1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại ban quản lý rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường mường phăng, tỉnh điện biên

112 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Của Chính Sách Chi Trả Dịch Vụ Môi Trường Rừng Tại Ban Quản Lý Rừng Di Tích Lịch Sử Và Cảnh Quan Môi Trường Mường Phăng, Tỉnh Điện Biên
Tác giả Nguyễn Thái Sơn
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Xuân Dũng
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Điện Biên
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những thuận lợi thì việc triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Điện Biên còn gặp nhiều khó khăn, như nhận thức của chính quyền hay các tổ chức, cá nh

Trang 1

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI BAN QUẢN LÝ RỪNG DI TÍCH LỊCH SỬ

VÀ CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG MƯỜNG PHĂNG,

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan rằng số liệu và kết quả của một quá trình học tập, nghiên cứu khóa luận này rất nghiêm túc, trung thực và chưa bao giờ sử dụng để bảo vệ một học vị nào Em cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được ghi rõ nguồn gốc

Em xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này

nngày … tháng … năm 2023

Người cam đoan

Nguyễn Thái Sơn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin được trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa QLTNR & MT và Ban lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện giúp em học tập, phát triển dưới mái trường Đại Học Lâm nghiệp Việt Nam trong niên khóa 2019

- 2023

Trong quá trình thực hiện khóa luận em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Bùi Xuân Dũng - Giảng viên trường Đại học Lâm Nghiệp, các cán bộ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Điện Biên, Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng, Hạt kiểm Lâm thành phố Điện Biên Phủ, UBND và người dân trong xã Pá Khoang, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Cảm ơn sự ủng hộ của bạn bè và gia đình trong suốt thời gian qua

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Xuân Dũng - Giảng viên trường đại học Lâm Nghiệp Thời gian qua, trong quá trình hoàn thành bài khóa luận em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy, người đã dành thời gian, công sức và đóng góp ý kiến tận tình giúp em đặt nên móng và hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này

Do kinh nghiệm, kiến thức của bản thân còn hạn chế nên không thể tránh được những sai xót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.Các khái niệm về chi trả dịch vụ môi trường rừng 3

1.2.Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới 5

1.3.Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam 10

1.3.1.Các nghiên cứu và triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam 10

1.3.2 Các văn bản quy phạm pháp luật và kết quả áp dụng liên quan đến Chính sách chi trả DVMT rừng tại Việt Nam Nhận xét về hệ thống pháp luật liên quan đến thực tiễn chi trả DVMT rừng 14

CHƯƠNG 2 17

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 17

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 17

2.3 Nội dung nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 18

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 19

Trang 5

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN

CỨU 23

3.1 Đặc điểm tự nhiên 23

3.1.1 Vị trí địa lý 23

3.1.2 Địa hình, địa thế 24

3.1.3 Khí hậu 24

3.1.4 Sông suối, thủy văn 25

3.1.5 Điều kiện thổ nhưỡng, đất đai 26

3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 29

3.2.1 Dân số và nguồn lực lao động 29

3.2.2 Cơ sở hạ tầng 30

3.2.3 Tình hình văn hóa, xã hội 31

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng của Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng 32

4.1.1 Hiện trạng rừng, đất lâm nghiệp cung ứng DVMT rừng của Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng 32

4.1.2 Việc thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng 35

4.1.3 Những thuận lợi, khó khăn thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng 50

4.2 Hiệu quả của việc thực thi chính sách chi trả DVMT rừng tại Ban Quản lý rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 54

4.2.1 Hiệu quả của chính sách chi trả DVMT rừng đến công tác quản lý bảo vệ rừng 54

4.2.2 Hiệu quả của chính sách chi trả DVMT rừng về mặt kinh tế 56

4.2.3 Hiệu quả của chính sách chi trả DMVT rừng về mặt xã hội 57

4.3 Một số giải pháp trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR 59

4.3.1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 59

4.3.2 Giải pháp về hệ thống tổ chức 60

4.3.3 Giải pháp về tài chính và vốn đầu tư 61

4.3.4 Giải pháp về khoa học, công nghệ 62

Trang 6

4.3.5 Giải pháp về mặt kỹ thuật và kết cấu hạ tầng 63 4.3.6 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 64 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

QLTNR&MT Quản lý tài nguyên rừng và môi trường

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Các chỉ tiêu khí hậu trên địa bàn vùng dự án 25

Bảng 3.2: Tổng diện tích các loại đất vùng dự án 26

Bảng 3.3: Hiện trạng sự dụng đất vùng dự án 28

Bảng 4.1: Thống kê thực trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp 32

Bảng 4.2: Diện tích rừng thực hiện chi trả DVMT rừng năm 2016 - 2021 33

Bảng 4.3: Bảng phân chia lưu vực theo diện tích được chi trả năm 2021 39

Bảng 4.4: Tình hình vi phạm về quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2017 – 2022 55

Bảng 4.5: Số tiền chi trả DVMT rừng giai đoạn 2016 - 2021 56

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 3.1: Vị trí Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng 23 Hình 4.2: Cơ cấu tổ chức Quỹ Bảo vệ rừng và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên 38 Hình 4.1: Bản đồ chi trả DVMT rừng năm 2021 35 Biểu đồ 4.1: Diện tích được chi trả DVMT rừng giai đoạn 2016 - 2021 34 Biểu đồ 4.2: Các vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2017 – 2022 55 Biểu đồ 4.3: Số tiền chi trả DVMT rừng giai đoạn 2016 - 2021 56

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người, chúng đã và đang cung cấp cho con người những giá trị dịch vụ như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ cho một số ngành sản xuất Đặc biệt lợi ích của hệ sinh thái rừng là duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia

và sự tồn tại của trái đất

Trong những năm gần đây nhận thức về vai trò của rừng, đặc biệt là giá trị

to lớn của dịch vụ môi trường rừng mang lại đã và đang được thừa nhận trên phương diện quốc tế và ở Việt Nam Nhằm duy trì những giá trị dịch vụ môi trường của rừng và đảm bảo sự công bằng cho người làm rừng, các cơ chế tài chính về chi trả dịch vụ môi trường rừng đang trở thành một giải pháp hiệu quả

ở nhiều quốc gia nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho quản lý bền vững tài nguyên rừng

Ban Quản lý rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng được Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên quyết định thành lập từ năm 2007; Khu rừng

Di tích lịch sử Mường Phăng, xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) quyết định là rừng cấm được bảo vệ nghiêm ngặt; theo Quyết định số 194/CT ngày 09/4/1986 với tổng diện tích 1.000 ha Theo Quyết định số 76/QĐ-UBND ngày 14/01/2008 của UBND tỉnh Điện Biên về việc phê duyệt báo cáo kết quả rà soát, quy hoạch lại

3 loại rừng tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006 - 2010, Diện tích rừng Di tích lịch sử Mường Phăng là 935,9 ha Những năm trước đây khu rừng Di tích lịch sử Mường Phăng chưa được quy hoạch chi tiết, nên việc đầu tư cho bảo vệ và phục hồi rừng ở khu vực Di tích còn gặp nhiều khó khăn chưa được quan tâm kịp thời; việc phân công, phân cấp quản lý thiếu cụ thể, rõ ràng nên rừng có nguy cơ bị tàn phá rất cao

Trong những năm qua, diện tích rừng thuộc khu vực hồ Pa Khoang đã được các cấp, các ngành quản lý, bảo vệ tương đối tốt Tuy nhiên, việc phát triển diện tích rừng trồng mới chưa được quan tâm Diện tích rừng tự nhiên phục hồi tại khu vực này đã để xảy ra một số vụ việc vi phạm trong công tác quản lý, bảo

vệ và phát triển rừng Hiện tượng khai thác gỗ trộm đang xảy ra làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng

Trang 11

Trên cơ sở Quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp được quy hoạch khu rừng cảnh quan nằm trên địa bàn 2 xã Mường Phăng và Pá khoang do Ban Quản lý rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng quản lý có diện tích 4.436,6 ha và nằm bao quanh toàn bộ diện tích hồ Pá Khoang; Hồ Pá Khoang không những là điểm du lịch sinh thái rất đẹp, mà còn có tầm quan trọng trong việc đảm bảo nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh, với diện tích mặt

hồ trên 600 ha Trong những năm qua, diện tích rừng trên địa bàn xã Mường Phăng có nguy cơ bị tàn phá rất cao, làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng, làm suy giảm đa dạng sinh học Để bảo vệ và phục hồi rừng

di tích lịch sử; khu rừng cảnh quang Mường Phăng đã được quy hoạch chi tiết

cụ thể, việc quản lý bảo vệ rừng đã được tăng cường; tạo cảnh quan đẹp để đón tiếp các đoàn khách du lịch trong nước và nước ngoài đến thăm khu di tích, đồng thời tạo cảnh quan môi trường khu vực hồ Pá Khoang cung cấp nước cho cánh đồng Mường Thanh cũng như trong khu vực thì việc quy hoạch phát triển rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường xã Mường Phăng là vô cùng cần thiết Bên cạnh những thuận lợi thì việc triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Điện Biên còn gặp nhiều khó khăn, như nhận thức của chính quyền hay các tổ chức, cá nhân về DVMT rừng còn hạn chế; các thể chế và quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn chưa rõ ràng Xuất phát

từ các vấn đề trên thì việc nghiên cứu hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi rừng tại ban quản lý rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng, tỉnh Điện Biên là vô cùng cần thiết, để từ đó đề xuất ra giải pháp nâng cao hiệu quả việc chi trả DVMT rừng Vì thế, em quyết định lựa chọn chủ đề:”

Đánh giá hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Ban quản lý rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng, tỉnh Điện Biên”

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm về chi trả dịch vụ môi trường rừng

Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng,

nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc

hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên

Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của Hệ sinh thái rừng; thực vật,

động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị

sử dụng của môi trường rừng, gồm: Bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ

và lưu giữ các-bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác

Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần

nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất) (E.P Odum, 1986; G Stephan, 1980; Agroecology: Ecological Processes in Sustainable Agriculture, pp 332)

Dịch vụ môi trường (Environmental services) là những dịch vụ và chức

năng được cung cấp bởi hệ sinh thái và có những giá trị nhất định về kinh tế

Theo phân loại của UNFCCC, các dịch vụ môi trường được chia thành 4 nhóm:

- Dịch vụ cung cấp: thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, chất đốt, nguồn gen…;

- Dịch vụ điều tiết: phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hòa khí hậu, điều tiết nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh

- Dịch vụ văn hóa: giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịch sinh thái, lịch sử, khoa học và giáo dục

- Dịch vụ hỗ trợ: cấu tạo đất, điều hòa dinh dưỡng

Trang 13

Dịch vụ môi trường rừng Theo điều 4, chương 1, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/4/2008: “Dịch vụ môi trường rừng là việc

cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử dụng của môi trường rừng (điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học )”

Theo quy định tại Khoản 23 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2019) thì nội dung này được quy định như sau:

Dịch vụ môi trường rừng là hoạt động cung ứng các giá trị sử dụng của

môi trường rừng

Dịch vụ môi trường rừng là bộ phận quan trọng bậc nhất của dịch vụ môi

trường Môi trường rừng là môi trường do kết quả tác động của rừng tạo ra cho

xã hội và tự nhiên Nó là loại môi trường có tầm quan trọng không thể thay thế trong hệ sinh thái chung

Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services), viết tắt là

PES được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ sinh thái

Chi trả DVMT là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó DVMT

được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu là một người mua) mua của người bán (tối thiểu là một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp DVMT đảm bảo được việc cung cấp DVMT này” (Wunder, 2005, p9)

Cho đến nay, định nghĩa về chi trả DVMTR được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới chấp thuận là định nghĩa của Wunder Seven, 2005 (Payments for Environmental Services: Some Nuts and Bolts CIFOR, Occasional Paper

No.42) Theo tác giả này, “Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quá trình giao

dịch tự nguyện được thực hiện bởi ít nhất một người mua và một người bán dịch

vụ môi trường rừng, khi và chỉ khi người bán đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trường rừng đỏ một cách hợp lý”

Chi trả DVMT rừng là một cách tiếp cận mới để khuyến khích chủ rừng, những người quản lý rừng cung cấp dịch vụ môi trường rừng tốt hơn Chỉ trả

Trang 14

DVMT rừng giúp đền bù cho những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng hoặc khuyến khích những người còn chưa quan tâm tham gia bảo vệ và phát triển rừng (Simpson và Sedjo, 1996; Environmental Policy Instruments for Conserving Global Biodiversity pp 164; Land-Mile và Porras, 2002; Values, Payments and Institutions for Ecosystem Management, pp 54)

Theo khoản 3, Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP cũng đã đưa ra cách hiểu về chi trả DVMT rừng: “Là quan hệ cung ứng và chỉ trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ”

Như vậy, PES là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ mà xác định rõ đối tượng cung cấp (người thụ hưởng) và đối tượng sử dụng (người chỉ trả) Việc chi trả này bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả

1.2 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới

Chi trả DVMT rừng là một lĩnh vực hoàn toàn mới, trong những năm 90 của thế kỷ XX mới được các nước trên thế giới quan tâm thực hiện Với những giá trị và lợi ích bền vững của việc chi trả DVMT rừng đã thu hút được sự quan tâm đáng kể của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới Chi trả DVMT rừng đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước và được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật Hiện nay, chỉ trả DVMT rừng được xem như một chiến lược dựa vào thị trường để quản lý tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích và chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội

Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã áp dụng và thực hiện các mô hình chi trả DVMT rừng sớm nhất Ở châu Âu chính phủ một số nước đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình DVMT rừng Chỉ trả dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn hiện đang được thực hiện tại các quốc gia Costa Rica, Ecuador, Bolivia, Ấn Độ, Nam Phi, Mexico và Hoa Kỳ Trong hầu hết các trường hợp này, thực hiện tối đa hóa các dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn thông qua các

hệ thống chỉ trả đều mang lại kết quả góp phần giảm nghèo Ở châu Úc, Australia

đã lập pháp hóa quyền phát thải cacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cacbon của rừng

Trang 15

Chi trả DVMT rừng cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm ở châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Nepal và Việt Nam bước đầu đã xây dựng được các chương trình chi trả DVMT rừng có quy mô lớn, chỉ trả cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ cacbon, tạo cảnh quan du lịch sinh thái và đã thu được một số thành công nhất định trong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng đầu nguồn

Chỉ trả DVMT rừng đang được thử nghiệm ở một số nước trên thế giới, Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Từ năm 2002, Trung tâm nghiên cứu nông lâm thế giới (ICRAF) đã tích cực giới thiệu khái niệm chi trả DVMT rừng (PES) vào Việt Nam Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) đã hỗ trợ

dự án đền đáp cho người nghèo vùng cao cho các DVMT rừng mà họ cung cấp tại Indonesia, Philippines, Nepal là “Xây dựng cơ chế mới để cải thiện sinh kế

và an ninh tài nguyên cho cộng đồng nghèo vùng cao ở châu Á” thông qua xây dựng các cơ chế nhằm đền đáp người nghèo vùng cao về các DVMT rừng họ cung cấp cho các cộng đồng trong nước và trên phạm vi toàn cầu

Mặc dù PES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước Sự phát triển của PES ngày càng được lan rộng Ở một số nước PES còn được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật Hiện nay, PES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng

và xã hội

Sự phát triển nhanh chóng các DVMT đã dẫn đến việc thay đổi cách tiếp cận về bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc tạo ra các cơ chế chỉ trả và các thị trường non trẻ đối với các dịch vụ này Giá trị kinh tế toàn cầu của các dịch

vụ môi trường ước tính khoảng hàng nghìn tỷ USD, mặc dù các chi trả thực tế

để bảo vệ các dịch vụ này đang phát triển không đồng đều trên toàn cầu Hầu hết các thị trưởng và hệ thống chỉ trả đều đang phát triển ở Bắc Mỹ và châu Âu, vượt trội bởi các chỉ trả cho môi trường nông nghiệp đã đạt nhiều tỷ USD và tạo

Trang 16

thuận lợi cho công tác bảo tồn công và tư nhân Ở các nước đang phát triển, chỉ

có một vài tỷ USD được sử dụng để chi trả cho bảo vệ đầu nguồn Trong khi ở châu Mỹ Latinh, PES đã được thử nghiệm rộng rãi bằng nhiều hệ thống khác nhau thì ở châu Á và châu Phi, sự phát triển PES vẫn còn hạn chế

Hiện tại, PES được xem như là một công cụ dựa vào thị trường cho dịch

vụ hệ sinh thái PES đa dạng về cơ chế, từ mô hình bồi thường tự nguyện để duy trì rừng hoặc các biện pháp canh tác nông - lâm nghiệp ở Trung Mỹ, đến bồi thường bắt buộc để tái trồng rừng ở Trung Quốc và Việt Nam, các mô hình thương mại ở Ôxtrâylia và Hoa Kỳ, hỗ trợ môi trường - nông nghiệp và các mô hình cấp chứng nhận ở Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ (dịch vụ hệ sinh thái liên quan đến nguồn nước) Quy mô các mô hình này trải dài từ các lưu vực nhỏ đến lớn, có thể cắt ngang qua bang, tỉnh hoặc biên giới quốc gia

Tính khả thi của mô hình xuyên quốc gia hiện tại đang dần được thăm dò (WWF đang thăm dò khả năng này đối với Sông Đa Nuýp) (Lê Văn Hưng,2011 trích theo Stefano Pagiola, 2010) Theo xu thế toàn cầu, Chính phủ Trung Quốc

đã tạo mọi nỗ lực trong việc xây dựng một số mô hình công để chỉ trả dịch vụ môi trường lớn nhất thế giới Những mối quan tâm về tính hiệu quả và bền vững tài chính của những nỗ lực này, các nhà hoạch định chính sách đang tranh luận sôi nổi về việc làm thế nào để thúc đẩy các chương trình này cũng như thăm dò

và phát triển các công cụ dựa vào thị trường và những thay đổi quy định để giải quyết tốt hơn những thách thức về phát triển và môi trường của Trung Quốc (Lê Văn Hưng, 2011 trích theo Xu & cs., 2006)

Chỉ đến năm 2002, đã có hơn 300 mô hình PES đã được thống kê trên toàn thế giới (Pagiola S., G Plates, 2002; Agriculture at a Crossroads: The Global Report, pp 244) Hầu hết các mô hình này đã được hoạt động trong vài năm, một số mô hình vẫn còn ở quy mô thực nghiệm hoặc ở giai đoạn thử nghiệm Tóm lại, đã có một số nghiên cứu thực nghiệm chứng minh các biện pháp quản lý tốt nhất và các bài học kinh nghiệm về PES Tuy nhiên, mới chỉ có một số bài học đầu tiên và các biện pháp quản lý tốt nhất mới nổi đã được tư liệu hóa Theo điều tra, các mô hình PES thường được đáp ứng với các điều kiện đặc

Trang 17

trưng mà theo đó chúng được xây dựng và cũng đáp ứng các đặc trưng của thị trường đối với các loại dịch vụ môi trường khác nhau (bảo vệ đầu nguồn, đa dạng sinh học, hấp thụ cacbon và cảnh quan du lịch) (Lê Văn Hưng, 2011 trích theo Pagiola và Platais, 2002)

Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương Thực của Liên Hiệp Quốc (FAO), trong cuốn “Hiện trạng về lương thực và nông nghiệp” xuất bản năm 2007, thì những sáng kiến PES hiện tại đang được áp dụng có 2 nguồn gốc chính: Chính sách về nông nghiệp của các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh

tế (OECD) bắt đầu từ những năm 80 và sáng kiến bảo vệ rừng ở châu Mỹ Latinh bắt đầu từ những năm 90

Các chương trình PES tiến hành tại các nước OECD là chương trình nhằm đối phó các vấn đề suy thoái môi trường do phương thức canh tác thâm canh, như Chương trình duy trì bảo tồn (The Conservation Reserve Program) của Mỹ được triển khai vào năm 1985 với mục đích ngăn ngừa xói mòn đất ở khu vực đất canh tác Chủ đất tham gia vào chương trình tự nguyện nhận chỉ trả cho thuê hàng năm đổi lại họ ngừng canh tác trên mảnh đất của họ trong khoảng thời gian

từ 10 - 15 năm Tương tự như vậy, tại Vương quốc Anh thông qua Chương trình hành động dành cho các khu vực nhạy cảm về môi trường xây dựng năm 1987, nông dân được nhận khoản chi trả trực tiếp, khoản bồi thường do ngừng canh tác trên khu vực đất của họ, nhằm bảo vệ giá trị cảnh quan và các loài hoang dã Nhìn chung, chỉ trả dịch vụ môi trường ở các nước OECD được thiết kế nhằm bồi thường cho người nông dân để họ từ bỏ tập tục canh tác thâm canh và các hình thức canh tác khác có thể thu lợi cao nhưng ảnh hưởng về mặt môi trường Các tiêu chuẩn môi trường mà người nông dân phải tuân thủ nếu muốn nhận đầy

đủ các khoản chi trả cũng là một công cụ quan trọng được sử dụng tại nhiều quốc gia OECD, nhằm thúc đẩy việc tuân thủ hơn nữa bên cạnh các quy định về môi trường hiện hành

Hiện tại, hàng trăm chương trình PES đã được áp dụng ở các quốc gia phát triển và đang phát triển, tập trung chủ yếu vào dịch vụ môi trường rừng Không chỉ tập trung ở những nước phát triển, PES còn được trải rộng khắp các quốc gia

ở các châu Mỹ Latinh, Âu, Á, Phi, vùng Caribe và Thái Bình Dương

Trang 18

Các chương trình PES đã được áp dụng đầu tiên ở các nước phát triển tại

Mỹ Latinh PES cũng đã bắt đầu được thực hiện ở các nước châu Á Ở châu Phi, mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, đánh giá điều kiện thực hiện PES, tuy nhiên, tiềm năng và cơ hội rất hạn chế ở châu lục này Hiện tại, chỉ có một số chương trình về dịch vụ thủy văn đang được thực hiện ở Nam Phi và một số ít sáng kiến đang được đề xuất ở Nam Phi, Tunisia và Kenya Ở châu Âu, Chính phủ một số nước cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình PES Ở châu Úc, Ôxtrâylia đã luật pháp hóa quyền phát thải cacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cacbon của rừng Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương trình PES quy mô lớn, chỉ trả trực tiếp cho các chủ đất để thực hiện các biện pháp sử dụng đất nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ cacbon và vẻ đẹp cảnh quan (theo Lê Văn Hưng, 2013 “Chi trả dịch vụ

hệ sinh thái và khả năng áp dụng tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Phát triển

2013, 11(3), tr 337-344)

Các mô hình PES chỉ có thể thành công nếu: Hiểu rõ được mục tiêu và bản chất của thị trường đối với các DVMT Một trong những thách thức trong việc xây dựng các mô hình PES là chuyển các DVMT thành hàng hóa mà có thể bán cho những người hưởng lợi Điều này đòi hỏi phải tích lũy thông tin về bản chất thị trường, nhu cầu và giá trị của dịch vụ đối với những người hưởng lợi Nói chung, hàng hóa được xác định càng nhiều và hợp đồng dịch vụ càng phức tạp, chi phí giao dịch càng cao và tiềm năng giá cả nhận được từ thị trường cũng cao hơn Nếu hàng hóa xác định ít hơn thì quản lý sẽ rẻ hơn, tuy nhiên sẽ nhận được chi trả thấp hơn Vì vậy, điểm chủ chốt là tìm được tình huống tối ưu, cân bằng chi phí giữa giao dịch và hàng hóa Trong mọi trường hợp thì sự thành công của mô hình PES đòi hỏi phải hiểu kỹ các thị trường đối với các DVMT sẽ được bán

Thị trường DVMT có thể được tạo ra do khung pháp lý quy định hoặc những chính sách liên quan của quốc gia Những quy định mới, phí người sử dụng hoặc biện pháp khuyến khích tài chính có thể sử dụng để tạo ra các biện pháp khuyến khích mới, đây là động lực để phát triển thị trường DVMT

Trang 19

1.3 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu và triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam

Sau khi Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 4, ngày 18/10/2008 cùng với sự ra đời của Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/04/2008 và Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010, rất nhiều dự án thí điểm về PES đã được triển khai tại nhiều địa phương Các mô hình về PES đã được tổ chức thực hiện từ năm 2006 - 2009 trong các chương trình do Bộ NN và PTNT phối hợp với tổ chức Winrock International, chương trình môi trường trọng điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học do ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tài trợ từ năm 2006 - 2010 Các tỉnh được chọn thực hiện thí điểm gồm có Sơn La, Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận

Việt Nam đã tổ chức thực hiện một số chương trình, dự án liên quan về chỉ trả dịch vụ môi trường rừng sau đây:

(1) Các chương trình quốc gia: Thực tế, các chương trình trọng điểm

quốc gia nhằm phục hồi tài nguyên rừng ở Việt Nam là Chương trình 327 và Chương trình 661 (Chương trình tái trồng 5 triệu hecta rừng, 5 MHRP) do Chính phủ cấp kinh phí, đã có các nội dung cơ bản liên quan tới các hoạt động PES

Chương trình 327 được bắt đầu từ năm 1993 và kết thúc vào năm 1998 Trong giai đoạn đầu, chương trình này quan tâm tới lâm nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, tái định cư và các vùng kinh tế mới

Chương trình 661 là việc làm tiếp của chương trình 327, bắt đầu vào năm

1998 Mục tiêu chung của chương trình là: (i) Tới năm 2010 trồng mới được 5 triệu hecta rừng cũng như bảo vệ được diện tích rừng hiện có để tăng diện tích che phủ của rừng lên 43%, góp phần bảo vệ môi trường, làm giảm bớt thảm họa

tự nhiên, tăng sự sinh tồn dưới nước và bảo tồn tính đa dạng sinh học; (ii) Tạo hiệu quả sử dụng đối với đất trống và đồi núi trọc, tạo công ăn việc làm cho người dân nông thôn, góp phần giảm nghèo, giải quyết vấn đề con người, tăng thu nhập của người dân, ổn định cuộc sống, bảo đảm an ninh quốc gia, đặc biệt đối với các vùng biên giới quốc gia; (iii) Cung cấp gỗ và nguyên vật liệu cho sản

Trang 20

xuất giấy và gỗ dán, cho nhu cầu xây dựng và các sản phẩm hàng tiêu dùng và các sản phẩm cho xuất khẩu, cũng như phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, nhằm tăng nguồn ngân sách quan trọng cho ngành lâm nghiệp, góp phần phát triển kinh tế xã hội vùng núi

Ở hai chương trình này, mục tiêu và nội dung đều đề cập đến vấn đề bồi thường trực tiếp cho việc tái trồng rừng và bảo vệ rừng Những người dân địa phương được khuyến khích tham gia vào việc tái trồng cây và bảo vệ cây sẵn có Các doanh nghiệp lâm sản của Nhà nước, các ủy ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, các trạm kiểm tra rừng sản xuất đã ký hợp đồng đối với các tổ chức và cá nhân: Đơn vị bộ đội, cộng đồng dân cư, các hộ gia đình trong việc quản lý bảo vệ rừng Nhiều cộng đồng dân cư - chủ thể trong các hợp đồng bảo

vệ rừng nhận được những khoản khuyến khích hỗ trợ Những người được hưởng lợi là các hộ gia đình và cộng đồng dân cư đang sống bên trong hoặc sống ở gần rừng

(2) Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á (ARBCP): Đánh giá tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm PES ở tỉnh Lâm

Đồng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức Winrock International tổ chức thực hiện từ năm 2006 - 2009 Chương trình được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)

Mục tiêu chung của Chương trình là xây dựng và thực hiện Chính sách thí điểm về chi trả DVMT rừng, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì và hợp tác với các tỉnh Lâm Đồng và Sơn La thực hiện Chính sách thí điểm này và tổng kết rút kinh nghiệm vào năm 2010, tiếp theo xây dựng và phê duyệt Nghị định số 99/2010-NĐ-CP về Chính sách chỉ trả DVMT rừng, chính thức nhân rộng chính sách chi trả DVMT rừng trong cả nước Mục tiêu cụ thể của Chương trình là:

- Xây dựng khung pháp lý phù hợp và phương pháp tiếp cận khoa học cần thiết để tăng cường độ tin cậy của thị trường vào việc sử dụng các chỉ trả, nhằm giảm thiểu chi phí hoạt động của việc cấp điện, nước;

Trang 21

- Tạo điều kiện pháp lý cần thiết cho PES ở các vùng thí điểm ở các tỉnh; - Thực hiện giai đoạn thí điểm để kiểm chứng PES ở Lâm Đồng và Sơn La từ tháng 01/2009 đến 2010;

- Khuyến khích các công ty cấp nước và điện, bao gồm Tổng Công ty điện lực Việt Nam và Công ty cấp nước Tp HCM chi trả cho các dịch vụ cụ thể (ước tính đạt 4,5 triệu USD trong giai đoạn thực hiện thí điểm);

- Xác định những người làm nghề rừng ở địa phương là những người được hưởng lợi đầu tiên từ các chi trả

(3) Chương trình môi trường trọng điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tài trợ từ năm

2006 - 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị thực hiện Dự án này hỗ trợ một số hoạt động đánh giá, nghiên cứu khả thi và tìm cơ hội thị trường cho chi trả dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Quảng Nam (Sông Bung IV và A Vương) và Quảng Trị

(4) Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn Hồ Trị An: Trong khuôn khổ dự án 2 năm do Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch

(DANIDA) tài trợ, Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) tổ chức thực hiện

Dự án đã nỗ lực xây dựng cơ chế chỉ trả giữa các công ty cung cấp nước sạch và nhóm đối tượng gây ô nhiễm thượng nguồn Bước đầu tiến hành phân tích thủy văn và tình trạng ô nhiễm chung Bước này nhằm xác định nguyên nhân gây ô nhiễm và chi phí của các nhà máy cung cấp nước sạch Khi đã xác định được các mối liên kết này dự án đã phối hợp với các đối tượng gây ô nhiễm để cải thiện hoạt động sản xuất tại các đơn vị này đồng thời xây dựng cơ chế chi trả và quỹ đóng góp từ người hưởng lợi

(5) Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ cacbon trong lâm nghiệp thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Dự án thí điểm trồng 350

ha rừng keo với 300 hộ tham gia Nguồn tài chính bền vững của dự án bao gồm nguồn thu bán lâm sản và thương mại tín chỉ cacbon cho thị trường quốc tế Dự

án này do Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường Rừng (RCFEE) - Viện Khoa học Lâm nghiệp tổ chức thực hiện

Trang 22

Lợi ích của dự án không chỉ gồm lâm sản như gỗ và củi đốt như các dự án trồng rừng thương mại thông thường mà còn gồm các lợi ích từ việc bán tín chỉ cacbon Đây là một sản phẩm môi trường mới và có thể được kinh doanh trên thị trường thế giới thông qua cơ chế phát triển sạch

Người mua được xác định là các công ty sản xuất giấy trong nước đối với các sản phẩm gỗ và thị trường quốc tế cho các tín chỉ cacbon Số lượng tín chỉ cacbon ước tính thu được trong thời gian 20 năm của dự án là khoảng 60.000 - 80.000 CERs Với mục tiêu đề ra như vậy, trong quá trình chuẩn bị, nhóm xây dựng dự án đã tiến hành tham vấn với các công ty công nghiệp tại Hà Nội để tài trợ cho dự án với mục tiêu bảo vệ môi trường và xóa đói giảm nghèo Cuối cùng

dự án đã được hãng Honda Việt Nam đồng ý và tài trợ Số tiền tài trợ này chỉ là khoản tiền đầu tư ban đầu để vận hành dự án Chi phí cho các hoạt động tiếp theo

để duy trì dự án sẽ lấy một phần từ việc bán lâm sản và lợi ích từ việc bán tín chỉ cacbon Thành phần tham gia dự án là người dân địa phương, với khoảng 300 hộ gia đình tham gia Các hộ tham gia dự án sẽ có thu nhập từ việc bán gỗ và việc thương mại tín chỉ cacbon Ngoài ra, chính quyền địa phương sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện dự án

(6) Tạo nguồn tài chính bền vững để bảo vệ cảnh quan Vườn quốc gia Bạch Mã do WWF đề xuất và tổ chức thực hiện: Công ty nước Bạch Mã bắt đầu

khai thác nước từ năm 2005 Tiền thu được từ công ty này là tiềm năng đóng góp cho vườn Quốc Gia Mỗi mét khối nước sạch nên được đánh một khoản thuế gọi là phí môi trường được sử dụng để bảo vệ vùng đầu nguồn Nếu Công

ty nước trích 35% giá trị thu được từ việc bán nước sạch thì Ban quản lý Vườn

sẽ có 183.600.000 đ hay 15% doanh thu Công ty nước có thể thu phí và chuyển khoản tiền này trực tiếp cho những người sử dụng đất vùng đầu nguồn Khoản phí này phải được miễn thuế

(7) Dự án tạo tài chính bền vững vùng Trung Trường Sơn do GASF - Winrock International thực hiện tại Quảng Nam Mục tiêu của dự án nhằm

nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách liên quan đến PES; xác định nhu

Trang 23

cầu kỹ thuật, vùng dự án; xác định các lưu vực và mức tiền chỉ trả; rà soát khoán bảo vệ rừng và thành lập quỹ ủy thác

1.3.2 Các văn bản quy phạm pháp luật và kết quả áp dụng liên quan đến Chính sách chi trả DVMT rừng tại Việt Nam Nhận xét về hệ thống pháp luật liên quan đến thực tiễn chi trả DVMT rừng

Tại Việt Nam, Chính sách chi trả DVMT rừng ngày càng được quan tâm nghiên cứu và triển khai thực hiện Để hỗ trợ cho quá trình tổ chức thực hiện Chính sách chi trả DVMT rừng, một số văn bản pháp luật sau đây đã đề cập trực tiếp đến Chính sách chi trả DVMT rừng, bao gồm:

(1) Luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008, trong đó quy định “Tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường liên quan đến

đa dạng sinh học có trách nhiệm trả tiền cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ"

(2) Quyết định số 380/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm PES rừng, theo đó, PES đã được triển khai thí điểm tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Sơn La với các loại dịch vụ: Điều tiết nguồn nước; hạn chế xói mòn, bồi lấp; và cảnh quan du lịch

(3) Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều luật của Luật Lâm nghiệp

(4) Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Nghị định này quy định về việc thành lập, quản lý và

sử dụng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng

(5) Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp

Ngoài ra, tuy không quy định trực tiếp về Chính sách chi trả DVMT rừng, nhưng đã có một số văn bản pháp luật đã đề cập tới các hoạt động liên quan đến Chính sách chi trả DVMT rừng, đặc biệt là các quy định về bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học và chia sẻ lợi ích cho cộng đồng

Một số quy định chính về quản lý tài nguyên rừng liên quan đến chi trả DVMT rừng được đề cập chủ yếu trong các văn bản sau:

- Luật Lâm nghiệp ngày 15 tháng 11 năm 2017;

Trang 24

- Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2010 - 2020;

- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng; Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

Nhận xét về hệ thống pháp luật liên quan đến thực hiện chi trả DVMT rừng ở Việt Nam: Ở Việt Nam, tuy vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong việc xây dựng và thực hiện PES, nhưng về cơ bản các điều kiện cho triển khai

đã có cơ sở:

Dịch vụ hệ sinh thái được xác định: Các Luật của Việt Nam gồm Luật Tài

nguyên nước năm 2012, Luật Đất đai năm 2013, Luật Bảo vệ môi trường năm

2014 và Luật Đa dạng sinh học 2008 đều thừa nhận các nhân tố của dịch vụ mà

hệ sinh thái mang lại đó là: Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, phòng

hộ đầu nguồn và hấp thụ cacbon

Các bên liên quan có khả năng tham gia cam kết được xác định: Điều

quan trọng là tất cả các bên liên quan tham gia cam kết PES đều phải có tư cách pháp nhân (có quyền) để tham gia ký kết hợp đồng và quản lý, làm chủ và nhận lợi ích từ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015, các cá nhân và tổ chức có tư cách pháp nhân để ký kết hợp đồng

Quyền về tài nguyên, dịch vụ và lợi ích được xác định: Trong khi một số

luật xác định quyền của người sử dụng đất đối với tài nguyên và lợi ích từ các nguồn tài nguyên này thì Luật Đất đai năm 2013 và Luật Lâm nghiệp 2017 là có tầm quan trọng đặc biệt Luật Đất đai năm 2013 và tại các luật này, quyền của người sử dụng đất đối với việc quản lý đất đai họ được giao hay cho thuê được công nhận, và các luật này quy định trách nhiệm của họ, bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cộng đồng, giao đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng cho các cá nhân và hộ gia đình; giao và cho thuê đất cho các hộ và cá nhân để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ; và giao hoặc cho thuê rừng trồng, rừng sản xuất cho các doanh nghiệp thương mại Luật Lâm nghiệp 2017 cũng đảm bảo quyền của cộng đồng trong việc quản lý diện tích đất lâm nghiệp được

Trang 25

giao và sử dụng lâm sản phục vụ mục đích của cộng đồng và toàn dân Những quyền được hưởng lợi từ việc quản lý và sử dụng tài nguyên đó được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, đảm bảo người có quyền sử dụng đất có thể hưởng lợi từ những thành quả lao động họ bỏ ra và các hoạt động đầu tư khác trên diện tích đất được giao

Khung pháp lý hiện hành cho phép định giá và các cơ chế thị trường: Ba

văn kiện quan trọng (Quyết định số 166/QĐ-TTg ngày 21/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Nghị quyết số 41/NQ-

TW của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ) trực tiếp khuyến khích và thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế để hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường Những văn kiện này nhấn mạnh việc áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là một giải pháp tốt đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường Mặc dù Luật Lâm nghiệp 2017 cho phép xác định giá đối với các hàng hóa và dịch vụ từ rừng nhưng hiện nay việc định giá mới chỉ đề cập đến lâm sản Về nguyên tắc thì điều này có thể gồm cả việc định giá, phí và lệ phí từ việc chi trả dịch vụ hệ sinh thái Theo quy định hiện nay, Nhà nước là cơ quan duy nhất quy định mức phí và lệ phí và toàn bộ số tiền thu là nguồn thu ngân sách ở các cấp Trung ương, tỉnh, huyện và địa phương Do đó, vẫn còn mơ hồ về việc liệu cộng đồng, cá nhân hay công ty có thể giữ lại số tiền thu từ dịch vụ hệ sinh thái Tuy nhiên, các hộ gia đình, cá nhân và những đối tượng sử dụng khác có thể thu lợi từ việc bán các sản phẩm hệ sinh thái có được từ mảnh đất mà Nhà nước giao cho họ

Tóm lại, ở Việt Nam một số công cụ pháp luật, kinh tế, kỹ thuật và các công cụ hỗ trợ khác cần thiết để thực hiện PES đã có Tuy nhiên, cần có thêm các chính sách khuyến khích, biện pháp cần thiết và quan trọng để có thể áp dụng thành công hơn vì đây là vấn đề còn khá mới mẻ

Trang 26

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Đề tài góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và quản lý bền vững tài nguyên rừng cho khu vực nghiên cứu và ở Việt Nam

- Mục tiêu cụ thể:

+ Đánh giá được thực trạng thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bên tham gia liên quan đến chỉ trả dịch vụ môi trường rừng tại Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tới hiệu quả công tác quản lý tài nguyên rừng, kinh tế, xã hội tại địa bàn Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

- Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu trên địa bàn Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

- Phạm vi về thời gian: Tập trung nghiên cứu hiệu quả của chính sách giai đoạn 2016 - 2021

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tình hình thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

Trang 27

- Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng tại Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách chi trả DVMT rừng trên địa bàn Khu bảo tồn thiên nhiên Điện Biên

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Các thông tin được thu thập từ báo cáo, sách báo, các quy định của Chính phủ, các dự án chỉ trả dịch vụ môi trường, các nghiên cứu đã có và nguồn internet

- Các tài liệu dự kiến thu thập: Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường của xã Pá Khoang bao gồm: Điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hải văn), tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, nước, du lịch, rừng, khoáng sản), điều kiện kinh tế - xã hội (cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh tế, vấn đề dân số, văn hóa - giáo dục, cơ sở hạ tầng ), hiện trạng môi trường (đất, nước, không khí, chất thải rắn), hiện trạng khai thác rừng

* Các tiêu chỉ cần điều tra

- Xác định thực trạng tài nguyên rừng trên địa bàn xã Pá Khoang gồm các nội dung:

+ Hiện trạng tài nguyên rừng Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng;

+ Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng

- Đánh giá việc thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng gồm các nội dung: + Ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi chính sách của UBND tỉnh; + Bộ máy tổ chức thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng;

+ Phương thức thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng (Điều tra, phân loại các đối tượng chính sách; xây dựng hệ số K; cơ chế quản lý thu chi; quy trình thực hiện)

- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng

* Phương pháp thu thập số liệu

Trang 28

Kế thừa những tài liệu, số liệu của các cơ quan trên địa bàn tỉnh Điện Biên (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh; Chi cục Kiểm lâm tỉnh) để thu thập các số liệu về:

- Thực trạng tài nguyên rừng tại Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng

- Phỏng vấn chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và hộ nhận khoán

- Phỏng vấn bên sử dụng DVMT rừng là cán bộ các nhà máy thủy điện trên địa bàn

2.4.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học

Là phương pháp được tổ chức thành nhiều đợt hướng tới nhiều đối tượng khác nhau tại địa phương, quan sát thực tế khu vực nghiên cứu, thu thập thông tin và tư liệu ảnh, nhằm có được những thông tin trực tiếp, cụ thể trong đó có các đối tượng phỏng vấn sau:

a Người cung cấp dịch vụ - người dân địa phương (24 phiếu)

Nhằm đúng từ góc nhìn của người dân nhìn nhận về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, có được các thông tin phục vụ cho nội dung nghiên cứu như: Những thuận lợi khó khăn, vướng mắc của người dân gặp phải trong quá trình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; những mong đợi của người dân về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng như thế nào

Cụ thể: Trong 2 xã tham gia chi trả dịch môi trường rừng tại Ban Quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng: Xã Pá Khoang và Mường Phăng thì do địa hình đi lại khó khăn, bị hạn chế nên em chỉ đi thực tế khảo sát được 1 xã Pá Khoang

Số phiếu điều tra người dân sẽ được làm theo cấu trúc dưới đây:

Trang 29

+ Cấu trúc của mẫu phiếu điều tra:

Thứ nhất: Thông tin chung: Họ tên, năm sinh, giới tính, trình độ học vấn,

số thành viên trong gia đình, thu nhập bình quân

Thứ hai: Thiết lập các câu hỏi nhằm thu thập các thông tin liên quan đến

hiện trạng thực thi chính sách PES, mức chi trả cho dịch vụ Ví dụ: Theo quý vị chi trả dịch vụ môi trường rừng là gì? Theo quý vị chi trả DVMT rừng đem lại lợi ích gì?

+ Kích cỡ mẫu điều tra được tính theo công thức:

c Cơ quan quản lý (15 phiếu)

Trang 30

Bao gồm: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên; Hạt kiểm Lâm thành phố Điện Biên Phủ: Chủ đề được phỏng vấn nhằm đi sâu tìm hiểu các vấn

đề như: Đánh giá về hiện trạng triển khai chính sách chi trả DVMT rừng trên địa bàn được giao quản lý Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai, vấn đề ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách chi trả DVMT rừng, đánh giá về đóng góp và hiệu quả của chính sách chi trả DVMT rừng đối với công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện

Cụ thể: Tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên, tôi đã trực tiếp trao đổi với các cán bộ của Quỹ như: Giám đốc Quỹ, Kế toán, Phó phòng nghiệp

vụ quản lý, Cán bộ phòng hành chính tổng hợp để thu thập các thông tin theo yêu cầu đã nêu trong phiếu điều tra Bên cạnh đó tôi cũng đi đến Hạt kiểm Lâm thành phố Điện Biên Phủ gặp giám đốc, Kế toán, nhân viên kỹ thuật để thu thập các thông tin theo yêu cầu đã nêu trong phiếu điều tra Tuy nhiên, chúng tôi cũng tham khảo thêm ý kiến ngoài phiếu điều tra những vấn đề còn khúc mắc, chưa hiểu rõ để hoàn thành được tốt hơn đề tài này

2.4.2.3 Phương pháp điều tra khảo sát

* Tiêu chí cần điều tra

- Đánh giá diễn biến tài nguyên rừng (sự tăng giảm diện tích rừng, độ che phủ của rừng):

+ Trước khi thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng số liệu giai đoạn

+ Sau khi thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng số liệu giai đoạn 2016 - 2021

- Số vụ cháy rừng, phá rừng xảy ra; diện tích rừng bị mất đi do cháy, phá trước khi thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng và sau khi thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng

Trang 31

* Phương pháp thu thập số liệu

Kế thừa những tài liệu, số liệu của các cơ quan trên địa bàn huyện Mường Nhé (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) để thu thập các số liệu

2.4.2.4 Hiệu quả của chính sách chi trả DVMT rừng về mặt kinh tế

* Tiêu chí cần điều tra

- Xác định số tiền thu từ chính sách chi trả DVMT rừng giai đoạn 2016 - 2021

- Xác định nguồn đóng góp từ các tổ chức sử dụng DVMT rừng giai đoạn

2016 - 2021

- Xác định các đối tượng chỉ trả (kết quả chi trả) giai đoạn 2016 - 2021 Xác định nguồn đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng trước khi thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng và sau khi thực hiện chính sách chỉ trå DVMT rừng

- Đóng góp của chi trả DVMT rừng trong cơ cấu thu nhập của hộ

* Phương pháp thu thập số liệu

- Kế thừa những tài liệu, số liệu của các cơ quan trên địa bàn tỉnh Điện Biên (Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Điện Biên, Ban quản lý rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng) để thu thập các số liệu về (Số tiền thu từ chính sách chi trả DVMT rừng giai đoạn 2016 - 2021; nguồn đóng góp từ các tổ chức sử dụng DVMT rừng giai đoạn 2016 - 2021; các đối tượng chi trả (kết quả chi trả) giai đoạn 2016 - 2021; so sánh nguồn đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng trước khi thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng và sau khi thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng)

- Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi: Các hộ gia đình đại diện để điều tra thu nhập bình quân, cơ cấu nguồn thu hằng năm của các hộ gia đình (như thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nghề khác ), số hộ phỏng vấn 10 hộ gia đình; kế thừa số liệu tại UBND xã điều tra

2.4.2.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu

* Xác định tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại khoản 4 Điều 69 của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ

Trang 32

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên

Trang 33

- Phía Bắc tiếp giáp với xã Nà Nhạn và xã Nà Tấu, huyện Điện Biên;

- Phía Tây tiếp giáp xã Tà Lèng và xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ;

- Phía Nam tiếp giáp với xã Pú Nhi, huyện Điện Biên Đông;

- Phía Đông tiếp giáp xã Ẳng Cang và xã Ẳng Nưa, huyện Mường Ảng;

3.1.2 Địa hình, địa thế

Địa hình vùng dự án có độ cao từ 880 m đến 1.635 m so với mặt nước biển, với 2 kiểu địa hình chính:

- Kiểu địa hình núi trung bình: Đây là kiểu địa hình đặc trưng của vùng dự

án gồm toàn bộ hệ thống núi đất, có độ cao từ 880 m đến 1.635 m;

- Kiểu địa hình thung lũng: Nằm xen với các dãy núi thuộc khu vực hồ Pá Khoang; tuy nhiên kiểu địa hình này diện tích không lớn;

Địa thế: Gồm những dãy núi cao tiếp giáp với huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Ảng và Thành phố Điện Biên Phủ có độ dốc từ 300 - 350 Những dãy núi này đã hình thành thung lũng hẹp, thấp dần về phía Đông Bắc Xung quanh khu vực hồ Pá Khoang với những đồi thấp có độ dốc từ 200 - 250

- Nhiệt độ bình quân trong năm 22,30c;

- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 26,30c;

- Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 30c;

- Lượng mưa trung bình/năm từ 1.600 mm - 2.000 mm;

- Lượng mưa thấp nhất khoảng 20 - 30 mm/tháng; phân bố vào tháng 1 và tháng 12 hàng năm;

- Lượng mưa cao nhất khoảng 400 mm/tháng; tập trung vào tháng 7, tháng 8;

Trang 34

Hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc vào mùa lạnh và gió Đông Nam vào mùa nóng; các tháng 3, 4 trên địa bàn xã, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió Lào) do đó thời tiết thường khô hanh Nhiệt độ trung bình thường thấp hơn các xã vùng lòng chảo Điện Biên làm ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của cây trồng, nhất là cây nông nghiệp thời gian sinh trưởng dài hơn, dẫn đến thời vụ thu hoạch muộn hơn so với các xã khác

Bảng 3.1: Các chỉ tiêu khí hậu trên địa bàn vùng dự án

Các yếu tố khí hậu Đơn vị tính Chỉ số

3.1.4 Sông suối, thủy văn

Hệ thống thủy văn trên địa bàn xã gồm hệ thống suối sau:

Suối Nậm Phăng: Đây là suối chính được hình thành từ các con suối nhỏ thuộc khu vực: Bản Loọng Luông và bản Nghịu rồi đổ vào hồ Pá Khoang tại bản Đông Mệt Nguồn nước được cung cấp từ nhiều các khe nhỏ khác nhau chủ yếu phục vụ sản xuất;

Suối Nậm Điếng: Bắt nguồn từ đỉnh núi cao tiếp giáp với huyện Điện Biên Đông, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, qua địa phận bản Tân Bình, bản Khá rồi hợp với khe Phiêng Ma Lông đổ vào suối Nậm Phăng Ngoài cung cấp nước cho sản xuất, còn cung cấp nước sinh hoạt cho các bản: Tân Bình, bản Khá;

Ngoài ra trong vùng dự án còn nhiều khe suối khác như: Khe Tạc Điêng, khe Loọng Nghịu, khe Phiêng Ma Lông cung cấp nguồn nước cho hồ Pá Khoang để điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất trên cánh đồng Mường Thanh

và sinh hoạt sản xuất người dân trong xã đồng thời còn là nguồn cung cấp nước cho các công trình thủy điện, tạo cảnh quan để phát triển du lịch sinh thái

Trang 35

3.1.5 Điều kiện thổ nhưỡng, đất đai

- Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình: Phân bố ở độ cao từ

950 m đến 1.600 m so với mặt nước biển, độ dốc bình quân > 250 Đá mẹ chủ yếu là nhóm đá macma axit và đá biến chất, có thành phần cơ giới trung bình hàm lượng mùn tương đối dày

- Nhóm đất thung lũng (do quá trình bồi tụ): Phân bố tập trung chủ yếu ở ven hồ, suối, vùng đồi, thung lũng, có độ cao dưới 950 m so với mặt nước biển,

có độ dốc nhỏ Dạng đất này có tầng đất từ trung bình đến dày, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến cát pha, đất tơi xốp

Từ hai nhóm đất trên toàn địa bàn xã đã hình thành 6 loại đất sau:

4 Đất mùn đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét Hs 262,9 2,9

Trang 36

- Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (Ha);

Diện tích 7.114 ha chiếm 77,7% tổng diện tích tự nhiên, đây là loại đất chính phân bố trên địa bàn vùng dự án; đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dầy, hàm lượng mùn trong đất tương đối nhiều;

- Đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa);

Diện tích 893,5 ha chiếm 9,7% diện tích đất tự nhiên toàn vùng dự án Phân bố chủ yếu ở phía tiếp giáp với thành phố Điện Biên Phủ có độ cao từ 900

- 1.000 m so với mặt nước biển; đất có thành phần cơ giới thịt trung bình hàm lượng mùn nhiều;

- Đất thung lũng (D);

Diện tích 226,46 ha chiếm 2,5% diện tích đất tự nhiên toàn vùng dự án, tập trung ở ven suối Nậm Phăng, đất được hình thành do sản phẩm dốc tụ, bồi tụ của suối; thành phần cơ giới của đất từ thịt nhẹ, hàm lượng mùn lớn, rất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp;

- Ngoài ra, còn một số loại đất như: Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét (Fs), đất mùn vàng nhạt phát triển trên đá cát (Hq), đất mùn đỏ vàng trên đá sét Tuy nhiên, những loại đất này chiếm tỷ lệ không lớn và phân bố chủ yếu ở những đỉnh núi cao thuộc khu vực giáp ranh với huyện Điện Biên Đông và thành phố Điện Biên Phủ;

- Diện tích hồ Pá Khoang 600 ha và diện tích hồ Loọng Luông 12 ha

b Hiện trạng đất đai

Tổng diện tích tự nhiên vùng dự án: 9.158,56 ha;

* Đất nông nghiệp: 7.468,76 ha chiếm 81,5% diện tích đất tự nhiên;

Trong đó:

- Đất sản xuất nông nghiệp: 675,65 ha; chiếm 7,4% diện tích đất tự nhiên;

- Đất lâm nghiệp: 6.729,69 ha; chiếm 73,5% diện tích đất tự nhiên;

- Đất nuôi trồng thủy sản: 63,47 ha; chiếm 0,7% diện tích đất tự nhiên;

* Đất phi nông nghiệp: 1.684,91 ha; chiếm 18,4% diện tích đất tự nhiên;

- Đất ở: 47,82 ha;

- Đất chuyên dùng: 587,53 ha;

Trang 37

- Đất nghĩa địa: 7,40 ha;

- Đất sông suối, mặt nước hồ: 758,42 ha;

- Đất phi nông nghiệp khác: 283,74

Trang 38

2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 7,40

2.5 Đất sông, suối và mặt nước chuyên

2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 283,74

3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

3.2.1 Dân số và nguồn lực lao động

Vùng dự án có tổng số hộ là 1.967 hộ với số khẩu là 8.957; gồm có 4 dân tộc đang sinh sống là Thái, Khơ mú, Mông và Kinh

Trong đó: Dân tộc Thái chiếm 69,16%; dân tộc Khơ mú chiếm 17,78%; dân tộc Mông chiếm 11,81% và dân tộc Kinh chiếm 1,25% tổng số khẩu của

Trang 39

vùng dự án Số người trong độ tuổi lao động là 4.797 chiếm 53,56% tổng dân số vùng dự án Số người trong độ tuổi lao động chiếm hơn một nửa số khẩu tuy vậy chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và chủ yếu lao động phổ thông,

có trình độ văn hóa tốt nghiệp tiểu học, chưa qua đào tạo

- Hệ thống đường trục xã, liên xã: có chiều dài là 43 km

- Hệ thống đường liên bản: Có chiều dài là 40,5 km

- Hệ thống đường ngõ xóm: Có tổng chiều dài là 12,3 km

- Hệ thống đường giao thông nội đồng: Có chiều dài là 3,5 km

Hệ thống cầu, cống: Tổng số cầu qua hồ, qua suối đã xây dựng là 4 chiếc

Số cống qua đường đã được đầu tư 23 chiếc; cần đầu tư mới 17 chiếc

Hệ thống đường giao thông bước đầu đã giúp người dân trong vùng dự

án, đi lại thuận tiện bằng xe cơ giới với các xã khác và các bản trong xã Tuy nhiên do công tác quản lý, tu sửa hàng năm không thường xuyên dẫn tới một số tuyến đường đã được đầu tư rải nhựa đến nay đã xuống cấp

km kênh cấp III tại khu vực bản Che Căn đã xuống cấp

- Hiện còn 19 công trình thủy lợi với 18 km kênh tạm cần phải đầu tư sửa chữa và nâng cấp;

Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng đủ cho việc tưới tiêu trên địa bàn, ngoài công trình kênh của hồ Loọng Luông đang xây dựng để tưới cho 150 ha lúa mùa, 100 ha vụ đông xuân, công trình thủy lợi bản Vang tưới 20 ha và công trình thủy lợi bản Bua, hiện trên địa bàn xã vẫn chủ yếu là mương, phai tạm

Trang 40

Việc nạo vét, tu sửa kênh hàng năm vẫn chưa được quan tâm, dẫn đến 1 số công trình đã cứng hóa bị xuống cấp, không đáp ứng cho việc cung cấp nước, số diện tích không đủ nước tưới vụ chiêm còn tới 50 - 70 ha Nhiều công trình lấy nguồn nước tưới chủ yếu là từ nguồn nước tự nhiên, lấy từ các khe suối nên chưa chủ động cho việc tưới tiêu

c Điện nước sinh hoạt

Có 45/47 bản đã được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 95,7% tổng số bản, hiện còn 2 bản (bản Pá Trả xã Pá Khoang và bản Co Lứu xã Mường Phăng) chưa được sử dụng điện quốc gia Hệ thống điện đã được đầu tư cải tạo đảm bảo

kỹ thuật của ngành điện, đảm bảo an toàn cho người dân

3.2.3 Tình hình văn hóa, xã hội

a Giáo dục

- Tổng số trường trong khu vực nghiên cứu là 9 trường, 133 lớp với 2.705

học sinh trong đó trường mầm non 3 trường, trường tiểu học 4 trường, trường THCS 2 trường

b Y tế

- Năm 2014 các hoạt động y tế được thực hiện thường xuyên như thăm, khám chữa bệnh cũng thường xuyên thực hiện đảm bảo sức khỏe người dân, cộng đồng với tổng số lần khám bệnh là 15.818 lần

c Văn hóa

- Trên địa bàn vùng dự án có 15 bản được công nhận đạt bản văn hóa, chiếm 31,9% tổng số bản trên địa bàn Ủy ban nhân dân các xã hàng năm tổ chức các hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao chào mừng các ngày lễ, sự kiện trọng đại của đất nước

d An ninh trật tự xã hội

- Trong thời gian qua tình hình an ninh chính trị trên địa bàn vùng dự án được giữ vững ổn định Tuy nhiên về trật tự an toàn xã hội trong năm qua vẫn còn xảy ra và có chiều hướng diễn biến phức tạp như: Khai thác lâm sản và phá rừng làm nương rẫy, trộm cắp tài sản, vận chuyển trái phép chất ma túy

Ngày đăng: 06/10/2023, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w