Vùng nước phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia.” Về phương diện pháp lý, muốn xác định được nội thủy, lãnh hải và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TÂP LUẬT BIỂN
Câu hỏi lý thuyết.
1 Chứng minh Luật Biển là một ngành độc lập của hệ thống luật biển Luật quốc tế?
- Về phương diện pháp lý, luật biển quốc tế là một ngành độc lập của hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế
do các chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của Luật quốc
tế trong quá trình khai thác, sử dụng và quản lý biển
2 Nguồn của Luật Biển quốc tế?
Là một ngành độc lập của luật quốc tế, luật biển quốc tế cũng có hệ thống nguồn luật bao gồm các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế về biển Ngoài ra các học thuyết,các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ về biển và đặc biệt là thực tiễn giải quyết các tranh chấp về biển của Tòa án Công lý quốc tế đã tạo ra một số án lệ rất quan trọng góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nguồn của luật biển quốc tế
Ngoài ra, các hành vi đơn phương của quốc gia, các nghị quyết xét xử của Tòa án Công lý quốc tế, các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ và các học thuyết về biển là những phương tiện bổ trợ đóng vai trò là nguồn gốc hình thành các quy phạm của luật biển quốc tế hoặc giải thích, làm sáng tỏ các vấn đề pháp
lý về luật biển quốc tế
3 Trình bày cách xác định đường cơ sở theo CULB 1982 Liên hệ với việc xác định đường cơ sở của Việt Nam
Khoản 1, Điều 8 Công ước 1982 định nghĩa nội thủy là: “ Vùng nước phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia.”
Về phương diện pháp lý, muốn xác định được nội thủy, lãnh hải và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia trên biển khi quốc gia không đối diện hoặc tiếp giáp với quốc gia khác, trước tiên quốc gia đó phải xác định đường cơ sở
Công ước 1982 không có định nghĩa cụ thể về đường cơ sở Tuy nhiên, nghiên cứu tổng thể Công ước 1982 ta thấy có nhiều điều luật quy định các nội dung liên quan đến đường cơ sở Điều 3 Công ước 1982 : “Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước.” Điều 5 và Điều 7 Công ước
1982 quy định các thức xác định đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng
như sau: “Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo
bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận.” (Điều 5) “Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc
Trang 2nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường
cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.” (Khoản 1, điều 7)
Khi xác định đường cơ sở của quốc gia quần đảo các quốc gia quần đảo phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 47 Công ước 1982
4 So sánh tính chất chủ quyền quốc gia đối với nội thủy và lãnh hải?
Giống nhau:
- Nội thủy và lãnh hải đều là thuộc chủ quyền lãnh thổ quốc gia
- Đều phải tuân theo luật biển quốc tế
- Đều phải tuân theo pháp luật quốc gia
Khác nhau:
Chủ quyền - Có chủ quyền hoàn toàn
đầy đủ tuyệt đối Tàu thuyền nước ngoài vào phải xin phép trước
- Có chủ quyền hoàn toàn đầy đủ Khi vào lãnh hải không phải xin phép trước
Và có thể qua lại vô hại
Có thể khẳng định rằng, điểm khác biệt cơ bản về chủ quyền của quốc gia ven
biển đối lãnh hải so với nội thủy chính là ở chỗ trên lãnh hải quyền “đi qua không gây hại” của tàu thuyền nước ngoài được thừa nhận, được quy định tại Điều 17 Công ước 1982 Thuật ngữ “đi qua không gây hại” đã được cụ thể hóa
tại Điều 18 và Điều 19 của Công ước 1982
5 Đảo và chế độ pháp lý của đảo?
Khái niệm:
Đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước
Chế độ pháp lý:
Đảo xa bờ là một bộ phận lãnh thổ vùng đất của quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia
– Đảo có đường cơ sở riêng
– Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của đảo được hoạch định như lãnh thổ đất liền
– Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa Quy chế pháp lý của đảo được quy định tại điều 121 của Công ước Luật biển
1982 của Liên Hợp Quốc (UNCLOS 1982) như sau:
Trang 31 Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước
2 Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền
về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác
3 Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.
Về nguyên tắc, UNCLOS 1982 thừa nhận đảo có địa vị pháp lý ngang bằng với đất liền khi tính tới hiệu lực của các vùng biển bao quanh nó Tuy nhiên, do sự đa dạng của đảo về diện tích cũng như vị trí của đảo so với đất liền, điều 121 đã dự liệu địa vị ngang bằng của đảo với đất liền chỉ có được khi đảo có khả năng cho việc cư trú của con người hoặc có đời sống kinh tế riêng Tức là, trong hai điều kiện này, đảo chỉ cần thỏa mãn được một trong hai Như vậy, điều 121 đã được quy định với mục đích là không tạo ra những lợi thế bất công bằng của đảo so với đất liền khi tạo ra các vùng biển bao quanh
6 Chế độ pháp lý của vùng nước quần đảo?
Khái niệm:
Vùng nước quần đảo là vùng biển nằm bên trong của đường cơ sở quần đảo dùng
để tính chiều rộng lãnh hải do quốc gia quần đảo ấn định
Chế độ pháp lý:
Điều 49 UNCLOS 1982 quy định về chế độ pháp lý của các vùng nước quần đảo
và vùng trời ở trên cũng như đáy biển tương ứng và lòng đất dưới đáy biển đó:
1 Chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước ở phía trong đường
cơ sở quần đảo được vạch ra theo đúng Điều 47, được gọi là vùng nước quần đảo (eaux archipélagiques), bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ của chúng thế nào
2 Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên vùng nước quần đảo, cũng như đến đáy vùng nước đó và lòng đất tương ứng và đến các tài nguyên ở đó
3 Chủ quyền này được thực hiện theo các điều kiện nêu trong phần này
4 Chế độ đi qua vùng nước quần đảo do phần này quy định không đụng chạm về bất kỳ một phương diện nào khác đến chế độ pháp lý của vùng nước quần đảo, kể
cả các đường hàng hải, đến việc quốc gia quần đảo thực hiện chủ quyền của mình ở vùng nước đó, ở vùng trời phía trên, đáy nước vùng đó và lòng đất tương ứng cũng như đối với các tài nguyên ở đó.
7 Tàu biển là gì? Phân loại tàu biển?
Khái niệm tàu biển:
Theo Công ước của Liên hợp quốc về điều kiện đăng ký tàu biển năm 1986 thì:
“Tàu biển có nghĩa là bất cứ con tàu nào được sử dụng trong hoạt động kinh doanh trên biển quốc tế để chuyên chở hàng hóa, hành khách hay cả hàng hóa và hành khách, ngoại trừ những con tàu có trọng tải dưới 500 G.T” Theo Quy tắc
Trang 4Hague-Visby (về vận chuyển hàng hóa theo vận đơn) thì: “Tàu biển có nghĩa là bất cứ con tàu nào sử dụng để vận chuyển hàng hóa trên biển” Định nghĩa tàu
biển theo các công ước quốc tế nói trên rất rộng, theo đó tàu biển không chỉ bao gồm tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng để hoạt động trên biển mà còn là tất cả các công trình, thiết bị trên biển, các kết cấu có khả năng hàng hải Căn cứ vào chế độ pháp lý, tàu biển được phân thành hai loại: tàu quân sự (bao gồm tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại) và tàu dân sự (bao gồm tàu nhà nước sử dụng vào mục đích thương mại và tàu buôn của
tư nhân)
8 Tại sao các tàu nước ngoài khi vào nội thủy của quốc gia ven biển bắt buộc phải dùng hoa tiêu?
Về Nguyên tắc, tất cả những quy định, thủ tục, điều kiện ra vào, hoạt động trong vùng nội thủy quốc gia ven biển đối với tàu quân sự được áp dụng đối với tàu dân sự Các tàu dân sự nước ngoài khi vào nội thủy để đến một cảng của quốc gia ven biển thường phải đến một địa điểm quy định để làm thủ tục an ninh, y
tế , hải quan và sau khi hoàn tất thì mới được phép vào cảng biển theo sự hướng dẫn của hoa tiêu Việc sử dụng hoa tiêu của nước ven biển là một điều kiện bắt buộc đối với tàu thuyền nước ngoài khi vào cảng, nhằm nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, tăng thu nhập và bảo đảm sự an toàn cho phương tiện đó
9 Việc tàu nước ngoài phải xin phép khi vào nội thủy của Việt Nam được quy định như thế nào?
Nội thủy là một bộ phận lãnh thổ quốc gia,do vậy, tại các vùng nước nội thủy, quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối Do quốc gia có quyền hoàn toàn và tuyệt đối cho nên tất cả mọi hoạt động ra vào, qua lại vùng nội thủy của tàu thuyền nước ngoài đều phải thực hiện chế độ xin phép
Chính phủ ta đã ban hành Nghị định số 30- CP ngày 29 tháng 1 năm 1980 về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nghị định 30- CP quy định các thủ tục
mà tàu thuyền nước ngoài phải tuân theo khi vào các vùng nội thủy và lãnh hải của Việt Nam
Theo Điều 3 Nghị định 30-CP, tàu thuyền nước ngoài khi muốn đi vào vùng biển Việt Nam phải theo các thủ tục sau đây:
a Tàu thuyền không quân sự dùng vào mục đích vận tải và buôn bán muốn vào nội thuỷ hoặc các cảng của Việt Nam phải xin phép Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ít nhất bảy ngày trước, và sau khi được phép vào, phải thông báo cho Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hai mươi bốn giờ trước khi bắt đầu đi vào lãnh hải Việt Nam.
Trang 5b Tàu thuyền không quân sự không dùng vào mục đích vận tải và buôn bán muốn vào nội thuỷ hoặc các cảng của Việt Nam phải xin phép Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua đường ngoại giao ít nhất mười lăm ngày trước, và sau khi được phép vào, phải thông báo cho Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bốn mươi tám giờ trước khi bắt đầu đi vào lãnh hải Việt Nam.
c Tàu thuyền quân sự (bao gồm cả tàu chiến và tàu bổ trợ) muốn vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam phải xin phép Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (qua đường ngoại giao) ít nhất ba mươi ngày trước, và sau khi được phép vào, phải thông báo cho các nhà đương cục quân sự Việt Nam (qua
Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) bốn mươi tám giờ trước khi bắt đầu đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam.
Nghị định 55-CP ngày 1 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã cụ thể hóa điều 4 của Nghị định 30-CP
Theo Điều 5 Nghị định 55-CP tàu quân sự nước ngoài vào cảng Việt Nam để thực hiện các chuyến thăm gồm:
1 Thăm chính thức theo lời mời của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai Nhà nước do nguyên thủ quốc gia đi bằng tàu quân sự vào cảng Việt Nam.
2 Thăm xã giao nhằm mục đích tăng cường quan hệ hữu nghị giữa nhân dân và lực lượng quân đội hai quốc gia.
3 Thăm thông thường nhằm phối hợp huấn luyện, diễn tập, cung cấp vật liệu kỹ thuật, tiếp nhiên liệu, lương thực thực phẩm hoặc cho thuỷ thủ được nghỉ ngơi.
Nghị định quy định việc xin phép vào thăm của tàu quân sự (trừ tàu thăm chính thức) thực hiện qua đường ngoại giao chậm nhất là 30 ngày trước ngày dự kiến
đi vào cảng Sauk hi được phép vào thăm, 48 giờ trước khi đi vào lãnh hải Việt Nam, thuyền trưởng tàu quân sự nước ngoài phải thông báo cho Bộ Quốc phòng (Cục đối ngoại) để tổ chức đón tiếp
10 Quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với tàu thuyền nước ngoài ở lãnh hải? So sánh quy định của CULB 1982 với Luật Biển Việt Nam 2012?
Đối với Tàu quân sự và tàu dân sự của nhà nước dùng trong lĩnh vực phi thương mại: được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối về tư pháp Quốc gia mà tàu đó mang cờ phải chịu trách nhiệm trước mọi hành vi phạm pháp và thiệt hại do chúng gây ra trong lãnh hải của quốc gia ven biển
Đối với Tàu dân sự dùng trong lĩnh vực thương mại
Về mặt hình sự (Điều 27 UNCLOS 1982)
Trang 6- Nếu chiếc tàu nước ngoài đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy của quốc gia ven biển mà vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu thì quốc gia ven biển có quyền
áp dụng mọi biện pháp bắt giữ, kiểm soát hoặc truy tố trước Tòa án của nước mình Tuy nhiên khi áp dụng các biện pháp này, quốc gia ven biển phải thông báo cho cơ quan ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà tàu đó mang cờ
- Nếu chiếc tàu nước ngoài đi qua lãnh hải của quốc gia ven biển (để vào nội thủy hoặc chỉ đi qua lãnh hải không vào nội thủy) mà vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trong khi nó đang ở trong lãnh hải thì quốc gia ven biển không có quyền thực hiện quyền tài phán của mình, trừ các trường hợp sau:
- Nếu hậu quả của việc vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển
- Nếu sự vi phạm đó có tính chất phá hoại hòa bình hay trật tự trong lãnh hải
- Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của chính quyền nước ven biển
- Nếu cần thiết để ngăn chặn các hành vi phạm tội như buôn lậu chất ma túy hoặc các chất kích thích
- Nếu chiếc tàu nước ngoài đi qua lãnh hải không vào nội thủy mà vi phạm hình
sự xảy ra trước khi con tàu vào vùng lãnh hải của quốc gia ven biển thì quốc gia ven biển không can thiệp
Về mặt dân sự (Điều 28 CULB 1982)
- Quốc gia ven biển sẽ thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối với tàu nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hoặc đang đi qua lãnh hải sau khi rời nội thủy
- Các trường hợp khác thì quốc gia ven biển không được bắt tàu đó phải dừng lại hoặc thay đổi hành trình chỉ với mục đích xét xử dân sự đối với một thành viên trên tàu đó
Luật Biển Việt Nam, Điều 31 (Khoản 1 và 2) quy định:
“1 Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được buộc tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải phải dừng lại hoặc thay đổi hành trình chỉ vì mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự đối với cá nhân đang ở trên tàu thuyền đó.
2 Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được tiến hành các biện pháp bắt giữ hay xử lý về mặt dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam, trừ nội thủy, trừ trường hợp việc thi hành các biện pháp này liên quan đến nghĩa
vụ đã cam kết hay trách nhiệm dân sự mà tàu thuyền phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển Việt Nam”
Quy định trên của Luật Biển Việt Nam phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật
Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước về Luật Biển năm 1982) Điều 28 của Công ước
nêu: quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán dân sự đối với một người ở
trên tàu nước ngoài khi nó đang đi qua lãnh hải Tại Khoản 2 của Điều này, Công ước
còn nhấn mạnh: “Quốc gia ven biển không thể áp dụng các biện pháp trừng phạt hay
biện pháp bảo đảm về mặt dân sự đối với con tàu này, nếu không phải vì những nghĩa
vụ đã cam kết hay các trách nhiệm mà con tàu phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển của quốc gia ven biển”.
Tiếp đó, Luật Biển Việt Nam, Điều 31 còn quy định:
“3 Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có thể áp dụng các biện pháp bắt giữ hay xử
lý tàu thuyền nước ngoài nhằm mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự nếu tàu
Trang 7thuyền đó đang đậu trong lãnh hải hoặc đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy của Việt Nam”
Về vấn đề này, Công ước về Luật Biển năm 1982 (Khoản 3, Điều 28) khẳng định: “…
quốc gia ven biển áp dụng các biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trong nước của quốc gia này quy định đối với một tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nội thủy” Như vậy, quy định
về Quyền tài phán dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài của Luật Biển Việt Nam là
thống nhất với Công ước về Luật Biển năm 1982
11 Cách xác định và chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải?
Theo khoản 2, Điều 33 Công ước 1982: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá
24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”.
(gt trang 362)
12 Cách xác định và chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế?
(gt trang 366)
13 Cách xác định và chế độ pháp lý của thềm lục địa?
(gt 377)
14 Khái niệm, chế độ pháp lý của Biển quốc tế?
396
15 Địa vị pháp lý và quyền tài phán đối với tàu thuyền trên biển quốc tế?
Gt 397
16 Vai trò của tàu quân sự trên biển quốc tế?
Gt 398
17 Quyền truy đuổi trên biển quốc tế: hành vi vi phạm? Địa điểm vi phạm? Phương tiện truy đuổi? Chấm dứt việc truy đuổi? Kết quả của việc truy đuổi?
Gt 399 400
18 Khái niệm và chế độ pháp lý của Vùng?
401
19 Nguyên tắc về việc phân định biển?
Phân định biển là hoạt động mang tính quốc tế, nhằm hoạch định đường biên giới biển (nội thủy, lãnh hải) và ranh giới biển (vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) giữa hai hay nhiều quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp nhau Đây là vấn đề quan trọng, cấp thiết đối với các quốc gia có biển nhằm giải quyết ổn thỏa các tranh chấp biển, tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển cho từng khu vực biển cũng như các đại dương trên thế giới Vì thế, phân định biển bao giờ cũng diễn ra phức tạp, trong thời gian tương đối dài, với nhiều nội dung liên quan giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau, thông qua đàm phán, trung gian hoặc các cơ chế tài phán quốc tế khác, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982
Theo đó, việc hoạch định ranh giới lãnh hải được quy định rõ tại Điều 15 của
Công ước: khi hai quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến, trừ khi có sự
Trang 8thỏa thuận ngược lại Đối với việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa giữa các quốc gia nói trên, được thực hiện bằng con đường thoả thuận theo đúng pháp luật quốc tế để đi tới một giải pháp công bằng (Điều 74 và
83 của Công ước) Như vậy, nguyên tắc cơ bản trong phân định biển theo luật pháp quốc tế là trên cơ sở thỏa thuận và công bằng.
20 Phân tích thực trạng về việc phân định biển của Việt Nam với các quốc gia tiếp giáp hoặc có vùng chồng lấn?
Là quốc gia có vùng biển rộng, bờ biển dài, trong đó có nhiều khu vực chồng lấn với vùng biển của các nước đối diện, liền kề trong khu vực, Việt Nam luôn tuân thủ nguyên tắc phân định biển trên cơ sở luật pháp, thông lệ và thực tiễn quốc tế
Luật Biển Việt Nam năm 2012 (Khoản 3, Điều 4) khẳng định: “Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế”
1 Trên thực tế, ngay sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam đã tích cực, chủ động nghiên cứu, hoạch định và ký nhiều hiệp định, thỏa thuận,… về phân định biển với các nước có liên quan
2 Trong quá trình thực hiện, Việt Nam luôn nhất quán lập trường là: căn cứ vào luật pháp và thực tiễn quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; đồng thời, có tính đến các hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên trong khu vực phân định để đạt được một giải pháp công bằng mà các bên đều chấp nhận được Việt Nam luôn coi đó là chìa khóa để giải quyết các tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, góp phần duy trì, gìn giữ môi trường hòa bình, hợp tác
và phát triển thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới
*tham khảo Những điều cần biết về luật biển- trang 308 (mục 283)
21 Khái niệm và phân loại tranh chấp biển?
Khái niệm tranh chấp trên biển
Có nhiều quan điểm khác nhau về tranh chấp quốc tế về biển Tuy nhiên, một cách chung nhất, có thể xem tranh chấp quốc tế về biển là một hoàn cảnh thực tế
mà trong đó, các chủ thể tham gia có những quan điểm không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau và có những đòi hỏi, yêu cầu cụ thể trái ngược nhau
Phân loại các loại tranh chấp trên biển
1.Tranh chấp trong quá trình khai thác và sử dụng biển
Các tranh chấp về khai thác dầu khí và năng lƣợng, từ các tranh chấp về lãnh thổ, chủ quyền và quyền tài phán dẫn đến các tranh chấp về việc sử dụng biển Biển Đông vốn là một vùng biển giàu năng lượng mà đặc biệt là dầu khí nên tình trạng tranh chấp ngày càng gay gắt
Các tranh chấp về nghề cá, tình hình tranh chấp ở Biển Đông càng căng thẳng hơn khi Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá Phạm vi của lệnh cấm khá mập mờ, nó bao trùm một khu vực quanh quần đảo Hoàng Sa không kéo dài về phía Nam của Trường Sa Lệnh cấm đánh bắt này đã bị các quốc gia như Việt Nam, Philipines chính thức phản đối
Trang 92.Tranh chấp chủ quyền biển đảo
Tranh chấp chủ quyền biển đảo là một trong những vấn đề thời sự nóng bỏng nhất của thế giới.Việt Nam cực lực phản đối các hành động xâm phạm và kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của dân tộc phù hợp với luật pháp quốc tế
3.Tranh chấp các vùng biển chồng lấn
Loại tranh chấp về hoạch định các vùng chồng lấn dựa trên các quy định của UNCLOS 1982, các bên đưa ra các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, lãnh hải Đối với các nước có bờ biển đối diện nhau hoặc kế cận nhau thường có vùng chồng lấn
22 Cơ chế và biện pháp giải quyết tranh chấp biển theo CULB 1982?
Cơ chế:
Nội dung cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp về biển đã được quy định tại Phần XV của UNCLOS 1982 Việc đưa vào UNCLOS điều khoản bắt buộc về giải quyết tranh chấp trên biển được coi là bước tiến lớn của luật quốc tế nói chung và của UNCLOS nói riêng
Biện pháp giải quyết:
1
Giải quyết thông qua biện pháp đàm phán thương lượng
Biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán thương lượng dựa trên các cơ sở pháp lý được quy định tại: Khoản 1, Điều 33, Chương 6, Hiến Chương LHQ; Khoản 1, Điều 22, Chương 8, Hiến Chương ASEAN; [14] Điều
279, Mục 1, Phần 15, UNICLOS và trong các Điều ước quốc tế khác
2
Giải quyết thông qua biện pháp trung gian, hòa giải
Biện pháp giải quyết tranh chấp này được quy định cụ thể trong: Khoản 1, Điều 33, Hiến Chương LHQ; Điều 23, Chương 8, Hiến Chương ASEAN; Điều
279, Điều 284, Mục 1, Phần 15, UNCLOS và trong các Điều ước quốc tế khác
2.1.Giải quyết tranh chấp về chủ quyền trên biển thông qua trung gian
Giải quyết tranh chấp thông qua trung gian là biện pháp mà trong đó dựa vào
uy tín trên trường quốc tế của bên thứ ba, bên thứ ba khuyến khích các bên ngồi vào bàn đàm phán Bên thứ ba có tác dụng làm dịu sự căng thẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp xúc tiến hoạt động đàm phán, đưa
ra lời khuyên chỉ dẫn cho các bên, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp
2.2.Giải quyết tranh chấp chủ quyền thông qua biện pháp hòa giải
Trang 10Giải quyết tranh chấp thông qua h a giải là biện pháp mà trong đó bên thứ ba
có uy tín trên trường quốc tế khuyến khích các bên ngồi vào bàn đàm phán Trong biện pháp này, bên thứ ba trực tiếp tham gia vào đàm phán (Đưa ra các
dự thảo đàm phán, định hướng đàm phán)
3
Giải quyết tranh chấp thông qua thiết chế trọng tài
4.Giải quyết thông qua các cơ quan tài phán quốc tế
23 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp biển của Việt Nam với các nước láng giềng?
Việt Nam tôn trọng và thực thi các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của mình trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển 1982
Việt Nam luôn tích cực đấu tranh bảo vệ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật Biển 1982 Theo đó, khi bàn về vấn đề tranh chấp Biển Đông, Việt Nam kiên trì yêu cầu “tôn trọng pháp luật quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982”, coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển đảo
Quan điểm lập trường của Việt Nam là giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên
cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; thực hiện nghiêm túc DOC nhằm duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cả song phương lẫn đa phương; hợp tác cùng phát triển phải phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, nghĩa là tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế,
24 Thực trạng tranh chấp biển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Hiện nay, trên biển chúng ta có thể khái quát ba vấn đề lớn liên quan đến biên giới lãnh thổ cần phải giải quyết, đó là
(1) tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc; (2) tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6 bên gồm Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Brunei;
(3) phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của LHQ về Luật biển năm
1982 giữa Việt Nam và các nước trong khu vực