm trong cửa sổ làm việc của Cabri 3D

Phần mềm Cabri 3D Plugin là phần mềm hỗ trợ, cho phép ta đã tích hợp được Cabri 3D trong

Powerpoint Điều này có nghĩa rằng tệp *.cg3 nhúng vào trong Powerpoint sẽ làm việc hệt như trên cửa sổcủa Cabri 3D

1.7.3 Chèn Web browser vào slide của Powerpoint bằng Control “Microsoft Web Browser”

Trang 12

Phần lớn các phần mềm dùng để tạo các bài giảng Toán học như Geometer Sketchpad, Maple,

Geogebra… đều có chức năng kết xuất tệp thành các tệp HTML (HTM) Như vậy các bài giảng có thể đưa lên website một cách hết sức dễ dàng, nhanh chóng Các tệp được tạo ra bởi các phần mềm toán học này tất nhiên cũng có thể chèn vào Powerpoint, một công cụ trình diễn mạnh mẽ Để chèn các trang HTML (HTM) chứa nội dung bài giảng vào slide của Powerpoint bằng đối tượng Web browser đã tích hợp sẵn vào của Microsoft trong Powerpoint chúng ta thực hiện theo các bước sau:

Trước hết phải cài đặt Plugin OfficeOne: PowerPoint Web Browser Assistant (PPWBA11.exe) Chúng ta

lên Internet vào Google Search để tìm kiếm Plugin này, sau khi tải tệp này về, nhấy đúp vào tệp để tiến hành

cài đặt

Làm theo hướng dẫn trong quá trình thực hiện cài đặt Plugin, thực chất việc cài đặt này không phức tạp Saukhi cài đặt xong chúng ta tiếp tục thực hiện các bước sau

Khởi tạo Microsoft PowerPoint, vào menu Tools => Add-In

Nếu khi vào đến cửa sổ “Add-In” liệt kê các Plugin, nếu ta chưa nhìn thấy Plugin PPWBA thì cần tiếp tục tiến hành như sau để Add Plugin vào Nhấn nút “Add New” đi tiếp theo đường dẫn C => Program Files =>

OfficeOne => PowerPoint Web Browser Assistant => Chọn PPWBA.ppa nhấn OK

Hoặc đơn giản hơn, sau khi chúng ta nhấn nút Add New cửa sổ Add-In của Powerpoint hiện ra

Trang 13

Khi đó, ta chỉ cần nhấp chuột vào tệp PowerPoint Web Browser Assistant Như vậy quá trình cài đặt Plugin PPWBA kết thúc, lúc này ta nhìn thấy cửa sổ Add-In của Powerpoint có hình như sau

Ta Check vào ô vuông nhỏ để chọn Plugin Công việc chuẩn bị đã hoàn tất, tiếp theo chúng ta thực hiện từng bước chèn HTML (HTM) theo trình tự sau:

Sau khi ta chọn Wiev => Toolbars => Control Toolbox trên cửa sổ Powerpoint xuất hiện Menu Control Toolbox Trên Control Toolbox chọn More Controls Khi đó, ta tiếp tục nhìn thấy một cửa sổ khác, trong

cửa sổ này có rất nhiều Control tuy nhiên chúng ta đang quan tâm đến việc chèn HTML (HTM) trong

Powerpoint nên chúng ta sẽ duyệt các Controls và chọn Microsoft Web Browser

Lúc này con chuột biến đổi thanh hình đấu +, chúng ta vẽ một hình chữ nhật trên slide (Đối tượng Web Browser) đây sẽ là nơi hiển thị tệp HTML (HTM)

Trang 14

Tiếp tục nháy đúp vào đối tượng Web Browser, xuất hiện cửa sổ Microsoft Visual Basic

Lúc này phải viết các dòng lệnh vào giữa 2 dòng này để báo cho Powerpoint biết là ta sẽ chèn tệp nào vào Web Browser nêu trên Ví dụ:

Một điều ta có thể dễ dàng thấy là việc chèn bằng công cụ này hơi phức tạp, nó đòi hỏi phải biết ít nhiều vềMacro hoặc Visual Basic for Application (VBA) Hơn nữa (theo kinh nghiệm của chúng tôi), các tệp

HTML(HTM) được chèn bằng phương pháp này thường chạy chậm Đôi khi ta phải quay đi quay lại các slide khi trình chiếu thì chúng mới hiển thị được

Để khắc phục nhược điểm trên sau đây ta tiếp tục tìm hiểu thêm cách chèn Web Browser bằng Add-in

1.7.4 Chèn Slide chứa Web Browser vào Powerpoint bằng Add-in “LiveWeb”

Để chèn Add-in “LiveWeb” vào Powerpoint, trước hết ta phải download từ Internet phần mềm LiveWeb

Lên Internet vào Google Search và gõ LiveWeb Google sẽ cho ta biết download phần mềm dưới dạng setup có tên “lwsetup.exe”ở đâu Nhớ rằng phần mềm này hoàn toàn miễn phí.

Sau khi lấy được tệp này về, ta tắt Powerpoint nếu đang chạy phần mềm này, nháy đúp vào tệp và thực hiện theo chỉ dẫn của phần mềm

Trang 15

Trong thực tế phần mềm Add-in này rất dễ cài đặt, chỉ cần nhấp chuột và thực hiện theo chỉ dẫn là chúng tađã cài đặt xong.

Bây giờ cho chạy Powerpoint và kiểm tra xem Add-in LiveWeb đã được chèn vào Powerpoint chưa

Chọn Tools => Add-In

Chúng ta nhận thấy Add-in LiveWeb đã được chèn vào Powerpoint và được chọn (Dấu chọn) Nhấn nút Close để chuẩn bị thực hiện các bước chèn HTML (HTM) vào Powerpoint

Chọn Insert => Web Pages Thực chất ở đây ta chèn một slide có chứa Web Browser vào Powerpoint cho

nên chúng ta hiểu tại sao lại là chèn một Web pages vào Powerpoint

Sau khi chọn chèn Web pages ta sẽ thực hiện theo hướng dẫn của Add-in này

Ngày đăng: 18/05/2021, 02:39

w