1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHI TRẢ DỊCH vụ môi TRƯỜNG RỪNG tại VIỆT NAM và NHỮNG bài học KINH NGHIỆM cần rút RA KHI TIẾN HÀNH các CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH vụ hệ SINH THÁI TRONG TƯƠNG LAI

14 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 164,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA MÔI TRƯỜNG,BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÔ THỊ ******* BÀI THU HOẠCH MÔN: THỰC ĐỊA KIẾN THỨC NGÀNH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG BÀI H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA MÔI TRƯỜNG,

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÔ THỊ *******

BÀI THU HOẠCH MÔN: THỰC ĐỊA KIẾN THỨC NGÀNH

CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CẦN RÚT RA KHI TIẾN HÀNH CÁC CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI TRONG TƯƠNG LAI

Học và tên : Nguyễn Như Quỳnh

Mã sinh viên : 11194485 Lớp học phần : 01

Giảng viên : ThS Nguyễn Quang Hồng

Hà Nội, 12/2021

Trang 2

I Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) ở Việt Nam trong những năm vừa qua

1 Tiến trình phát triển

Sau khi Việt Nam hạn chế khai thác gỗ từ rừng tự nhiên vào năm 1995, ngành lâm nghiệp bị coi nhẹ so với các ngành kinh tế khác do mức độ đóng góp vào tổng sản phẩm kinh tế quốc nội là rất thấp Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng sửa đổi năm 2005 đã thay đổi thực trạng này với việc công nhận vai trò quan trọng của rừng trong việc cung cấp các dịch vụ môi trường Tiếp theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng này, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 cũng đã được phê duyệt Chiến lược đặt ra các nhu cầu cần thiết phải đánh giá các giá trị tài chính của các dịch vụ môi trường rừng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã kêu gọi mạnh mẽ để có được các cơ sở khoa học cần thiết nhằm thiết lập một nền móng vững chắc cho chính sách PFES

Một vài nghiên cứu về lượng giá rừng và định giá rừng, tập trung vào các dịch vụ môi trường rừng đã được Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam triển khai Các nghiên cứu đã cung cấp các cơ sở quan trọng cho các cơ quan liên quan để có được hiểu biết sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan tới việc phát triển chính sách PFES

Từ năm 2008, khung pháp lý quốc gia cho PFES, cơ sở pháp lý, cơ cấu tổ chức và

cơ chế ký kết hợp đồng, quản lý tài chính đã dần được xem xét và sửa đổi, với 20 văn bản pháp quy được ban hành ở tất cả các cấp (bao gồm 4 Nghị định và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 11 Quyết định và Thông tư cấp Bộ Trong đó, có 5 văn bản cung cấp hướng dẫn pháp lý về việc thành lập, tổ chức và quản lý các Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng ở cấp trung ương và cấp tỉnh, và 11 văn bản đưa ra các hướng dẫn chung

về triển khai PFES Vào năm 2010, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP đã được ban hành nhằm triển khai PFES trên phạm vi cả nước

Trang 3

Chương trình REDD+, kế hoạch hành động REDD+ đã được phê duyệt theo Quyết định số 799 của Thủ tướng Chính phủ năm 2012

Các loại dịch vụ môi trường rừng đã được nêu cụ thể trong Luật Lâm nghiệp 2012; Các nguyên tắc chi trả cũng đã được nêu trong Luật Lâm nghiệp 2017

2 Hiệu quả đạt được khi thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng

1

Trang 4

Trong vòng 3 năm sau khi triển khai trên cả nước, PFES đã cho thấy những tác động tích cực

- Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ, phát triển rừng: Tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2013 so với năm 2010 của toàn quốc giảm 19,42%; tổng diện tích bị phá năm 2013 so với năm 2010 của toàn quốc giảm 59,55%; tổng diện tích

bị cháy năm 2013 so với năm 2010 của toàn quốc giảm 82,89 Do có thu nhập từ Chính sách chi trả DVMTR, nên đã khuyến khích chủ rừng, người dân tham gia công tác phát triển rừng

- Tăng thu nhập cho người dân làm nghề rừng: Mức thu nhập bình quân hàng năm trong cả nước của các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng từ chi trả DVMTR khoảng 1,8 triệu đồng/hộ/năm Tại một số nơi, đơn giá chi trả bình quân cao hơn mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho bảo vệ rừng (200.000 đ/ha/năm); có nơi đạt từ 300.000 – 450.000 đ/ha/năm Các tỉnh có mức thu nhập bình quân của hộ gia đình cao như: Lâm Đồng (trên 8 triệu đồng/hộ/năm), Bình Phước (7,2 triệu đồng/hộ/năm), Kon Tum (trên 5,7 triệu đồng/hộ/năm), Đắk Lắk (trên 3,4 triệu đồng/hộ/năm), Hòa Bình (3,8 triệu đồng/ hộ/năm), Nhờ chính sách chi trả DVMTR mà thu nhập thực tế bình quân của các hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng đã có những bước cải thiện rõ rệt

- Giải quyết khó khăn về kinh phí hoạt động cho các chủ rừng; tạo ra nguồn tài chính bền vững, giảm áp lực chi ngân sách: Từ năm 2013, Chính phủ có chủ trương tạm dừng khai thác chính gỗ từ rừng tự nhiên, một số chủ rừng, công ty lâm nghiệp không còn nguồn thu từ khai 8 thác rừng tự nhiên, thì nguồn tiền DVMTR giúp cho các công ty này đứng vững, khôi phục sản xuất, có kinh phí hoạt động và hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng Nếu như nguồn ngân sách nhà nước đáp ứng khoảng 29% tổng mức đầu tư cho

Trang 5

ngành Lâm nghiệp, thì trong 2 năm gần đây nguồn tiền DVMTR đạt bình quân khoảng 1.100 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng 22,3% nguồn kinh phí đầu tư cho toàn ngành lâm nghiệp

Đến hết tháng 6/2021, hệ thống Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã ký được 1.208 hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó số hợp đồng được ký mới trong 6 tháng đầu năm 2021 là 244 hợp đồng, chủ yếu ký với cơ sở sản xuất công nghiệp

và nước sạch Trên cơ sở hợp đồng đã ký, trong 6 tháng đầu năm đã thu được 1.435 tỷ

2

Trang 6

đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, đạt 51% kế hoạch và tăng 66% so với cùng kỳ năm 2020

Trong 6 tháng đầu năm 2021, các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh đã giải ngân, thanh toán gần 2.230 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2020 (đạt 93% kế hoạch được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt) cho 223 Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, 88 công ty lâm nghiệp, 1.564 UBND xã được giao trách nhiệm quản lý rừng, 325 chủ rừng khác và hơn 233.000 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng với tổng diện tích được hưởng là 6,7 triệu ha (chiếm 45% tổng diện tích rừng toàn quốc) Tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần hỗ trợ công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng, chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng trong bối cảnh dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và giúp cải thiện thêm thu nhập cho đồng bào nghèo, miền núi gắn bó, bảo vệ rừng trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang khó khăn

3 Những khó khăn, bất cập trong chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng

- Mức chi trả DVMTR có sự chênh lệch giữa các địa phương và ngay trong một lưu vực: Việc áp dụng cách thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng theo lưu vực các thủy điện chứ không theo hình thức chi trả theo lưu vực sông như trước kia đang tạo ra

sự chênh lệnh khá lớn giữa các khu vực Cụ thể, số tiền chi trả cho 1 ha cao nhất là

2.738.700đ/ha, thấp nhất là 1.650đ/ha, mức chênh lệch lên đến gần 1.660 lần

- Tình trạng nợ đọng của nhiều đơn vị sử dụng môi trường rừng: Tại Sơn La có

60 đơn vị sử dụng môi trường rừng, trong đó có 58 nhà máy thủy điện, 2 cơ sở cung ứng

Trang 7

nước sạch, tuy nhiên số lượng nợ đọng lên đến 1/3, điều này gây nhiều khó khăn cho việc đảm bảo nguồn quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng hàng năm

- Quỹ DVMTR không đủ để đảm bảo thu nhập của người dân nếu họ không có thêm nghề phụ Các hộ gia đình nhận khoán bước đầu đã phát triển thêm các nghề phụ như trồng cây dược liệu, chăn nuôi gia súc, gia cầm… trong khu vực rừng nhận khoán

để nâng cao thu nhập

II Bài học kinh nghiệm cần rút ra khi tiến hành các chính sách chi trả dịch vụ hệ sinh thái trong tương lai

3

Trang 8

- Hiện nay, chi trả dịch vụ môi trường rừng đang phổ biến hơn cả so với các dịch

vụ hệ sinh thái khác như đất ngập nước, biển, công viên địa chất Do đó, cần chú trọng nâng cao hiệu quả chi trả dịch vụ hệ sinh thái một cách đông đều, phát huy những gì đã đạt được khi thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng và chú trọng giải quyết các vướng mắc khó khăn còn tồn đọng để tránh lặp lại những sai sót tương tự trong các hệ thống chi trả dịch vụ hệ sinh thái khác

- Cụ thể hóa chính sách pháp luật về chi trả dịch vụ hệ sinh thái Hiện tại, có rất ít các văn bản pháp luật và các văn bản hầu như chỉ đề cập rất chung chung, chưa có quy định cụ thể về mô hình tổ chức và phân cấp quản lý các Qũy chi trả dịch vụ hệ sinh thái Cần bổ sung các quy định về xử phạt vi phạm và giám sát, đánh giá trong thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ hệ sinh thái Bên cạnh đó, cần đảm bảo sự thống nhất giữa các văn bản luật

- Điều chỉnh mức chi trả sao cho hợp lý, tránh hiện tượng chênh lệch quá lớn giữa các vùng, đối tượng Tuy nhiên, mức thu, phương thức chi trả áp dụng vẫn phải phù hợp với đặc trưng, điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương, đảm bảo linh hoạt và không tác động lớn đến các đối tượng phải thực hiện chi trả

- Rà soát hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường của các doanh nghiệp, cơ

sở sản xuất; hướng dẫn cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thực hiện nghiêm túc việc nộp tiền dịch vụ hệ sinh thái đầy đủ kịp thời cho các Qũy chi trả dịch vụ hệ sinh thái các cấp tránh hiện tượng nợ đọng, thất thoát, không đảm bảo nguồn quỹ

Trang 9

- Hợp tác với các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước để xây dựng các dự

án thí điểm đối với các loại hình dịch vụ hệ sinh thái mới xuất hiện; dựa vào đó đánh giá, rút kinh nghiệm, khắc phục thiếu sót và nhân rộng ra thực hiện trên khắp cả nước

- Phát huy tối đa vai trò của Nhà nước, nhất là trong việc thực hiện việc điều phối các hoạt động thu chi, giám sát bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa bên “phải chi trả”

và bên “được chi trả” các dịch vụ hệ sinh thái

- Cần tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ hệ sinh thái; chỉ đạo giải ngân tiền dịch vụ hệ sinh thái kịp thời, đầy đủ

4

Trang 10

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách chi trả để người dân hiểu và yên tâm nhận khoán

- Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển và áp dụng chi trả DVMTR và dịch vụ

hệ sinh thái dựa vào tiềm năng của các hệ sinh thái tiêu biểu như rừng, biển và đất ngập nước Với hơn 3.200km chiều dài, bờ biển Việt Nam gồm nhiều đoạn lồi lõm đã tạo ra khoảng 125 bãi tắm đẹp, với những bãi cát trắng trải dài thoai thoải và làn nước trong xanh như Bãi Cháy và Trà Cổ (Quảng Ninh), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế), Nha Trang (Khánh Hòa), Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu)… Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có khoảng 12 triệu hécta đất ngập nước, đa dạng về kiểu loại và phân bố ở mọi vùng sinh thái của đất nước, với khoảng 26 kiểu loại đất ngập nước khác nhau Tận dụng tốt các điều kiện tự nhiên trong dài hạn sẽ tạo ra lợi ích kép vì góp phần duy trì các hoạt động kinh tế bền vững cho chính các tổ chức, cá nhân sử dụng

và phải trả tiền và đồng thời góp phần duy trì, phát triển các hệ sinh thái

Trang 11

5

Trang 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 “Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ”

2 “Đề xuất các quy định về chi trả dịch vụ hệ sinh thái đối với đất ngập nước trong

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020” – TS Lại Văn Mạnh

3 “Chi trả dịch vụ hệ sinh thái và khả năng áp dụng tại Việt Nam” – Lê Văn Hưng, Tạp chí Khoa học và phát triển

4 Báo thiennhien.net

Trang 14

6

Ngày đăng: 19/03/2022, 17:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w