1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh

88 885 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Khả Năng Sản Xuất Của Một Số Giống Gà Lông Màu Nuôi Trong Nông Hộ Tại Huyện Yên Phong, Tỉnh Bắc Ninh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn Nuôi
Thể loại Đề Tài
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 852,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Năm 2001 tổng đàn gia cầm của Việt Nam đạt 215,8 triệu con, năm 2002

đạt 233,3 triệu con, với tốc độ tăng bình quân 7,19%/năm Sản lượng thịt cũng tăng nhanh qua các năm (388.000 tấn), số lượng trứng là 4,53 tỷ quả (2002) [10] Theo Nguyễn Mạnh Hùng (2004) [6], đàn gia cầm cả nước năm 2003 ước tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2002, còn theo số liệu của cục Nông nghiệp đến tháng 8/2003 cả nước có 254 triệu con gia cầm (trong đó 185,2 triệu con gà, 68,3 triệu vịt, ngan, ngỗng) Tuy nhiên bình quân thịt gia cầm trên đầu người mới đạt 1,9kg, trong khi ở trong khi ở Trung Quốc 6,5kg, Thái Lan 15,3kg, Malaysia 34kg, Mỹ 49,6kg [10]

Chính vì thế, nhu cầu mở rộng và tăng năng suất chăn nuôi gà là một nhiệm

vụ lớn đối với các nhà khoa học và người sản xuất Theo hướng đó, nghề nuôi gà

ở nước ta đang ngày càng được cải tiến theo xu thế tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới Đã có rất nhiều giống gà lông màu của nước ngoài như Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Sasso, ISA được nhập vào Việt Nam nhằm từng bước thay đổi cơ cấu đàn gà nội và sản xuất nhiều thịt, trứng thương phẩm phục vụ cho xã hội Loại gà lông màu này nuôi thích hợp vì nó có sản lượng và chất lượng tương đối cao, đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu người tiêu dùng Nhiều nơi gà lông màu nhập ngoại được phát triển nhanh đã làm thay

đổi cơ bản cơ cấu giống

Để góp phần đánh giá hiệu quả của hướng chăn nuôi này đồng thời phổ biến cho người nông dân cách lựa chọn con giống, phương thức nuôi gà phù hợp

với điều kiện của từng địa phương, chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh"

Trang 2

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Đánh giá khả năng sản xuất thông qua một số chỉ tiêu chính:

- Sức đẻ trứng

- Tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ gà loại I

- Sức tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn

- Thời gian giết thịt và khả năng cho thịt

Hướng cho người nông dân cách chọn lựa được con giống, phương thức và

kỹ thuật nuôi phù hợp với điều kiện của nông hộ nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao

Trang 3

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái

Gia cầm là loài đẻ trứng Con mái thoái hoá buồng trứng bên phải, chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển Âm hộ gắn liền với

tử cung và cũng nằm trong lỗ huyệt, do đó lỗ huyệt đảm bảo ba chức năng: chứa phân, chứa nước tiểu và cơ quan sinh dục Khi giao phối, gai giao cấu của con trống áp sát vào lỗ huyệt của con mái và phóng tinh vào âm hộ

Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm

Gà một ngày tuổi buồng trứng có kích thước 1 - 2mm, khối lượng 0,03g Thời kỳ

gà đẻ buồng trứng có hình chùm nho, khối lượng khoảng 45 - 55g chứa nhiều tế bào trứng Sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi Sau mỗi lứa tuổi lại có những thay đổi về cấu trúc và chức năng của buồng trứng

Chức năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng Quá trình phát triển của tế bào trứng trải qua ba thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín

Trước khi bắt đầu đẻ, buồng trứng gà có khoảng 3500 - 4000 trứng, mỗi tế bào có một noãn hoàng Đếm trên gà Leghorn được 3800 trứng, gà Rhode 3200,

gà lai Rhode - Leghorn 3350 [27]

Tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ Trong 3 - 14 ngày lòng

đỏ chiếm 90 - 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm protit, photpholipit, mỡ trung hoà, các chất khoáng và vitamin Đặc biệt lòng đỏ được tích luỹ mạnh vào ngày thứ 9 và 4 ngày trước khi trứng rụng Việc tăng quá trình sinh trưởng của tế bào trứng là do foliculin được chế tiết ở buồng trứng khi gà mái thành thục sinh dục

Trang 4

Thời kỳ chín của noãn hoàng có sự phân chia giảm nhiễm, số nhiễm sắc thể của tế bào trứng từ 2n giảm xuống còn n Trong quá trình phân chia giảm nhiễm, tại nhiễm sắc thể xảy ra sự trao đổi các thành phần di truyền (gen) giữa các dị nhiễm sắc thể Nhiễm sắc thể ở con đực và con cái kéo lại gần nhau và tạo thành

đôi (X và Y →XY) Vào thời kỳ tiếp hợp, nhiễm sắc thể trao đổi những phần chính của mình, một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc truyền lại các tính trạng di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Sự rụng trứng được tính khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng rơi vào loa kèn Sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, thường 30 phút sau khi đẻ trứng Nếu gà đẻ trứng vào cuối buổi chiều (16h) thì sự rụng trứng thực hiện vào buổi sáng hôm sau Trứng được giữ lại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo Sự rụng trứng của gà thường xảy ra từ 2 giờ đến 14 giờ

Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm Nếu thức ăn kém chất lượng, nhiệt

độ không khí cao sẽ làm giảm sự rụng trứng và đẻ trứng Ví dụ, ở Xí nghiệp gà giống Lương Mỹ, Tam Dương vào mùa nóng (tháng 5 - 7) với nhiệt độ 35 - 400C thì sức đẻ trứng của gà Isa đã giảm 15 - 20% Gà nhiễm bệnh cũng hạn chế khả năng rụng trứng [14]

2.1.1.1 Cơ chế điều hoà quá trình phát triển và rụng trứng

Các hormon hướng sinh dục của tuyến yên - FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và chín của trứng Nang trứng tiết ra oestrogen trước khi trứng rụng vừa

có tác dụng kích thích hoạt động của ống dẫn trứng, vừa ảnh hưởng lên tuyến yên, ức chế tiết FSH và LH Như vậy, tế bào trứng phát triển và chín chậm lại làm ngưng rụng trứng khi tế bào còn trong ống dẫn trứng hoặc tử cung (chưa đẻ)

Gà mái mới đẻ thường cho trứng hai lòng, đó là do FSH và LH hoạt động mạnh, kích thích một lúc hai tế bào trứng chín và rụng LH chỉ tiết vào buổi tối,

Trang 5

từ lúc bắt đầu tiết đến khi rụng trứng khoảng 6 - 8 giờ Vì vậy việc chiếu sáng bổ sung vào buổi tối làm chậm tiết LH dẫn đến chậm rụng trứng từ 3 - 4 giờ Việc chiếu sáng bổ sung 3 - 4 giờ buổi tối thực chất là để gà đẻ ổn định và tập trung vào khoảng 8 - 11 giờ sáng Nếu không đảm bảo đủ thời gian chiếu sáng 15 - 18 giờ/ngày thì gà sẽ đẻ cách nhật và giảm năng suất trứng

Như vậy, điều hoà sự rụng trứng là do yếu tố thần kinh thể dịch ở tuyến yên

và buồng trứng phụ trách Ngoài ra còn có cả thần kinh cấp cao và vỏ bán cầu đại não tham gia quá trình này

2.1.1.2 Cơ chế điều hoà quá trình tạo trứng, gà đẻ trứng

Tác nhân kích thích đầu tiên tới sự phát triển hệ thống sinh dục ở gà là các hormon hướng sinh dục từ tuyến yên, tiếp đó FSH kích thích nang trứng sinh trưởng phát triển, LH kích thích trứng chín và rụng Cuối cùng nang trứng tiết oestrogen kích thích sự phát triển và hoạt động của ống dẫn trứng Để điều hoà quá trình chín và rụng, tuyến yên tiết oxytoxin tăng cường co bóp cơ trơn ống dẫn trứng và tử cung, tiết prolactin ức chế hormon FSH và LH Sau khi trứng rụng, bao noãn co lại tiết progesteron duy trì hình thành trứng ở ống dẫn trứng và trạng thái hoạt động của nó Vì vậy, để điều chỉnh nhịp nhàng chức năng bộ máy sinh sản phải nhờ mối liên hệ khăng khít giữa tuyến yên và vùng dưới đồi thị Khả năng đẻ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, tuổi đẻ, trạng thái sinh lý, đặc điểm cá thể, điều kiện nuôi dưỡng và ngoại cảnh

Trong các yếu tố môi trường thì ánh sáng có ảnh hưởng nhất đến sự phát triển chức năng sinh dục của gia cầm Dùng ánh sáng nhân tạo bổ sung cho gà và

gà tây đẻ sớm Tuy nhiên việc đẻ sớm có điều bất lợi vì gà chưa đạt khối lượng cơ thể, trứng đẻ ra bé, chu kỳ đẻ sinh học ngắn, kết thúc đẻ sớm dẫn đến năng suất kém

Vì vậy trong chăn nuôi gia cầm đẻ trứng phải hạn chế thức ăn, ánh sáng để kéo dài tuổi thành thục về tính và thể vóc ở mức cho phép Ví dụ gà hướng trứng

Trang 6

khi đạt khối lượng khoảng 1260g đối với gà mái, 1450g đối với gà trống ở 133 ngày tuổi Gà đẻ trứng giống thịt như Isa, AA phải nuôi hạn chế thức ăn đến

140 ngày, khối lượng sống đạt 2150g đối với gà mái, 2500g đối với gà trống Sau

đó mới cho ăn tăng để thúc đẻ

Thực hiện nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng gà hậu bị sẽ nâng cao sức đẻ trứng của gia cầm, khối lượng trứng to, đẻ kéo dài và tỷ lệ ấp nở cao Ví dụ gà Leghorn có thể đẻ được 270 quả/mái/năm, gà Isa, AA đạt 180 - 185 quả/mái/10 tháng đẻ

2.1.2 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng

2.1.2.1 Khối lượng trứng

Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng của từng loại gia cầm Khối lượng trứng của các loài gia cầm khác nhau thì khác nhau, trứng gà 55 - 65g, trứng vịt 90 - 110g, trứng gà tây 110g, trứng ngỗng 110 - 180g… Hệ số di truyền của tính trạng khối lượng trứng khoảng 0,3 - 0,7 và do nhiều gen chi phối Kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận và cộng sự 1996 [20]) cho biết: khối lượng trứng có tượng quan âm với sản lượng trứng (r = - 0,36), tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục (r = 0,365) và khối lượng cơ thể (r = 0,31) Do đó khối lượng trứng phụ thuộc vào mức độ chọn lọc ở những dòng đã chọn lọc kỹ, khối lượng trứng trung bình cao hơn dòng chưa chọn lọc 10

- 15% Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa khối lượng trứng và kết quả ấp nở

đã xác định những trứng có khối lượng nằm trong khoảng trung bình của giống cho kết quả cao Những trứng quá nhỏ hoặc quá to đều cho kết quả nở thấp Những lý do dẫn đến kết quả như vậy là vì trứng quá nhỏ có tỷ lệ lòng trắng thấp, diện tích bề mặt so với khối lượng trứng lớn nên sự bốc hơi nước trong quá trình bảo quản cũng như quá trình ấp nở diễn ra nhanh, ảnh hưởng tới sự trao đổi chất

Trang 7

của phôi thai, không đảm bảo đủ thời gian để phôi phát triển đầy đủ, toàn diện Theo Nguyễn Duy Hoan, 1999 [14], trong cùng một độ tuổi thì khối lượng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên tỷ lệ albumin cao, không cho

tỷ lệ nở tốt Giữa khối lượng trứng ấp và khối lượng gia cầm con khi nở có tương quan dương Khối lượng gia cầm khi nở bằng 62 - 78% khối lượng trứng ban

đầu

Khối lượng trứng là chỉ tiêu đại diện cho phẩm giống nhưng sự chênh lệch

so với giá trị trung bình của giống là do những ảnh hưởng của điều kiện môi trường, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và tuổi đẻ trong giai đoạn sinh sản Nếu các

điều kiện nuôi không đảm bảo, khối lượng trứng giảm và không đồng đều Nhiệt

độ môi trường cũng ảnh hưởng lớn đến khối lượng trứng, đặc biệt khi nhiệt độ tăng trên 260C Kết quả nghiên cứu trên gà Ross Apollo ở 180C có 67% gà đẻ trứng trên 45g, 27% gà đẻ trứng từ 35 - 45g, 6% gà đẻ trứng dưới 34g Khi nhiệt

độ 350C thì con số tương ứng là 0%, 9%, 91% [27]

Theo Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao, Lê Thị Khanh, Lê Hồng Dung, Nguyễn Văn Phúc (1985) [27], trứng gà Rhoderi cho tỷ lệ ấp nở cao nhất ở mức khối lượng 45 - 51g Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thị San và Trần Long (1993) [27], trứng gà Hybro HV85 có khối lượng trung bình 52 - 64g cho kết quả nở và nuôi sống cao Nguyễn Duy Nhị, Nguyễn Thị San (1982) [27] đã xác định khối lượng trứng giống thích hợp để có tỷ lệ nở cao đối với gà Plymouth Rock 38 tuần là 55

- 60g ở gà công nghiệp trưởng thành khối lượng trứng là 55 - 65g

2.1.2.2 Hình dạng trứng

Trứng gà có hình dáng phổ biến là dáng thuôn đều hình ovan, phân biệt rõ

đầu to, đầu nhỏ Những trứng không có hình dáng như trên mà quá tròn, quá dài hoặc có thắt ngẫng ở giữa đều không được chọn làm trứng ấp do nó ảnh hưởng không chỉ tới cấu tạo, chất lượng vỏ trứng mà còn ảnh hưởng đến vị trí của đĩa

Trang 8

phôi Đối với trứng quá dài thì buồng khí ở quá xa so với đĩa phôi dẫn đến ảnh hưởng tới sự hô hấp của phôi, phôi dễ chết ngạt Đối với quả trứng quá tròn, buồng khí sẽ nhỏ, hàm lượng õy không đủ để cung cấp cho hoạt động của phôi thai hoặc khoảng cách giữa buồng khí và đĩa phôi quá gần nhau sẽ làm cho tốc

độ trao đổi khí mạnh, sinh nhiều nhiệt và sản phẩm độc giết chết phôi Đối với quả trứng thắt ngẫng sẽ cản trở sự mổ vỏ khi nở gia cầm con… Vì vậy hình dạng trứng còn là căn cứ để đánh giá chất lượng trứng giống

Một số tác giả cho rằng hình dạng trứng là do kết quả co bóp của ống dẫn trứng gây nên nhưng một số khác lại cho rằng tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng

Như vậy, mỗi giống gà đều có chỉ số hình dạng trứng đặc trưng và giá trị trung bình sẽ cho tỷ lệ nở cao Càng xa giá trị trung bình cho tỷ lệ nở càng thấp

2.1.2.3 Độ dày vỏ trứng và mật độ lỗ khí

Vỏ trứng là lớp bảo vệ cho trứng tránh các tác động cơ học, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn và còn là kho cung cấp canxi, phot pho cho phôi phát triển Vỏ trứng được tạo ra trong tử cung từ chất dịch nhầy cacbonat canxi và cacboprotein Thời gian tạo vỏ của trứng chiếm 78 - 80% thời gian hình thành một quả trứng (18 - 20 giờ)

Bề mặt ngoài của vỏ trứng được bao phủ một lớp màng mỏng trong suốt gọi

Trang 9

là vỏ cutin (90% protein là những sợi muxin đan xen kẽ, một ít hydratcacbon và một ít mỡ) Độ dầy màng ngoài khoảng 0,005 - 0,01mm Màng cutin vừa có tác dụng bảo vệ, vừa có tác dụng ngăn cản sự thoát hơi nước của trứng Khi mất lớp

vỏ này đi nhìn quả trứng nhẵn bóng, đây là đặc điểm đẻ phân biệt trứng mới hay trứng cũ

Trên bề mặt lớp vỏ cứng có các lỗ khí có khả năng khuếch tán không khí Các lỗ khí này cho phép nước bay hơi đi cũng như oxy từ bên ngoài thẩm thấu vào trong trứng, khí cacbonic từ trong thoát ra Mặt trong lớp vỏ canxi rất gồ ghề gồm nhiều mỏm nhô ra khỏi bề mặt vỏ Các mỏm này mềm hơn mặt ngoài và dễ dàng hoà tan dưới tác dụng hoá học khi phôi phát triển, đây là nguồn cung cấp canxi, phot pho cho phôi, vì vậy trong quá trình ấp vỏ trứng mỏng dần và dễ vỡ Nhiều khảo sát cho thấy, gà mái non và gà mái trưởng thành đẻ trứng có vỏ dày hơn gà mái già Tỷ lệ ấp nở tối đa thường ở giữa giai đoạn của chu kỳ đẻ trứng Vỏ trứng mỏng dần theo tuổi của gà mái nhưng cũng có thể dày lên với những mái già đẻ ít

Lớp tiếp giáp phía trong vỏ cứng là màng vỏ, gồm hai lớp dính sát nhau và tách ra ở đầu to tạo thành buồng khí Lớp này cũng có lỗ cho không khí đi qua Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày, độ bền (độ chịu lực), độ xốp Ngô Giản Luyện (1994) cho biết độ dày vỏ trứng gà đạt từ 0,229 - 0,373cm, độ chịu lực 2,44 - 3,0kg/cm2 Nguyễn Mạnh Hùng (1994) [7] cho biết, trung bình cứ mỗi vỏ trứng gà có khoảng 10.000 lỗ khí, 150 lỗ/cm2, đường kính lỗ khí dao động 40 - 50à Mật độ lỗ khí phân bố không đều, cao nhất ở đầu to, giảm dần ở thành bên

và ít nhất ở đầu nhỏ Tuy nhiên giữa các giống gà khác nhau có sự khác nhau Ngoài sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền, 70% canxi cần cho vỏ trứng lại lấy trực tiếp từ thức ăn, do vậy dinh dưởng cũng ảnh hưởng lớn tới sự hình thành vỏ trứng Khi nhiệt độ tăng từ 20 - 300C thì độ dày vỏ trứng giảm 6 - 10%, không vỏ hoặc bị biến dạng (Nguyễn Duy Hoan, 1999) [13]

Trang 10

2.1.2.4 Chất lượng lòng trắng

Lòng trắng trứng được tiết ra từ ống dẫn trứng, chứa nhiều chất dinh dưỡng

và nước để cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi và bảo vệ phôi khỏi những tác động cơ học Lòng trứng cấu tạo gồm hai lớp: lòng trắng đặc là lòng trắng loãng

Thành phần hoá học của lòng trắng trứng gà chủ yếu là nước 85,61%, protein 12,77%, lipít 0,25%, gluxit 0,27%, khoáng 0,67% Ngoài ra còn một số vitamin nhóm B và các enzym khác (không có vitamin hoà tan trong mỡ) Chính vì vậy, theo Nguyễn Mạnh Hùng và công sự (1994) [7] thì chất lượng lòng trắng cũng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng

Trứng có chất lượng tốt khi đổ ra một mặt phẳng nhẵn thì lớp lòng trắng đặc gọn và còn giữ nguyên hình ovan bao quanh lòng đỏ Lớp này có màu hơi phớt xanh hoặc màu vàng cam Lớp lòng trắng loãng ở ngoài có giới hạn rõ ràng và cũng giữ hình ovan, tuy loãng nhưng vẫn có độ dày và không chảy thành dòng Dây chằng ở vị trí giữa theo chiều dọc trục lớn của quả trứng Trứng có chất lượng kém quan sát thấy lòng trắng loãng không màu hoặc màu đục, lòng trắng không giữ được hình dạng, chảy loang rộng ra và dây chằng nằm ở các vị trí khác nhau

Để đánh giá chất lượng trứng qua lòng trắng, trong nghiên cứu sử dụng chỉ

số lòng trắng và đơn vị Haugh Chỉ số lòng trắng được tính bằng tỷ số giữa chiều cao lòng trắng đặc và đường kính của nó Chỉ số này càng lớn thì chất lượng trứng càng cao Theo Nguyễn Quý Khiêm (1996) [13] trứng gà mái đẻ đầu kỳ và mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà đang độ sinh sản Trứng bảo quản lâu ngày và trứng của những gà được cho ăn thiếu protein và vitamin B có chỉ số lòng trắng thấp Trứng mới thường có chỉ số lòng trắng rất cao Tuy nhiên hiện nay đơn vị Haugh được dùng phổ biến hơn vì đơn vị Haugh là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng Do vậy đã có máy tính đơn vị

Trang 11

Haugh tự động thông qua kết quả do chiều cao lòng trắng đặc và cần khối lượng trứng Theo Ngô Giản Luyện (1994) [13] trứng ấp có chất lượng tốt thì đơn vị Haugh từ 75 - 90 Dưới giá trị này thể hiện độ giảm của chất lượng trứng

2.1.2.5 Chất lượng lòng đỏ

Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính khoảng

35 - 40mm và được bao bọc bởi lớp màng lòng đỏ rất mỏng Màng có tính đàn hồi vừa giữ cho tế bào trứng ở dạng cầu vừa có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng trứng và lòng đỏ

Nguyễn Mạnh Hùng (1994) [7] cho biết: lòng đỏ gồm 50,93% nước, 16,06% protein, 31,7% lipít, 0,29% gluxit, 1,02% khoáng Ngoài ra còn có vitamin A,D, E, K Vai trò của lòng đỏ trứng là cung cấp chất dinh dưỡng chủ yếu cho phôi phát triển vì mầm phôi nằm ngay trên lòng đỏ

Chất lượng lòng đỏ cũng được xác định thông qua chỉ số lòng đỏ Chỉ số lòng đỏ là tỷ số giữa chiều cao và đường kính của lòng đỏ Theo Ngô Giản Luyện (1994, dẫn theo Nguyễn Quý Khiêm [13] chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi là 0,40

- 0,42 Theo Nguyễn Quý Khiêm (1996) [13] khi chỉ số lòng đỏ giảm còn 0,33 chứng tỏ lòng đỏ đã bị biến dạng

Hệ số di truyền của chất lượng lòng đỏ là 0,41 (Marco, 1982 dẫn theo Nguyễn Quý Khiêm) [13] Chỉ số lòng đỏ ít biến đổi hơn lòng trắng Nó bị giảm còn 0,25 - 0,29 nếu tăng nhiệt độ môi trường và bảo quản lâu

Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào lượng sắc tố trong máu, lượng caroten

có trong thức ăn Nói chung màu lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ nhưng nếu thay đổi thành phần và khẩu phần ăn, đặc biệt là khẩu phần nhiều caroten thì màu lòng đỏ cũng có thay đổi đậm hơn Tuy nhiên màu sắc không biểu hiện

được đầy đủ giá trị dinh dưỡng của lòng đỏ mà chỉ là đặc điểm hấp dẫn người tiêu dùng

Trang 12

Ngoài chỉ số lòng đỏ, tỷ lệ khối lượng lòng đỏ/khối lượng trứng cũng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng Khối lượng lòng đỏ biến đổi phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và sức sản xuất Một số tác giả cho biết tuổi gà càng cao tỷ lệ lòng đỏ càng cao và tỷ lệ lòng trắng giảm

2.1.3 Điều kiện và các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở

Dù ấp theo phương pháp tự nhiên hay nhân tạo thì điều kiện nhiệt độ đạt

được để trứng trở thành gà con phải nằm trong khoảng 37 - 390C Tuy nhiên trong thực tế nhiệt độ đôi lúc không đạt được do có thể gà mái quá vụng hoặc bộ phận cảm nhiệt, bộ phận cấp nhiệt của máy ấp có vấn đề ở Việt Nam, tỷ lệ gà

nở thường thấp nhất vào mùa hè và mùa đông, chỉ đạt 60 - 70% Mỗi giai đoạn phát triển của phôi thích hợp với một mức nhiệt độ khác nhau, từ 37,5 - 390C, nhưng dao động khoảng 37,80C Do đó đối với máy ấp đa kỳ thường cài đặt tự

động một mức như thế này

Ngoài ra, quá trình ấp nở còn phụ thuộc ẩm độ môi trường Độ ẩm không khí cần thiết để điều chỉnh sự thải nhiệt của trứng trong thời gian ấp, nó tạo ra môi trường cân bằng cho quá trình sinh lý, sinh hoá xảy ra của phôi thai

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra quy trình ẩm độ trong máy ấp

là từ 55 - 60% những ngày đầu và 70 - 75% những ngày cuối (riêng trứng ngỗng yêu cầu độ ẩm cao hơn, từ 65 - 80%) Nếu độ ẩm cao quá hoặc thấp quá sẽ làm mất nhiều nước hoặc tích nước Kết quả phôi chết do quá nóng hoặc phôi phát triển kém, gà yếu nở muộn, bụng sệ hoặc thậm chí không mổ mỏ ra được (trứng sát)

Ngoài nhiệt độ và ẩm độ, trứng ấp yêu cầu không khí như cơ thể gia cầm sống bên ngoài môi trường Với những máy ấp công suất lớn hiện nay chứa hàng vạn quả thì nhu cầu hàm lượng lớn oxy là rất cần thiết Khi lượng oxy trong máy giảm dưới 15% thì sẽ gây chết phôi hàng loạt Ngược lại trong máy tích quá 1%

Trang 13

CO2 thì sẽ đình trệ sự phát triển của phôi thai cũng như tăng tỷ lệ chết của chúng Những nghiên cứu của Trechiacov (1979) [13] đã xác định rằng lượng CO2 biến

động khoảng 0,2 - 0,4% là đảm bảo phôi phát triển tốt

Tuy nhiên một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trứng và kêta quả ấp nở đầu tiên trước khi đưa vào ấp đó là thời gian và phương thức bảo quản trứng Theo nghiên cứu của Nguyễn Quý Khiêm, Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân [27] thì thời gian bảo quản dài ngày đã ảnh hưởng đến chất lượng trứng giống gà Tam Hoàng, sau 12 ngày chỉ số làng trắng giảm còn 0,049, đơn vị Haugh giảm còn 61,65 Giữa hai phương thức bảo quản trong điều kiện tự nhiên

và nhân tạo thì sau 6 ngày khối lượng trứng bảo quản tự nhiên giảm nhiều hơn so với trứng bảo quản nhân tạo Điều kiện bảo quản nhân tạo 10 - 150C cho phép bảo quản trứng gà Tam Hoàng đến 9 ngày và tỷ lệ nở trên tổng phôi đạt 79,64% Thời gian bảo quản có tương quan rất chặt đến tỷ lệ chết phôi trứng gà Tam Hoàng, r = 0,921 và tỷ lệ nở trên tổng phôi r = - 0,868

2.1.4 Sự phát triển của phôi gà trong quá trình ấp

Thực chất của quá trình ấp chính là dưới tác dụng của nhiệt độ, ẩm độ đã chuyển hoá các chất dinh dưỡng có trong trứng để cung cấp cho phôi phát triển Lòng đỏ, lòng trắng, vỏ là những vật chất được phôi sử dụng cho sự sinh trưởng, phát triển Trong những ngày đầu phôi sử dụng protein của lòng đỏ, nước và muối khoáng của lòng trắng

Ngày đầu 6 giờ sau khi ấp phôi gà dài 5mm, hình thành nếp gấp thần kinh trên dây sống nguyên thuỷ Sau 24 giờ nếp thần kinh tạo thành ống thần kinh và hình thành 5 - 6 đốt thân

Ngày thứ 2: phôi tiếp tục phát triển tạo thành hệ thống mạch máu bên ngoài bào thai Bắt đầu xuất hiện mầm tim, mạch máu bao quanh noãn hoàng lấy chất dinh dưỡng từ đó để nuôi phôi

Trang 14

Ngày thứ 3: bắt đầu hình đầu, cổ và ngực Nếp đuôi và nếp cánh lớn lên hợp với nếp thân sau của phôi Từ đó màng ối, màng nhung phân chia thành hai màng túi, ngoài là màng nhung, trong là màng ối Hai màng này dính liền nhau Qua ngày thứ 3 hình thành gan và phổi

Ngày thứ 4: phôi ở dạng bào thai như động vật bậc cao, độ dài phôi 8mm Ngày thứ 5: phôi phát triển tăng dần đạt chiều dài 12mm Nhìn bề ngoài giống loài chim

Ngày thứ 6: kích thước phôi đạt 16mm, mạch máu phát triển như mạng nhện Trong thí nghiệm cũng như trong sản xuất thường soi trứng vào ngày này

để loại trứng chết phôi và phôi phát triển chậm

Giai đoạn ngày thứ 5 - 6 hydratcacbon có ý nghĩa trong việc hình thành các

tổ chức và hệ thống của phôi thai Số lượng đường sau thời kỳ này ở lòng đỏ và lòng trắng giảm đi nhưng lượng cước mất chưa sáng kể

Ngày thứ 7: vòng rốn, biểu mô màng ối biến thành da phôi Trong màng ối hình thành huyết quản Thành màng ối xuất hiện cơ trơn để màng có thể co bóp

được Phôi phát dục trong môi trường nước của màng ối Nước ối vừa chứa dinh dưỡng vừa chứa cả amoniac và axit uric của phân thải ra Lúc này đã hình thành ống ruột và dạ dày, chất dinh dưỡng đi qua đó Sau 7 ngày ấp phôi sử dụng hầu hết các chất dinh dưỡng của lòng đỏ Số lượng lòng trắng bắt đầu giảm vì từ lúc 7 ngày phôi sử dụng nhiều nước từ lòng trắng để xây dựng các tổ chức cơ thể và trong trao đổi chất

Những ngày đầu kỳ ấp nhiệt độ trong trứng thấp hơn nhiệt độ buồng ấp, nhưng từ ngày thứ 10 trở đi thì ngược lại

Ngày thứ 11: phôi dài 2,54cm, đã hình thành chân Từ lúc này phôi bắt đầu tích luỹ glucogen

Ngày thứ 12: huyết quản của túi noãn hoàng phát triển mạnh, vận chuyển

Trang 15

chất dinh dưỡng đến phôi Thời kỳ này là quá độ của hô hấp túi niệu Tế bào cơ, gân phân bố khắp thành niệu nang

Ngày thứ 13: trên đầu phôi xuất hiện lông tơ, móng chân và mỏ hình thành

Ngày 17, 18, 19: phôi chiếm gần như toàn bộ thể tích vỏ trứng trừ buồng khí, lòng trắng hoàn toàn biến mất

Ngày 20: phôi gà mổ thủng buồng khí Lúc này gà con lấy oxy qua đường hô hấp, phổi và mạch máu Sau đó gà bắt đầu mổ vỏ trứng

Ngày 21: gà chui ra khỏi vỏ, kết thúc giai đoạn ấp

Như vậy, lúc đầu phôi hô hấp chủ yếu bằng oxy của lòng đỏ, sau đó là

Trang 16

oxy của buồng khí và cuối cùng gà con nở ra sử dụng oxy của môi trường không khí Theo viện sỹ hàn lâm C.I.Smetnhev, sự cần thiết oxy của phôi trong chu kỳ

ấp là 4777,5cm3, cũng thời gian như vậy phôi thải ra 3356,9cm3 CO2

2.1.5 Giới thiệu các giống gà đề cấp đến trong đề tài

2.1.5.1 Gà Lương Phượng

Nguồn gốc: Gà Lương Phượng hay Lương Phượng Hoa là một Gà Lương Phượng có xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do Xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Định tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn 10 năm nghiên cứu Họ đã sử dụng giống gà địa phương

và một dòng mái nhập của nước ngoài Gà Lương Phượng đã được giám định kỹ thuật của Uỷ ban Khoa học thành phố Nam Định

Chỉ tiêu năng suất gà bố mẹ:

- Khối lượng gà mái 20 tuần tuổi: 1,9 - 2,1 kg

- Khối lượng gà trống 20 tuần tuổi: 2,8 - 3,2 kg

- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 22 - 23 tuần tuổi

- Tuổi đẻ cao nhất: 29 - 31 tuần tuổi

- Sản lượng trứng/68 tuần tuổi: 150 - 170 quả/mái

Chỉ tiêu năng suất gà thịt đến 12 tuần tuổi

Trang 17

Đặc điểm ngoại hình:

- Gà mái: lông màu đỏ sẫm hoặc nâu đỏ, mào cờ, da, mỏ và chân vàng nhạt

- Gà trống: lông toàn thân màu đỏ thẫm, lông cổ màu đỏ tía, mào cơ

Chỉ tiêu năng suất gà bố mẹ

- Khối l−ợng gà mái 20 tuần tuổi: 2,0 - 2,2 kg

- Khối l−ợng gà trống 20 tuần tuổi: 2,8 - 3,2 kg

- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 24 tuần tuổi

- Tuổi đẻ cao nhất: 30 - 32 tuần tuổi

- Sản l−ợng trứng/68 tuần tuổi: 185 quả/mái

Trang 18

Đặc điểm ngoại hình:

- Gà mái có lông màu nâu nhạt, da và chân màu vàng nhạt, mào cờ

- Gà trống có lông màu đỏ sẫm, pha lẫn đỏ tía ở cổ cánh, màu da và chân màu vàng nhạt, mào cờ

Chỉ tiêu năng suất gà bố mẹ

- Khối lượng gà mái 20 tuần tuổi: 1,7 - 1,8 kg

- Khối lượng gà trống 20 tuần tuổi: 2,8 - 3,2 kg

- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 21 - 22 tuần tuổi

- Tuổi đẻ cao nhất 31 - 32 tuần tuổi

- Sản lượng trứng/68 tuần tuổi: 210 quả/mái

Việt Nam đã nhập giống gà này từ Pháp và hiện đang nuôi ở nhiều trại gà giống thuộc Công ty gia cầm thành phố Hồ Chí Minh, trại giống Hậu Giang, trại giống CP (Đồng Nai, Hà Tây)

Đàn gà thương phẩm trứng được nuôi rộng rãi khắp các trang trại và hộ chăn nuôi trong cả nước

Trang 19

- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 22 tuần tuổi

- Tuổi đạt 50% tỷ lệ đẻ: 24 tuần tuổi

- Tuổi đạt đỉnh cao tỷ lệ đẻ: 27 - 30 tuần tuổi (90 - 92%)

- Đến 76 tuần tuổi tỷ lệ đẻ: 65%

- Sản lượng trứng: 291 quả/mái/năm

- Khối lượng trứng 26 tuần tuổi: 65 gam

(Theo tài liệu tập huấn chăn nuôi gà của Bộ NN & PTNT, 2003 [1])

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trang 20

hậu tự nhiên của đất nước Một số phương pháp lai giống tạo ra con lai nuôi thịt (broiler) hiện được sử dụng rộng rãi là lai kinh tế (lai giữa 2 dòng, 2 giống, 4 dòng trong cùng một giống), lai luân hồi, lai kế tiếp (cấp tiến), lai tạo ra giống mới (lai tái sản xuất)

Nguyên tắc của lai kinh tế là dòng trống đi lai phải tăng trọng nhanh, cho nhiều thịt Dòng mái phải có khả năng đẻ trứng, ấp nở cao Con lai thương phẩm phải tăng trọng nhanh, sức sống cao, chuyển hoá thức ăn hiệu quả hơn

Hiện nay Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc (TTNCGCVP) nuôi giứ giống gà Lương Phượng, Xí nghiệp gà giống Châu Thành nuôi giữ giống gà Kabir, Xí nghiệp gà giống Hoà Bình nuôi giữ giống gà ISA - JA57 TTNCGCVP

đã cho lai hai dòng gà Lương Phượng M2 (dòng trống) với M1(dòng mái) cho con lai M12 tăng trọng cao Con lai thương phẩm thịt nuôi trong 10 tuần đạt trung bình 1725g Tổ hợp lai thứ hai là bố Kabir lai với mẹ Lương Phượng Con lai nuôi 10 tuần tuổi đạt khối lượng trung bình 1800g (vượt hơn giống Kabir 10%, hơn Lương Phượng thuần 20%)

Thực tế hiện nay trong các hộ chăn nuôi lại thích gà lai giữa Sasso với Lương Phượng, vì con lai cũng tăng trọng nhanh, thịt nhiều và ngon hơn gà Lương Phượng và gà Kabir, đặc biệt là màu lông con lai được nhiều người tiêu dùng ưa thích hơn màu lông đỏ tuyền của Sasso Con lai nuôi trong 10 tuần tuổi

đạt khối lượng tương đương con lai giữa Kabir với Lương Phượng

Để khai thác đặc điểm màu lông, chất lượng thịt và sức kháng bệnh của gà

Ri, TTNCGCVP của Viện chăn nuôi còn tiến hành lai và cho ra sản xuất con lai nuôi thịt giữa gà Lương Phượng và gà Ri hoặc ngược lại Hai tổ hợp lai LPR và RLP đều cho tăng trọng xấp xỉ nhau và vượt trung bình bố mẹ Riêng sản lượng trứng của con lai nếu giữ làm gà đẻ thì cho cao hơn gà Ri 30 - 40 quả/mái

Giáo sư Nguyễn Văn Thưởng, chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam vừa hoàn thành đề tài: "Nghiên cứu xây dựng đàn gà lông màu thả vườn bằng phương pháp

Trang 21

chọn lọc, lai tạo với gà Ri cải tiến phù hợp với chăn thả nông hộ" Để thực hiện mô hình này, giáo sư và các cộng sự đã tiến hành lai gà Ri với giống gà thả vườn nhập nội: Lương Phượng (Trung Quốc), Kabir (Israel) để tạo đàn gà lông màu có năng suất ổn định, đồng thời tổ chức chăn nuôi gà thả vườn có kỹ thuật ở nông

hộ, xây dựng một số mô hình chăn nuôi điển hình để phổ biến cho nhiều hộ chăn nuôi khác trong vùng

Đề tài nghiên cứu đã được triển khai thử nghiệm ở xã Quý Lộc (Thanh Hoá)

và xã Thuỷ Xuân Tiên (Hà Tây), mỗi xã 10 hộ tương ứng với 10 công thức thí nghiệm Kết quả cho thấy tỷ lệ nuôi sống đạt khá cao (98,15% ở gà 4 tuần tuổi, 93,5% ở gà 20 tuần tuổi), tốt hơn gà Ri thuần chủng trong điều kiện chăn nuôi nông hộ Gà tăng trọng nhanh, khoảng 18,4g/con/ngày Nuôi 20 tuần tuổi đạt trọng lượng xấp xỉ 1,9kg/con (gà Ri thuần chủng chỉ đạt 1,2kg/con) Chất lượng thịt gà rất tốt, ngọt, thịt chắc [10]

Ngoài ra trong thực tiễn đã và đang có một số cơ sở và nông hộ cho lai gà trống Kabir với gà mái Ri, trống Lương Phượng với mái Mía, hoặc trống ISA Color (ISA màu) với mái Lương Phượng và cũng được thị trường chấp nhận Tất cả các giống trên và con lai giữa chúng được nuôi theo cả hai phương thức công nghiệp và bán chăn thả

2.2.1.2 Kết quả sản xuất trên gà bố mẹ và gà thịt, trứng thương phẩm

- Gà bố mẹ:

Kết quả nghiên cứu của Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Thị Khanh, Vũ Thị Thảo [27] trên gà giống Sasso cho biết: tỷ lệ đẻ tháng đầu đạt 13,00 - 25,12% Tỷ lệ tăng dần và ổn định 40 - 42% từ tháng thứ 3 - 4 Sản lượng trứng 2,25 tháng ở Xí nghiệp gà giống Tam Đảo đạt 21,8 quả/mái (đối với dòng B); 35,32 quả/mái (đối với dòng D), cao hơn 8 - 12% so với chỉ tiêu của hãng Dòng X44 ở TTNCGCVP có sản lượng trứng 6 tháng đẻ đạt 82,91 quả/mái, thấp

Trang 22

hơn so với SA31L (113,11 quả/mái)

Gà Sasso dòng X44 tại Viện Chăn nuôi [11] đã khảo sát cho kết quả như sau: Trứng ấp có tỷ lệ phôi đạt 93 - 93,5% Tỷ lệ nở/phôi gà dòng X44 đạt cao 91,03%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 84,79%, tỷ lệ gà loại I đạt 80,25% Đối với gà Sasso SA31L có tỷ lệ ấp nở trung bình 85%, tổng gà loại I là 146 con trong một chu kỳ khai thác 68 - 70 tuần tuổi

Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Thị Khanh, Vũ Thị Thảo [27] nghiên cứu một số đặc điểm và tính năng sản xuất của gà Tam Hoàng 882 nhập ở Trung Quốc cho biết, khả năng sinh sản và chi phí thức ăn/10 quả trứng sau 5 tháng đẻ là 63,1 quả và 3,23kgTA Riêng Tam Hoàng có nguồn gốc từ Quảng Ninh và Hà Nam Ninh thấp hơn tương ứng là 52,42 quả/mái, 3,87kgTA và 51,25 quả/mái, 3,53kgTA Tỷ lệ phôi và số gà nở/tổng trứng ấp của Tam Hoàng (Trung Quốc) là 93,13%; 80,98%, còn Tam Hoàng (Quảng Ninh) và Tam Hoàng (Hà Nam Ninh) là 94,39%; 72,81% và 92,83%; 70,39%

Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Thị Khanh, Nguyễn Quốc Đạt (1999) [27] nghiên cứu tính năng sản xuất của gà Tam Hoàng Jiangcun vàng cho kết quả tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và TTTA/66 tuần tuổi

là 47,90%; 154,26%; 2,99 - 2,94kg, thấp hơn dòng 882 là 0,18kgTA/10 quả trứng

- Gà thịt thương phẩm:

Tại TTNCGCVP, kết quả con lai thương phẩm thịt giữa trống Sasso và mái Lương Phượng lúc 9 tuần tuổi đạt 2,45kg đối với con trống và 2,23kg đối với con mái, tiêu tốn thức ăn 2,46 - 2,50kg/kgTT

Theo Nguyễn Khắc Tích (1999) [26], gà Sasso được nhập trực tiếp vào miền Nam từ cuối 1994 và vào miền Bắc 1996 Trong khuân khổ dự án "Phát triển sản xuất giống gà công nghiệp năng xuất chất lượng cao" đàn gà ppng bà giống thịt lông màu Sasso đã được nhập vào Việt Nam từ thámg 3/2002 với mục đích sản

Trang 23

xuất gà thịt thượng phẩm

Theo Lê Huy Liễu, Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Hoan (2004) [14], năng suất thịt của con lai F1 giữa gà Ri với một số giống gà lông màu nuôi thả vườn tại Thái Nguyên như sau:

F1 ( Kabir x Ri) lúc 77 ngày tuổi đạt 1507,47g 1175,25g

84 1578,35g 1214,56g

91 1716,42g 1317,54g F1 ( LP x Ri) lúc 77 ngày tuổi đạt 1547,54g 1235,58g

91 1735,70g 1349,66g

Kết quả mổ khảo sát thăm dò khả năng cho thịt của gà thí nghiệm cho biết:

tỷ lệ thân thịt và thịt đùi của gà trống F1 ( LP x Ri) là cao nhất 75,70%; 21,84% Sau đó là gà trống F1 ( K x Ri) 69,25%; 18,84% tương ứng Ngược lại tỷ lệ mỡ bụng của gà trống F1( LP x Ri) thấp nhất 0,86% trong khi gà Ri 2,38% Tuy nhiên tỷ lệ thịt ngực của gà trống ( K x Ri) cao nhất 17,93%, thấp nhất là F1( LP x Ri) 16,50%

ở gà mái F1 ( LP x Ri) có tỷ lệ thân thịt, thịt ngực và thịt đùi đều cao nhất, tương ứng là 76,16%; 20,61%; 20,96% Riêng tỷ lệ mỡ bụng lại nhỏ nhất 1,61% Kết quả trung gian là mái ( K x Ri) Thấp nhất là Ri với các số liệu tương ứng là 73,20%; 16,52%; 15,78%

Nguyễn Văn Thưởng, Trần Thanh Vân (2004) [21] khi theo dõi năng suất sinh trưởng của một số giống gà màu nuôi bán chăn thả tại các nông hộ xã Thịnh Đán - Thái Nguyên cho thấy: Kết quả úm 4 tuần đầu tất cả các nhóm đều

đạt từ trên 94,1%, đặc biệt gà Lương Phượng 98,04%, (RLP x LP) đạt 100% Tuy nhiên sau 4 tuần tỷ lệ nuôi sống giảm 2 - 4% do gà được nuôi thả ra vườn

Đến 8 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống của gà Lương Phượng là 96%, (RLP x LP) là

Trang 24

98% Kết quả cân khối lượng lúc 8 tuần tuổi gà Lương Phượng đạt 778,25g; gà Kabir 1012,50g; (RK x K) 871,75g; (RLP x LP) 925,75% và đến 20 tuần tuổi gà Lương Phượng mới đạt 1734,29g; Kabir 1692,83g; (RK x K) 1853,85g; (RLP x LP) 1846,42g

Lê Huy Liễu, Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Hoan (2003) [14] cũng theo dõi năng suất thịt của con lai F1 giữa gà Ri với gà màu tại Thái Nguyên cho biết: F1 (K x R) lúc 77 ngày đạt 1477,55g ; 1237,72g

Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Thị Khanh, Vũ Thị Thảo [27] nghiên cứu một số đặc điểm và tính năng sản xuất của gà Tam Hoàng 882 nhập

ở Trung Quốc cho biết: 8 tuần tuổi gà trống đạt 806g, gà mái tương ứng là 710g Tỷ lệ nuôi sống 95,17% Đối với gà Tam Hoàng có lý lịch nhận từ Quảng Ninh và Hà Nam Ninh đều cho kết quả thấp hơn trong cùng điều kiện nuôi

Trang 25

thường xuyên phải chọn tạo và hình thành thêm nhiều dòng gà trứng cao sản mới

và vì vậy cơ cấu các giống gà trứng cũng dần dần thay đổi

Hiện nay miền Bắc nước ta đang nuôi phổ biến giống gà trứng ISA Brown vì đây cũng là một trong các giống đẻ trứng tốt Một ví dụ về việc "Làm giàu từ kinh tế trang trại" trích theo báo Hà Tây [10] là một minh chứng:

ý tưởng làm giàu trên chính quê hương Ngọc Mỹ (Quốc Oai - Hà Tây) đã thôi thúc Nguyễn Văn Trường, năm 2003, anh đã mạnh dạn xây dựng dự án chăn nuôi gà siêu trứng và đấu thầu 9 sáo đất trồng lúa thuộc khu đát Gò Chắt, thôn Phú Mỹ, xã Ngọc Mỹ để chuyển mục đích trồng trọt sang chăn nuôi có hiệu quả Trước đây, khu đất này thuộc vùng đồi gà thường xuyên hạn, thiếu nước rất khó trồng trọt đối với người nông dân, hàng năm chỉ cho thu hoạch đạt 1 vụ với năng suất thấp còn lại đất để hoang Anh Trường đã thuê máy ủi san lấp, xây dựng 2 chuồng trại nuôi gà với tổng diện tích lên đến 4.500m2, đầu tư nhiều thiết

bị có giá trị và đắt tiền như: giàn máy làm lạnh, hệ thống quạt thông gió, hệ thống nước uống, hệ thống chuồng gà…với tổng chi phí ban đầu lên tới 600 triệu

đồng Khị trang trại đã cơ bản hoàn thành, anh nhanh chóng ký hợp đồng dài hạn với Công ty TNHH Charoen Pokphand (CP) nhận nuôi gà đẻ trứng Hai bên đã thoả thuận, đi đến ký kết hợp đồng là Công ty CP sẽ cung cấp 1 vạn gà hậu bị giống ISA Brown và thức ăn, đồng thời cử kỹ sư hàng ngày về theo dõi quy trình chăn nuôi và chăm sóc đàn gà nhằm phát hiện kịp thời các loại bệnh của gà phát sinh đẻ có biện pháp xử lý

Giống gà ISA Brown chỉ sau 1 tuần đã cho trứng, mỗi đàn chỉ đẻ trứng trong thời gian từ 12 - 14 tháng, sau đó có thể thay một lứa gà mới với năng suất cao Hiện nay, đàn gà của anh một ngày tiêu thu hết từ 1 - 1,2 tấn thức ăn và cho 9.000 quả trứng (những ngày cao điểm đã lên đến 9.700 quả) Đây là những con

Trang 26

số kỷ lục mà anh có được Hàng ngày xe của Công ty đến nhập trứng và thanh toán với giá từ 720 - 740 đồng/quả trứng Với một khối lượng công việc trong ngày quá lớn như vậy, muốn làm tốt và có hiệu quả, anh đã phải thuê 4 - 5 người với mức lương 600.000đ/tháng Để có một mô hình lý tưởng như hiện nay, anh Trường đã phải học hỏi kinh nghiệm từ nhiều mô hình khác ở các tỉnh rồi vận dụng sáng tạo vào xây dựng trang trại của mình sao cho khoa học và đạt hiệu quả cao nhất Bằng cách xây dựng trang trại theo kiểu mỗi dãy chia làm 3 tầng, trong mỗi ngăn chuồng có thể nuôi được 4 gà đẻ trứng, với số lượng 4 dãy, mỗi nhà nuôi gà của anh vừa tiết kiệm được diện tích, vừa đảm bảo cho gà có thể đẻ trứng

mà không hề sợ trứng vỡ và hỏng, lại thuận tiện cho việc thu nhặt trứng chuyển

về kho để xuất cho Công ty Riêng số gà hết 14 tháng đẻ trứng sẽ được đem bán

ra ngoài thị trường làm gà thịt với giá hiện tại trên 25.000 đồng/kg, đảm bảo thịt mềm, ngon và được người tiêu dùng chấp thuận Năm 2003, anh đã thu lãi 100 triệu đồng từ việc bán gà và trứng gà Đến nay, tuy mới chỉ là năm thứ hai đầu tư chăn nuôi có hiệu quả nhưng anh Trường luôn hy vọng vào mô hình của mình sẽ ngày càng phát triển, cho năng suất cao Dự kiến trong thời gian tới, anh sẽ mở rộng mô hình, đầu tư thêm 2 chuồng trại với số lượng gà gấp đôi hiện nay, đồng thời tuyển chọn công nhân chăn nuôi một cách khoa học để có thể đem lại những hiệu quả nhất cho trang trại gà

Kiều Đông Hà (báo Hà Tây)

Trang 27

- Nuôi các giống, dòng gà có vận tốc sinh trưởng chậm

- Nuôi thả vườn, đồi có cây xanh và với mật độ 1 - 2m2/ gà

- Thức ăn từ nguồn thực vật (70% ngũ cốc), không có nguồn động vật, không bổ sung mỡ, chất kích thích tăng trọng, kháng sinh …

- Thời gian nuôi ít nhất 81 ngày (80 - 100 ngày)

Giá thịt gà Label thường cao hơn 30%, có khi tới 3 lần so với thịt gà Broler công nghiệp Năm 1997 bình quân giá thịt gà Label ở Pháp 17,14F/kg, gà công nghiệp 9,82F/kg, ở thành phố Rennes tháng 7/1997 gà Label mổ cả con giá 31,2 F/kg, thịt gà công nghiệp 9,8F/kg ở Nhật, giá bán lẻ thịt gà Label cao hơn 120 - 130% so với gà công nghiệp

ở Pháp năm 1996 trên 90 triệu gà Label cho 133.000 tấn thịt, chiếm trên 20% sản lượng thịt gà và trên 10% tổng sản lượng thịt gia cầm, chủ yếu tiêu dùng trong nước, chỉ xuất khẩu 5 - 6% thì 2% xuất đông lạnh cho Nhật Hiện có tới

6000 trang trại thuộc 20 tập đoàn nuôi gà Label, 60 trạm ấp trứng, 110 nhà máy giết mổ, chế biến thịt Nhà máy giết mổ không cách xa trại gà trên 100km để không quá 2 giờ vận chuyển gà Doanh thu từ nuôi gà Label tăng rất nhanh: măm

1985 chiếm 18% doanh thu toàn bộ thịt gà Đến năm 1998 doanh thu do bán gà Label ở Pháp đã vượt trên 50% tổng doanh thu thịt gà

ở Nhật, thịt gà chất lượng cao chiếm tới 13% thị trường và hàng năm tăng

Trang 28

trưởng đến 10% Nhật tiêu thụ nhiều thịt gà, 1997 sản xuất 1.235 ngàn tấn cũng chỉ mới đảm bảo khoảng 65% nhu cầu tiêu dùng, còn lại phải nhập từ Mỹ, Brazil, Trung Quốc, Thái Lan Xu hướng là giảm dần thịt gà công nghiệp mà tăng dần thịt gà chất lượng cao Hiện nay có đến 120 loại gà chất lượng cao đang chăn nuôi ở các vùng, phần lớn có màu lông đỏ hoặc vàng

2.3 Cách tính một số chỉ tiêu sản xuất kinh tế của gà sinh sản và

gà thịt

2.3.1 Chỉ tiêu sản xuất của gà mái đẻ (gà bố mẹ)

- Tỷ lệ nuôi sống là hiệu số con đầu kỳ (ĐK) và số con chết loại cả kỳ (CLCK) chia cho số con đầu kỳ

Tổng thức ăn cung cấp trong GĐ

Tiêu tốn TA/gà mái

trong GĐ (kg/con) = Số gà bình quân trong GĐ

Để tính nhanh số gà bình quân trong giai đoạn, lấy trung bình của gà đầu kỳ

và tổng số gà còn lại cuối kỳ

- Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng giống cả kỳ

Tổng TTTA cả kỳ đẻ TTTA/10 quả trứng giống (g) =

Tổng số trứng giống cả kỳ

Để đánh giá tình hình phát triển và sinh lý sinh sản của đàn gà để từ đó có biện pháp cho ăn thích hợp, thường xác định tỷ lệ đẻ ở 3 mốc thời gian

Trang 29

- Tuổi đạt 5% tỷ lệ đẻ: đây là chỉ tiêu để đánh giá đàn gà thành thục về tính sớm hay muộn Gà ISA 23 tuần tuổi, gà Ri 19 - 20 tuần tuổi, gà Lương Phượng hoa 22 - 23 tuần tuổi, gà Kabir 24 tuần tuổi

- Tuổi đạt đỉnh cao tỷ lệ đẻ: phụ thuộc vào giống, điều kiện môi trường và chăm sóc nuôi dưỡng Gà Ri có tỷ lệ đẻ cao nhất 55 - 60% lúc 24 - 30 tuần tuổi

Gà Lương Phượng hoa nuôi ở Trung Quốc đẻ cao nhất 75 - 80% (30 - 31 tuần tuổi) và kéo dài 3 tuần

- Tỷ lệ đẻ bình quân cả kỳ là tỷ lệ giữa tổng số trứng thu được của cả kỳ trên tổng số gà có mặt trong cả kỳ Kỳ có thể là 1 tuần, 1 tháng, 10 tháng, 12 tháng…

Tổng số trứng thu được trong kỳ

Tỷ lệ đẻ (%) =

Tổng số gà trong kỳ x số ngày trong kỳ x 100

- Sản lượng trứng bình quân/mái: ở nhiều hãng gia cầm nước ngoài như

Mỹ, Pháp, Đức, Thái Lan, Malaysia…thường tính sản lượng trứng/mái đầu kỳ vào đẻ Như vậy mới chính xác trong khâu hạch toán giá thành Riêng ở Việt Nam thường áp dụng cách tính sản lượng trứng trung bình/mái (bình quân đầu kỳ + cuối kỳ hoặc trên tổng số gà bình quân đầu kỳ và cuối kỳ)

Tổng số trứng thu được cả kỳ (10 - 12 tháng) Sản lượng trứng bình

Tổng số trứng ấp - Tổng số trứng không phôi

Tỷ lệ trứng

có phôi (%) = Tổng số gà đầu kỳ lên đẻ x 100

Trang 30

- Tỷ lệ ấp nở (%): Trong quá trình ấp, do không đảm bảo điều kiện nhiệt

độ, ẩm độ, sự thông thoáng hoặc chất lượng trứng ấp không tốt (thiếu vitamin, khoáng vi lượng…) phôi có thể bị chết Xác định tỷ lệ ấp nở để biết tình trạng

đàn bố mẹ, chế độ ấp tốt hay không mà có biện pháp can thiệp sớm Có hai cách tính tỷ lệ nở theo là tính theo tổng trứng ấp và tính theo tổng trứng có phôi

2.3.2 Các chỉ tiêu sản xuất của đàn gà thịt

- Tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn hàng tuần, hàng tháng, hoặc khi kết thúc giai đoạn nuôi thịt (42, 49, 56 ngày tuổi…) được tính như đối với gà sinh sản

- Khả năng sinh trưởng (tốc độ tăng trọng): trong thí nghiệm nghiên cứu thường cân khối lượng gà hàng tuần, còn trong sản xuất chỉ cân mẫu vào giai

đoạn kết thúc nuôi Trước khi cân gà 5 - 6 giờ không cho gà ăn hoặc cân vào buổi sáng Khả năng sinh trưởng được tính theo 3 chỉ tiêu:

+ Sinh trưởng tích luỹ (g): cân gà vào cuối tuần, cuối tháng cân tách riêng trống, mái

+ Sinh trưởng tuyệt đối: là khối lượng cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian (1 tuần, 1 tháng)

Trang 31

Công thức:

t

W W

Chú thích:

G = Sinh trưởng tuyệt đối, tính bằng gam (g)

W1 = Khối lượng cơ thể bình quân toàn đàn, hoặc cá thể lần đầu (lần cân trước, g)

W2 = Khối lượng cơ thể bình quân toàn đàn, hoặc cá thể lần sau

R(%) ( ) 100

2 /

2 1

1 2

x W

W

W W

W2 = Khối lượng cơ thể bình quân lần cân sau

- Tiêu tốn thức ăn/kgTT: có thể tính trong tuần, tháng hoặc trong cả kỳ nuôi

Tổng lượng tiêu tốn thức ăn trong kỳ TTTA kg/kg tăng trọng =

Tổng KLCT gà thu được trong kỳ

Có thể chỉ cân mẫu băng 20 - 30% tổng đàn (trong nghiên cứu còn phải trừ khối lượng cơ thể gà một ngày tuổi và thức ăn của gà đã chết)

Trang 32

- Chỉ số sản xuất: đây là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp có ý nghĩa kinh tế rõ rệt, bởi vì nó có mối tương quan giữa tổng sản phẩm thịt gà thu được với tổng tiêu tốn thức ăn trong kỳ nuôi gà

KLCT sống bình quân (kg) x tỷ lệ nuôi sống (%) Chỉ số SX (PN) =

(Tổng số ngày nuôi trong kỳ x TTTA kg/kg tăng trọng) x100

- Khả năng cho thịt: là chỉ tiêu đánh giá chất lượng con giống, chất lượng thức ăn, kể cả điều kiện chăn nuôi Khả năng cho thịt được đánh giá qua 6 chỉ tiêu cơ bản: Khối lượng cơ thể, tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệ thịt đùi, tỷ lệ toàn thân, tỷ lệ mỡ bụng

Trang 33

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

c) Gà trứng thương phẩm: là giống siêu trứng ISA Brown

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Trạm khuyến nông huyện Yên Phong - Bắc Ninh

- Các nông hộ chăn nuôi gà ở huyện Yên Phong - Bắc Ninh

- Phòng phân tích của bộ môn Di truyền giống - Khoa CNTY

3.1.3 Thời gian tiến hành đề tài

Từ tháng 9/2003 đến tháng 8/2004

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều tra chung về tình hình phát triển đàn gà lông màu

- Cơ cấu, số lượng

- Quy mô nuôi

- Phương thức nuôi

Trang 34

3.2.2 Đối với đàn gà giống bố mẹ

- Tuổi thành thục sinh dục: Tuổi đẻ quả trứng đầu, tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%

TTTA(kg)/ 10 quả trứng thường

TTTA(kg)/ 10 quả trứng giống

Trang 35

- Dùa vµo lo¹i h×nh ch¨n nu«i:

Trang 36

thịt của hai con lai trong cùng một điều kiện chăm sóc

- Nuôi gà trứng thương phẩm chủ yếu ở xã Đông Thọ và Thị trấn Chờ

3.4 kết quả và thảo luận

Dự kiến kết quả đạt được như mục đích yêu cầu đã đề ra

Trang 37

4 Kết Quả và thảo luận

4.1 Tình hình phát triển chung của đàn gà ở tỉnh Bắc Ninh và Huyện Yên Phong

4.1.1 Tình hình phát triển số lượng đàn gia cầm

Bắc Ninh là tỉnh giáp ranh về phía Bắc của thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của cả nước Bắc Ninh có các tuyến đường giao thông quan trọng như quốc lộ 1A, quốc lộ 18, quốc lộ 38, đường sắt Bắc Nam và các tuyến

đường thuỷ trên sông Đuống, sông Cầu rất tiện lợi cho việc giao thông đi lại và buôn bán hàng hoá với các tỉnh khác, đặc biệt là Hà Nội Theo chủ trương của Nhà nước, khi xây dựng thành phố vệ tinh tại Bắc Ninh thì đây chính là thị trường mở rộng của Hà Nội

Theo thống kê ngày 31/12/2002, dân số Bắc Ninh có 973.359 người, trong

đó dân số nông thôn 868.959, chiếm 89,27% Do đó lao động nông nghiệp vẫn

đóng vai trò chính Bắc Ninh có rất nhiều ngành nghề như nghề mộc, nghề thu gom phế liệu, làm giấy, nấu rượu Đây là những nghề truyền thống của các xã, huyện trong tỉnh hiện vẫn đang phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên một trong những ngành nghề phát triển trên diện rộng nhất đó là nghề chăn nuôi Chăn nuôi phát triển mạnh đã góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều hộ nông dân

Theo Nguyễn Mạnh Hùng (2004) [6], Bắc Ninh có 10.669 hộ có thu nhập

đạt trên 50 triệu đồng/ năm, điển hình có hộ chăn nuôi 20 bò sữa, có hộ 140 lợn nái, hoặc nuôi 8000 gia cầm Sản phẩm của nghề này không chỉ cung cấp cho nhu cầu của nhân dân trong tỉnh mà còn đóng góp một phần quan trọng cho thị trường Hà Nội

Để đánh giá được tình hình chăn nuôi gia cầm của tỉnh nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở huyện Yên Phong, chúng tôi tiến hành điều tra số lượng gia cầm ở tỉnh và số lượng gà ở huyện từ năm 1997 đến năm 2003 Kết quả được

Trang 38

trình bày ở bảng 4.1

Bảng 4.1 Số lượng gia cầm và gà được chăn nuôi ở tỉnh Bắc Ninh và

huyện Yên Phong giai đoạn 1997 - 2003

Năm Loại Đơn vị

Tỉnh Bắc Ninh

1000 con 2.380 2.623 2.584 3.037 3.406 3.812 3.956Gia

(Nguồn: Phòng Khuyến nông huyện Yên Phong - Bắc Ninh)

Từ kết quả bảng 4.1 chúng tôi thấy: Tổng đàn gia cầm ở tỉnh Bắc Ninh có

xu hướng tăng lên theo các năm Cụ thể năm 1997 số lượng gia cầm là 2.380.000 con, năm 2000 là 3.073.000 con và năm 2003 đã tăng lên 3.956.000 con Nếu so với năm 1997, thì năm 2003 số lượng đàn gia cầm đã tăng 66,22% Tính trung bình mỗi năm đàn gia cầm của tỉnh phát triển với tốc độ 11,03%, cao hơn trung bình của cả nước năm 2003 (theo Nguyễn Mạnh Hùng, 2004 [6] thì đàn gia cầm cả nước năm 2003 ước tăng 9,7% so vời cùng kỳ năm 2002)

Riêng con gà là đối tượng chăn nuôi chính nên sự phát triển cũng có xu hướng tăng theo từng năm Năm 2000, số lượng gà là 2.373.000 con, chiếm 78,14%, năm 2003, số lượng gà là 3.142.000 con, chiếm 79,42% đàn gia cầm của tỉnh, số còn lại là vịt, ngan, ngỗng

Trang 39

Năm 2003 so với năm 1997 số lượng gà của tỉnh tăng 154,78% Tuy nhiên chỉ trong 3 năm 2000, 2001, 2002 số lượng gà tăng nhanh nhất Năm 2000 số lượng gà đạt 116,90%, năm 2001 đạt 135,71% và năm 2002 đạt 152,71% so với năm 1997 Riêng năm 2003 là năm xảy ra nhiều dịch bệnh nên số lượng gà tăng chậm hơn rõ rệt, tăng 2,07% so với năm 2002, do đó cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng đàn gia cầm của cả tỉnh

Tuy nhiên, trước tình hình phát triển chung của đàn gà trong tỉnh như vậy,

số lượng gà của huyện Yên Phong vẫn phát triển rất nhanh qua các năm Từ bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy: nếu như năm 1997 số lượng gà của huyện là 91.000 con (100%) thì tính đến năm 2002 đã là 621.000 con (tăng 682,42% so với năm 1997) Đặc biệt từ năm 1998 đến năm 2000, đàn gà của huyện Yên Phong không những tăng nhanh mà năm sau số lượng gà gần như gấp đôi năm trước Cụ thể, năm 1998 số lượng gà của huyện là 151.000 con, đạt 165,93% so với năm 1997 Năm 2000 là 518.000 con, đạt 569,23% so với năm 197 Có thể nói, huyện Yên Phong là một trong những địa phương có tốc độ tăng đàn gà rất tốt

Sở dĩ có được kết quả như vậy ngoài lý do vị trí địa lý gần với thủ đô Hà Nội và giao thông thuận tiện đã tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi gia cầm của huyện phát triển còn có sự quan tâm, chỉ đạo của Trung tâm khuyến nông tỉnh và phòng khuyến nông huyện Duy chỉ có năm 2003 số lượng gà lại bị giảm, so với năm 2002 đàn gà giảm 88.000 con Lý do là vì năm 2003 đã xảy ra một số vụ dịch bệnh ở gà mà huyện Yên Phong cũng là một địa điểm nóng với mật độ gà cao Do đó kết quả sản xuất năm 2003 đối với ngành chăn nuôi gà của huyện đã

bị tác động rất lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của các hộ chăn nuôi

4.1.2 Quy mô, số lượng và các giống gà chính nuôi ở huyện Yên Phong

Với mục đích chính là sản xuất ra hàng hoá một phần phục vụ trong tỉnh còn chủ yếu là cung cấp cho thị trường Hà Nội, do đó sự phát triển chăn nuôi gà

ở huyện Yên Phong cũng có những thay đổi theo hướng ngày càng tập trung hơn,

Trang 40

quy mô lớn hơn và chuyên môn hoá theo từng xã Các hộ nuôi nhiều đã phát triển thành trang trại, có thuê thêm lao động hợp đồng

Theo số liệu thống kê năm 2003 của phòng Khuyến nông, huyện Yên Phong thì hiện nay số hộ chăn nuôi từ 300 - 1000 con gà là phổ biến, chiếm 49,47%, số hộ nuôi từ 1000 - 3000 con là 13,10%, số hộ nuôi trên 3000 con là 3,79%, còn lại là chăn nuôi nhỏ theo kiểu tăng gia, không ổn định và phát triển theo mùa vụ

Bảng 4.2 Cơ cấu và số lượng các loại hộ chăn nuôi

của huyện Yên Phong năm 2003

Số gà nuôi/hộ Số lượng hộ

(hộ)

Tổng số con (con)

(Nguồn: Phòng Khuyến nông huyện Yên Phong - Bắc Ninh)

Chăn nuôi gà ở huyện Yên Phong đi theo cả 3 hướng là chăn nuôi gà đẻ trứng, chăn nuôi gà thịt và gà giống bố mẹ để lấy con thương phẩm thịt Các giống gà được nuôi ở Yên Phong hầu hết là gà lông màu nhập của nước ngoài như Lương Phượng (Trung Quốc), Sasso, ISA Color, ISA Brown (Pháp), Goldline

và con lai của mái Lương Phượng với Sasso và ISA Color Đây cũng là xu hướng chăn nuôi chung của cả nước, nhưng tuỳ điều kiện mỗi tỉnh khác nhau nên sử dụng những con giống khác nhau, ví dụ những giống như Kabir, Tam Hoàng, gà

Ri, gà Mía, gà Đông Tảo

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2004), Kỹ thuật chăn nuôi gà phòng bệnh cho gà, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi gà phòng bệnh cho gà
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2004
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Kỹ thuật chăn nuôi gà nông hộ, Tài liệu tập huấn, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi gà nông hộ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2004
3. Nguyễn Văn Đức (2002), Mô hình thí nghiệm trong nông nghiệp, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình thí nghiệm trong nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Đức
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2002
4. Vũ Đại, Lưu Thị Xuân, Nguyễn Danh Nguyên, Đinh Thị Xuân (2000), "Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà giống trứng màu bố mẹ Hyline nuôi ở miền Bắc Việt Nam”, Tạp chí NN & CNTP, 12/2000, tr. 533 - 534 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà giống trứng màu bố mẹ Hyline nuôi ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Đại, Lưu Thị Xuân, Nguyễn Danh Nguyên, Đinh Thị Xuân
Năm: 2000
5. Cao Xuân Đạm và ctv (2000), "Nghiên cứu đặc điểm và khả năng sinh sản của gà ông bà, bố mẹ Tam Hoàng 882 tại Xí nghiệp gà giống L−ơng Mỹ", Tạp chí NN & CNTP, 12/2000, tr. 534 - 536 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm và khả năng sinh sản của gà ông bà, bố mẹ Tam Hoàng 882 tại Xí nghiệp gà giống L−ơng Mỹ
Tác giả: Cao Xuân Đạm và ctv
Năm: 2000
6. Nguyễn Mạnh Hùng (2004), Kinh tế - Xã hội Việt Nam h−ớng tới chất l−ợng tăng tr−ởng hội nhập - phát triển bền vững, NXB Thống Kê - Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế - Xã hội Việt Nam h−ớng tới chất l−ợng tăng tr−ởng hội nhập - phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Thống Kê - Hà Néi
Năm: 2004
7. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn (1994), Chăn nuôi gia cầm, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 1994
13. Nguyễn Quý Khiêm (2003), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh h−ởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng
Tác giả: Nguyễn Quý Khiêm
Năm: 2003
14. Lê Huy Liễu, Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Hoan (2003), "Năng suất thịt của con lai F1 giữa gà Ri với một số giống gà lông màu thả v−ờn tại Thái Nguyên", Tạp chí Chăn nuôi, số 8, tr.10 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất thịt của con lai F1 giữa gà Ri với một số giống gà lông màu thả v−ờn tại Thái Nguyên
Tác giả: Lê Huy Liễu, Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Hoan
Năm: 2003
15. Lê Huy Liễu, Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Hoan (2004), Năng suất thịt của con lai F1 giữa gà Ri với một số giống gà lông màu tại Thái Nguyên, Tạp chí Chăn nuôi, số 3, tr. 7 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Chăn nuôi
Tác giả: Lê Huy Liễu, Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Hoan
Năm: 2004
16. Bùi Đức Lũng, Nguyễn Xuân Sơn (2004), Sinh lý sinh sản và ấp trứng gia cầm bằng máy công nghiệp, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản và ấp trứng gia cầm bằng máy công nghiệp
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Nguyễn Xuân Sơn
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2004
17. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2002), Sổ tay chăn nuôi gà và gà Tây, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chăn nuôi gà và gà Tây
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2002
18. Bùi Đức Lũng (2004), Nuôi gà thịt công nghiệp và lông màu, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi gà thịt công nghiệp và lông màu
Tác giả: Bùi Đức Lũng
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2004
19. Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc (2001), Nuôi gà thịt Label lông màu, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi gà thịt Label lông màu
Tác giả: Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2001
20. Lê Hồng Mận (2002), Hỏi đáp về chăn nuôi gà, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về chăn nuôi gà
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2002
21. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2002), 81 câu hỏi đáp về chăn nuôi gà công nghiệp, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 81 câu hỏi đáp về chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2002
22. Đoàn Xuân Trúc, Nguyễn Văn Trung, Đặng Ngọc D− (2000), " Khả năng sản xuất của giống gà Kabir - CT3 nuôi bán chăn thả tại xí nghiệp gà giống Châu Thành", Tạp chí NN & CNTP, 12/2000, tr. 532 - 533 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của giống gà Kabir - CT3 nuôi bán chăn thả tại xí nghiệp gà giống Châu Thành
Tác giả: Đoàn Xuân Trúc, Nguyễn Văn Trung, Đặng Ngọc D−
Năm: 2000
24. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Văn Hải (2004), Bảo vệ môi tr−ờng sinh thái và phát triển chăn nuôi bền vững, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi tr−ờng sinh thái và phát triển chăn nuôi bền vững
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Văn Hải
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 2004
25. Nguyễn Văn Th−ởng, Trần Thanh Vân (2004), "Tỷ lệ nuôi sống và sinh tr−ởng của một số giống gà lông màu nuôi bán chăn thả tại nông hộ xãThịnh Đán, thành phố Thái Nguyên", Tạp chí Chăn nuôi, số 2, tr. 8 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nuôi sống và sinh tr−ởng của một số giống gà lông màu nuôi bán chăn thả tại nông hộ xã Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Văn Th−ởng, Trần Thanh Vân
Năm: 2004
26. Nguyễn Khắc Tích, D−ơng Văn Minh (1999), "Nghiên cứu khả năng sinh tr−ởng và cho thịt của gà Sasso th−ơng phẩm", Kết quả NCKHKT - CNTY 1996 – 1998, NXBNN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh tr−ởng và cho thịt của gà Sasso th−ơng phẩm
Tác giả: Nguyễn Khắc Tích, D−ơng Văn Minh
Nhà XB: NXBNN - Hà Nội
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Số l−ợng gia cầm  và gà đ−ợc chăn nuôi ở tỉnh Bắc Ninh và  huyện Yên Phong  giai đoạn 1997  -  2003 - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.1. Số l−ợng gia cầm và gà đ−ợc chăn nuôi ở tỉnh Bắc Ninh và huyện Yên Phong giai đoạn 1997 - 2003 (Trang 38)
Bảng 4.3. Các giống gà chính nuôi trong huyện Yên Phong  Giống gà  Gà bố mẹ  Gà trứng th−ơng - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3. Các giống gà chính nuôi trong huyện Yên Phong Giống gà Gà bố mẹ Gà trứng th−ơng (Trang 41)
Bảng 4.4. Kết quả đẻ trứng của gà thương phẩm ISA Brown nuôi trong  chuồng hở nền trấu, số l−ợng từ 1000 - 2000 con/hộ - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4. Kết quả đẻ trứng của gà thương phẩm ISA Brown nuôi trong chuồng hở nền trấu, số l−ợng từ 1000 - 2000 con/hộ (Trang 43)
Bảng 4.5. Kết quả đẻ trứng của đàn gà thương phẩm ISA Brown nuôi  trong chuồng kín lồng sắt, số l−ợng trên 3000 con/hộ - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5. Kết quả đẻ trứng của đàn gà thương phẩm ISA Brown nuôi trong chuồng kín lồng sắt, số l−ợng trên 3000 con/hộ (Trang 45)
Hình 4.1. Tỷ lệ đẻ tính theo tuần của gà Isa Brown nuôi chuồng hở nền  trấu (1) và chuồng kín lồng sắt (2) - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Hình 4.1. Tỷ lệ đẻ tính theo tuần của gà Isa Brown nuôi chuồng hở nền trấu (1) và chuồng kín lồng sắt (2) (Trang 47)
Bảng 4.6. Một số chỉ tiêu sản xuất của gà trứng ISA Brown th−ơng phẩm  giữa hai ph−ơng thức nuôi khác nhau - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.6. Một số chỉ tiêu sản xuất của gà trứng ISA Brown th−ơng phẩm giữa hai ph−ơng thức nuôi khác nhau (Trang 48)
Đồ thị 4.2. Tỷ lệ đẻ tính theo tuần của gà Lương Phượng - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
th ị 4.2. Tỷ lệ đẻ tính theo tuần của gà Lương Phượng (Trang 53)
Bảng 4.8. Tuổi thành thục sinh dục và sức sinh sản của gà mái L−ơng Ph−ợng - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.8. Tuổi thành thục sinh dục và sức sinh sản của gà mái L−ơng Ph−ợng (Trang 54)
Bảng 4.9. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 5 – 16 của trứng lai SSLP (đàn 1)  (Tỷ lệ trống/mái 1/10) - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.9. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 5 – 16 của trứng lai SSLP (đàn 1) (Tỷ lệ trống/mái 1/10) (Trang 56)
Bảng 4.10. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 36 – 43 của trứng lai SSLP (đàn 1)  (Tỷ lệ trống/mái 1/10) - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.10. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 36 – 43 của trứng lai SSLP (đàn 1) (Tỷ lệ trống/mái 1/10) (Trang 57)
Bảng 4.11. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 5 – 9 của trứng lai SSLP (đàn 2) - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.11. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 5 – 9 của trứng lai SSLP (đàn 2) (Trang 58)
Bảng 4.12 cho thấy, tỷ lệ có phôi của trứng ISLP đạt khá cao (90,19%), cao  hơn so với tỷ lệ phôi của trứng SSLP đàn 1 (89,06%) - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.12 cho thấy, tỷ lệ có phôi của trứng ISLP đạt khá cao (90,19%), cao hơn so với tỷ lệ phôi của trứng SSLP đàn 1 (89,06%) (Trang 59)
Bảng 4.13. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 36 – 45 của trứng lai ISLP (đàn 1)  (Tỷ lệ trống mái 1/14) - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.13. Kết quả ấp nở từ tuần đẻ 36 – 45 của trứng lai ISLP (đàn 1) (Tỷ lệ trống mái 1/14) (Trang 60)
Bảng 4.14. So sánh sự sai khác kết quả ấp nở giai đoạn 5 - 9 tuần đẻ - Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu nuôi trong nông hộ tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.14. So sánh sự sai khác kết quả ấp nở giai đoạn 5 - 9 tuần đẻ (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w