1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac

116 610 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’gar, tỉnh đăklac
Tác giả Ngô Nhân
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Văn Chỉnh
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 6,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP I

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS.TS §INH V¡N CHØNH

Hµ NéI, 2007

Trang 2

LờI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ0 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn đ0 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Ngô Nhân

Trang 3

LờI CảM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp tôi luôn nhận được sự giúp đỡ về nhiều mặt của các cấp L0nh đạo, các tập thể và cá nhân

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới PGS.TS

luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn L0nh đạo Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thuỷ sản, khoa sau Đại học, các Thầy, Cô trong bộ môn Di truyền – Giống đ0 tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi về kiến thức trong quá trình học tập và làm luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Lảnh đạo Trường đại học tây nguyên, phòng đào tạo sau đại học, lảnh đạo Huyện Uỷ, UBND Huyện Cưm,gar, Chi cục thú y tỉnh Daklak, các trại chăn nuôi, cán bộ viên chức Trạm thú y Huyện Cưm’gar, gia đình và bạn bè đồng nghiệp đ0 động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Ngô Nhân

Trang 4

MụC LụC

2.2 Tuổi thành thục về tính, các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành

4.1 Mức ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất sinh sản của

Trang 5

4.2.1 Năng suất sinh sản theo lợn nái Landrace và Yorkshire 36 4.2.2 Năng suất sinh sản của lợn nái phối theo lợn đực Landrace và

4.4 Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối giống khác

4.4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối LxL qua các

4.6.1 Tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa đối với các công

4.6.2 Tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa đối với các công

Trang 6

DANH MôC B¶NG

Trang 7

DANH MụC biểu đồ

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Nằm trong khu vực Đông nam á, Việt Nam là một quốc gia có những lợi thế về tiềm năng đất đai, nguồn lao động dồi dào và hệ sinh thái phong phú cho phép phát triển nhiều loại vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao Trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, chăn nuôi lợn là một nghề có bề dày truyền thống, nó gắn liền với cuộc sống của người dân Việt và có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp Hàng năm số lượng thịt lợn chiếm khoảng 75% trong tổng sản lượng thịt trong cả nước Ngoài việc cung cấp nguồn thực phẩm trong thị trường nội địa, thịt lợn cũng góp phần cho xuất khẩu Chất thải trong chăn nuôi lợn còn cung cấp cho ngành trồng trọt một nguồn phân hữu cơ có giá trị góp phần thâm canh tăng năng suất cây trồng và là nguồn chất đốt (Biogar) phục vụ cho đời sống con người

Tuy đ0 có những tiến bộ nhất định, nhưng so với tốc độ phát triển tại một số nước trong khu vực và trên thế giới thì trình độ sản xuất chăn nuôi ở nước ta còn thấp, năng suất chất lượng sản phẩm chưa cao, lượng thịt hơi sản xuất ra một nái/năm ở nước ta mới chỉ đạt khoảng 500 kg, trong khi một lợn nái nuôi ở các nước tiên tiến là 1200 kg- 1500 kg thịt/năm (Đinh Hồng Luận 1979)[17]

Nhu cầu tiêu dùng thịt nạc trong nước và xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới đang đặt ra cho ngành chăn nuôi lợn những nhiệm vụ lớn Các giống lợn nội như (Móng cái, Lang Hồng, ỉ, Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu ) được nuôi trong dân bây giờ không còn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng nữa Vì vậy để nâng cao năng suất và chất lượng trong chăn nuôi thì việc chăn nuôi các giống lợn có năng suất cao, có hiệu quả kinh tế là cần thiết Vì vậy tăng nhanh đàn lợn nuôi đạt năng suất, nhất là đạt tỷ lệ nạc cao ở trong nước là một bước đi tất yếu Sản lượng lương thực ổn định và tăng nhanh hàng

Trang 9

năm đ0 góp phần thúc đẩy phát triển việc chăn nuôi lợn hướng nạc Với chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua chúng ta đ0 và đang ưu tiên đầu tư bằng nhiều nguồn vốn cho chương trình chuyển đổi giống cây trồng và vật nuôi, trong đó có chương trình “ nạc hóa

đàn lợn” trong phạm vi cả nước để cải tiến đàn lợn ở các địa phương, nhanh chóng chuyển dần tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ thành sản xuất chăn nuôi hàng hóa với quy mô theo hướng thâm canh cao

Là một trong 13 huyện miền núi thuộc tỉnh Đaklak, huyện CưM’gar có những điều kiện khá thuận lợi về đất đai, thời tiết và lao động Hàng năm trong lĩnh vực trồng trọt của huyện sản xuất trên 50.000 tấn ngô, đậu - đỗ các loại Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc phát triển sản xuất chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn hướng nạc Trước những năm 2000, mỗi năm ở tại huyện thường phải nhập từ các tỉnh khác từ 15.00-20.000 đầu lợn để giết thịt Qua việc thực hiện chương trình chuyển đổi vật nuôi, nạc hóa đàn lợn giai đọan 2000-2005 đàn lợn của huyện đ0 tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng

Đến nay tại huyện người chăn nuôi không còn phải nhập lợn về giết thịt mà còn xuất bán ra khỏi huyện từ 11.000 đến 12.000 đầu lợn mỗi năm Các giống ngoại như Yorkshire, Landrace, Pietrain, Duroc đ0 được nhập về nuôi ở các

hộ nông dân và một số trang trại Theo số liệu thống kê và điều tra của phòng kinh tế huyện ở thời điểm 1/10/2006 toàn huyện có 38.825 con lợn, đàn lợn nái khoảng 4.000 con, trong đó có hơn 1900 đầu lợn nái ngọai chủ yếu là giống Yorkshire, Landrace được nuôi ở các hộ nông dân và một số trang trại Tuy vậy, các giống lợn ngoại chưa được nuôi nhiều trong điều kiện chăn nuôi tại huyện CưM’gar Điều đó phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất như chuồng nuôi, trình độ kỹ thuật, thói quen từ tập quán chăn nuôi truyền thống

Do vậy nuôi lợn ngoại vẫn còn là một nghề mới đối với người dân ở huyện này Một trong những vấn đề cần được giải quyết đó là vấn đề năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại còn thấp, chưa ổn định và chưa đồng đều giữa các nông hộ Trước tình hình thực tế đó để tìm ra các biện pháp kỹ thuật, qui trình

kỹ thuật và quy mô chăn nuôi lợn ngoại phù hợp với trình độ dân trí, điều kiện

Trang 10

kinh tế, đất đai của nông hộ UBND huyện CưM’gar đ0 dành ra một khoản kinh phí từ sự nghiệp kinh tế của huyện để đầu tư xây dựng các mô hình chăn nuôi lợn giống ngoại, để từ thực tiễn sản xuất tìm ra những giải pháp khả thi nhanh chóng nhân rộng đàn lợn ngoại nuôi tại địa bàn, thực hiện có kết quả chương trình nạc hóa đàn lợn của huyện giai đọan 2006-2010 Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện CưM’gar - tỉnh Daklak”

1.2 Mục đích của đề tài

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Yorkshire và Landrace trong điều kiện chăn nuôi nông hộ thuộc huyện CưM’gar

- Đánh giá năng suất sinh sản theo lợn nái L,Y và theo lợn đực phối

- Đánh giá khả năng sinh sản qua các lứa đẻ của lợn Landrace và Yorkshire

- Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa

- Xác định tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc đánh giá khả năng phát triển đàn nái ngoại đang được đầu tư và nhân rộng tại huyện CưM’gar Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để hoàn thiện quy trình chăn nuôi lợn nái ngoại và cũng là cơ sở để có định hướng phát triển chăn nuôi lợn ở khu vực chăn nuôi nông hộ thuộc địa bàn miền núi của huyện CưM’gar Các giống lợn ngoại có năng suất cao được nuôi có hiệu quả trong điều kiện nông hộ sẽ làm thay đổi tập quán của hơn 30 dân tộc anh em hiện đang sinh sống tại địa phương về chăn nuôi lợn, giúp họ chuyển dần sang hình thức sản xuất thâm canh, đầu tư

để sản xuất hàng hóa giá trị cao Trên cơ sở đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn

Trang 11

Người ta thường quan tâm đến độ sinh trưởng tích lũy, độ sinh trưởng tuyệt đối

- Độ sinh trưởng tích lũy: là khối lượng, kích thước, thể tích của gia súc tích lũy được trong một thời gian

- Sinh trưởng tuyệt đối: là khối lượng, thể tích, kích thước cơ thể gia súc

được tăng lên trong một đơn vị thời gian và được tính theo công thức sau đây:

1 2

1 2tt

WWA

ư

ư

=

Trong đó: A là sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày, kg/tháng)

2.2.2 Phát dục

Phát dục là quá trình hình thành những tổ chức, bộ phận mới trong cơ thể ngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của cơ thể sinh vật Sinh trưởng và phát dục có mối quan hệ chặt chẻ với nhau, nếu phát triển không đầy đủ sẻ trở nên dị tật và nếu sinh trưởng không đầy đủ cơ thể sẽ bị còi cọc, gầy yếu

Nhiều kết quả nghiên cứu về sinh trưởng và phát dục trên cơ thể của

động vật cho rằng sự phát triển của cơ thể động vật có tính giai đoạn, mỗi giai

Trang 12

đoạn phát triển khác nhau thì quá trình sinh trưởng và phát dục cũng khác nhau Nghiên cứu về tính giai đoạn trong quá trình sinh trưởng và phát dục của gia súc Viện sỹ A.F Midendorpho (1967) cho rằng gia súc non sinh trưởng mạnh nhất trong thời gian sau khi sinh, sau đó mức tăng trọng giảm dần theo từng tháng Tính giai đoạn không chỉ đặc trưng cho cả cơ thể sống mà còn đặc trưng cho từng bộ phận của cơ thể

Sự phát triển của cơ thể gia súc tuân theo 3 quy luật, quy luật phát triển theo giai đoạn, quy luật phát triển không đồng đều và quy luật theo tính chu

kỳ Hiểu biết về các quy luật phát triển của gia súc cũng như các yếu tố ảnh hưởng của nó sẽ giúp cho chúng ta có những tác động đúng vào quy luật sinh trưởng và phát dục để gia súc thể hiện hết tiềm năng di truyền của chúng qua

đó đem lại lợi ích cho người chăn nuôi

2.2 Tuổi thành thục về tính, các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính 2.2.1 Tuổi thành thục về tính

Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đó đ0 phát triển căn bản hoàn chỉnh Dưới tác động của thần kinh và nội tiết tố, con vật xuất hiện các hiện tượng của sự hưng phấn sinh dục (các phản xạ về sinh dục) Khi đó các no0n bào và tế bào trứng rụng Tuổi thành thục về tính của cái hậu

bị biểu hiện bằng lần động dục đầu tiên Biểu hiện của lần đầu động dục thường không rõ ràng, sau đó ổn định hơn theo quy luật khoảng 18-22 ngày

động dục một lần (bình quân chu kỳ động dục của lợn nái là 21 ngày) Khi lợn cái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, mùi vị feromon của con đực và các kích thích nội tiết tác

động lên vỏ n0o và các kích thích này truyền đến tuyến yên làm cho tuyến yên tiết ra chất FSH (Folliculo Stimulin Hormon) Hormon này tác động lên buồng trứng làm cho bao no0n phát dục và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao no0n tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao no0n Lúc này lợn bắt đầu có biểu hiện động dục như biếng ăn, bồn chồn đi lại nhiều, âm hộ có hiện tượng

Trang 13

sung huyết đỏ mọng, kêu réo, phá chuồng, thích nhảy lên lưng con khác, thích gần lợn đực, lấy tay ấn lên lưng thì thấy lợn đứng yên, đứng ở tư thế giao phối,

đuôi cong lên, âm hộ chảy nuớc nhờn lúc đầu lo0ng sau đó đặc dần Theo Jirawitrachatama (1992) cuối chu kỳ động dục lại kích thích tuyến yên tiết ra

LH (Luteino Stimulin) Hormon FSH và LH cùng kích thích làm cho trứng chín và rụng ở lợn số lượng trứng rụng khoảng 15 - 25 tế bào trứng một lần

động dục Sau khi thải trứng một thời gian ngắn chất no0n bào sẽ sinh ra thể vàng Thể vàng tiết ra Progesteron làm cho tử cung chuẩn bị đón hợp tử và ức chế sự phân tiết Gonado Stimulin Hormon của tuyến yên, ức chế sự thành thục của no0n bào trong buồng trứng, làm cho lợn nái không động dục trở lại Thuỳ trước của tuyến yên tiết ra Prolactin làm cho thể vàng tiết ra Progesteron và kích thích tuyến sữa phát dục Nếu lợn nái có chửa, thể vàng sẽ tồn tại suốt thời gian mang thai cho đến khi lợn đẻ, thể vàng mới mất đi Nếu không có chửa tử cung sẽ sản sinh ra Hormon Protagladine làm tan r0 thể vàng không sản sinh ra Progesteron nữa, tuyến yên lại được giải phóng và lại sinh ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới

Lợn thuộc các giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau Sự thành thục về tính ở lợn giống nhỏ thường sớm hơn ở lợn giống lớn Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu xảy ra vào lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống thành thục sớm (lợn Trung Quốc) và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển Kaplon và cộng sự (1991)[55] Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tính sớm, đẻ nhiều con và chức năng làm mẹ tốt Tuổi thành thục của chúng sớm khoảng 100 ngày tuổi, số con đẻ/lứa nhiều hơn 2,4 - 5,2 con so với lợn Large White

Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự(1995)[8], đối với lợn hậu bị ngoại thì tuổi thành thục về tính khoảng 6 -7 tháng tuổi, trong khi đó ở lợn cái lai ngoại có tuổi thành thục về tính sớm hơn Đối với lợn cái nội thì tuổi thành

Trang 14

thục về tính còn sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, cho nên phải bỏ qua một

đến hai chu kỳ động dục đầu rồi mới cho phối giống Lý do là ở chỗ cơ thể lợn phát triển chưa đầy đủ Nếu cho lợn cái phối ngay lần động dục đầu tiên và có chửa thì thai sẽ phát triển kém, con đẻ ra nhỏ, tỉ lệ đẻ khó cao do khung xương chậu của mẹ chưa phát triển hoàn chỉnh Chính vì vậy mà lợn cái ngoại được phối giống khi khối lượng đạt từ 100 – 110 kg

- Tuổi

Tuổi của lợn cái có sự liên quan với khối lượng phối lần đầu Để đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn cái cần thành thục về tính lẫn thể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hay quá muộn, khối lượng lúc đó quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái Phối sớm khi khối lượng cơ thể chưa đạt yêu cầu quy định, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh chức năng sinh lý dẫn đến số trứng rụng ít, tỷ lệ thụ thai kém, con sinh ra có sức sống kém, còi cọc, chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau Nếu để quá muộn, lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể lớn, quá béo cũng sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu,

từ đó làm giảm hiệu quả kinh tế Chỉ nên phối giống cho cái hậu bị từ lần

động dục thứ 2 khi đạt 6- 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7- 8 tháng tuổi và nặng 60- 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi và nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn ngoại và lợn lai (ngoại x ngoại) Nguyễn Khắc Tích (2002)[27]

Các kết quả về tuổi và khối lượng phối giống lần đầu ở lợn lai F1 (Y x L) và ở lợn Yorkshire, lợn Landrce được các tác giả Từ Quang Hiển, Trần Văn

Trang 15

Phùng (2005) cho biết: Tuổi phối lần đầu của lợn F1(Y x L); lợn Yorkshire và lợn Landrace lần lượt là: 278,12 ngày; 274,20 ngày và 279,39 ngày Còn khối lượng phối lần đầu tương ứng là: 105,30 kg; 97,39 kg và 109,05 ngày

Phùng Thị Vân và cộng sự (2000)[30] nghiên cứu trên lợn lai F1 (L x Y)

và F1 (Y x L) đ0 công bố: Tuổi động dục lần đầu của lợn F1 (L x Y) và F1 (Y x L) là 224 ngày và 218,8 ngày; tuổi phối giống lần đầu là 259 và 248,3 ngày Hughes và cộng sự (1980)[49] cho biết: Lợn cái lai có tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn thuần là 7,90 ngày; tuổi thành thục về tính biến động trong khoảng 135- 250 ngày

- Chế độ dinh dưỡng

Trên thế giới và ở Việt Nam đ0 có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Các thực nghiệm của họ đ0 đưa ra nhiều kết luận Nếu chế độ dinh dưỡng tốt thì thành thục về tính sớm và ngược lại

Theo Joakimsen O, R.L Barker và cộng sự (1977)[51] nếu lợn hậu bị

được nuôi dưỡng tốt thì thành thục về tính ở 188 ngày, khối lượng đạt 80 kg, nếu nuôi dưỡng kém thì thành thục về tính ở 245 ngày và khối lượng chỉ đạt

50 kg

Theo Cuningham P.J, Young L.D và cộng sự (1979)[43] cho rằng lợn cái hậu bị cần được cho ăn với chế độ nuôi hạn chế đủ dinh dưỡng để cơ thể không quá béo Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Văn Duy (2006)[21] cho biết để tăng tỷ lệ đẻ, số con sơ sinh và tăng tuổi thọ của lợn nái thì điều khiển dinh dưỡng và duy trì thể trạng lý tưởng của lợn nái khi phối lần 1 là 135 - 150 kg, dày mỡ lưng 18 - 20mm, khi đẻ tối thiểu khối lượng đạt 175 - 180 kg, dày mỡ lưng 15 - 24mm (tốt nhất là 20 - 24mm) Cho ăn cao ngay sau khi phối giống liên quan đến tỷ lệ chết lưu cao, ăn tăng ở giai đoạn chửa kỳ 1 có liên quan

đến việc giảm khả năng sống sót của phôi, ăn cao ở giai đoạn chửa kỳ 2 thì có hại cho sự phát triển tuyến vú của lợn nái

Thực nghiệm của Anderson (1967) cho thấy: mức ăn hạn chế về năng

Trang 16

lượng đ0 làm tuổi thành thục về tính dục chậm 16 ngày so với các mức ăn khác và tập trung mức năng lượng cao vào thời điểm từ 11 - 14 ngày trước phối giống sẽ cho số trứng rụng tăng lên

Chế độ ăn và mức năng lượng ăn vào trong thời gian nuôi con có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau khi cai sữa con Khi tăng mức năng lượng thì đồng thời cần tăng mức lysine thì năng suất sữa của lợn mẹ sẽ tăng cao, nếu chỉ tăng lysine mà không tăng năng lượng thì năng suất sữa giảm Có tác giả cho rằng từ trước khi động dục lần đầu đến phối giống ở chu kì 2 cần cho ăn với mức 3 kg/con/ngày bằng thức ăn của lợn choai hoặc lợn nuôi con

y Để đạt kết quả thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng

đều về giống, tuổi, khối lượng với mật độ theo từng thời kì: 3 - 5 tháng tuổi thì 0,4 - 0,5m²/con, 6 - 8 tháng tuổi: 0,5- 0,8m²/con, (5- 6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian biểu hiện đặc trưng cho giống

Đặc điểm nổi bật của lợn là hoạt động động dục theo chu kỳ, trung bình

là 21 ngày, ở giai đoạn hậu bị thì hoạt động động dục chưa ổn định ở 1-2 lần

Trang 17

đầu, sau đó ổn định dần Theo một số nghiên cứu cho thấy ở lợn nái nội những lần động dục đầu tiên thường ít có tế bào trứng rụng, nên trong chăn nuôi lợn nái người ta khuyến cáo không nên cho lợn phối lần đầu tiên khi mới động dục Chu kỳ động dục ở lần đầu thường ngắn hơn lần sau và sự phát dục của buồng trứng phụ thuộc vào tuổi của lợn

2.3.2 Thời gian động dục và thời điểm phối giống

+ Thời gian động dục

Thời gian động dục của lợn nái ngoại tuỳ thuộc vào giống, tuổi cá thể (ở lợn nái ngoại từ 4-5 ngày, ở lợn ngoại hậu bị từ 5-7 ngày) Việc phát hiện lợn nái động dục là nhân tố quan trọng nhất trong công tác phối giống, nhất là khi

sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo Để phát hiện động dục cần kiểm tra ít nhất một ngày 2 lần, mỗi lần cách nhau là 12 giờ Nên kiểm tra vào lúc 6 giờ sáng và 6 giờ chiều là tốt nhất

+ Biểu hiện động dục của lợn nái

Lợn thường bỏ ăn, phá chuồng, ưa nhảy lên lưng con khác, âm hộ sung huyết, nếu dùng tay đặt lên hai bên hông thì lợn đứng yên, tai vểnh đuôi cong, sẵn sàng tư thế giao phối, cũng có những lợn nái biểu hiện động dục không rõ nét Đối với những trường hợp này cần phải theo dõi tỉ mỷ để quyết định thời gian phối giống thích hợp, có thể sử dụng lợn đực thí tình để phát hiện Người

ta thường chia biểu hiện động dục làm 3 giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu

đực, giai đoạn chịu đực, giai đoạn sau chịu đực

- Giai đoạn trước khi chịu đực: đặc điểm chung của lợn cái ở giai đoạn này là thay đổi tính nết, kêu rít, kém ăn, phá chuồng, cơ thể bồn chồn, tai đuôi

ve vẩy, ưa gần lợn đực, nếu nhốt chung với nhiều con thì ưa nhảy chồm lên lưng con khác, âm hộ đỏ tươi sưng mọng có nước nhờn chảy ra nhưng chưa chịu cho con đực nhảy, giai đoạn này ở nái ngoại kéo dài khoảng 2 - 3 ngày

- Giai đoạn chịu đực: còn gọi là thời kỳ mê đực, khi sờ tay lên mông lợn nái thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, lưng võng xuống, có hiện tượng đái

Trang 18

són, âm hộ chuyển sang màu sẫm hay màu mận chín, chảy dịch nhờn khi lợn

đực lại gần thì đứng yên cho giao phối Thời gian này kéo dài 2 ngày Nếu

được phối giống ở giai đoạn này thì tỷ lệ thụ thai cao

- Giai đoạn sau chịu đực: lợn nái trở lại trạng thái bình thường ăn uống như cũ, âm hộ giảm độ nở, se nhỏ, thâm, đuôi cụp không cho con đực giao phối

Muốn đạt được tỷ lệ thụ thai cao, lợn nái đẻ nhiều con thì cần phải xác

định chính xác thời điểm phối giống cho lợn nái Nếu để lỡ kỳ phối giống sẽ gây thiệt hại về kinh tế và kế hoạch sản xuất của cơ sở chăn nuôi ở lợn nái sau khi động dục từ 39 - 40 giờ thì trứng rụng, số lượng trứng rụng khoảng 20 trứng ở một lần động dục, thời gian trứng rụng kéo dài từ 10 -15 giờ hoặc dài hơn Trong ống dẫn trứng, trứng chỉ có khả năng thụ tinh từ 8 -10 giờ Sau khi phối giống thì tinh trùng và trứng gặp nhau ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng, trong đường sinh dục của lợn nái tinh trùng có thể sống được từ 45 - 48 giờ nhưng thời gian còn khả năng thụ thai chỉ là 20 - 24 giờ Như vậy phải phối giống cho lợn nái trước khi trứng rụng 1 - 2 giờ vào giữa giai đoạn chịu đực là

có kết quả nhất Nếu phối sớm hay muộn quá vào thời điểm nói trên kết quả thụ thai thấp Do vậy xác định thời điểm chịu đực có ý nghĩa quan trọng trong công tác phối giống cho lợn nái

+ Thời điểm phối giống thích hợp nhất

Đối với lợn nái lai và lợn nái ngoại cho phối giống ngay sau khi chịu

đực Nếu nái động dục sau cai sữa 2 - 3 ngày thì cho phối giống lúc 36 - 48 giờ sau thời điểm chịu đực Nếu nái động dục sau cai sữa hơn 7 ngày thì cho phối giống lúc 12 - 18 giờ sau thời điểm chịu đực

2.4 Biểu hiện có chửa, thời gian mang thai và đẻ

2.4.1 Biểu hiện có chửa

Sau khi phối giống 21 ngày nếu không có hiện tượng động dục trở lại là khả năng lợn đ0 có chửa, có thể phân biệt được lợn có chửa hay không có chửa

Trang 19

qua một số biểu hiện bên ngoài Lợn có biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều, ăn tốt hơn, béo lên, da lông mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi ngày càng nặng nề Tuy lợn đ0 có chửa nhưng cũng có những cá thể có hiện tượng “động dục giả” biểu hiện như sau: âm hộ đỏ, không có nước nhờn, thời gian động dục ngắn, nhìn chung biểu hiện không rõ ràng, có thể phân biệt lợn động dục giả và động dục thật ở lợn qua những biểu hiện: lợn động dục giả ăn uống bình thường, ăn xong vẩn nằm ngủ, khi thấy lợn đực đi qua tai rủ xuống và lảng tránh lợn đực

điều này khác với những biểu hiện khi lợn động đực Việc chẩn đoán lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng giúp cho người chăn nuôi nâng cao được tỉ lệ sinh sản của lợn nái, từ đó có chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng thích hợp

2.4.2 Thời gian mang thai và đẻ

- Thời gian mang thai

Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày, dao động từ

112-116 ngày, cá biệt cũng có những cá thể mang thai đến 117 ngày Nói chung thời gian mang thai dài, hay ngắn ngày đều không tốt Nếu thời gian mang thai ngắn con đẻ ra yếu, chống chọi với ngoại cảnh kém, tỉ lệ chết cao Nếu thời gian mang thai dài, đẻ ra nhiều con sẽ chết, lợn mẹ thường đẻ khó Thời gian mang thai của lợn hầu như ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: giống, tuổi, lứa đẻ và điều kiện ngọai cảnh

Sự phát triển của lợn con trong thai được chia làm 3 thời kỳ:

+ Thời kì phôi thai: từ ngày 1- 22 Trứng được thụ tinh hình thành hợp

tử, 1 đến 3 ngày sau khi thụ tinh hợp tử di chuyển về 2 bên sừng tử cung và làm tổ tại đó Cuối thời kỳ này các khí quan đầu tiên mới được hình thành, nhau thai chưa phát triển, phôi chưa bám chắt chắn vào thành tử cung và chỉ nặng từ 1 -2g Chính vì vậy phôi dể bị tác động bởi độc tố, tác động cơ học, tác động của ngọai cảnh đến phôi thai sẽ làm tiêu biến hợp tử hoặc làm chết phôi Do vậy trong giai đoạn này phải để lợn nái yên tĩnh tránh cho ăn thức ăn

ôi mốc Đảm bảo chế độ dinh dưỡng, nhất là khoáng, vitamin cho lợn nái Đây

Trang 20

là giai đoạn cực kỳ quan trọng đối với giai đoạn chửa của nái

+ Thời kỳ tiền thai: thời kỳ này kéo dài từ ngày 23 – ngày thứ 39, ở thời kỳ này phôi phát triển mạnh và hình thành nhau thai Bắt đầu hình thành các cơ quan của cơ thể

+ Thời kỳ bào thai: kéo dài từ ngày thứ 39 cho đến khi đẻ ở thời kỳ này các cơ quan của thai phát triển mạnh nhất là 30 ngày trước khi đẻ Do vậy cần phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để lợn nái nuôi thai trong giai đoạn này nhất là khoáng, can xi, phốt pho, tránh hiện tượng quá thừa dinh dưỡng ở giai đoạn này dùng khẩu phần có Protein tỷ lệ là 13-14%, năng lượng trao đổi từ

2800 - 2900 Kcal Lưu ý khi nái chửa ở giai đoạn 2 cần phải tăng mức ăn từ 15 - 20% so với lúc chửa giai đoạn 1 vì ở giai đoạn này bào thai phát triển rất nhanh

và cần rất nhiều chất dinh dưỡng để phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra

đạt khối lượng sơ sinh phù hợp với đặc điểm của phẩm giống, quá trình hình thành và phát triển của phôi thai chủ yếu phụ thuộc vào việc chăm sóc nuôi dưỡng, (nếu hộ lý, đở đẻ tốt thì nâng cao số con và ngược lại) Kết quả nghiên cứu cho thấy trung bình trong thời gian có chửa số bào thai của lợn bị tiêu hao cụ thể: nếu 100% tế bào trứng thụ tinh thì giai đoạn 1 còn 75%; giai đoạn 2 còn 70%; giai đoạn 3 còn 65%; số con còn sống sau khi đẻ chỉ còn lại 60%

- Đẻ

Trong điều kiện sinh lý bình thường, lợn mang thai đến đến thời hạn (112 -116 ngày) thì có biểu hiện tống thai ra ngoài Thời gian từ khi có biểu hiện đến khi tống thai ra ngoài gọi là quá trình đẻ, thời gian đẻ của lợn có thể biết được thông qua lịch phối giống và các biểu hiện bên ngoài của lợn nái Trước khi đẻ khoảng 1 tuần các bầu vú của lợn căng to đỏ hồng và bóng Các bầu vú căng cứng, núm vú hướng ra ngoài Trước khi đẻ một ngày, vắt đầu vú thấy có sữa non chảy ra Khi sắp đẻ lợn nái có biểu hiện bồn chồn, đi lại liên tục, bụng to sệ, có hiện tượng sụt mông, bỏ ăn Lợn nái cắn ổ, khi nằm thấy thai động đậy Lợn thường đẻ ở tư thế nằm toàn thân hoạt động, căng người ra

Trang 21

rặn đẻ để đẩy thai ra ngoài, bình thường khoảng 10-15 phút đẻ ra một con Quá trình đẻ kéo dài từ 2 - 4 giờ, sau khi đẻ con cuối cùng thì nhau thai được tống ra ngoài Khi lợn đẻ bọc phải kịp thời xé vỏ bọc để lấy con ra, nếu không kịp thời lợn con sẽ bị ngạt, lợn là loài động vật đa thai, bào thai nhỏ, vị trí của thai thay đổi nhiều, lợn có thể đẻ đầu ra trước hay chân ra trước đều là tư thế bình thường

2.5 Các chỉ tiêu sinh sản và những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn

2.5.1 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn

Có nhiều chỉ tiêu sinh học đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái như:

- Tính đều đặn của chu kỳ

- Số con 21 ngày tuổi/ổ

- Khối lượng 21 ngày tuổi/ổ

- Khối lượng 21 ngày/con

- Số con cai sữa/ổ

- Khối lượng cai sữa/con

- Khối lượng cai sữa/ổ

- Thời gian cai sữa

- Khoảng cách lứa đẻ

- Tuổi đẻ lứa đầu

- Thời gian phối giống sau cai sữa

- Số lứa đẻ/năm = 365 ngày/khoảng cách 2 lứa đẻ

- Số con cai sữa/nái/năm…

Trang 22

Theo Legault C.(1990)[56] cho rằng: Trong các trại chăn nuôi lợn hiện

đại, số lợn con cai sữa do 1 nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng

đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái Chỉ tiêu này được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái từ lứa đẻ thứ nhất tới lứa đẻ cuối cùng Cũng theo tác giả, tầm quan trọng tương đối của các thành phần cấu thành chỉ tiêu

số lợn con cai sữa do 1 nái sản xuất trong 1 năm lần lượt là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh), tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh tới cai sữa, thời gian mang thai, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa tới thụ thai lứa sau Các thảo luận của Bolet(1981)[36],Van der Steem H.A.M (1983)[72] về việc đánh giá tổng quan sức sinh sản lợn nái đ0 tán thành quan điểm của Legault C [56],Van der Steem H.A.M(1986)[73] cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: Tuổi động dục đầu tiên, tỷ lệ thụ thai, số con trong ổ và thời gian từ cai sữa tới động dục trở lại

ở nước ta theo Tiêu chuẩn Nhà nước về lợn giống (1995)[26] đ0 đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái sinh sản nuôi tại các cơ sở chăn nuôi lợn giống Nhà nước là: số con đẻ ra còn sống (số con còn sống sau khi con mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng từ 0,2 kg trở xuống đối với lợn nội và 0,5 kg đối với lợn ngoại, lợn lai có máu ngoại), khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi (tổng khối lượng của tất cả lợn con do nái đó nuôi đến 21 ngày), khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày (tổng khối lượng của tất cả lợn con do nái đó nuôi tới 60 ngày), tuổi đẻ lứa đầu đối với đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách giữa hai lứa đẻ đối với những nái đẻ lứa 2 trở lên (là số ngày tuổi tới lúc con nái đó đẻ lứa đầu, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là số ngày tính từ ngày đẻ lứa trước đến lứa đẻ kế tiếp)

2.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái

- Nhân tố di truyền

Thông thường các tính trạng của lợn nái thuộc tính trạng số lượng, do nhiều cặp gen quy định và luôn có sự tương tác, liên kết hay tổ hợp giữa các

Trang 23

gen, do đó người chăn nuôi rất khó dự đoán thế hệ sau Muốn dự đoán thế hệ sau, ta phải thông qua hệ số di truyền Nghiên cứu các yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức sản xuất của một nái cũng như hệ số di truyền liên quan đến tính trạng đó, giúp ta xác định đúng hướng chọn lọc hay lai giống thích hợp Rất nhiều nghiên cứu khẳng định locus quyết định nhóm máu H (Ramusen, Hagen, 1973), locus transferrin (Imlah,1970), gen halothan gen gây tính nhạy cảm stress ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái Trần đình Miên, Nguyễn văn Thiện (1995)[18] cho rằng giống là quần thể gia súc khác quần thể gia súc cùng loài ở một số tính trạng nhất định hoặc tính trạng chất lượng (màu da, sắc lông ) hoặc tính trạng số lượng (lượng sữa, lượng mỡ sữa…) Giống lợn khác nhau có thành tích sinh sản và năng suất khác nhau Sự khác nhau về năng suất sinh sản của các giống lợn đ0 được công bố bởi nhiều tác giả trong và ngoài nuớc Self H.L(1955)[68], Hughes (1980)[49], Đặng Vũ Bình 1995 [4]), Nguyễn Quế Côi (1995), Trần Quang Hân (1996), Phan Xuân Hảo (2001)[14] Phương pháp nhân giống khác nhau cũng cho năng suất khác nhau, nhờ ưu thế lai mà lai giống có thể cải thiện được năng suất sinh sản của lợn Các lợn nái lai thường có tuổi thành thục về tính sớm hơn 11,3 ngày, tỷ lệ thụ thai cao hơn 2 - 4%, số trứng rụng nhiều hơn 0,5 trứng, số con đẻ ra nhiều hơn 0,6 - 0,7 con/lứa, số con cai sữa nhiều hơn 0,8 con/lứa, tỷ lệ nuôi sống lợn con cao hơn 5%, khối lượng sơ sinh/lứa cao hơn 1 kg, khối lượng 21 ngày tuổi/lứa cao hơn 4,2 kg so với lợn thuần chủng (Gulsett et al., 1990 )

Dựa vào năng suất sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm 4 nhóm chính Legault(1990)[56].Với mục đích đa dụng, một vài dòng như LargeWhite, Yorkshire, Landrace được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Landrace

Bỉ, Hampshire và Poland - China có năng suất sinh sản trung bình nhưng năng suất thịt cao Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt là các giống nguyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có năng suất sinh sản

Trang 24

đặc biệt cao nhưng năng suất thịt kém Cuối cùng là các giống có năng suất sinh sản cũng như năng suất thịt thấp nhưng có khả năng thích nghi cao Các

“dòng bố” thường có năng suất sinh sản thấp hơn các giống đa dụng Ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con Điều này được minh chứng là chúng có tỷ lệ lợn con chết trước lúc cai sữa cao hơn so với giống đa dụng như Landrace và Large White

- Lứa đẻ

Lợn nái có khả năng đẻ 1,8 - 2,2 lứa/năm, số con đẻ ra trên lứa thay đổi theo lứa đẻ của nái Lợn nái càng già thì số con đẻ ra/lứa càng giảm, lứa đẻ tốt nhất là từ 2 - 7 lứa, lúc này lợn nái đạt từ 2 - 4 năm tuổi

- Số tế bào trứng rụng trong một lần động dục

Số lượng tế bào trứng rụng trong một lần dục phụ thuộc vào giống, tuổi

và chế độ dinh dưỡng Theo Hardy và Lodge (1969) nếu cho lợn Yorkshire và Landrace ăn khẩu phần hạn chế thì số tế bào trứng rụng là 14,5 tế bào /chu kỳ, cho ăn đầy đủ sẻ có 16,8 tế bào trứng rụng/chu kỳ Một số tác giả khác đều thống nhất là có chênh lệch nhau khoảng 3- 4 tế bào/chu kỳ, đồng thời mức ăn cũng có ảnh hưởng đến số tế bào trứng rụng trên một chu kỳ Số lượng trứng rụng trong một lần động dục là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá khả năng sản xuất của lợn cái, nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: di truyền, tuổi nái và chế

độ dinh dưỡng.Theo Burger (1952)[40], Baker (1958)[33] thì các giống lợn màu trắng có số trứng rụng cao hơn các giống lợn màu đen Số trứng rụng trong các chu kì động dục thay đổi theo tuổi, nếu tuổi lợn nái hậu bị tăng lên

10 ngày thì số trứng rụng tăng thêm 0,67 trứng, ở mỗi chu kì động dục số trứng rụng trung bình là 15- 20 và sẽ tăng đáng kể trong 4 lứa đầu và đạt mức

ổn định ở lứa 6 Vì vậy trong thực tế sản xuất không nên phối ngay từ chu kì

động dục đầu tiên mà nên phối ở chu kì 2 trở đi

- Khí hậu thời tiết, mùa vụ:

Khí hậu thời tiết, mùa vụ cũng ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn với các mức độ khác nhau Có ý kiến cho rằng mùa vụ không có

Trang 25

ảnh hưởng gì tới tỷ lệ thụ thai Tuy nhiên nghiên cứu của Adlovic và cộng sự (1983) [32] cho thấy mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sút 10% khi phối giống lợn ở các tháng 6, 7, 8 so với tháng 11, 12 trong năm Theo nghiên cứu Koketsu và cộng sự (1998) cho biết tỷ lệ đẻ của nái cũng bị

ảnh hưởng bởi mùa vụ và lứa đẻ, lứa đẻ thứ 1 có tỷ lệ thấp hơn lứa 2, lứa đẻ tốt nhất của lợn nái là lứa thứ 2 đến lứa thứ 7, tuổi sinh sản ổn định là từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4 Điều này phù hợp với nhận định của các tác giả khác cho rằng vào mùa hạ nhiệt độ trên 30°C thì sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con đẻ ra/lứa thấp Nếu nhiệt độ thấp quá ở mùa đông

có ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát dục của đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hóa và hô hấp cao Nhiệt độ thích hợp khoảng 18- 22°C

- Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại

Một số tác giả kết luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan không thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn

- Số con đẻ ra/lứa

Số con đẻ ra/lứa có mối tương quan âm với khối lượng sơ sinh Số con

đẻ ra càng nhiều thì khối lượng sơ sinh càng nhỏ Điều đó được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Mirgorot và cộng sự cụ thể:

Số con/ổ 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14

Pss (kg)/con 1,43 1,28 1,22 1,18 1,20 1,19 1,17 1,13 1,08 1,04

- Phụ thuộc vào vị trí của thai trong tử cung

Những thai nằm ở đầu và cuối ở trong tử cung thì có khối lượng cao hơn thai nằm giữa

- Dinh dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng quyết định trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn nái Hàng ngày thông qua thức ăn cơ thể lợn nhận được các chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển Do vậy nguồn dinh dưỡng

Trang 26

cung cấp cho lợn nái phải đảm bảo đầy đủ cân đối và phù hợp với từng giai

để có kết quả sinh sản tốt Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ khi cai sữa tới lúc phối giống trở lại có ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Cho lợn ăn mức năng lượng cao, đặc biệt là cho ăn đầy đủ trong vòng 7 - 10 ngày của chu kỳ

động dục trước khi chịu đực sẽ đạt số trứng rụng tối đa Tuy nhiên, nếu tiếp tục cho ăn với mức năng lượng cao vào đầu giai đoạn có chửa sẽ làm tăng tỷ lệ chết phôi và giảm số lợn con sinh ra trong ổ

Đối với lợn nái thời kỳ chửa khẩu phần ăn 1,8 kg-2 kg thức ăn hỗn hợp một ngày, thời kỳ nuôi con cho ăn trên 4 kg thức ăn một ngày Các chất dinh dưỡng trong khẩu phần cần phải đảm bảo cho lợn về cả chất lượng và

số lượng là:

+ Protein

Protein đóng vai trò quan trọng trong nhu cầu của lợn nái có chửa, vì protein cần cho sự phát triển của bào thai, tổ chức tuyến vú và để chuẩn bị cho quá trình tiết sữa nuôi con sau này Protein cần cho sự duy trì và phát triển cơ thể mẹ, đặc biệt là đối với lợn nái có chửa dưới 2 năm tuổi, và ở giai đoạn nái chửa kỳ 2 Chất lượng protein phải đảm bảo và có đủ các axit amin không thay thế trong đó có methyonin, lizin, tryptophan là quan trọng nhất

Nhu cầu Protein = Protein duy trì + Protein sản xuất

Tuỳ theo giống, tuổi, khối lượng của lợn mà người ta cung cấp protein cho thích hợp, mỗi giống lợn có nhu cầu protein khác nhau

Kết qủa nghiên cứu của một số tác giả Nhật Bản cho thấy sự tích luỹ protein trong cơ thể giảm dần theo lứa tuổi, cụ thể như sau: lợn 02 tháng tuổi

có thể tích luỹ 90% lượng protein trong thức ăn cung cấp hàng ngày, sau 06 tháng tích luỹ được khoảng 30%, sau 10 tháng tích luỹ được 18%, trên 10 tháng tích luỹ khoảng 10%

+ Axit amin

Khi protein được đưa vào thức ăn, nó được phân giải thành axít amin

Trang 27

Các axít amin này được cơ thể hấp thu sắp xếp lại tạo nên protein đặc trưng cho loài Các axít amin khác nhau liên kết khác nhau tạo thành các phân tử protein khác nhau Đối với lợn trong 21 axít amin thì có đến 10 axít amin cơ thể của lợn không thể tổng hợp được gọi là axít amin không thay thế, bao gồm: tryptophan, arginin, threonine, fenilamin, methyonin, izoloxin, lysin, histidin, xystein, valin đối với lợn đang sinh trưởng cho nên cần phải cung cấp đầy đủ các axit amin này trong khẩu phần ăn và phù hợp với từng giai

đoạn Nếu thiếu bất kỳ một axit amin không thay thế nào thì cơ thể không thể

tự tổng hợp được protein tương ứng Kết quả là l0ng phí thức ăn, lợn giảm tăng trọng khi trong khẩu phần thiếu valin và lyzin

Căn cứ vào thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn để phối hợp khẩu phần ăn đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn Các loại thức ăn có nguồn gốc là động vật như: bột cá, bột thịt, bột trứng, bột sữa có các axít amin khá cân đối so với các thức ăn có nguồn gốc từ thực vật như: cám, gạo, ngô…

+ Năng lượng

Mọi hoạt động hàng ngày của lợn đều cần đến năng lượng Lợn cần năng lượng để duy trì cơ thể, để lớn lên và sinh sản Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể gia súc Năng lượng lợn thu nhận hàng ngày phụ thuộc vào lượng thức ăn lợn ăn vào Trong các loại thức ăn của lợn thì tinh bột

là nguồn cung cấp năng lượng dồi dào nhất, mỡ và dầu tuy có nhiều năng lượng hơn so với tinh bột nhưng trong khẩu phần ăn của lợn chúng được sử dụng ít hơn Protein được coi là nguồn năng lượng nếu như ngoài phần cần thiết để tổng hợp protein ra mà trong khẩu phần còn dư Người ta đ0 thí nghiệm bổ sung mỡ vào trong thức ăn của lợn nái chửa ở giai đoạn cuối và cho thấy tỷ lệ nuôi sống lợn được nâng lên Bổ sung mỡ vào khẩu phần nái nuôi con có tác dụng làm tăng năng lượng trao đổi, đáp ứng được nhu cầu năng lượng của lợn mẹ

Trang 28

+ Khoáng

Khoáng là thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn của lợn Trong thời kì mang thai lợn rất cần khoáng để cung cấp cho sự phát triển của bào thai, nếu cung cấp đầy đủ chất khoáng cho lợn mẹ thì bào thai sẽ phát triển tốt, lợn con sinh ra khoẻ mạnh, tránh được hiện tượng bại liệt sau khi đẻ của lợn mẹ

Khoáng bổ sung được chia thành 02 nhóm chính

- Khoáng đa lượng gồm: canxi (Ca), phốt pho(P), natri (Na), clor (Cl)

mangan (Mn)

Trong thức ăn hàng ngày của lợn, phần lớn các nguồn thức ăn thực vật

đều nghèo Ca và P, thiếu Ca và P làm cho lợn cái hậu bị chân cong, vòng kiềng,

dể g0y chân, nứt xương sườn hoặc cột sống Trong bột thịt, bột xương, bột cá có nhiều Ca và P, có thể dùng nguồn này để bổ sung Ca và P cho lợn, hoặc dùng bột đá vôi, dicanxi photphat để bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn Nhu cầu về can xi và photpho ở lợn cái hậu bị cao hơn lợn thịt, lợn cái hậu bị cần lượng can

xi và photpho trong khẩu phần giống như lợn cái thời kì chửa

Theo John C.Rea (1995), trong trường hợp nhiều canxi quá (1%) có thể gây thiếu Zn

Hai nguyên tố Na và Cl có vai trò giúp cho việc duy trì áp xuất thẩm thấu thể dịch Na liên quan đến chức năng thần kinh, còn Cl lại rất cần cho sản xuất HCl trong dạ dày Trong khẩu phần ăn hàng ngày nếu thiếu Na và Cl sẽ

ảnh hưởng đến tính ngon miệng, sinh trưởng kém Đối với lợn nái trong khẩu phần cần có khoảng 0,25- 0,5% muối ăn

Các nguyên tố vi lượng có hàm lượng rất nhỏ trong khẩu phần của lợn nái nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng Sắt trong cơ thể cần cho việc tạo hồng cầu, huyết sắc tố, globin cơ và các enzim chứa sắt trong cơ thể Lợn thiếu sắt biểu hiện niêm mạc mắt mờ nhạt, da bạc như phấn, tim gi0n, khó thở

Trang 29

sau khi chạy, sức kháng bệnh kém Nên bổ sung sắt cho lợn bằng sunphát sắt

sẽ mang lại hiệu quả cao Khi thừa sắt lợn cũng bị ngộ độc, nếu dùng liều cao

có thể gây tổn thương thần kinh, mất cân bằng co giật

Kẽm(Zn) có vai trò rất quan trọng với chức năng đặc thù của một số enzim trong cơ thể Khi thiếu kẽm da lợn bị bệnh á sừng, sinh trưởng kém, phát triển tính dục yếu

đó tác động đến sự chuyển hoá Lợn nái sinh sản thiếu iốt, lợn con sinh ra sẽ

ốm yếu, rụng lông có bướu và chết

Selen(Se) là thành phần quan trọng của một số loại enzym ngăn ngừa

sự thoái hoá màng tế bào xảy ra trong bệnh lo0ng cơ Qua các nghiên cứu về sêlen hữu cơ cho thấy cung cấp selen trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến sinh sản

Đồng (cu) cần cho chức năng của một số enzym Nó ảnh hưởng rõ đến

sự hấp thu sắt ở ruột non và việc huy động sắt từ gan

Mangan (Mn) cần thiết cho chức năng của một số enzym, trong đó có một số enzym ảnh hưởng tới sự chuyển hoá, phát triển xương và sinh sản Thiếu Mn lợn sinh trưởng kém, chân yếu, cong và ngắn Lợn không động dục hoặc động dục bất bình thường, bầu vú kém phát triển và ít sữa

Như vậy, trong chăn nuôi lợn nái cần phải bổ sung đầy đủ chất khoáng trong khẩu phần ăn, không được thiếu hoặc thừa vì thiếu hoặc thừa khoáng

đều ảnh hưởng đến sự phát triển của lợn

+ Vitamin

Có khoảng hơn 15 loại vitamin được coi là thành phần không thể thiếu trong khẩu phần ăn của gia súc, đây là những tố chất rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể gia súc Ví dụ như: thiếu vitamin A thì lợn chậm lớn, mù mắt, thiếu vitamin nhóm B thì lợn kém ăn, tiêu hoá kém, cơ thể mệt

Trang 30

mỏi, rối loạn thần kinh, viêm da, rụng lông, sinh trưởng chậm, thiếu vitamin nhóm D lợn con bị còi xương Lợn nái thiếu vitamin trong thời kỳ mang thai thì khả năng sinh sản kém, con đẻ ra yếu và dễ chết Trong thức ăn cho lợn cũng có nhiều loại vitamin nhưng thường không đáp ứng nhu cầu Do vậy trong khẩu phần cho lợn cần bổ sung lượng vitamin cho phù hợp Khẩu phần ăn cho nái chửa cần lượng vitamin A là 7980 UI/con, vitamin D là 400UI/con, vitamin

E là 44 UI/con, lợn nái nuôi con lượng vitamin cần là 10.820 UI/con, vitmin D

là 1080 UI/con, vitamin E là 119,1UI /con và một số vitamin thiết yếu khác

- Chuồng nuôi và tiểu khí hậu chuồng nuôi

Đối với chăn nuôi nái ngoại sinh sản thì chuồng nuôi có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao năng suất sinh sản Vì chuồng nuôi là phương tiện sản xuất, do vậy cần tạo môi trường khí hậu phù hợp với trạng thái sinh lý của từng loại lợn Chuồng nuôi hợp lý sẽ giảm được chi phí do thức ăn rơi v0i, tăng năng suất lao động, giúp cho việc chăm sóc, quản lý và bảo vệ đàn lợn tốt hơn Hiện nay với quy mô chăn nuôi tập trung vừa và lớn người ta sử dụng phương pháp nuôi nhốt mỗi loại lợn khác nhau trong các kiểu chuồng khác nhau: chuồng nái chờ phối, nái chửa, nái nuôi con,và chuồng nuôi lợn con cai sữa Cùng với các biện pháp kỹ thuật như tập cho lợn con ăn sớm, cai sữa sớm cho lợn con đ0 góp phần rút ngắn khoảng cách lứa đẻ, tăng lứa đẻ của nái trong năm, giảm hao mòn lợn mẹ

Tiểu khí hậu chuồng nuôi là môi trường bên trong chuồng nuôi được tạo bởi các yếu tố: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, độ thông thoáng và thành phần không khí Chúng đều ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Thông thường nếu xây dựng chuồng nuôi đúng quy cách thì sự trao đổi không khí trong chuồng nuôi với vận tốc từ 0,5-1m/s mới đảm bảo cung cấp đủ dưỡng khí cho lợn

Trang 31

2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong chương trình nghiên cứu giống vật nuôi, ở Viện nghiên cứu chăn nuôi quốc gia, Viện khoa học Nông nghiệp Miền nam cùng với các Công ty, các cơ sở chăn nuôi trong cả nước đ0 xúc tiến nhập các giống lợn cao sản vừa

để nhân thuần và lai giữa các phẩm giống để sản xuất lợn lai nuôi thịt đáp ứng cho nhu cầu sản xuất chăn nuôi trong cả nước Trong thời gian qua việc nhập các giống lợn ngoại như: Yorkshire, Landrace, Pietran, Duroc… đ0 thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước, một số tác giả đ0 nghiên cứu sâu về vấn đề sinh sản của lợn nái ngoại

Nguyễn Hải Quân, Đinh Văn Chỉnh và cộng sự năm (1995)[20] đ0 thông báo: số con đẻ ra của Yorkshire là 9,5 con và Landrace là 9,5 con; số con đẻ ra còn sống/ổ của Yorkshire là 8,2 con và Landrace là 8,3 con; khối lượng sơ sinh/con của Yorkshire là 0,96 kg và Landrace là 1,14 kg; khối lượng sơ sinh trên ổ của Yorkshire là 9,12 kg và Landrace là 10,89 kg

Nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire, Landrace Nguyễn Thiện và cộng sự(1998)[24] cho biết số con đẻ ra/ổ của Yorkshire là 8,40 con và của Landrace là 9,7 con Khối lượng sơ sinh trên ổ của Yorkshire

là 11,3 kg và Landrace là 11,89 kg Khối lượng 21 ngày tuổi trên ổ của Yorkshire là 33,67 kg và Landrace là 31,30 kg

Phạm Nhật Lệ (1998) cho biết ở các tỉnh phía Nam, việc chăn nuôi lợn ngoại của nông dân tại hộ gia đình là phổ biến, ở các tỉnh phía bắc việc chuyển hướng chăn nuôi lợn ngoại với quy trình chăn nuôi mới còn gặp rất nhiều khó khăn Sau một thời gian chuyển giao công nghệ chăn nuôi lợn ngoại

đến hộ gia đình đ0 thu được những kết quả sau: Tỉ lệ thụ thai là 87,5%, số con

đẻ ra còn sống/ổ là 9,09 con; khối lượng sơ sinh/ổ của Yorkshire và Landrace

là 11,65kg

Đặng Vũ Bình (1999)[5] đ0 thông báo kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu

Trang 32

sinh sản của 02 giống lợn Yorkshire, Landrace trong điều kiện chăn nuôi ở nước ta như sau: Tuổi đẻ lứa đầu của Yorkshire là 418,54 ngày và Landrace là 409,30 ngày; số con đẻ ra còn sống/ổ của Yorkshire là 9,77 con và Landrace là 9,68 con;

số con 21 ngày tuổi của Yorkshire và Landrace là 8,68 con

Phùng Thị Vân và cộng tác viên (2000)[30] đ0 nghiên cứu trên đối tượng nái hậu bị và lợn nái sinh sản thuộc 02 nhóm giống Yorkshire, Landrace tại trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương đ0 thông báo kết quả thu được như sau: Tuổi động dục lần đầu của Yorkshire là 219,4 ngày và Landrace là 213,10 ngày Số con đẻ ra còn sống/ổ của Yorkshire là 9,2 con

và Landrace là 9 con Khối lượng sơ sinh/con của Yorkshire là 1,25 kg và Landrace là 1,28 kg

đoàn xuân Trúc và cộng sự (2000) đ0 nghiên cứu, chọn lọc và xây dựng

đàn hạt nhân và cho biết các chỉ tiêu sinh sản của Yorkshire, Landrace lần lượt như sau: khối lượng sơ sinh/con của Yorkshire là 1,35 kg và Landrace là 1,36 kg; số con đẻ ra còn sống/ổ của lợn Yorkshire là 10,78 con và lợn Landrace là 10,94 con; khối lượng 21 ngày tuổi/ổ của Yorkshire là 43,37 kg và Landrace

là 44,45 kg

Phan xuân Hảo và cộng sự năm (2001)[14] đ0 nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý sinh dục lợn Yorkshire, Landrace như sau: Tuổi phối giống lần đầu của lợn Yorkshire là 242,15 ngày, lợn Landrace là 237,56 ngày Thời gian động dục trở lại của lợn Yorkshire là 5,18 ngày, lợn Landrace là 5,43 ngày Khối lượng sơ sinh/con của Yorkshire là 1,34 kg và Landrace là 1,33 kg; Khối lượng 21 ngày tuổi/ổ của Yorkshire là 53,00 kg và Landrace là 53,07 kg Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Văn Đức, Trần Thị Minh Hoàng (2002) về một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của

đàn lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại 3 cơ sở giống nuôi thuộc Công ty giống lợn Miền Bắc, cho biết: khoảng cách lứa đẻ của lợn Yorkshire là 165,80 ngày; số con đẻ ra còn sống/ổ là 9,48 con; số con cai sữa/ổ là 8,82 con; khối

Trang 33

lượng toàn ổ cai sữa là 61,69kg; khối lượng bình quân /con lúc cai sữa là 6,81kg; khoảng cách lứa đẻ của lợn Landrace là 170,19 ngày; số con đẻ ra còn sống/ổ

là 9,474 con; số con cai sữa/ổ là 8,67 con; khối lượng toàn ổ khi cai sữa là 61,75 kg; khối lượng bình quân /con lúc cai sữa là: 7,152 kg

Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Lương Nguyệt Bích (2004) nghiên cứu khả năng sinh sản của nái F1 (Landrace x Yorkshire), nái Yorkshire và Landrace nuôi tại trại chăn nuôi Tân Thái, tỉnh Thái Nguyên Kết quả thu

được như sau: Tuổi phối giống lần đầu của nái F1(Landrace x Yorkshire) là

278 ngày; nái Yorkshire là 274,20 ngày, nái Landrace là 279 ngày; khối lượng phối giống lần đầu của nái F1(Landrace x Yorkshire) là 105,30, nái Yorkshire

là 97,39 kg, nái Landrace là 109,05 kg Tỉ lệ phối giống lần đầu của nái F1

70,00% Tỉ lệ phối lần một có chửa đạt bình quân từ lứa đẻ 2 - 8 của nái F1(Landrace x Yorkshire) là 70,75%, nái Yorkshire là 81,40%, nái Landrace

là 81,42%

Nhiều tác giả nghiên cứu về khẩu phần ăn và qui trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và nhận định rằng nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái khác nhau tùy thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy năng suất sinh sản tăng cao Nuôi dưỡng thích hợp

đối với lợn cái có tác động làm tăng số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh để mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi Như vậy các nghiên cứu trong nước, cho thấy rằng 2 giống lợn Landrace và Yorkshire nhập vào Việt Nam đ0 thích nghi với điều kiện nuôi dưỡng ở Việt nam, năng suất sinh sản ổn định

2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Tuỳ theo điều kiện và yêu cầu sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu của từng nước mà người ta có thể sử dụng giống lợn này hay giống lợn khác Hai giống Yorkshire và Landrace là những giống có thành tích sản xuất cao (đẻ nhiều

Trang 34

con, phẩm chất thịt tốt, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ nạc cao), đ0 được nhiều quốc gia

có nền sản xuất chăn nuôi tiên tiến sử dụng Các giống này đ0 được sử dụng vào nhân giống thuần chủng để chọn lọc thay thế đàn, mặt khác chúng còn

được sử dụng trong lai giống để sản xuất lợn lai nuôi thịt

Lợn Yorkshire có nguốn gốc từ Anh được nuôi rộng r0i ở các nước châu

Âu với tỷ lệ khoảng 54% Tại một số nước như: Thụy Điển, Phần Lan, Hungary, Nga, Na Uy, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức người ta nuôi thuần chủng lợn Yorkshire để xuất khẩu và sử dụng làm nguyên liệu cho việc lai tạo

ra các giống mới.Ví dụ ở Liên Xô cũ, lợn Đại Bạch (được tạo ra từ lợn Yorkshire và lợn trắng địa phương Nga) được nuôi rất phổ biến (89,9%) và

được xuất khẩu đi nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam

Lợn Landrace có nguốn gốc từ Đan Mạch được tạo ra từ giống lợn Youtland và các giống lợn địa phương, hiện nay đây là một trong những giống lợn cao sản có tỷ lệ nạc cao 52,2- 54,7%, tăng trọng khoảng 724- 764g/ngày

và chất lượng thịt ngày càng được cải tiến Lợn Landrace Đan Mạch thường

được dùng để lai tạo với Large White tạo con lai có chất lượng sản phẩm rất tốt và đang được thị trường châu Âu ưa chuộng nhất Lợn Landrace Đan Mạch

được xuất khẩu đi rất nhiều nơi trên thế giới và cho đến nay đ0 có rất nhiều dòng lợn Landrace như: Landrace Mỹ, Landrace Bỉ, Landrace Thụy Điển, Landrace NaUy, Landrace Đức, Landrace Anh, Landrace ý, Landrace Hà Lan, Landrace Nhật Dù năng suất của các giống này có khác nhau ở từng nước, nhưng cơ bản chúng là giống có năng suất sinh sản và sản xuất thịt cao

Trên thế giới có rất nhiều những nghiên cứu về 2 giống lợn Yorkshire và Landrace White và cộng sự (1991) cho biết lợn Yorkshire có tuổi động dục lần đầu là 201 ngày, số lợn con đẻ ra còn sống trên ổ là 7,2 con ở lứa 1

Lê Thanh Hải và cộng sự [11] cho biết năng suất sinh sản của giống Yorkshire và Landrace của đàn hạt nhân ở Anh như sau: ở lợn Landrace số con sơ sinh/lứa là 10,82 con, số con cai sữa /lứa là 9,59 con, tỉ lệ chết đến

Trang 35

cai sữa/lứa là 9,4 %, số lứa đẻ /năm là 2,34 lứa, số con/nái trong năm là 22,67 con ở lợn Yorkshire số con sơ sinh/lứa là 10,73 con, số con cai sữa /lứa là 9,27 con, tỉ lệ chết đến cai sữa/lứa là 9,4 %, số lứa đẻ /năm là 2,26 lứa, số con/nái trong năm là 21,13 con

Theo France Hybrides (tháng 1/1993) cho biết khả năng sinh sản của 02 giống Yorkshire và Landrace ở Pháp vào năm (1991-1992) như sau: Tuổi đẻ lứa

đầu của lợn Yorkshire năm 1991 là 338 ngày, năm 1992 là 326 ngày; số lợn con đẻ ra còn sống trên ổ năm 1991 là 11,4 con, năm 1992 là 11,5 con; số lợn cai sữa trên ổ năm 1991 là 9,5 con, năm 1992 là 9,3 con; số ngày cai sữa là 24,7 ngày, năm 1992 là 24,4 ngày; số con/nái /năm trong năm 1991 là 22,5 con, năm

1992 là 21,8 con Tuổi đẻ lứa đầu lợn Landrace vào năm 1991 là 326 ngày, năm

1992 là 319 ngày; số lợn con đẻ ra còn sống trên ổ năm 1991 là 11,7 con, năm

1992 là 12 con; số heo con cai sữa trên ổ năm 1991 là 11,4 con, năm 1992 là 11,5 con; số ngày cai sữa là 24,5 ngày, năm 1992 là 24,4 ngày; số con/nái /năm trong năm 1991 là 21,9 con, năm 1992 là 22 con (dẫn theo Lê Thanh Hải [12]) Vemon Mayrose và cộng sự (1996) cho biết trong công tác quản lý chăn nuôi lợn nái ở Mỹ và các nước chăn nuôi phát triển, người ta xây dựng một hệ thống chỉ tiêu rất cụ thể để đánh giá và công thức tính toán thống nhất cho các chỉ tiêu Các chỉ tiêu được người ta xây dựng để đánh giá khả năng sinh sản bao gồm: tỷ lệ lợn cái hậu bị động dục sau 7 tháng tuổi, tỷ lệ lợn nái động dục trong vòng 7 ngày sau cai sữa, tỷ lệ thay nái hàng năm, tỷ lệ có thai của đàn nái, tỷ lệ

đẻ, số lợn con chết sau khi sinh/lứa, khối lượng trung bình lúc sơ sinh/con, số con cai sữa/lứa, tỷ lệ lợn con cai sữa, tỷ lệ chết ở đàn lợn sinh sản, số lợn con cai sữa /nái/năm, số lứa đẻ/nái/năm, hiệu quả lao động Để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao và hiệu quả kinh tế các nhà khoa học trên thế giới đ0 tiến hành lai tạo giữa các giống, kết hợp nhiều dòng lợn khác nhau Hiện nay trên thế giới các công thức lai để tạo con lai thương phẩm có 2, 3, 4 hoặc thậm chí 5 máu đ0

được ứng dụng thành công và phổ biến trong sản xuất

Trang 36

Khả năng sản xuất của lợn lai phụ thuộc vào chất lượng con giống và

các giống khi cho lai tạo với nhau Cùng sử dụng 2 giống nhưng với phương

thức lai khác nhau sẽ cho con lai có khả năng tăng trọng khác nhau và đều có

tốc độ tăng khối lượng cao hơn 2 giống thuần Cũng sử dụng 2 giống nhưng

khi phối với các đực giống thuộc các giống khác nhau thì năng suất sinh sản

cũng có sự khác nhau Ví dự như: khi lai giữa Duroc với Landrace Bỉ, các tác

giả Pavlik và Pulk Rabek (1989)[60] cho biết con lai có tăng khối lượng đạt

804g/ngày cao hơn so với lợn lai F1(LY) ở Tây Đức kết quả nghiên cứu cho

thấy con lai 3 giống Pix(YL) đạt tỷ lệ nạc cao (59,2 %).Trong khi đó lai 2 giống

Pietrain x Landrace tỷ lệ nạc đạt 53,7 % và con lai 2 giống LY tỷ lệ nạc chỉ đạt

50,6% ở Hà Lan trong lĩnh vực chăn nuôi lợn thì trên 90 % lợn vỗ béo là lợn

lai Tổ hợp lai hai máu (Landrace x Yorkshire) chiếm tới 69 %, các tổ hợp lai

nhiều giống tham gia ngày càng tăng ở Hà Lan Các giống lợn chủ yếu dùng

trong lai kinh tế là Landrace Hà Lan, Landrace Bỉ, Đại Bạch và Pietrain Nhiều

địa phương của Hà Lan đ0 sử dụng lợn lai hai máu để nuôi thịt, một số địa

phương khác thì ưa chuộng lợn lai 3 - 4 máu, trong đó giống thứ 3 và 4 thường

được chọn là lợn đực Duroc Canada Lợn lai có ưu thế đẻ nhiều con, trung bình

một ổ lợn con lúc sơ sinh là 9,9 con và đạt 18,2 con cai sữa /năm ở khu vực

châu á, tại Trung Quốc thịt lợn chiếm 85 % tổng các loại thịt trong nước Để

nâng cao chất lượng đàn lợn thịt, Trung Quốc đ0 nhập một số giống lợn có khả

năng sản xuất cao, phẩm chất thịt tốt như lợn Yorkshire, Duroc, Hampshire,

Landrace và cho phối với lợn nái Meishan Lợn lai nuôi vỗ béo đạt khối lượng

90 kg lúc180 ngày tuổi, tiêu tốn 3,4 kg thức ăn/1 kg tăng khối lượng, độ dày

mỡ lưng trung bình là 26 mm và đạt tỷ lệ thịt nạc trên 48 % Đỗ Thị

Tỵ(1994)[29]

Trang 37

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng, điều kiện và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lợn nái sinh sản thuộc các giống Landrace: 52 con, Yorkshire: 68 con và các đàn con của chúng

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện ở 06 trại của nông hộ chăn nuôi trong huyện CưM’gar, mỗi cơ sở có từ 20 - 30 lợn nái

3.1.3 Điều kiện nghiên cứu

- Nái Landrace và Yorkshire được nhập từ trại giống hạt nhân của Công

ty Đông á thành phố Hồ Chí Minh

- Đực giống Landarce,Yorkshire được sử dụng từ Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Đaklak

* Công thức phối giống:

- Đực Lanđrace x Cái Landrace ( LxL)

- Đực Yorkshire x Cái Yorkshire (YxY)

- Đực Landrace x Cái Yorkshire (LxY)

- Đực Yorkshire x Cái Landrace (YxL)

* Số lượng theo dõi:

- Tổng số lợn nái là 120 con gồm: ( 52 nái Landrace với 312 ổ đẻ, 68 nái Yorkshire với 408 ổ đẻ)

- Số lượng trại theo dõi: 6 trại

- Theo dõi qua các lứa đẻ 1, 2, 3, 4, 5, 6

- Số ổ đẻ đựơc thu thập và theo dõi là 720 ổ, trong đó (số ổ đẻ lứa 1 là

120 ổ, số ổ đẻ lứa 2 là 120 ổ, số ổ đẻ lứa 3 là 120 ổ, số ổ đẻ lứa 4 là 120 ổ, số

Trang 38

- Lợn được nuôi bằng thức ăn công nghiệp.(Cám CPI) đảm bảo đầy đủ các nhu cầu dinh dưỡng Lợn được nuôi dưởng theo quy trình kỷ thuật chăn nuôi lợn nái ngoại tại huyện Cưm’gar

- Khẩu phần ăn cho lợn mẹ và lợn con:

+ Lợn chờ phối, lợn nái chửa: 2 kg -2,2 kg /con/ngày

+ Lợn nái nuôi con: 4kg/ngày Thành phần các chất dinh dưởng đảm bảo protein:16%, năng lượng trao đổi: 3150 kcal, Ca:0.90%, P: 0.70%, Lysin: 1.15%, Met/Cyst:0.5

+ Lợn con tập ăn theo mẹ: 0,05 kg/ngày, lợn con theo mẹ được tập ăn từ ngày thứ 7 cho đến lúc cai sữa 21, thức ăn tập ăn có thành phần là sản phẩm sữa 35-45%, dễ tiêu, có màu sắc và mùi vị hấp dẫn với lợn con Thành phần các chất dinh dưởng đảm bảo Protein:22%, năng lượng trao đổi: 3350 kcal, Ca: 0.95%, P: 0.75%, Lysin:1.15%, Met/Cyst:0.7

+ Nước uống: hình thức cung cấp nước tự động

- Lợn mẹ, lợn con được tiêm phòng các loại vắccin theo đúng qui trình của Chi cục thú y tỉnh Đaklak

+ Thời gian nghiên cứu

Các số liệu được thu thập từ khi thực hiện chương trình nạc hoá đàn lợn tại huyện Cưm’gar từ tháng 01/2004 - 08/2007

Trang 39

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn theo mô hình sau:

Yijklm =à+ Mi + Yj + Lk + T1 + Sm + εijklm

Trong đó:

Yijklm : năng suất sinh sản của lợn nái

à: giá trị trung bình của quần thể

Mi: ảnh hưởng của lợn đực

Yj: ảnh hưởng của lợn nái

Lk: ảnh hưởng của lứa đẻ

Sm : ảnh hưởng của trại

ε ijklm : sai số ngẫu nhiên

3.2.2 Đánh giá năng suất sinh sản theo lợn nái, lợn đực giống và theo lứa đẻ

* Các chỉ tiêu theo dõi

Số con sinh ra/ổ (con), số con sinh ra còn sống/ổ(con), số con để nuôi/ổ ( con), khối lượng sơ sinh/ổ (kg), khối lượng sơ sinh/con (kg), số con cai sữa 21 ngày tuổi/ổ(con), khối lượng 21 ngày tuổi/ổ (kg), khối lượng 21 ngày tuổi/con (kg), thời gian phối giống có chửa sau cai sữa (ngày), tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%), khoảng cách lứa đẻ (ngày)

3.2.3 Theo dõi chỉ tiêu tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa

3.2.4 Theo dõi khả năng tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản

- Thu thập các số liệu, theo dõi năng suất sinh sản của lợn từ lứa 1 đến lứa 6.

- Đối với các chỉ tiêu số lượng: đếm số lợn con/ổ ở các thời điểm sơ sinh

và 21 ngày tuổi (cai sữa ở 21 ngày tuổi)

Trang 40

- Xác định khối lượng: cân khối lượng lợn con ở các thời điểm sơ sinh, 21 ngày tuổi

- Phương pháp xác định khoảng cách 2 lứa đẻ: căn cứ vào thời gian đẻ lứa trước và lứa sau

3.3.2 Xác định tiêu tốn thức ăn

- Xác định tổng lượng thức ăn tiêu thụ của mẹ từ lúc phối giống có chửa, nuôi con đến khi cai sữa ở 21 ngày tuổi và tổng thức ăn cho lợn con từ lúc tập

ăn cho đến khi cai sữa

- Tính tiêu tốn thức ăn (kg)/kg lợn con cai sữa theo công thức:

Tổng lượng thức ăn cho mẹvà con (ổ) từ phối có chửa đến cai sữa (kg) TTTA/(kg) =

Tổng khối lượng toàn ổ lúc cai sữa (kg) 3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng chương trình Exel, chương trình Sas 6.12 tại bộ môn di truyền giống, khoa chăn nuôi- thuỷ sản, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

Các tham số cần tính: X , (LSM), SE

Ngày đăng: 06/12/2013, 17:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1  Mức ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất sinh sản - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.1 Mức ảnh hưởng của một số nhân tố đến năng suất sinh sản (Trang 41)
Bảng 4.3. Năng suất sinh sản của nái theo lợn đực - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.3. Năng suất sinh sản của nái theo lợn đực (Trang 49)
Bảng 4.4. Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối LxL vàYxY - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.4. Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối LxL vàYxY (Trang 54)
Bảng 4.5  Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối LxY và YxL - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.5 Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối LxY và YxL (Trang 59)
Bảng 4.6. Năng suất  sinh sản của lợn nái  theo công thức phối L x L qua  các lứa đẻ  Lứa 1 n = 26 - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối L x L qua các lứa đẻ Lứa 1 n = 26 (Trang 64)
Bảng 4.8.  Năng suất sinh sản của lợn nái  theo công thức phối L x Y qua các  lứa đẻ  Lứa 1 n = 35 - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.8. Năng suất sinh sản của lợn nái theo công thức phối L x Y qua các lứa đẻ Lứa 1 n = 35 (Trang 74)
Bảng 4.10. Tiêu tốn thức ăn/kg cai sữa - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.10. Tiêu tốn thức ăn/kg cai sữa (Trang 84)
Bảng 4.11.Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa theo công thức phối giống khác nhau LxL n = 173 - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.11. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa theo công thức phối giống khác nhau LxL n = 173 (Trang 85)
Bảng 4.12.Tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa (g/ngày) - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.12. Tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa (g/ngày) (Trang 86)
Bảng 4.13 nh− sau: - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.13 nh− sau: (Trang 87)
Bảng 4.13. Tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa ở các công thức phối qua các lứa đẻ (g/ngày) LxLYxYLxYYxL n X± SENX± SEn  X± SEn X± SE 26192,77± 5,6333189,26± 5,0535193,82ab± 3,6526188,37± 5,48 30193,97± 5,2829192,97± 4,4839191,26abc ± 5,6122197, - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái yorkshire và landrace nuôi trong nông hộ thuộc huyện cưm’ gar , tỉnh đăklac
Bảng 4.13. Tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa ở các công thức phối qua các lứa đẻ (g/ngày) LxLYxYLxYYxL n X± SENX± SEn X± SEn X± SE 26192,77± 5,6333189,26± 5,0535193,82ab± 3,6526188,37± 5,48 30193,97± 5,2829192,97± 4,4839191,26abc ± 5,6122197, (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w