Nguồn thu từ chi trả DVMTR từng bước trở thành một nguồn tài chính ổn định, khoảng 1.000-1.300 tỷ đồng/năm, dành riêng cho các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng QLBVR; từ đó, giúp giảm áp l
Trang 1BÀI CHUYÊN ĐỀ
Đề bài :“Chi trả dịch vụ môi trường rừng:Thành tựu, khó khăn và định hướng phát triển
giai đoạn 2020-2030”.
Họ và tên sinh viên:
Lớp :
Trang 2I.Đặt vấn đề.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Bá Ngãi, Hội chủ rừng Việt Nam, chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách lớn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn được các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức đồng tình ủng hộ và thực hiện, nhân dân hưởng ứng và tham gia mạnh mẽ Chính sách này nhanh đi vào cuộc sống và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong 10 thành tựu nổi bật nhất của ngành Nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2015 và tiếp tục giữ vững
là một trong những lĩnh vực hàng đầu của ngành Lâm nghiệp
Chính thức triển khai tại Việt Nam từ đầu năm 2011 ngay sau khi Nghị định
99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ có hiệu lực, chi trả
DVMTR đã trở thành một trong những chính sách lâm nghiệp nổi bật, đáng chú ý nhất tại Việt Nam, thu được nhiều thành tựu ý nghĩa Nguồn thu từ chi trả DVMTR từng bước trở thành một nguồn tài chính ổn định, khoảng 1.000-1.300 tỷ đồng/năm, dành riêng cho các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR); từ đó, giúp giảm áp lực chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư lâm nghiệp hàng năm từ 22-25% Với mức chi trả trung bình 250.000 đồng/ha, chính sách này đã bổ sung thêm thu nhập trung bình
từ 1,8-2 triệu đồng/hộ/năm cho gần 349.000 hộ gia đình cùng hơn 5.700 nhóm hộ, cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ gần 5 triệu ha rừng trên toàn quốc Chính sách này cũng tạo nguồn thu mới, hỗ trợ kinh phí duy trì hoạt động cho các chủ rừng nhà nước, nhất là các công ty lâm nghiệp trong bối cảnh khai thác rừng tự nhiên phải tạm dừng Bên cạnh những con số đáng ghi nhận về mặt kinh tế hay đóng góp cho sinh
kế, thực tiễn chi trả DVMTR cho thấy chính sách này đã có những tác động đáng kể đến sắp xếp tổ chức và thể chế quản lý lâm nghiệp tại các địa phương Theo đó, hệ thống tổ chức QLBVR dần hình thành nên cơ cấu, chức năng và mối quan hệ mới từ cấp tỉnh, huyện, xã đến cộng đồng thôn bản nhằm đáp ứng cho quá trình thực hiện chi trả DVMTR Những thay đổi này, hoặc làm tăng cường, hoặc suy giảm vai trò và chức năng vốn có của các bên liên quan; từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR nói riêng và công tác QLBVR nói chung tại địa phương Bên cạnh đó, sự thiếu vắng của một hệ thống giám sát thực hiện và đánh giá hiệu quả chi trả DVMTR toàn diện, có chiều sâu về cả
ba khía cạnh thể chế - môi trường – xã hội, cũng được coi là nguyên nhân khiến tác động của chi trả DVMTR chưa được nhận diện và đánh giá một cách đầy đủ Để hiểu
rõ hơn về thành tựu,khó khăn và định hướng phát triển giai đoạn 2020-2030 em lựa chọn chuyên đề :Chi trả dịch vụ môi trường
Trang 3II.Nội dung báo cáo 2.1.Thành tựu:
Thời gian qua, hoạt động dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trong cả nước đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững ở nhiều địa phương
Sau hơn 9 năm thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, việc chi trả đã được thực hiện trên phạm vi 45 tỉnh, 500 huyện, 4.750 xã với 417.676 hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và nhóm hộ, 1.055 tổ chức
Theo đó, trong 10 năm qua, tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt 16.758 tỷ đồng, chiếm 18,2% so với tổng đầu tư vào ngành lâm nghiệp Diện tích rừng được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng tăng từ gần 1,4 triệu ha năm 2011 đến năm 2020 là trên 6,8 triệu ha; trong đó rừng đặc dụng chiếm 18,8%, rừng phòng hộ 40,5%, rừng sản xuất 40,7%
Đối tượng được hưởng lợi dịch vụ môi trường rừng là hộ gia đình, cộng đồng, tổ chức nhận khoán bảo vệ rừng
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF), năm 2020, tổng diện tích rừng được hỗ trợ quản lý bằng tiền DVMTR là 6,5 triệu ha, chiếm 44% tổng diện tích rừng toàn quốc, trong đó 2,7 triệu ha của chủ rừng là tổ chức khoán quản lý bảo vệ cho 30.233 cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng, nhóm hộ và tổ chức khác Tiền DVMTR đã góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho người dân miền núi bảo vệ rừng có tiền nâng cao đời sống Về kết quả thu chi tiền trồng rừng thay thế, từ năm 2015 đến nay, VNFF đã tiếp nhận 11,5 tỷ đồng tiền trồng rừng thay thế các tỉnh Bình Dương, Hà Nam để ủy thác trồng rừng tại các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang và Bắc Kạn Hiện nay, 9,6 tỷ đồng đã được giải ngân để trồng 178,7 ha tại các địa phương trên Số tiền còn lại sẽ tiếp tục được giải ngân trong năm 2021 và chăm sóc vào các năm tiếp theo Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, hiện nay đã có thêm hai loại DVMTR mới là cơ sở sản xuất công nghiệp
và dịch vụ nuôi trồng thủy sản được áp dụng triển khai rộng rãi trên toàn quốc Riêng đối với cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước, hiện đã
có 25 tỉnh, thành phố xác định được danh sách các cơ sở phải nộp tiền DVMTR, ký được 214 hợp đồng với số tiền thu được là 3,65 tỷ đồng, nâng tổng số hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR trên cả nước lên 871 hợp đồng
Trang 4Mục tiêu của chính sách chi trả DVMTR hướng tới 3 trụ cột phát triển bền vững trong lĩnh vực lâm nghiệp, trong đó khía cạnh kinh tế được thể hiện thông qua mục tiêu gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp với kinh tế quốc dân; khía cạnh môi trường gắn với các kết quả bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH và quản lý rừng bền vững hơn; khía cạnh xã hội thể hiện qua mục tiêu cải thiện sinh kế, gắn với xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống gắn bó với rừng Một số đánh giá tác động của chính sách này theo ba mục tiêu và thay đổi vê mặt thể chế - tổ chức thực hiện đã ghi nhận như sau:
+ Về mặt chính sách: chi trả DVMTR có bước phát triển đột phá về khía cạnh chính sách – thể chế của ngành lâm nghiệp Chưa có chính sách nào đạt được sự đồng bộ từ nội dung của luật, chiến lược, nghị định, quyết định và thông tư như chính sách chi trả DVMTR Cùng với đó là hệ thống bộ máy Quỹ BVPTR từ TW tới địa phương (37 tỉnh) đã được thiết lập
+ Về mặt thể chế: Chi trả DVMTR được xem là chính sách đầu tiên có thể gắn kết rất nhiều bên liên quan với nhau trong quá trình thực hiện chính sách như: mối quan hệ mới giữa các chủ rừng (bên cung cấp dịch vụ) với các cơ sở sản xuất (thủy điện, nước sạch, du lịch - bên sử dụng dịch vụ) được thiết lập; các cơ quan lâm nghiệp tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra kết quả thực hiện chính sách trong thực tế Trong khi Quỹ BVPTR là cơ quan trung gian, thúc đẩy toàn bộ quá trình, 37 Quỹ BVPTR cấp tỉnh đã hình thành và đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành toàn bộ hệ thống chi trả DVMTR Đối với cơ chế chia sẻ lợi ích, quỹ TW ký hợp đồng với các bên sử dụng dịch vụ thuộc lưu vực liên tỉnh và chỉ giữ lại 5% phí quản
lý, trước khi chuyển lại 95% cho các quỹ cấp tỉnh Các quỹ tỉnh ký trực tiếp với bên
sử dụng dịch vụ trong lưu vực nội tỉnh, và được phép giữ lại 15% tổng thu, gồm 10% phí quản lý, vận hành và 5% dự phòng 85% nguồn thu chi trả cho các chủ rừng Tùy theo đối tượng cụ thể, chủ rừng trực tiếp hoặc giao khoán QLBVR, mà tỷ lệ chi trả đối với các đối tượng khác nhau, nhưng đều theo nguyên tắc là “nguồn thu từ chi trả DVMTR đến được trực tiếp với những người tham gia cung ứng DVMTR”
+Về khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội: chi trả DVMTR tạo động lực cho các bên liên quan tham gia BVPTR Các quỹ BVPTR hiện nay đã ký được hơn 400 hợp đồng ủy thác, chủ yếu từ các cơ sở thủy điện và một số cơ sở khác (nước sạch, du lịch) Nguồn thu hàng năm đạt 1000 – 1300 tỷ, đóng góp rất lớn cho nguồn đầu tư toàn xã hội cho ngành lâm nghiệp (22-25%), để bảo vệ từ 3-5 triệu ha rừng Tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 0,2-0,3% hàng năm, trong đó chắc chắn có sự đóng góp rất lớn của chính sách này Năm 2014, tỷ lệ độ che phủ rừng 40,43% và năm nay là 40,73% Chi trả DVMTR đã tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho hộ gia đình, trung bình 2
Trang 5triệu/hộ/năm; có những vùng được 15-20 triệu/hộ/năm, trở thành một sinh kế chính giúp người dân yên tâm gắn bó với rừng Còn có khá nhiều cơ hội khác để tăng thêm nguồn thu từ chi trả DVMTR như thu từ thủy sản, dịch vụ cung cấp bãi đẻ, hoặc carbon
Ví dụ:Việc chi trả DVMTR đã mang lại những kết quả tích cực trong công tác quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum, tạo nguồn lực tài chính bền vững để đầu tư cho công tác quản lý và bảo vệ rừng Đời sống của người làm nghề rừng được cải thiện, tạo được sự đồng thuận trong dân, nhất là cộng đồng dân cư, người dân sống trong rừng, gần rừng, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Nhờ có chính sách chi trả DVMTR mà tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm nương rẫy và các vi phạm khác về rừng đã giảm qua từng năm
Cụ thể năm 2011 toàn tỉnh Kon Tum có 528 vụ, đến 2015 còn 33 vụ; diện tích rừng bị phá từ hơn 84 ha xuống còn 8,8 ha Diện tích rừng bị cháy giảm từ 321 ha xuống còn
34 ha… Theo ông Nguyễn Thanh Bình, nguồn tiền trên đã giúp công ty ổn định về tài chính, tạo điều kiện hộ gia đình, cộng đồng ký hợp đồng với doanh nghiệp, tạo thu nhập cho dân, góp phần xóa đói giảm nghèo
Đến nay tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR là trên 360.000 ha, đạt khoảng 60% tổng diện tích rừng toàn tỉnh Tổng số tiền giải ngân trong 5 năm là hơn 548 tỷ đồng -Chi trả DVMTR cũng tạo điều kiện để ngành lâm nghiệp Việt Nam tiếp cận và hòa nhập với những bước phát triển mới của khu vực và thế giới Chính sách này đang góp phần quan trọng giúp đổi mới, tái cơ cấu ngành lâm nghiệp Việt Nam, như cứu sống lại các công ty, nông-lâm trường quốc doanh Chính sách đóng cửa rừng tự nhiên gần như “giết chết” các đối tượng này, nhưng chính sách chi trả DVMTR ra đời
đã hồi sinh chúng, biến các đơn vị này trở thành các đơn vị kinh doanh tín chỉ carbon hay kinh doanh hàng hóa môi trường rừng Từ đó, giúp lập lại trật tự mới, phù hợp hơn với nền lâm nghiệp sản xuất hàng hóa trong tương lai
Chi trả DVMTR đã đóng góp cho ngành lâm nghiệp theo nhiều cách khác nhau: + Đóng góp kinh phí cho hợp đồng bảo vệ rừng Trong giai đoạn 2011-2016, nguồn thu từ DVMTR đã chi trả cho những hợp đồng bảo vệ rừng với diện tích hơn 5.8 triệu
ha (chiếm hơn 44% tổng diện tích rừng ở Việt Nam) và có giá trị lên tới
4,304,731,894,000 đồng (VNFF 2018)
+ Hỗ trợ kinh phí cho trả lương lao động, chi phí hoạt động, nâng cao năng lực các hoạt động ngành lâm nghiệp Chi phí quản lý được sử dụng từ tổng nguồn thu chi trả DVMTR trong giai đoạn 2011-2016 là 372,512,117,000 đồng, bao gồm trả lương cho
Trang 6nhân viên quỹ trung ương và địa phương, trang trải chi phí cho các hoạt động kiểm tra và giám sát, nâng cao năng lực và nhận thức cho cán bộ, người mua và người bán dịch vụ môi trường rừng
+ Cung cấp nguồn thu cho Ban quản lý rừng, các khu bảo tồn, vườn quốc gia và các lâm trường quốc doanh Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trung ương (VNFF) (2018) cho rằng đóng góp của chi trả DVMTR đã giúp 181 Ban quản lý rừng, 79 lâm trường
và 192 công ty khắc phục tình trạng thiếu hụt về tài chính Biểu đồ 2 và 3 cho thấy ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng hiện đang quản lí diện tích rừng lớn nhất trên cả nước và rừng tại những khu vực này đang được bảo vệ thông qua các khoản đóng góp từ chi trả DVMTR
+ Đóng góp vào những chương trình phát triển hạ tầng và cộng đồng Một nghiên cứu được tiến hành bởi Phạm và các cộng sự (2018) đánh giá tác động của chi trả
DVMTR tại tỉnh Sơn La cho thấy, tiền chi trả DVMTR cho cộng đồng đã giúp xây dựng 2,689 công trình hạ tầng với tổng mức đầu tư hơn 57,970 tỷ đồng Các công trình đầu tư từ kinh phí chi trả DVMTR chủ yếu là nhà cộng đồng, trạm xá, vườn ươm và đường giao thông liên bản
2.2.Khó khăn
-Cơ quan quản lý nhà nước đang giữ vai trò chủ động, chủ đạo trong việc lập kế
hoạch và điều phối các hoạt động của chi trả DVMTR, trong khi các thành phần khác chưa thể hiện hết vị thế của mình, và do đó còn tham gia một cách bị động;
- Thiếu các quy định chung về Bộ chỉ số giám sát, đánh giá; thiếu quy định ràng buộc về trách nhiệm giám sát và báo cáo giám sát giữa các cấp, giữa các bên liên quan; thiếu quy định về tự giám sát của các bên liên quan Những vấn đề nêu trên đang tạo ra một khoảng trống lớn về hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ cho báo cáo
và giải trình giữa các cấp, các bên liên quan; thiếu hệ thống giám sát, chỉ tiêu, chỉ số cho đánh giá tính công khai, minh bạch, hiệu quả và tác động, ảnh hưởng của thực thi chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Một số loại dịch vụ môi trường rừng chưa có quy định thu như dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cácbon; mức chi trả vẫn còn thấp hơn so với giá trị dịch vụ môi rừng tạo ra như chỉ 36 đồng/kWh đối với cơ sở sản xuất thủy điện, 52 đồng/m3 đối với cơ sở sản xuất nước sạch; có sự chênh lệch mức chi trả giữa các tỉnh và lưu vực vì phụ thuộc vào người sử dụng môi trừng rừng và vị trí lưu vực…
- Khó khăn trong triển khai chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng qua tài khoản ngân hàng
Trang 7Theo Thông báo số 388/TB-TCLN-VP, ngày 27/3/2018 của Tổng cục Lâm nghiệp về triển khai chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) qua hệ thống ngân hàng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cần triển khai thực hiện để thay thế hình thức trả tiền mặt cho các chủ rừng Tuy nhiên đến nay, việc chi trả tiền DVMTR qua hệ thống ngân hàng chưa được triển khai thực hiện
*Ví dụ: Trả tiền dịch vụ môi trường rừng bằng tiền mặt tại xã Cô Ba (Bảo Lạc):
Các chủ rừng tại xã Cô Ba (Bảo Lạc) được trả tiền dịch vụ môi trường rừng bằng
tiền mặt.
Hiện, tổng diện tích rừng được chi trả DVMTR của tỉnh là 124.381 ha, chiếm 30% tổng diện tích có rừng của tỉnh với trên 12.000 chủ rừng Với số lượng chủ rừng cung ứng DVMTR tương đối lớn, những năm qua, công tác chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh gặp không ít khó khăn do địa bàn chi trả chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa Trong khi
đó, việc chi trả bằng tiền mặt lại hiện hữu nhiều vấn đề bất cập: Tính rủi ro trong quá trình vận chuyển tiền; chi phí cao do số lượng người trực tiếp tham gia chi trả đông, thời gian chi trả kéo dài, phải huy động các phương tiện vận chuyển và lực lượng chức năng bảo vệ; dễ gây thất thoát trong quá trình chi trả qua các khâu trung gian, tính minh bạch chưa cao; công tác kiểm tra, giám sát khó khăn, mất nhiều thời gian, nguồn lực Do vậy, việc thực hiện hình thức chi trả tiền DVMTR qua tài khoản thay hình thức thanh toán tiền mặt vừa đảm bảo tính công khai, minh bạch, giảm các thủ tục hành chính, thời gian, chi phí đi lại và rủi ro cho cả bên chi trả và bên nhận tiền
Bà Phan Hồng Phượng, chuyên trách Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cho biết: Hiện nay, Quỹ mới thực hiện chi trả DVMTR qua tài khoản ngân hàng đối với chủ rừng là tổ chức Đối với hàng nghìn chủ rừng trên địa bàn tỉnh tuy xác định được những lợi ích khi chuyển hình thức chi trả DVMTR từ tiền mặt qua tài khoản ngân
Trang 8hàng nhưng vẫn chưa thực hiện Nguyên nhân do hình thức chi trả này chủ rừng mới tiếp cận; một số chủ rừng lớn tuổi, sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa ít tiếp cận với việc sử dụng tài khoản ngân hàng nên rất khó để mở tài khoản; một số chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình có diện tích rừng được giao quản lý, bảo vệ nhỏ lẻ, số tiền nhận chi trả DVMTR hằng năm ít nên chưa khuyến khích người dân tham gia; thông tin cá nhân giữa chứng minh nhân dân, quyết định giao đất, giao rừng không trùng khớp; các ngân hàng nhiều nơi cách xa bản làng, đường đi lại khó khăn…
Ðể khắc phục tình trạng này, thời gian tới, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cần tham mưu cho Chủ tịch Hội đồng Quỹ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục đôn đốc, nhắc nhở các ban, ngành liên quan chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các ngân hàng và cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh việc triển khai và hỗ trợ chủ rừng trong việc mở tài khoản; tiếp tục phối hợp với Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo các hạt kiểm lâm, kiểm lâm địa bàn tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc rà soát hồ sơ giao đất giao rừng nằm trên các lưu vực cung ứng DVMTR, kịp thời phát hiện những sai lệch thông tin cá nhân của chủ rừng với quyết định giao đất giao rừng để trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh, sửa chữa theo đúng quy định Đồng thời, đôn đốc các chủ rừng chủ động, nhanh chóng hoàn thiện các thủ tục theo quy định mở tài khoản tại ngân hàng để nhận tiền chi trả DVMTR…
- Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được triển khai từ năm 2012 đến nay đã góp phần cải thiện cuộc sống và nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Nhưng hiện đơn giá chi trả bình quân trên 1ha rừng đang có sự chênh lệch, khiến người dân so bì, ảnh hưởng tiêu cực đến công tác bảo vệ rừng
Đơn giá chi trả DVMTR ở lưu vực Nhà máy Thủy điện Lai Châu là gần 823.000 đồng/ha/năm
+ Chênh lệch lớn:
Theo tìm hiểu của phóng viên, từ nhiều năm nay, đơn giá tạm tính mà Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng (BVPTR) Việt Nam chi trả cho các lưu vực thủy điện có sự chênh lệch rất lớn Điều này không chỉ xảy ra ở ngay trên cùng một địa bàn mà ở những địa phương khác nhau, đơn giá cũng không giống nhau
Như ở Điện Biên, trên địa bàn tỉnh có 2 lưu vực: Sông Đà và sông Mã được chi trả DVMTR từ nguồn Quỹ BVPTR Việt Nam chuyển về Ở lưu vực sông Đà gồm 3 nhà máy thủy điện: Lai Châu, Hòa Bình, Sơn La, đơn giá chi trả DVMTR bình quân hơn 500.000 đồng/ha/năm Đặc biệt, từ khi Nhà máy Thủy điện Lai Châu đi vào hoạt động (năm 2016) thì đơn giá chi trả DVMTR ở lưu vực Nhà máy này được nâng lên gần 823.000 đồng/ha/năm
Trang 9Trong khi đó, diện tích rừng thuộc lưu vực sông Mã (gồm Nhà máy Thủy điện Bá Thước 1, Thủy điện Bá Thước 2), đơn giá chi trả DVMTR chỉ dao động 5.000 - 8.000 đồng/ha/năm Với đơn giá này, nhiều hộ không mặn mà nhận khoán, bảo vệ rừng Còn tại Nghệ An, theo đơn giá tạm tính mà Quỹ BVPTR Việt Nam đưa ra thì lưu vực các Thủy điện Bản Cốc, Bản Vẽ, Hủa Na, Cửa Đạt, Nậm Mô, Nậm Cắn đạt trên 200.000 đồng/ha/năm Còn ở các lưu vực thủy điện: Bản Cánh, Nậm Nơn, Khe Bố, Sao Va, Nậm Pông lại chỉ có giá dưới 100.000 đồng/ha/năm; thậm chí ở lưu vực Thủy điện Nậm Nơn là 46.000 đồng/ha/năm; lưu vực Thủy điện Khe Bố là 28.000 đồng/ha/năm
Đơn giá DVMTR không chỉ chênh lệch lớn ở lưu vực các nhà máy thủy điện mà ở một số chính sách khác, định mức chi trả khoán bảo vệ rừng cũng rất khác nhau Ví
dụ theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg là 100.000 đồng/ha/năm; theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP là 428.000 đồng/ha/năm… Vì có sự chênh lệch đơn giá lớn giữa các chính sách làm cho các hộ nhận khoán ở khu vực liền kề có sự so sánh về quyền lợi + Cần giải pháp bền vững:
Theo quy định hiện hành, đối với các lưu vực thủy điện thì nguồn kinh phí chi trả DVMTR tỷ lệ thuận với công suất phát điện của nhà máy thủy điện Vì vậy, với những nhà máy thủy điện sản xuất điện năng lớn thì đơn giá chi trả DVMTR lớn hơn
Điều này cũng phù hợp với quy luật kinh tế thị trường Tuy nhiên, do đơn giá chênh lệch quá lớn nên các chủ rừng cũng như những người tham gia nhận khoán bảo vệ rừng có sự so sánh Đặc biệt, với đồng bào DTTS, khi đơn giá chênh lệch lớn nên các đơn vị liên quan rất khó tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng
Để tháo gỡ vướng mắc này, nhiều địa phương đã chủ động điều tiết kinh phí chi trả DVMTR cho phù hợp Như tỉnh Điện Biên, từ năm 2019, với những lưu vực có đơn giá quá thấp, tỉnh đã nâng lên mức 400.000 đồng/ha/năm đối với các hộ gia đình đồng bào DTTS, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn khi tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, ngày 16/11/2018 của Chính phủ
Còn tại Nghệ An, từ năm 2015, tỉnh đã hỗ trợ các đối tượng tham gia bảo vệ rừng tại các lưu vực thủy điện có đơn giá thấp, đưa đơn giá bình quân lên thành 200.000 đồng/ha/năm Nguồn kinh phí được tỉnh cân đối từ các nguồn ngân sách Nhà nước theo đúng tiêu chí và nguồn kết dư của Quỹ BVMTR từ các năm
Nhưng đây cũng chỉ là giải pháp tình thế của các địa phương Giải pháp căn cơ là phải có điều chỉnh phù hợp về đơn giá chi trả DVMTR từ cấp Trung ương
Trang 102.3.Định hướng phát triển giai đoạn 2020-2030.
Xuất phát từ yêu cầu thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhiều đại biểu tham gia hội thảo cho rằng, mục tiêu của việc chi trả dịch vụ môi trường rừng là để cải thiện cuộc sống cho người dân có rừng hay bảo vệ rừng nói riêng và góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, phát triển rừng nói chung Tuy vậy, để bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả, không chỉ dựa vào một chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, mà cần nhiều hơn các cơ chế như mở rộng nhiều hơn các loại dịch vụ Mức chi trả cũng nên tính toán lại để bảo đảm tương xứng với giá trị và nỗ lực bảo vệ rừng đặt ra
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần kịp thời xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng thống nhất trên cả nước Lộ trình xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá gồm: Tiếp tục nghiên cứu, thí điểm để tổng kết, bổ sung các nội dung giám sát và đánh giá trong Nghị định số
156/2018/NĐ-CP; Quỹ Trung ương phối hợp với các Quỹ tỉnh và các chương trình,
dự án tiếp tục nghiên cứu, thí điểm, tổng kết, tham mưu Tổng cục Lâm nghiệp xây dựng và ban hành Sổ tay hướng dẫn giám sát và đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng
Tại hội thảo các đại biểu cho rằng, giai đoạn 2021 - 2030, Nhà nước cần có giải pháp phù hợp để thu hút cộng đồng địa phương vào các hoạt động bảo vệ, nâng cao chất lượng rừng và phục hồi rừng Cơ chế dịch vụ môi trường rừng cũng cần được triển khai đồng thời với chương trình phát triển sinh kế
Cụ thể, cần hoàn thiện pháp lý để bổ sung nguồn thu từ các loại dịch vụ môi trưởng rừng; tăng cường cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng quản lý cơ sở dữ liệu về rừng; có chính sách phát triển rừng trồng một cách hiệu quả Các cơ quan quản lý nhà nước cần chủ động hơn trong việc cụ thể hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng vào đặc thù mỗi địa phương /
III.Kết luận chung.