Giai cấp tư sản ra đời trong xã hội tư bản, bản chất là giai cấp bóc lột, tìm mọi cách bóc lột giai cấp vô sản. Họ nhận thức được tôn giáo là công cụ bóc lột của giai cấp phong kiến nhưn[r]
Trang 1BÀI MỞ ĐẦU
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu lịch sử thì lịch sử thế giới là một bộmôn của khoa học lịch sử, nghiên cứu sự phát triển của nhân loại qua mọi giai đoạnphát triển của nó Lịch sử thế giới là lịch sử của tất cả các dân tộc dù lớn hay nhỏ, đã,đang hoặc chưa phát triển, đều tham gia vào quá trình lịch sử thế giới
Quá trình phát triển của lịch sử nhân loại trên 3 triệu năm được đánh dấu bằng
sự phát hiện ra bộ xương hóa thạch cổ nhất có niên đại trên 3 triệu năm Êlyôpy) Trong quãng thời gian ấy, Mác- Enghen- Lênin đã chia thành 5 thời kỳ hay 5hình thái kinh tế xã hội: xã hội công xã nguyên thủy; xã hội chiếm hữu nô lệ; xã hộiphong kiến; xã hội tư bản chủ nghĩa; xã hội cộng sản chủ nghĩa Quy luật phát triểnchung của lịch sử nhân loại từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
(Luxi-Xã hội công xã nguyên thủy là thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài người bắt đầu từ
khi con người và xã hội xuất hiện đến lúc xã hội phân chia thành giai cấp và nhà nước.Trình độ phát triển càng thấp thì thời gian phát triển càng dài và ngược lại, trình độ pháttriển càng cao thì thời gian phát triển càng ngắn Vì vậy, hình thái cộng sản nguyên thủy
là hình thái lạc hậu nhất nên là thời kỳ kéo dài nhất trong lịch sử Xã hội công xãnguyên thủy được xây dựng trên cơ sở kinh tế là sự sở hữu công cộng về tư liệu sảnxuất Trong thời gian này, do trình độ phát triển còn rất thấp nên họ phải lao động tậpthể Xã hội chưa phân chia thành giai cấp, không hề có sự bóc lột mà con người hoàntoàn bình đẳng với nhau Đó là nguyên tắc vàng tồn tại trong thời kỳ này Con ngườisống gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, chưa có khả năng chinh phục tự nhiên.Ngày nay, tàn dư của chế độ công xã nguyên thủy còn tồn tại ở một số nơi trên thế giới
Xã hội chiếm hữu nô lệ là hình thái kinh tế xã hội có giai cấp đối kháng xuất
hiện đầu tiên trong lịch sử nhân loại dựa trên cơ sở người bóc lột người, xuất hiệntrong thời kỳ tan rã của của chế độ công xã nguyên thủy Trong xã hội có sự phân chiathành hai giai cấp: giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Nền tảng kinh tế là sự chiếm hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất (công cụ lao động, đối tượng lao động) của giai cấp chủ nô
và giai cấp chủ nô tiến hành bóc lột tàn bạo người nô lệ Đây là hình thái áp bức bóclột người đầu tiên và khốc liệt nhất trong lịch sử loài người Nhiều cuộc khởi nghĩacủa nô lệ đã nổ ra dẫn tới sự sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ Tuy nhiên, sự xuấthiện của nó trong tiến trình phát triển của lịch sử đã được các nhà sử học đánh giá làbước phát triển nhảy vọt mang tính cách mạng
Xã hội phong kiến là xã hội có giai cấp đối kháng trong đó có hai giai cấp cơ
bản là giai cấp phong kiến và giai cấp nông dân Ở phương Tây, giai cấp phong kiến
Trang 2gọi là lãnh chúa, ở phương Đông gọi là địa chủ Phương Tây gọi giai cấp nông dân lànông nô Xã hội phong kiến được xây dựng trên nền tảng sự sở hữu lớn về ruộng đấtcủa vua chúa, quan lại, địa chủ phong kiến và sự chiếm hữu không hoàn toàn củangười nông dân Giai cấp phong kiến tiến hành áp bức bóc lột người nông dân mộtcách tàn bạo (phát canh thu tô là hình thức bóc lột kinh tế cơ bản trong xã hội phongkiến) Nông dân là lực lượng sản xuất chính trong xã hội phong kiến, nhưng bị lệthuộc vào tầng lớp quý tộc, phong kiến, phải nộp tô nặng nề và chịu nhiều thứ thuếkhác Sự thay thế xã hội phong kiến cho xã hội chiếm hữu nô lệ được coi là bước pháttriển nhảy vọt có tính cách mạng Biểu hiện là sự phát triển mạnh mẽ của các ngànhnghề thủ công tạo điều kiện cho thành thị phong kiến ra đời với tư cách là trung tâmphát triển kinh tế, văn hóa, là cơ sở để hình thành nên chủ nghĩa tư bản.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, sự thay thế tư bản chủ nghĩa cho phong kiến
chẳng qua chỉ là sự thay thế hình thức bóc lột người này bằng một hình thức bóc lộtngười khác cao hơn Xã hội có hai giai cấp chủ yếu là giai cấp tư sản (kẻ chiếm hữutoàn bộ tư liệu sản xuất) và giai cấp vô sản (người không có chút tư liệu sản xuất nàonhưng lại hoàn toàn tự do về thân thể, họ phải làm thuê cho tư sản và bị tư sản bóclột) Chế độ tư bản xây dựng trên cơ sở giai cấp tư sản thống trị, bóc lột giai cấp côngnhân và nhân dân lao động ở chính quốc và thuộc địa Trong xã hội tư bản có sự pháttriển rất cao của lực lượng sản xuất nhờ cuộc các mạng công nghiệp do đó đã tạo rađược thành tựu văn minh rất lớn, nhất là về khoa học- công nghệ
Xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳ được xây dựng trên nền tảng sự sở hữu
công về tư liệu sản xuất Trong thời kỳ này, sự phát triển của lực lượng sản xuất diễn
ra ở trình độ rất cao, “khiến cho của cải tuôn ra ào ạt” (Mác- Enghen) Con người
trong xã hội cộng sản chủ nghĩa làm việc theo nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởngtheo khả năng Nhà nước tự tiêu vong, nhân dân tự quản lý xã hội của mình Quan hệ
xã hội giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân với trí thức là đoàn kết, liênminh, hợp tác trên tình đồng chí thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng xã hội tốtđẹp, không còn chế độ người bóc lột người, nhân dân lao động được ấm no, tự do,hạnh phúc
Về phân kỳ lịch sử
Việc phân kỳ lịch sử thế giới có nhiều quan điểm khác nhau
Người châu Âu thời xưa chia lịch sử thế giới thành 4 thời đại khác:
+ Thời Thượng cổ từ khi có chữ viết đến thế kỷ thứ 5 sau thiên chúa giáng sinh,nghĩa là đến khi đế quốc La Mã bị tiêu diệt
+ Thời Trung Cổ từ thế kỷ 5 đến 1453, năm thành Constantinople suy diệt
Trang 3+ Thời Cận đại từ năm 1453 đến năm 1789, tức năm có cuộc Đại cách mạng ởPháp.
+ Và thời hiện đại từ năm 1789 đến nay
Sự phân chia như vậy là của người châu Âu Họ lấy khu vực chung quanh ĐịaTrung Hải làm trung tâm trái đất và tự cho họ là giống người cầm vận mạng thế giới.Năm 1453 là một năm quan trọng đối với lịch sử của họ, còn đối với người phươngĐông chúng ta chẳng có chút ảnh hưởng gì
Nếu người Trung Hoa viết sử thế giới mà lấy nước họ làm trung tâm thì sự phânchia thời đại sẽ khác xa:
+ Thời Thượng cổ, từ khi có sử đến năm tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa
- 221 TCN
+ Thời Trung Cổ từ nhà Tần đến trận Nha Phiến đầu tiên 1840
+ Thời hiện đại từ năm 1840 đến nay
Mỗi quốc gia, mỗi khu vực, mỗi dân tộc có sự phát triển khác nhau trong thểthống nhất nên sự phân kỳ lịch sử cũng có nhiều quan điểm khác nhau Vì vậy, cácnhà khoa học lịch sử đã thống nhất phân kỳ lịch sử như sau: 5 hình thái kinh tế xã hộitương ứng với 4 thời kỳ lịch sử, đó là:
Thời Cổ đại cơ bản tương ứng với xã hội chiếm hữu nô lệ
Thời Trung đại cơ bản tương ứng với xã hội phong kiến
Thời Cận đại cơ bản tương ứng với xã hội tư bản
Thời Hiện đại cơ bản tương ứng với xã hội cộng sản
Mốc thời gian phân kỳ lịch sử là vấn đề gây ra cuộc tranh luận rất lớn trong giớinghiên cứu Nguyên nhân là do quy luật phát triển không đều của lịch sử loài người,trong cùng một thời điểm, có nhiều dân tộc phát triển với trình độ đan xen nhau Cuốicùng, các nhà nghiên cứu đã thống nhất hai quan điểm:
Thứ nhất, phân kỳ lịch sử chỉ mang tính ước lệ, tương đối, phản ánh xu thế pháttriển chủ đạo trong giai đoạn lịch sử đó
Thứ hai, mốc lịch sử (sự kiện lịch sử) được coi là cơ sở để phân biệt giữa thời
kỳ lịch sử này với thời kỳ lịch sử khác, phải là sự kiện lịch sử lớn có ảnh hưởng trênphạm vi thế giới hoặc ít nhất là trên phạm vi lớn của thế giới
Theo hai quan điểm đó, các nhà sử học đã lấy các mốc sau để phân kỳ lịch sử:
Thời cổ đại kéo dài từ hơn 3 triệu năm trước đến năm 476 khi đế quốc Tây bộ
La Mã sụp đổ vì đế quốc La Mã là đế quốc nô lệ được hình thành từ TK XVIII TCN
và tiến hành hàng loạt các cuộc chiến tranh xâm lược lớn Đến TK I TCN, đế quốc La
Trang 4Mã là đế quốc lớn nhất trên thế giới với các thuộc địa ở phần lớn châu Âu, châu Á vàchâu Phi bị sụp đổ.
Thời Trung đại từ năm 476 đến năm 1640 Năm 1640 nổ ta cuộc cách mạng tưsản Anh
Thời Cận đại từ năm 1640 đến 1917 Năm 1917 nổ ra cuộc cách mạng thángMười Nga dẫn đến sự ra đời của một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.Thời Hiện đại là từ năm 1917 đến nay
Lịch sử loài người nói chung và lịch sử của từng quốc gia nói riêng dù thăngtrầm nhưng đều phát triển theo chiều hướng đi lên, xã hội này thay thế xã hội kháchay như Các Mác đã nói một cách tổng quát: Hình thái kinh tế xã hội này thay thếhình thái kinh tế xã hội khác, trong đó hình thái kinh tế xã hội sau cao hơn hình tháikinh tế xã hội trước mà nó vừa phủ định Đó là quy luật về sự vận động và phát triểnkhông ngừng của lực lượng sản xuất, trước hết là của công cụ sản xuất
PHẦN 1: XÃ HỘI NGUYÊN THUỶ
(6 tiết)
1 Sự xuất hiện xã hội loài người
1.1 Vấn đề nguồn gốc loài người
Xã hội nguyên thuỷ còn được gọi là xã hội đầu tiên của loài người Mác gọi xãhội nguyên thuỷ là xã hội trước xã hội có giai cấp để phân biệt với xã hội có giai cấp
Xã hội nguyên thuỷ là hình thái xã hội đầu tiên, do chưa có chữ viết nên rất khó khăntrong việc nghiên cứu mà chủ yếu dựa vào thần thoại và truyền thuyết Nhưng đến TKXIX, sự xuất hiện của các ngành khoa học đã giúp chúng ta thu thập nhiều tư liệu vềthời kỳ nguyên thuỷ, làm cho việc nghiên cứu thuận lợi hơn, mô hình về xã hội nguyênthuỷ ngày càng trở nên rõ nét
Một vấn đề quan trọng của lịch sử là vấn đề nguồn gốc loài người
Về vấn đề nguồn gốc loài người có 2 quan điểm:
Quan niệm duy tâm, siêu hình là những quan niệm thông qua những truyền
thuyết về cổ tích, tôn giáo… Những quan niệm này đều cho rằng con người doThượng đế sinh ra hoặc do một thế lực siêu nhiên nào đó sáng tạo ra từ những vật liệukhác và sau đó ban phát sự sống cho con người Đây là quan niệm phản động, nó đãđào sâu hố ngăn cách con người với thế giới hữu cơ Đó là quan niệm về nguồn gốcloài người mang đậm tính tôn giáo thần bí, không có cơ sở khoa học
Trang 5Quan niệm của những người theo quan điểm duy vật biện chứng ở TK XIX chủ
yếu của các nhà khoa học tư sản nhưng có tư tưởng tiến bộ như nhà bác học C Linnê(nhà sinh học người Thuỵ Điển), Buffon, LaMac (người Pháp), Đácuyn (người Anh)
Trên cơ sở những tư liệu thu thập được, Đácuyn đã viết hai cuốn sách “Nguồn gốc giống loài và con đường đào thải tự nhiên” (1859) và “Nguồn gốc loài người”
(1861) Trong đó ông chứng minh rằng, các loài sinh vật luôn luôn ở trong quá trìnhtiến hoá Vì vậy, con người cũng là sản phẩm của tiến hoá và tổ tiên trực tiếp của loàingười là vượn người Vượn người trong quá trình thay đổi đã dần tiến hoá thành conngười Sau khi học thuyết Đácuyn ra đời, đã có rất nhiều tư liệu cách mạng chứngminh cho tính chính xác của nó
TK XIX, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra bộ xương hoá thạch của loài vượnĐơriôpitếch Trong xã hội hiện đại cũng có nhiều loài vượn có cấu tạo sinh học giốngcon người như: loài Jipbông sống nhiều ở khu rừng rậm Đông Nam Á và Inđônêxia;loài Ôrăng Utăng (đười ươi) sống ở khu rừng rậm Đông Nam Á và Inđônêxia; hai loàisống ở rừng nhiệt đới châu Phi là Gôrila (khỉ đột) và Simpanđê (khỉ đen) Đặc điểmchung của chúng là không có đuôi dài
Năm 1924, ở Boxtơn- Nam Phi, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra bộ xươnghoá thạch của một cậu bé mà Đácuyn cho rằng đó là loài vượn phương Nam(Ôxtơralôphitếch) có niên đại trên 1 triệu năm cách ngày nay Đó là bộ xương hóathạch của một bé trai 12 tuổi, cao 1,6m, thân hình cao to, vạm vỡ và bộ não phát triểnhơn bé gái, chứng tỏ đã có sự phân công giữa nam và nữ
Năm 1959- 1960, tiến sĩ Liki của Anh sau thời gian dài làm việc ở khe Ônđêva(Tannada- Đông Phi) đã phát hiện xương hoá thạch của hai người vượn được ông gọi
là Zigiantrốp có niên đại cách ngày nay khoảng 2,5 triệu năm Người ta gọi Zigiantrốp
là người khéo léo và coi Ôxtơralôphitech là người
Phát hiện lớn nhất là phát hiện vào năm 1976 ở Apha (châu Phi), các nhà khảo
cổ học đã phát hiện một bộ xương đầy đủ của một cô gái 21 tuổi và được đặt tên làLuxi có niên đại kỷ lục hơn 3,5 đến 4 triệu năm cách ngày nay và được xếp vào loạingười Ôxtralôpitếch Người ta đã đẩy lịch sử loài người trở lại hơn 3 triệu năm cáchngày nay
Về phương diện nhân chủng học, trên cơ sở những tiến bộ của các ngành khoahọc cũng như công cụ lao động, người ta phân chia quá trình chuyển biến từ vượnthành người 4 giai đoạn phát triển
Giai đoạn 1 (chặng thứ nhất): tồn tại một dạng vượn người (Hôminid) sống cách
ngày nay khoảng 6 triệu năm - vượn người (vượn nhân hình) Đặc điểm chung của
Trang 6vượn người là có thể đứng và đi bằng 2 chi sau, 2 chi trước có khả năng dùng để cầmnắm Thức ăn chính là các loài hoa quả, rễ, củ và các động vật nhỏ
Trong quá trình tiến hoá, loài vượn nhân hình này đã tiến hoá ngày càng gần vớicon người Trong đó có 3 dạng chính của loài Hôminid: Đriôpitếc (Inđônêxia), RamaÔpitếc (Ấn Độ), Ôxtralôpitếch (ở Đông Phi) Trong 3 dạng thì Ôxtralôpitếch tiến hoáhơn hẳn: thể tích não trung bình khoảng 530- 600 cm3, răng nanh không nhô ra khỏihàm và không nhọn, khung hàm răng có hình móng ngựa Ngoài ra, nó có thể đi bằng
2 chân tuy kiểu dáng còn nặng nề Loài Ôxtralôpitếch được coi là tổ tiên chung củaloài người và của cả giống vượn hiện đại (vì nếu con nào đột biến thì phát triển thànhngười, nếu không thì là vượn người)
Giai đoạn 2: người vượn Homo Habilis- người khéo léo
Sống cách chúng ta ngày nay khoảng 4 triệu năm Di tích hóa thạch của nó tìmthấy tại nhiều nơi ở châu Phi, đặc biệt ở Đông Phi Đặc điểm chung của người HomoHabilis là thể tích não bộ phát triển trung bình khoảng 600- 800 cm3; khuôn mặt thunhỏ, vùng chán nhô cao, gồ mắt ít lộ rõ, hàm và răng nhỏ, các ngón tay có khả năngcầm nắm chặt, các bàn chân giống với người hiện đại Tuy nhiên, các chi trước còndài hơn các chi sau Sự phát hiện ra giống người Homo Habilis đã tạo ra bước ngoặtthứ nhất trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người Đây là một dạng ngườivượn trung gian
Giai đoạn 3: xuất hiện dạng người đứng thẳng- Homo Erectus
Sống cách chúng ta chừng 2,5 triệu năm đến 50 vạn năm Di tích hóa thạch đượctìm thấy khắp nơi trên thế giới đặc biệt là ở đảo Giava- Inđônêxia và được gọi làngười Giava với tên khoa học là Pitêcantơrốp Nhánh được tìm thấy ở Bắc KinhTrung Quốc được gọi là người Siantơrốp, ở Đức là người Nêanđéctan
Đặc điểm chung của người Homo Erectus có khả năng đứng thẳng hoàn toàn,não bộ đạt tới khoảng 1200 – 1600 cm3, đặc biệt các đốt ngón tay nhỏ, ngắn có khảnăng lao động, chế tác những công cụ lao động thô sơ, đặc biệt là biết sử dụng lửatrong tự nhiên và ngôn ngữ phát triển
Giai đoạn 4: xuất hiện người tinh khôn Homo sapiens
Sống cách chúng ta ngày nay khoảng 4 vạn năm TCN, di cốt hoá thạch được tìmthấy khắp nơi trên trái đất: ở Trung Quốc (người Sơn Đỉnh Động), Pháp(Crơmanhông)… Người tinh khôn Homo sapiens đã mang đặc điểm cấu tạo cơ thểgiống cơ thể người chúng ta ngày nay: hai bàn tay nhỏ, khéo léo, các ngón tay linhhoạt nhất là ngón cái, trán cao, xương hàm nhỏ và đặc biệt não bộ phát triển Việc xuất
Trang 7hiện người tinh khôn đánh dấu bước nhảy vọt thứ 2 trong quá trình chuyển hoá từ vượnthành người (đánh dấu sự hoàn thiện về tâm sinh lý).
Do dân số bắt đầu tăng, đời sống có sự đổi khác nên xuất hiện các cuộc thiên dilớn và con người có mặt ở hầu hết các nơi trên thế giới Ở mỗi nơi, do điều kiện sốngkhác nhau nên con người có sự biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh sống, trên cơ sở
đó hình thành 3 đại chủng lớn trên thế giới :
+ Đại chủng Nêgơrôit- Ôtơralôit (đại chủng xích đạo- đại chủng da đen), sống ởchâu Phi, châu Á, Châu Úc Đặc điểm da đen, môi dày, tóc dày, xoăn, mắt hai mí.+ Đại chủng Ơrôgôit (đại chủng da trắng): địa bàn cư trú là Bắc Phi, châu Âu,Tây Á, Bắc Ấn Đặc điểm: da trắng, mũi lõ, mắt xanh, tóc quăn
+ Đại chủng Môngôlôit (đại chủng da vàng) cư trú tại châu Á và châu Mỹ Đặcđiểm: da vàng, mũi tẹt, tóc thẳng, mắt đen, một mí
Cách phân biệt trên chỉ mang tính chất tương đối, là sự phân biệt về màu sắcnước da chứ không phải là sự phân biệt đẳng cấp, trí tuệ
1.2 Vai trò của lao động đối với quá trình hình thành loài người
Sau khi học thuyết Đácuyn ra đời với tính đúng đắn của nó thì một vấn đề đặt ra làđiều kiện nào đã ảnh hưởng đến quá trình hình thành loài người Phần lớn các nhà khoahọc đều dựa vào học thuyết Đácuyn để giải thích Động lực chính trong quá trìnhchuyển hóa từ vượn thành người là sự tác động của đột biến gen và quy luật di truyền
Nhưng Enghen trong tác phẩm: “Vai trò của lao động trong quá trình vượn biến thành người” (xuất bản năm 1876) đã chỉ ra rằng học thuyết Đácuyn là học thuyết thuần
tuý về mặt sinh vật, khi giải thích quá trình hình thành loài người về mặt xã hội thì gặprất nhiều hạn chế Theo ông, lao động của con người ngay từ đầu là lao động tập thểđồng thời là phương thức sinh sống chủ yếu của con người Do đó, lao động trở thànhyêu cầu, là điều kiện, là động lực để điều hành quá trình tiến hoá của loài người
Tổng hợp hai quan điểm trên chúng ta thấy, trong quá trình tồn tại và phát triểnkết hợp với quá trình lao động và sáng tạo, con người đã ngày càng hoàn thiện hơn vềmọi mặt như cấu tạo cơ thể, phẩm chất, trí tuệ Trong đó, chặng 1, chặng 2 chịu sự tácđộng của đột biến gen, chặng 3, 4 chịu sự tác động của lao động
Trong tác phẩm của mình, Enghen đã phân tích vai trò của lao động đối với sựhình thành cụ thể của loài người: khi thoát thai khỏi động vật, con người dùng các công
cụ có sẵn trong tự nhiên như gậy, đá… tác động vào thế giới tự nhiên để tạo ra của cảivật chất Lao động lúc đầu còn mang tính tự phát nhưng ngày càng có tính tự giác và có
hệ thống, đó là con đường tất yếu Hoạt động lao động đầu tiên của con người là chế tạo
ra công cụ lao động, sau đó dùng công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên để tạo
Trang 8ra của cải vật chất Đó là hoạt động lặp đi lặp lại hàng triệu năm, dẫn tới sự thay đổitrong cấu tạo cơ thể con người Sự thay đổi đó diễn ra chập chạp, liên tục và không gìngăn cản được.
Sự thay đổi đầu tiên là đôi bàn tay, nhờ hoạt động lao động đã dần hoàn thiện vàthoái hoá cùng với những hoạt động phức tạp Đôi bàn tay còn có mối quan hệ rất chặt
chẽ, hữu cơ với hoạt động lao động bởi “đôi bàn tay không chỉ là mĩ quan lao động
mà còn là sản phẩm lao động” (Enghen).
Sự phát triển của bộ óc, hoạt động lao động là hoạt động lặp đi lặp lại, từ thế hệnày sang thế hệ khác trong hàng triệu năm, những đặc điểm tự nhiên được bộc lộ,phản ánh vào trong bộ óc của con người và làm cho bộ óc của con người được rènluyện Từ đó 5 giác quan (công cụ trực tiếp của bộ óc) được rèn luyện và hoàn thiện
và tác động trở lại làm cho bộ óc hoàn thiện Ý thức hình thành, khả năng tư duy, cụthể hoá… được nâng lên
Do lao động nên đã hình thành các hình thái tổ chức xã hội đầu tiên của loàingười: trước hết là bầy, sau đó là xã hội thị tộc Con người sống trong cộng đồng xãhội xuất hiện nhu cầu trao đổi thông tin bằng ngôn ngữ, từ đó hình thành ngôn ngữ.Đây là đặc trưng cơ bản của xã hội loài người bởi ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tưduy, là hệ thống tín hiệu của tư duy Páplốp gọi đó là hệ thống tín hiệu thứ hai, là hệthống cho phép ghi tất cả các trạng thái tâm lý của con người Nhờ đó, con người traođổi kinh nghiệm, tình cảm, tri thức… với nhau Ngôn ngữ là tiêu chí rạch ròi để phânbiệt xã hội loài người với thế giới động vật Sự hình thành ngôn ngữ được coi là một
trong 3 phát minh vĩ đại nhất của loài người Trên cơ sở đó, Enghen nhấn mạnh: lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người.
Các Mác trong tác phẩm luận cương về Phơbach đã nêu rõ “Bản chất con người không phải là một cái trìu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” Con người vừa là
sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội Con người vượt lên trên động vật
ở 3 mối quan hệ: mối quan hệ với tự nhiên, mối quan hệ xã hội và mối quan hệ vớichính bản thân nó Tất cả những mối quan hệ trên đều mang tính xã hội Điều đóchứng tỏ, chính xã hội mới là nhân tố quyết định bản chất của con người
2 Quá trình phát triển của xã hội nguyên thuỷ
2.1 Thời kỳ bầy người nguyên thủy
Thời kỳ này tồn tại cách ngày nay khoảng trên 3 triệu đến 12 vạn năm Thời kỳ nàytương đương với thời sơ và trung kỳ đá cũ Enghen gọi giai đoạn này là giai đoạn mông
muội trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”.
Trang 9Bầy người nguyên thuỷ là thuật ngữ chỉ hình thái tổ chức xã hội đầu tiên của conngười khi thoát thai khỏi động vật Tuy nhiên, con người chưa có nơi ở cố định, đờisống bấp bênh, hay phải tổ chức các cuộc thiên di sống thành từng bầy khoảng 10 đến
15 người Mọi thành viên của bầy người nguyên thuỷ đều có nghĩa vụ tìm kiếm thức
ăn, bảo vệ lẫn nhau và trông nom con cái Bầy người nguyên thủy sống chủ yếu trongcác hang động, mái đá
Trình độ phát triển rất thấp, chủ yếu là dùng các công cụ có sẵn trong tự nhiênnhư cây, đá… hoặc nếu có công cụ thì cũng được ghè đẽo rất thô sơ Họ tìm kiếmthức ăn trong tự nhiên: săn bắt thú, cá và đào bới củ cây trong tự nhiên, hái lượm hoaquả… bằng phương thức rất đơn giản, thô sơ Nền kinh tế chiếm đoạt, nền kinh tế đầutiên của loài người với trình độ rất thấp, con người gần như hoàn toàn phụ thuộc vào
tự nhiên, cuộc sống không ổn định Do đó, cộng đồng người nguyên thủy có mối quan
hệ lỏng lẻo, có thể tan ra và gắn kết với nhau tùy thuộc vào lượng thức ăn kiếm đượcnhiều hay ít
Quan hệ hôn nhân hoàn toàn mang tính bản năng giống động vật, không phânbiệt dòng máu, thế hệ Hình thức tạp hôn chiếm địa vị thống trị Vào khoảng cuối giaiđoạn bầy người nguyên thủy, quan hệ hôn nhân có sự phân biệt một chút giữa mẹ vàcon Kiểu gia đình không phân biệt dòng máu, thế hệ này gọi là gia đình đồng huyết.Phát minh lớn nhất của thời kỳ bầy người là phát minh ra lửa Dấu tích về sửdụng lửa lớn nhất mà chúng ta phát hiện thấy Xinantơrốp (Bắc Kinh) có niên đại cáchngày nay 50, 60 vạn năm Phát hiện bên cạnh người chết có đống tro lửa và phát hiện
có một số mảnh xương cháy đỏ Cách phát hiện ra lửa của người vượn Bắc Kinh donúi lửa, mây mưa làm cháy rừng, làm thú vật chết vì bị bỏng Người nguyên thủy ănnhững con vật đó thấy ngon hơn, họ thấy được chức năng của lửa và tìm cách giữ lửa
“Phát minh ra lửa là phát minh lớn nhất, thậm chí lớn hơn phát minh ra máy hơi nước của J Watt vào TK XVIII, xét về phương diện giải phóng con người mang tính chất toàn thế giới” (Enghen)
Về mặt sinh lý, có lửa con người biết ăn thức ăn chín nên cấu tạo cơ thể conngười hoàn thiện hơn: cằm thu nhỏ, bán cầu đại não phát triển và có nhiều nếp nhăn
Do đó, não bộ con người được hoàn thiện và phát triển trí tuệ
Về mặt xã hội, lửa giúp con người có thể chuyển dời địa bàn cư trú ban đầu từcác cánh rừng rậm ra bên ngoài có nhiều thức ăn dồi dào hơn: sông suối, đồng cỏ.Cuối thời kỳ này con người biết làm nhà để ở
2.2 Thời kỳ công xã thị tộc
Trang 10Thời kỳ này bắt đầu từ khoảng 3, 4 vạn năm cách ngày nay, tương đương vớigiai đoạn hậu kỳ đá cũ, đá giữa và trung kỳ đá mới.
Công xã thị tộc là tổ chức xã hội cơ bản của người nguyên thuỷ được tổ chứctheo mối quan hệ huyết thống, trong đó mọi thành viên đều bình đẳng về lợi ích vậtchất và địa vị xã hội, cùng hợp tác với nhau trong lao động
Mỗi thị tộc có khoảng vài chục gia đình với 3- 4 thế hệ cùng chung sống Mọithành viên trong thị tộc đều tiến hành lao động tập thể và có sự phân công giúp đỡ lẫnnhau
Nhiều thị tộc có dòng máu xa gần hợp lại thành bộ lạc Mỗi bộ lạc có tên gọi riêng,
có nơi ở, ruộng đất, sông ngòi riêng, có thổ ngữ riêng, có tín ngưỡng riêng Đứng đầumỗi bộ lạc là thủ lĩnh bộ lạc nhưng quyền điều hành công việc bộ lạc thuộc về hội đồng
bộ lạc Hội đồng bộ lạc bao gồm: thủ lĩnh bộ lạc, thủ lĩnh quân sự, các tù trưởng của thịtộc Hội đồng bộ lạc có quyền quyết định cao nhất những vấn đề của bộ lạc, đặc biệt cóquyền công nhận, bãi miễn chức tù trưởng Những người đứng đầu thị tộc, bộ lạc lànhững người có uy tín, có tài, đóng vai trò là người quản lý, được thành viên trong bộlạc bầu ra, họ không đứng riêng tách khỏi thành viên khác trong xã hội
Quan hệ giới tính trong thời công xã thị tộc có bước thay đổi lớn: cấm anh chị
em trong cùng 1 thị tộc lấy nhau, gia đình huyết thống chấm dứt Bộ lạc cho phép hônnhân diễn ra ngoài thị tộc Nó dựa trên 2 nguyên tắc: ngoại tộc hôn và nội tộc hôn Cảhai nguyên tắc này cùng tồn tại nhưng không mâu thuẫn mà bổ xung cho nhau vàđược thực hiện nghiêm chỉnh Hôn nhân không còn là hiện tượng sinh vật mà trởthành hiện tượng xã hội
Thời kỳ công xã thị tộc chia thành 2 giai đoạn: thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ vàthời kỳ công xã thị tộc phụ hệ Cơ sở để phân biệt là vai trò của người đàn ông và đàn
bà trong cộng thị tộc Hai điều kiện để phân chia: phụ thuộc vào vai trò kinh tế củangười đàn ông hay người đàn bà; vai trò của người đàn ông hay người đàn bà tronghôn nhân
2.2.1 Thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ
Trong giai đoạn này có sự phân công lao động theo giới tính: người đàn ôngkhỏe mạnh hơn làm công việc săn bắn, người đàn bà yếu hơn nhưng khéo léo hơnđược phân công làm hái lượm, chăm sóc nhà cửa, nấu nướng… Nhưng trong điềukiện công cụ lao động thô sơ nên hiệu quả kinh tế mà người đàn ông mang lại thườngbấp bênh, không ổn định Ngược lại, hiệu quả kinh tế là người phụ nữ đem lại ổn địnhhơn Mặt khác, họ thường xuyên có mặt ở nhà nên họ chiếm ưu thế hơn
Trang 11Về hôn nhân, tuy là nguyên tắc nội tộc hôn và bước đầu ngoại tộc hôn nhưng hìnhthức hôn nhân vẫn là hôn nhân tập thể, chế độ quần hôn Hôn nhân được tiến hành giữacon trai của thị tộc này với con gái của thị tộc khác Enghen gọi gia đình được xây dựngtrên cơ sở chế độ quần hôn là kết cấu của gia đình cổ điển, chung chồng, chung vợ.
Ngoài ra, gia đình đó còn được gọi là gia đình Punaluen- gia đình của những người bạn thân Bởi những người vợ chung và những người chồng chung gọi nhau là những
người bạn thân Do đó, con cái sinh ra chỉ biết có mẹ chứ không biết cha, huyết thốngđược xác định theo họ mẹ Người phụ nữ hơn hẳn người đàn ông trong quan hệ hônnhân Trong thời kỳ thị tộc mẫu hệ, khi đôi bên kết hôn với nhau thì vẫn là thành viêncủa thị tộc phía mẹ của mình Người đàn ông phải sang ở bên thị tộc vợ Ở Việt Namgọi là tục ở rể Khi một trong hai người chết thì tài sản sẽ thuộc về sở hữu của ngườiđồng tộc Chồng hay vợ đều không thể kế thừa Ngay đến con cũng không thể kế thừa
di sản của mẹ Vì cha mẹ và con cái đều thuộc hai thị tộc khác nhau
Trong thị tộc, mọi thành viên đều có quyền sở hữu và sử dụng mọi tài sản trongphạm vi lãnh địa của thị tộc Đó là chế độ sở hữu tập thể của thị tộc Dưới chế độcông xã thị tộc, chưa có sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sản phẩm laođộng Người ta chưa phân biệt đâu là của anh đâu là của tôi Thực ra bấy giờ, ngoàinhững mảnh da thú để che thân, vài công cụ bằng đá và khẩu phần thức ăn đã hếtngay hàng ngày, con người chưa có gì thừa, chưa có gì để dành, chưa có gì riêng màcất giữ Vì thức ăn kiếm được chưa nhiều, mặc dù săn bắt cả ngày, mỗi người cũngchỉ được một khẩu phần thức ăn đủ sống và người ta buộc phải chia đều cho nhau Tàisản quý giá nhất lúc bấy giờ là ruộng đất, đồng cỏ, rừng và ao hồ để trồng trọt, chănnuôi, săn bắn và hái lượm Nhưng trong điều kiện dân cư thưa thớt, công cụ thô sơ,con người không đủ sức để khai phá đất hoang Vì thế, người ta không có nhu cầuchiếm giữ đất đai làm của riêng
Với chế độ sở hữu tập thể như vậy, tất nhiên mọi thành viên của thị tộc đều bìnhđẳng, cùng làm, cùng hưởng như nhau Người ta không phân biệt đâu là quyền lợi,đâu là nghĩa vụ Mọi người đều tự giác tham gia vì hiểu rằng mình sẽ được hưởng mộtphần thành quả lao động tập thể đó cũng như mọi thành viên trong thị tộc Tập tụcchia đều thức ăn và những tài sản khác cho các thành viên của thị tộc vẫn còn khá phổbiến ở một số thổ dân châu Úc và nhiều nơi khác Đácuyn đã từng chứng kiến hiệntượng: một nhóm người trên đảo khi được tặng một mảnh vải đã xé nhỏ ra thànhnhiều mảnh và chia đều cho mọi thành viên trong nhóm
Cùng làm, cùng hưởng, mọi người cùng bình đẳng được coi là nguyên tắc vàngtrong quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng Trong thị tộc, bộ lạc có cơ quan
Trang 12quản lý dân chủ Những người đứng đầu trong thị tộc là tộc trưởng, ở bộ lạc là thủlĩnh bộ lạc Người đứng đầu thường là phụ nữ, trong nhiều trường hợp có thể do namgiới nắm quyền nhưng người phụ nữ luôn được kính trọng Liên minh bộ lạc do hộiđồng liên minh bộ lạc đứng đầu với thành viên là các tộc trưởng của các thị tộc Bàotộc không có người đứng đầu
Tuy nhiên, tất cả các công việc chung của cộng đồng như lựa chọn địa bàn định
cư, tranh chấp với cộng đồng láng giềng… đều do các thành viên trong cộng đồngquyết định Chuẩn mực trong quan hệ giữa các thành viên của cộng đồng thường theotập quán, thói quen của cộng đồng, truyền từ đời nọ qua đời kia Các tập quán sẽ ngày
càng được củng cố và phong phú hơn Lênin đã từng nhận xét: “Trong xã hội ấy, chúng ta thấy tập quán giữ địa vị thống trị Những bô lão trong thị tộc có uy tín được tôn trọng và có quyền hành… Nhưng bất cứ ở đâu người ta cũng không thấy một hạng người đặc biệt, tự tách ra để cai quản người khác…” Cùng sử dụng chung tư
liệu sản xuất và cùng chia nhau thành quả, chung khó khăn, vất vả và cũng chung cảniềm vui khi quây quần bên đống lửa, nhảy múa, reo mừng
Enghen đã miêu tả rất sinh động về thị tộc mẫu hệ “Với chế độ thị tộc hết sức đơn thuần và chất phác đó, là một chế độ tốt đẹp biết bao! Không có lính tác chiến, không có hiến pháp, không có cảnh sát, không có quý tộc, nhà vua, thống đốc, quan lại địa phương và chánh án mà cũng không có nhà tù, không có thưa kiện Thế mà tất
cả đâu vào đấy, trật tự đàng hoàng Mọi người đều bình đẳng, đều tự do, kể cả phụ
nữ Họ chưa hề có nô lệ Tình trạng nô dịch các thị tộc, bộ lạc cũng chưa hề xảy ra”
Giữa các bộ lạc, không có chiến tranh mà chỉ có sự xung đột nhỏ giữa các bộ lạc,thị tộc Cách giải quyết chủ yếu bằng phương pháp hòa bình hoặc bằng thứ luật phápkhác của thời nguyên thủy
2.2.2 Sự toàn thịnh của xã hội thị tộc- Cuộc cách mạng đá mới
Trong khoảng thời gian từ 12000- 6000 năm cách ngày nay, lịch sử loài ngườiđược gọi là thời đá giữa Trong thời kỳ này, công cụ tiêu biểu là các đồ đá nhỏ, đượcchế tạo tinh vi hơn: mũi dao, nạo… Gắn liền với nó là sự xuất hiện cung và tên đánhdấu bước phát triển quan trọng trong sự sáng tạo của con người Nhờ biết kỹ thuậtphóng lao, con người đã phát minh ra cung tên- là phát minh lớn thứ hai của loài ngườisau việc tìm ra lửa Nó đánh dấu một bước tiến lớn về trình độ nhận thức của conngười Với cung tên, con người săn bắn có hiệu quả và an toàn hơn
Cách đây khoảng 6000 năm, con người bước vào thời kỳ đá mới Trong thời kỳ này,
vì có sự tiến bộ rõ rệt trong việc chế tạo công cụ đồ đá nên người ta gọi là “cách mạng
đá mới” Công cụ đá nhờ kỹ thuật chế tác mới trở nên đa năng hơn, phong phú hơn
Trang 13Trong thời đá mới, người ta không chỉ biết ghè đẽo, đập, tước mà còn biếtkhoan, cưa, mài đá Sự kết hợp khéo léo giữa đá, xương thú và gỗ đã làm cho côngdụng của công cụ tăng lên Các hạch đá được tước, ghè sẽ được mài sắc các cạnh hoặcmài nhọn, rồi đục lỗ, tra cán để tạo nên cuốc, xẻng, rìu đá có tay cầm bằng gỗ, bằngxương Công cụ đá không những trở nên gọn, đẹp và chính xác mà còn đa dạng, đanăng, dễ đào bới và sức lao động cũng được tiết kiệm hơn Năng suất lao động cũngnhờ vậy mà tăng lên Diện tích trồng trọt quanh nhà trước đây dần dần được mở rộng.Công cụ tinh xảo hơn đã làm cho việc săn bắn có hiệu quả hơn.
Cùng với việc xuất hiện cuộc cách mạng đá mới, loài người bước vào nền sảnxuất nông nghiệp và chăn nuôi Việc phát hiện ra nghề trồng trọt và chăn nuôi nguyênthủy một cách hết sức ngẫu nhiên
Sự xuất hiện ngành trồng trọt và chăn nuôi nguyên thủy là bước phát triển nhảyvọt mang tính cách mạng của con người bởi con người đã chủ động tạo ra lương thựcthực phẩm, dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên Nền kinh tế sản xuất đã thay thếcho kinh tế hái lượm và săn bắn Cùng với sự phát triển của sản xuất thì những sảnphẩm thặng dư dần xuất hiện Từ đây, trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, sản xuấttập thể bị xé nhỏ, tan rã, trở thành sản xuất nhỏ, cá thể
Thời kỳ đá mới được đánh dấu bằng sự xuất hiện hai ngành công nghệ đầu tiên
đó là gốm và dệt vải Họ biết dùng sợi có xơ, vỏ cây có sợi, đem ngâm, tước lấy sợi,dệt vải Họ biết đan lưới, đánh cá, làm đồ gốm như nồi niêu, bát đĩa… Họ còn biếtlàm nhà bằng tre, nứa, mái phủ lá cây, cỏ khô Các ngành nghề thủ công nghiệp đãdần hình thành Khi thủ công nghiệp hình thành và phát triển dẫn tới những cuộc phâncông lao động xã hội xảy ra (phân công lao động theo giới tính, theo nghề nghiệp).Theo Enghen, có 3 cuộc đại cách mạng trong phân công lao động: Thứ nhất là sự tách
ra của chăn nuôi khỏi nông nghiệp; cuộc cách mạng thứ hai là sự tách ra của thủ côngnghiệp khỏi nông nghiệp; cuộc đại phân công lao động thứ ba là sự tách ra của thươngnghiệp khỏi thủ công nghiệp
Trong lĩnh vực hôn nhân có một bước tiến quan trọng đó là việc xuất hiện gia
đình đối ngẫu Đó là gia đình hôn nhân theo từng đôi, trong số rất đông những người
vợ, người đàn ông đã xác định cho mình một người vợ chính và đồng thời người phụ
nữ đó cũng coi anh ta là người chồng chính trong số những người chồng Đây chính làmầm mống của chế độ quan hệ hôn nhân một vợ một chồng sau này
Giờ đây, đời sống của người nguyên thủy đã khấm khá hơn nhiều Người ta cóthể hái rau quả ở ngoài vườn về ăn, bắt gia súc trong vườn để giết thịt, thức ăn dừ thừa
có thể để dành trong những nồi hay đồ gốm Họ đã có những chiếc váy, áo bằng da
Trang 14thú hay bằng vải gai để che thân cho đỡ rét và để cho đẹp Nhờ có lửa và quần áochống rét, họ không cần ở trong các hang động nữa mà đã ra dựng lều, định cư ởnhững nơi thuận tiện cho việc trồng trọt và chăn nuôi Nhà của họ được làm bằng trehoặc gỗ, phủ cỏ khô Người ta tìm thấy dấu tích của những căn lều dựng bằng xương.Đến thời kỳ phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ, người ta đã xây dựng những ngôinhà sàn rộng lớn, làm nhà chung cho cả thị tộc.
2.2.3 Công xã thị tộc phụ hệ
Sự xuất hiện công cụ kim khí
Khoảng TNK VI- V TCN, con người bắt đầu phát hiện ra kim loại và sử dụngkim loại trong đời sống của mình Kim loại đầu tiên mà con người phát hiện ra làđồng Lúc đầu, có thể người ta đã phát hiện ra đồng một cách ngẫu nhiên Trong đámtro tàn sau những vụ cháy rừng hay trong đống nham thạch do nui lửa phun ra, người
ta đã nhặt được những thỏi đồng đã bị nóng chảy và vón cục lại Đặc tính của kim loạinày là dễ đập, ghè để tạo nên các hình dáng theo ý muốn vì đồng dẻo và mềm Đồng
đỏ có nhược điểm là mềm, rèn đúc khó do điều kiện không cao Do đó, đồ đồngkhông mang tính ưu việt, không có khả năng loại trừ đồ đá
Về sau, con người đã phát hiện ra thiếc Họ biết kết hợp thiếc với đồng tạo rađồng thau Đồng thau có ưu điểm nổi bật: nhiệt độ rèn đúc thấp (700- 9000C), rắnchắc hơn đồng đỏ Cày, cuốc, rìu, liềm dao… bằng đồng thau đã xuất hiện vào TNK
IV TCN Đồ đồng chiếm ưu thế hơn đồ đá, tuy nhiên đồ đá vẫn được sử dụng
TK II TCN, con người đã phát hiện ra đồ sắt Ưu điểm của sắt: rắn chắc, sắc bén,
có ưu thế rất lớn trong sản xuất Đồ sắt đã loại hẳn đồ đá, thúc đẩy sản xuất phát triển
ở cả những nơi khô cứng mà trước đây công cụ đá không thể làm được Những cáicày có lưỡi bằng sắt, thân bằng gỗ, có súc vật kéo đã xuất hiện trước hết ở nhữngvùng châu thổ màu mỡ bên các dòng sông lớn
Sự phát triển của nền kinh tế sản xuất
Do sự phát triển của công cụ đưa đến sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp
và chăn nuôi Từ đó, hình thành nên các bộ lạc chuyên trồng trọt hoặc chăn nuôi Ởnhững vùng có nhiều đồng cỏ, các thị tộc, bộ lạc đã dần chuyển sang lấy kinh tế chănnuôi du mục là chính
Nghề thủ công cũng dần tách khỏi trồng trọt và chăn nuôi, được chuyên mônhóa Các nghề luyện kim, chế tạo công cụ, dệt, gốm, mộc… dần trở thành những côngviệc độc lập, tách khỏi chăn nuôi và trồng trọt và có đóng góp lớn cho đời sống kinh
tế của cộng đồng
Trang 15Sự chuyên môn hóa đưa tới nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa trồng trọt, chăn nuôi
và thủ công nghiệp Từ đó, xuất hiện tầng lớp thương nhân và các thành thị cổ đạicũng bắt đầu xuất hiện
Tất cả những yếu tố mới này không còn phù hợp với vai trò của người phụ nữnữa do đó nó đòi hỏi sức lực và kinh nghiệm của người đàn ông Cùng với sự tiến bộ
về kỹ thuật, lao động của người đàn ông đã có thể đảm bảo được cuộc sống riêng giađình mình và có cả sản phẩm dư thừa để dự trữ Do đó, địa vị kinh tế của người đànông trong gia đình bắt đầu được xác định và ngày càng chiếm ưu thế trong gia đình,trong công xã Vai trò của người phụ nữ trong gia đình bị đẩy xuống hàng thứ yếu
Về hôn nhân: con cái dần biết đến mặt cha, làm xuất hiện các gia đình phụ hệ,thay thế cho các gia đình mẫu hệ trước đây Tính chất của công xã thị tộc mẫu hệ thayđổi, công xã thị tộc phụ hệ xuất hiện
Sự xuất hiện của công xã thị tộc phụ hệ (6000- 4000 năm)
Cuộc cách mạng đá mới cùng với sự xuất hiện của kim loại đã thúc đẩy sản xuấtphát triển, của cải dư thừa thường xuyên, có sự phân công lao động Khi chuyển sangnền sản xuất chăn nuôi cần nhiều nhân lực nên những người đàn ông đã chuyển từ sănbắt sang đóng một vai trò quan trọng trong chăn nuôi Lực lượng tham gia sản xuấtchính giờ đây là đàn ông chứ không phải là đàn bà Người đàn ông đã chiếm vai trò hơnhẳn trong kinh tế dẫn tới sự mâu thuẫn giữa địa vị xã hội và thế lực kinh tế của họ Người đàn ông bắt đầu tìm mọi cách thay đổi chế độ hôn nhân từ chế độ quầnhôn sang hình thức hôn nhân một vợ một chồng, người con được sinh ra đã xác địnhđược cả cha và mẹ Hình thức hôn nhân đối ngẫu đã đặt cơ sở cho chế độ hôn nhânmột vợ một chồng Người đàn ông đã biết khá rõ trẻ nào là con mình Và họ bắt đầuthể hiện trách nhiệm của mình đối với con cái
Tuy nhiên, sự ra đời của hình thức hôn nhân một vợ một chồng cùng với sự hìnhthành chế độ phụ quyền đã diễn ra trong một thời gian dài với những sự xung đột hếtsức gay gắt Khi chế độ phụ quyền được xác định thì tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫncòn, thể hiện vai trò của người phụ nữ vẫn rất cao mà chế độ phụ quyền chưa thể xoá
bỏ được
Vai trò kinh tế của người đàn ông chiếm ưu thế hơn người đàn bà, họ là lựclượng sản xuất chính nuôi sống cả cộng đồng Vì vậy, uy tín, quyền lực của người đànông lớn hơn đàn bà Họ thay người đàn bà điều hành mọi công việc lớn của cộng đồngnhư tổ chức lao động, phân phối sản phẩm, quản lý cộng đồng, giải quyết những vấn
đề có liên quan đến các thị tộc láng giềng… Vì thế, chế độ thị tộc phụ quyền đã thaythế chế độ thị tộc mẫu quyền Con cái theo họ cha nên gọi là thị tộc phụ hệ
Trang 16Hình thức lao động đã bắt đầu được tiến hành theo từng gia đình nhỏ làm chohình thức lao động tập thể trước đây của công xã thị tộc mẫu hệ tan vỡ Các gia đìnhphụ hệ bắt đầu có xu hướng tách khỏi thị tộc, đến những nơi có điều kiện thuận lợi đểlàm ăn sinh sống, làm cho ranh giới thị tộc, bộ lạc dựa trên cơ sở quan hệ huyết thống
bị phá vỡ Một tổ chức xã hội mới được hình thành bao gồm những thành viên cóquan hệ địa vực với nhau, đó là công xã láng giềng
Trong xã hội bắt đầu có sự bất bình đẳng đồng thời với nó là là sự đối kháng giaicấp Đó là yếu tố khuấy động sự bình đẳng và ổn định của xã hội nguyên thuỷ Chế độphụ quyền là một hình thức tan rã của xã hội nguyên thuỷ
2.3 Sự tan rã của xã hội nguyên thủy, sự xuất hiện xã hội có giai cấp và nhà nước
2.3.1 Biểu hiện giải thể của công xã nguyên thuỷ
Sự xuất hiện công xã láng giềng
Công xã láng giềng là hình thức xã hội quá độ từ chế độ công xã nguyên thuỷ sangchế độ xã hội có giai cấp và nhà nước tức là từ xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất sang chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất “Công xã láng giềng là tổ chức xã hội đầu tiên của những người tự do không bị ràng buộc bởi quan hệ dòng máu mà dựa trên quan hệ láng giềng, địa vực” (C Mác).
Công xã láng giềng xuất hiện và tồn tại dưới 2 hình thức là công xã du mục vàcông xã nông thôn Trong đó, công xã du mục chủ yếu hành nghề chăn nuôi Nền kinh
tế cơ bản là nền kinh tế chăn nuôi Công xã nông thôn hình thành nơi cư dân làm nghềtrồng trọt Đây là hình thức phổ biến của công xã láng giềng Nó mang 2 đặc điểm cơbản: Tính liên kết (các thành viên tự liên kết với nhau không có mối quan hệ ràngbuộc, làm thuỷ lợi); Tính nhị nguyên công xã (tính lưỡng diện) một mặt nó vừa đảmbảo duy trì hình thức tập thể ở công xã, mặt khác nó đảm bảo cho cái sở hữu, tư hữucủa các thành viên trong công xã Sự kết hợp giữa hình thức sở hữu công cộng và sởhữu tư nhân được coi là đặc trưng cơ bản nhất của công xã nông thôn vì đã xuất hiệnhình thức sở hữu tư nhân đối lập với hình thức sở hữu truyền thống của công xã nôngthôn Do đó, sự xuất hiện của công xã nông thôn cũng được coi là một hình thức tan
rã của xã hội nguyên thuỷ “Công xã nguyên thuỷ là hình thái cuối cùng của xã hội nguyên thuỷ”(C Mác).
- Hình thức chế độ dân chủ quân sự là một biểu hiện cao nhất của sự giải thể công
xã nguyên thuỷ Nó được hình thành ở những nơi cư dân đông đúc, đất đai thiếu, chiếntranh cướp bóc thường xuyên xảy ra Tại nới đó, mọi thành viên nam giới của thị tộc,
bộ lạc khi đến tuổi trưởng thành đều phải trở thành chiến sĩ
Trang 17Về tổ chức đứng đầu thị tộc, bộ lạc là một thủ lĩnh quân sự Đó là người có uytín rất lớn do đại hội chiến sĩ bầu ra hoặc bãi miễn nếu người đó không thực hiện đầy
đủ chức năng và nhiệm vụ của mình Quyền lực cao nhất thuộc về đại hội chiến sĩ.Đại hội có quyền quyết định những vấn đề cao nhất của bộ lạc, thông qua hội nghịdân chủ toàn binh sĩ Cả thị tộc và bộ lạc được tổ chức theo lối quân sự và luôn ởtrong tư thế sẵn sàng chiến đấu
Hình thức chế độ dân chủ quân sự xuất hiện ở giai đoạn tan rã của xã hội thị tộc,không phổ biến về mặt lịch sử (mang tính chất đặc thù, chỉ hình thành ở nơi có điềukiện)
Sự xuất hiện của chế độ nô lệ
Vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, khi năng xuất lao động trong các ngành kinh
tế tăng cao, trong xã hội xuất hiện sản phẩm dư thừa Từ đó, nảy sinh nhu cầu phải thuhút thêm sức lao động mới Trong hoàn cảnh đó, những tù binh chiến tranh bị giữ lại,
bị bóc lột sức lao động và biến thành nô lệ Ban đầu là nô lệ chung của cả bộ lạc, sau
đó biến thành sản phẩm tư hữu của chủ nô Sự bình đẳng không còn nữa, thay vào đó
là sự bóc lột giai cấp
Hình thức đầu tiên là chế độ nô lệ gia trưởng Đó là những nô lệ chủ yếu phục vụtrong gia đình nhà chủ Họ bị coi là một tài sản như bất kỳ một thứ tài sản nào kháccủa chủ và chủ có quyền quyết định sự sống chết của nô lệ Tuy nhiên, nô lệ vẫn cóquyền có gia đình riêng, được phép tích lũy tài sản riêng Hình thức này chỉ xuất hiệntrong giai đoạn quá độ lên xã hội có giai cấp và nhà nước Đồng thời là biểu hiện của
sự giải thể công xã nguyên thủy
2.3.2 Sự xuất hiện tư hữu, giai cấp và nhà nước
Một trong những điều kiện quan trọng nhất cho sự hình thành xã hội có giai cấp là
sự xuất hiện chế độ tư hữu Đó là sự phát triển của trình độ sản xuất và cùng với nó là sựmất đi của hình thức lao động tập thể, của cải tích luỹ ngày càng nhiều trong tay một số
tư nhân hoặc trong các gia đình phụ hệ (thường là các gia đình của các tù trưởng, tộctrưởng, các thủ lĩnh quân sự, các bô lão) Những người này vốn có uy tín trong các công
xã thị tộc trước đây Của cải được tích luỹ nhiều hình thức khác: ruộng đất, súc vật, hànghoá, tiền tệ Điều này làm cho sự chênh lệch về tài sản và địa vị xã hội giữa các gia đìnhphụ hệ trong cùng một thị tộc hay giữa các thị tộc trong cùng một bộ lạc ngày càng rõ rệt
Vì vậy, xã hội phân hoá thành: lớp những người giàu và lớp những người nghèo
+ Những người giàu có được tập hợp lại thành tầng lớp quý tộc Tầng lớp này cóquyền chiếm hữu nhiều tài sản và nô lệ Đây chính là tầng lớp chủ nô Nguồn gốcgồm các tù trưởng, các thủ lĩnh quân sự và các tầng lớp tăng lữ
Trang 18+ Đối với những người nghèo bao gồm đông đảo các thành viên của công xã thịtộc Họ bị mất tư liệu sản xuất, bị rơi vào tình trạng bị lệ thuộc, bị áp bức bóc lột vàdần dần biến thành nô lệ.
+ Những người chưa bị mất tư liệu sản xuất thì chịu sự o ép, bị tầng lớp quý tộc
áp bức bóc lột, cướp hết tư liệu sản xuất và cũng bị biến thành nô lệ
Giai cấp chỉ ra đời trong một quá trình phân hoá sâu sắc khi cơ sở của chế độ tưhữu phát triển mạnh Giai cấp là những tập đoàn người trong đó tập đoàn này có thểchiếm đoạt lãnh địa của tập đoàn khác Khi giai cấp ra đời thì mâu thuẫn giai cấp cũngbắt đầu phát sinh và ngày càng phát triển một cách quyết liệt Xã hội đó chỉ có thể tồntại bằng cuộc đấu tranh không ngừng và công khai giữa các giai cấp hoặc dưới sựthống trị của một lực lượng thứ 3 đứng trên giai cấp đang đấu tranh với nhau đó chính
3 Các hình thái tín ngưỡng nguyên thủy
3.1 Ngôn ngữ
Xuất hiện và phát triển trên cơ sở của lao động tập thể Ngôn ngữ ban đầu cònnghèo nàn và hết sức đơn giản Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ nguyên thuỷ là thiếunhững khái niệm trừu tượng Ngôn ngữ được phát triển dần, được hoàn thiện trongquá trình lao động sản xuất và được tích luỹ từ kinh nghiệm, quan sát trong đời sốnghàng ngày
3.2 Tôn giáo
Giá trị văn hoá mà người nguyên thuỷ tạo ra rất hạn chế do sự hạn chế trongnhận thức, chỉ chủ yếu tập trung ở hai lĩnh vực:
Tôn giáo nguyên thuỷ chủ yếu xuất phát từ thuyết “vạn vật hữu linh” (vạn vật có
linh hồn) Tất cả mọi sự vật: con người, động vật, thực vật…đều có linh hồn, linh hồnbiết tất cả những việc con người đang làm và có thể giúp đỡ họ ở mọi lúc, mọi nơi,che chở cho họ khi họ gặp khó khăn Do đó, nảy sinh hiện tượng sùng bái, tôn sùngcác hiện tượng tự nhiên Theo Taylo- người đầu tiên có nghiên cứu khá toàn diện, đầy
đủ về tôn giáo ở thời kỳ nguyên thuỷ có khoảng 15 hình thái tôn giáo:
Trang 19Hiện tượng sùng bái tự nhiên: người ta thường thờ cúng các thành tố, nhân tố có
sức mạnh gắn liền với đời sống con người như: mặt trời, mặt trăng, nước, cây, con
bò, rắn…
Hình thái tô tem giáo (tín ngưỡng vật tổ) là hình thái tiêu biểu, đặc trưng nhất và
phổ biến nhất Hiện tượng sùng bái tự nhiên: người ta thường thờ cúng các thành tố,nhân tố có sức mạnh gắn liền với đời sống con người như: mặt trời, mặt trăng, nước,cây, con bò, rắn…Hình thức tô tem giáo vật tổ gồm tô tem giáo tập thể và tô tem giáo
cá nhân
Tô tem giáo tập thể tồn tại chủ yếu trong chế độ công xã thị tộc mẫu hệ Mỗi thịtộc có một tô tem riêng, tô tem đó được chọn từ một động vật, thực vật, một hiệntượng tự nhiên…được cả thị tộc tôn sùng và thị tộc cũng lấy luôn tên tô tem ấy đặtcho tên thị tộc
Tô tem cá nhân xuất hiện từ công xã thị tộc phụ hệ ở giai đoạn đầu xã hội có giaicấp và nhà nước Hình thức này biểu hiện việc tin ở mỗi người có một sao chiếumệnh, có cầm tinh một con vật linh thiêng nào đó… Con vật hay sao chiếu mệnh đó
sẽ che chở cho người cầm tinh đó Hình thức đó vẫn tồn tại đến ngày nay mà chủ yếu
là ở vùng phương Đông
Lễ thành đinh là một nghi thức tôn giáo được tổ chức công nhận sự trưởng thành
của một thanh niên thị tộc hay bộ lạc Do trong thời kỳ nguyên thuỷ, trình độ sản xuấtthấp kém, khả năng chinh phục tự nhiên kém, mỗi cá nhân phải hoà nhập vào cộngđồng, thị lạc để tồn tại Tuỳ theo từng điều kiện sinh sống, từng quan niệm, lối sốngcủa từng bộ lạc mà có các hình thức sơ khai khác nhau Tục này diễn ra rất bìnhthường nhưng cũng có thể rất dã man
Lễ thức nông nghiệp là một nghi thức tôn giáo cầu mong mùa màng tốt tươi
được hình thành trong thời kỳ sản xuất nông nghiệp ra đời và sản xuất chăn nuôi.Nghi thức này luôn gắn liền với nghi thức mang tính phồn thực, có thể diễn ra thanhnhưng cũng có thể diễn ra rất tục
Phép phù thuỷ ma thuật: xuất phát do con người thấy những hiện tượng tự nhiên
mà không giải thích được=> quan niệm khác nhau => có những phù thuỷ dùng mathuật
Hiện tượng thờ cúng phồn thực: ở thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ xuất hiện hiện
tượng này gắn với vai trò hình ảnh người phụ nữ, hình ảnh đó được coi là vẻ đẹp Đếngiai đoạn công xã thị tộc phụ hệ, hiện tượng này gắn với “tục thờ cúng Linga” (Linga
là bộ phận sinh dục khí của nam và nữ)
Trang 20Hình thức tang ma và thờ cúng người chết: cùng với sự phát triển của xã hộinhững hình thức tôn giáo nguyên thuỷ này có sự thay đổi song tàn dư của nó vẫn tiếptục tồn tại và luôn là nhân tố quan trọng nhất của tôn giáo
Tang lễ bắt đầu có dấu tích từ người Neanđectan Hình thái này xuất hiện trên
cơ sở bộ óc con người phát triển nhất định và bắt đầu xuất hiện khái niệm về thế giớibên kia và xuất hiện quan niệm về linh hồn, coi con người là tổ hợp của thể xác vàlinh hồn trong đó linh hồn là bất tử Ngoài ra, còn xuất phát từ nguyên nhân tình cảmgiữa người sống và người chết, từ đời sống thực tế muốn cho cuộc sống vệ sinh hơn
Có nhiều hình thức tang lễ khác nhau: dìm, ném xuống nước của cư dân ven sông, venbiển sẽ làm người thân trở về với tổ tiên nhanh hơn; treo xác chết trên cây với mụcđích hoá chết cho người chết nhanh; đặt trong các nhà mồ; hình thức chôn phổ biến ởnhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam; hình thức hoả táng khá phổ biến ở khu vực Nam
Nguyên thuỷ diễn tả thực, thô sơ thể hiện ở vài nét khắc vẽ, nghệch ngoạc, thô
sơ nhưng cũng hết sức sinh động Địa điểm là thành quách hoặc trần của các hangđộng Điêu khắc sử dụng công cụ bằng đá, kim loại Hội hoạ sử dụng chất đất sét, đávôi, đất thó cùng các màu tự nhiên là than củi, màu nâu, đỏ…
Đối tượng miêu tả chủ yếu là các động vật thuộc đối tượng săn bắt của ngườinguyên thuỷ lúc bấy giờ như: voi, gấu trúc, hươu, nai… Người được miêu tả trong hộihoạ, điêu khắc rất ít, mang nhiều nét bí ẩn mà đến giờ chưa giải thích được Trên caonguyên Tátsili năm 1933, người ta đã phát hiện được 1000 bức điêu khắc có niên đại1500- 2000 năm trước nhưng rất khó hiểu Sang đến giai đoạn cuối thị tộc, hình thứcđiêu khắc và hội hoạ có những nét phát triển, những nét khắc vẽ tinh tế hơn, ngoài tảthực còn có tả tượng trưng và được mở rộng trên nhiều chất liệu khác nhau: đồ gốm,công cụ lao động, quần áo Di sản lớn nhất của nghệ thuật điêu khắc và hội hoạ tôngiáo nguyên thuỷ là khu di tích Tátxinhi, ngoài ra còn phát hiện những nét vẽ ở nướcTiệp Khắc
Trang 21Kiến trúc thời nguyên thuỷ chỉ xuất hiện vào giai đoạn cuối của ngườiNeanđectan khi xã hội loài người đã có bước phát triển nhất định và định cư lâu dài Ởthời kỳ đầu đơn giản gồm hai loại: tạo ra từ các hang động có sẵn, xếp đá, quây thànhnhững ngôi nhà hình tổ ong; kiến trúc cây, buộc túm đầu lại để xoè ở dưới.
Sang thời kỳ cộng đồng, do cuộc sống ổn định nên kiến trúc bắt đầu phát triển.Lúc này, cư dân sống thành các chòm xóm, nhà ở được xây dựng rất rộng với nhiềuphòng khác nhau Trong mỗi nhà đều có bếp, có kho, nguồn của cải tương đối tốt vớinhững ngôi chuồng chăn nuôi Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, nhà được làm chủ yếubằng các loại cây, vách được trát bằng đất xét và nền làm bằng đất nung
Cuối thời kỳ nguyên thuỷ, kiến trúc đá đã xuất hiện Ngoài kiến trúc nhà cửacòn xuất hiện 3 kiến trúc nổi bật: phòng, cột, lan can Kiến trúc phòng chỉ dành chonhững người đứng đầu bộ lạc, thị tộc, thầy cúng… Kiến trúc cột đá; dựng vài cột đáliên tiếp, mỗi cột tương trưng cho linh hồn con người hoặc sự sùng tín của con ngườivới tự nhiên Hiện nay kiến trúc đá ở Cormmắc vẫn lưu giữ được 3000 cột đá, sắp xếptrên 3 km Kiến trúc lan can được xây dựng theo lối nhiều đường tròn đồng tâm, trên
đó đặt các cột đá và các mái đá Hiện nay ở Stonlugiơ (Anh) vẫn giữ được nét kiếntrúc này Nhưng cũng có người cho rằng đó là đài chiêm tinh của người nguyên thuỷ.Kiến trúc thời nguyên thuỷ rất đơn giản và thô sơ
Câu hỏi ôn tập
1 Nêu rõ quá trình tiến hóa từ vượn đến người?
2 Những đặc trưng cơ bản của, bầy người nguyên thủy công xã thị tộc, công xã
thị tộc mẫu hệ, công xã thị tộc phụ hệ?
3 Vì sao chế độ thị tộc mẫu hệ tan ra, nhường chỗ cho chế độ thị tộc phụ hệ?
4 Quá trình xuất hiện xã hội có giai cấp và nhà nước?
5 Các hình thức gia đình được đề cập trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và của nhà nước”?
PHẦN 2: PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI
Khái quát chung (1 tiết)
Trang 22Sự phát triển từ cổ đại lên trung đại không có sự phân biệt rõ ràng do sự khôngthuần thục trong lịch sử của các quốc gia phương Đông Vì vậy, khi nghiên cứu lịch
sử phương Đông, người ta gộp cả hai giai đoạn cổ- trung đại
Về thuật ngữ phương Đông, từ thời cổ trung đại, cư dân hai bên bờ Địa TrungHải dùng thuật ngữ phương Đông để chỉ vùng đất ở phía Đông Địa Trung Hải, nghĩa
là vùng đất phía Mặt Trời mọc Người châu Âu với ưu thế phát triển của mình, quacác cuộc khám phá, những phát kiến địa lý, họ thấy rằng vùng đất Mặt Trời mọckhông chỉ là vùng đất chật hẹp nằm ở phía Đông Địa Trung Hải mà còn là vùng đất xaxôi bên kia các đại dương Từ đó có cách hiểu mới về phương Đông: phương Đông làkhu vực gồm các nước ngoài châu Âu và Bắc Mĩ tức là gồm các nước châu Á, châuPhi, Mĩ Latinh Tuy nhiên, đây là khái niệm tương đối vì châu Phi còn nằm ở phíaNam của châu Âu
Xét về mặt điều kiện tự nhiên, phương Đông là khu vực có điều kiện tự nhiên đa
dạng, có đồng bằng, có xa mạc, có đồi núi, có rừng, có biển, có đảo… Phần lớn cácquốc gia cổ đại phương Đông đều xuất hiện trên lưu vực các con sông lớn như sông Nil(Ai Cập), sông Tigrơ và sông Ơphrát (Lưỡng Hà), sông Ấn và sông Hằng (Ấn Độ),sông Hoàng Hà và Trường Giang (Trung Quốc)… Nhờ sự bồi đắp của những con sônglớn ấy mà đất đai ở những nơi này trở nên màu mỡ, nông nghiệp có điều kiện phát triểntrong điều kiện nông cụ còn thô sơ Do nhu cầu sản xuất nông nghiệp, con người buộcphải liên kết với nhau thành công xã để khai phá đất đai và làm thuỷ lợi Khi xã hộinguyên thuỷ tan rã, các công xã tự kết hợp lại thành các liên minh công xã và nhiều liênminh công xã gần gũi nhau đã kết hợp lại thành tiểu quốc Trên cơ sở đó, nhà nước củacác quốc gia cổ đại phương Đông ra đời Nhà nước đầu tiên ở phương Đông là Ai Cập(TNK IV TCN), sau đó là nhà nước Lưỡng Hà (Mêdôpôtami, cách ngày nay khoảng
5000 năm), nhà nước Ấn Độ (khoảng 4500 năm cách ngày nay), ở Trung Quốc, nhànước xuất hiện cách ngày nay 4050 năm với sự ra đời của triều Hạ Bên cạnh đó còn cómột số quốc gia cổ đại khác: Atxiri, Phênixi, Hátti, Palextin
Về hình thái tổ chức nhà nước, các quốc gia phương Đông cổ đại đều tổ chức
nhà nước theo kiểu quân chủ Đây là kiểu nhà nước được xây dựng trên hai cơ sở: thứnhất là cơ sở quyền lực cá nhân, quyền lực nhà nước tập trung trong tay một người lànhà vua với 3 quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp, vua là đại diện cho nhà nước, vua-nhà nước đồng nghĩa với nhau; thứ hai là được xây dựng trên truyền thống thế tập, chatruyền con nối Ngoài quyền lực hành chính (thế quyền), vua còn được coi là thần thánhhoặc hiện thân của thần thánh và là người đứng đầu tôn giáo trong nước (thần quyền).Như vậy, trong nhà nước quân chủ chuyên chế có sự kết hợp giữa thế quyền (vương
Trang 23quyền) và thần quyền Trong các quốc gia cổ đại phương Đông có 4 loại hình nhà nướcquân chủ:
Trong loại hình quân chủ quý tộc, quyền lực nhà nước gắn liền với quyền lực
dòng họ Về mặt hình thức, nhà vua là người có quyền lực cao nhất nhưng thực chấtquyền lực đó thuộc về Hội đồng quý tộc của dòng họ Những quyết định của nhà nướcđược hội đồng này thông qua thì mới được ban hành Quyền lực của nhà vua bị hạnchế Đây là loại hình phổ biến của nhà nước Trung Quốc dưới thời Hạ, Thương, Chu
Nhà nước quân chủ phân quyền, phát triển chủ yếu ở các quốc gia miền núi như
Atxiri, Híttit Đây cũng là kiểu nhà nước mà nhà vua cũng có quyền lực vô hạn nhưngtrên thực tế bị chi phối bởi quyền lực địa phương Nhà nước không chi phối đượcquyền lực địa phương và mỗi địa phương là một khu vực cát cứ riêng biệt Đó là donhà nước không chủ yếu phát triển nghề nông và do điều kiện tự nhiên bị cắt xẻ nênnhà nước không thể thống nhất quản lý
Nhà nước quân chủ thần chế, quan niệm dòng họ nắm chính quyền là dòng dõi
của thần thánh và không bao giờ thay đổi được, điển hình là nhà nước Nhật Bản Theothần thoại, truyền thuyết Nhật Bản đều nói rằng nữ thần Mặt Trời AmaterasuÔmarami đã sai người cháu đích tôn đầu tiên của mình xuống cai trị Nhật Bản, đó là
vị vua đầu tiên của Nhật Bản Timmu Tenno (Thần vũ Thiên Hoàng) Đến TK
XII-1192, tầng lớp Samurai lớn mạnh và đã lập nên chính quyền Bakufu (Mạc Phủ) Tuynhiên, trong giai đoạn 1192- 1869, ở Nhật Bản còn tồn tại hai chính quyền song song,trong đó Bakufu nắm mọi quyền lực, còn Thiên Hoàng vẫn là người đứng đầu trêndanh nghĩa nhưng thực chất là không có quyền lực Năm 1945, sau chiến tranh thếgiới II, Mỹ đã thay tên Thiên Hoàng thành Nhật Hoàng
Nhà nước quân chủ chuyên chế là loại hình nhà nước phong kiến điển hình nhất
trong lối nhà nước quân chủ Trên hình thức và trên thực tế, quyền lực của nhà vua là
vô hạn Ngoài quyền lực hành chính (thế quyền), vua còn được coi là thần thánh hoặchiện thân của thần thánh và là người đứng đầu tôn giáo trong nước (thần quyền) Nhưvậy, trong nhà nước quân chủ chuyên chế có sự kết hợp giữa thế quyền (vươngquyền) và thần quyền Nhà nước quân chủ chuyên chế điển hình nhất là nhà nước AiCập Ở Ai Cập, vua được coi là Pharaôn Quyền lực của vua lớn đến mức khi lên ngôicho xây dựng nên những kim tự tháp hùng vĩ, tiêu tốn biết bao sức người, sức của củanhân dân
Trong các nhà nước phương Đông thời cổ thường xuyên diễn ra các cuộc đấutranh giữa xu hướng thống nhất (tập quyền) và xu hướng phân tán (phân quyền) Biểuhiện là cuộc nội chiến giữa các thế lực Cuộc chiến tranh đó bắt nguồn từ cơ sở kinh tế
Trang 24của các quốc gia phương Đông cổ đại Ở phương Đông có sự tồn tại dai dẳng củacông xã nông thôn- một hình thái kinh tế xã hội mà nhu cầu kinh tế là sự kết hợp giữanông nghiệp và thủ công nghiệp gia đình, trong đó sản xuất nông nghiệp giữ vai tròchủ yếu Nông nghiệp lại đòi hỏi công tác thủy lợi nên yêu cầu các công xã nông thônphải kết hợp với nhau làm thủy lợi, từ đó tạo nên xu hướng thống nhất (tập quyền).Nhưng bản thân công xã nông thôn là một đơn vị kinh tế thống nhất, khép kín,
tự cung, tự cấp nên tạo ra xu thế phân tán (phân quyền) Vì vậy, việc đấu tranh giữathống nhất và phân tán luôn luôn diễn ra trong lịch sử Lịch sử cũng đã chứng minhrằng, xu thế thống nhất là xu thế thắng thế và trong thời kỳ thống nhất đất nước, kinh
tế, văn hóa, xã hội có điều kiện phát triển mạnh
Về mặt kinh tế
Kinh tế của các quốc gia cổ đại phương Đông đều là kinh tế tự nhiên lấy nông
nghiệp làm cơ sở theo cơ chế “Dĩ nông vi bản” Đó là do hình thành bên lưu vực các
con sông lớn nên thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
Công tác thuỷ lợi là công việc quan trọng không thể thiếu trong sản xuất nôngnghiệp nên cư dân phương Đông cổ trung đại rất chú ý tới công tác thủy lợi Họ đãbiết đào các hệ thống sông, kênh, lập các hệ thống gầu guồng để đưa nước từ chânruộng thấp lên chân ruộng cao những khi cần Ngoài ra, họ còn biết đắp đê để ngăn lũ.Nhờ đó, con người có thể thu hoạch mùa màng ổn định hàng năm Công việc trị thuỷkhiến con người gắn bó và ràng buộc với trong tổ chức công xã
Thủ công nghiệp phát triển đa dạng, sự đa dạng đó thể hiện trong số lượng cácngành nghề, vật liệu, hoa văn Chủ đạo là các nghề: gốm dệt, khai mỏ, luyện đồng,đúc đồng, thuỷ tinh…
Hoạt động nông nghiệp gắn liền với hoạt động sản xuất thủ công nghiệp gia đình.Tức là một người nông dân làm ruộng nhưng trong nhà còn có các nghề thủ công khácnhư: rèn, dệt, gốm… Sự kết hợp của cơ cấu kinh tế này đã làm cho nền kinh tế của cácquốc gia phương Đông là nền kinh tế tự cung tự cấp, sản phẩm sản xuất ra không phải
là để buôn bán lấy lợi nhuận mà chỉ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng
Về phương diện sở hữu ruộng đất, hình thức sở hữu ruộng đất nhà nước chiếm
địa vị thống trị Tuy nhiên ở một số nơi vẫn có hình thức tư hữu ruộng đất Đến thờiTrung đại còn tồn tại hình thức sở hữu tư nhân Hai loại hình sở hữu này song songtồn tại bên nhau và sự mạnh yếu của nó phụ thuộc vào nhà nước trung ương
Chính vì chú trọng phát triển nông nghiệp nên ở phương Đông thành thị tuy có
mọc lên nhưng không giữ được vai trò là trung tâm kinh tế mà nó chỉ ra đời trên cơ sở
là nơi ở của giai cấp thống trị Do đó, nó giữ vai trò trung tâm xã hội- chính trị nhiều
Trang 25hơn Do không có cơ sở kinh tế vững chắc nên thành thị này hưng thịnh rất nhanh vàsuy tàn cũng rất nhanh chóng Bên cạnh đó còn có hiện tượng dời đi liên tục ở các nướcphương Đông Ví dụ ở Trung Quốc, ông vua đầu tiên là Thành Thang đến ông vua thứ
10 là Bàn Canh, kinh đô thay đổi 7 lần Enghen gọi các thành thị ở phương Đông là cái
“ cục bướu thừa của xã hội”, có nghĩa là nó không có vai trò gì cả, chỉ là cái trung tâm
hành chính của đất nước Sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị không rõ ràng, các
cư dân ở thành thị vẫn làm nông nghiệp không khác gì ở nông thôn
Ở các nước phương Đông có sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn- hình
thức cuối cùng của xã hội nguyên thủy Ruộng đất công xã thuộc về nhà nước, nhànước giao cho công xã quản lý và công xã giao cho từng hộ gia đình Sự tồn tại củacông xã nông thôn với hình thức kinh tế dựa trên nông nghiệp và thủ công nghiệp nênphụ thuộc nặng nề vào tự nhiên Đó là một trong nhiều nguyên nhân cản trở sự pháttriển của các quốc gia phương Đông
Về mặt xã hội
Cơ cấu xã hội có sự phân chia giai cấp không rõ ràng, bắt nguồn từ sự phát triểnchưa thuần thục về kinh tế Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không đóng vaitrò sản xuất ra của cải xã hội mà chỉ đóng vai trò phục dịch trong các gia đình chủ nô
Đó là quan hệ nô lệ gia trưởng Người sản xuất ra của cải xã hội nuôi sống toàn bộ xãhội là người nông dân
Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, giai cấp địa chủ không thuần nhất, có loạiđịa chủ quan lại nhưng cũng có loại địa chủ thường Ngay trong tầng lớp địa chủ cũng
có hiện tượng, cha là địa chủ nhưng con không phải là địa chủ Điều này hoàn toànkhác với phương Tây, chức tước có quyền thế tập Vì vậy, ở phương Đông, ranh giớigiữa các tầng lớp không rõ ràng, người nông dân Trung Quốc luôn mơ ước trở thànhđịa chủ, thành tầng lớp quý tộc
Mâu thuẫn giữa hai giai cấp trong xã hội không gay gắt Trong xã hội nô lệ,người nô lệ được coi như một thành viên trong gia đình nên xã hội phương Đôngkhông có sự đấu tranh giai cấp diễn ra mạnh mẽ như phương Tây
Ở các phương Đông, bên cạnh sự tồn tại của các giai cấp còn có sự tồn tại của
hệ thống đẳng cấp, tiêu biểu là ở Ấn Độ Quan hệ đẳng cấp và quan hệ giai cấp chồngchéo lên nhau khiến cho xã hội phương Đông trở nên hết sức phức tạp Sự tồn tại của
hệ thống đẳng cấp cũng là một trong nhiều nguyên nhân làm cản trở sự phát triển củacác nước phương Đông và cũng là sự khác biệt so với các nước phương Tây
Trang 26Chương 1: AI CẬP CỔ ĐẠI
(6 tiết)
1 Điều kiện tự nhiên và dân cư
Điều kiện tự nhiên
Ai Cập là một quốc gia nằm ở phía Đông Bắc của Châu Phi, phía Đông giáp HồngHải, phía Nam giáp vùng rừng núi Libi, phía Bắc giáp vùng Địa Trung Hải, phía Tâygiáp xa mạc Ai Cập xưa kia có một địa hình tương đối đóng kín, hầu như tách biệt vớithế giới bên ngoài Đây là điều kiện khó khăn cho Ai Cập phát triển Duy nhất có một
eo đất nhỏ nằm ở phía đông bắc là eo Xinai để Ai Cập liên hệ với bên ngoài
Địa hình Ai Cập là một vùng thung lũng hẹp dài nằm dọc lưu vực sông Nil, haibên là hai dãy núi nham thạch và hoa cương thẳng đứng, khí hậu quanh năm khô khannóng nực, ít mưa
Tài nguyên có nhiều loại như: đá quý có mã lão, hoa cương; kim loại có đồng,vàng Đặc biệt ở Ai Cập có cây sậy (cây papyrut) mọc ở nhiều vùng đầm lầy dùng đểchế tạo ra giấy
Ai Cập với một điều kiện hết sức khắc nghiệt sẽ khó phát triển nếu như không có
sông Nil chảy qua Nhà sử học Hêrôđốt đã nhận xét rất chính xác “Sông Nil là tặng phẩm mà thượng đế đã ban cho Ai Cập” Sông Nil với chiều dài gần 6500 km, không
chỉ tạo nên ở vùng thung lũng một dải đất phù xa màu mỡ mà hàng năm còn mang
nước tưới cho cây cối, hoa màu tốt tươi, biến Ai Cập từ “một đồng cát bụi” thành
“một vườn hoa” Bên cạnh đó, sông Nil còn có vai trò quan trọng trong lĩnh vực giao
thông đường thuỷ Nhờ đó, nó đã thúc đẩy xã hội Ai Cập sớm phát triển trong điềukiện công cụ lao động còn hết sức thô sơ, chủ yếu là công cụ bằng đá, bằng đồng
Cư dân
Tài liệu nhân chủng học, khảo cổ học cho thấy ở lưu vực sông Nil, con người đãđến sinh sống từ thời đồ đá cũ Người Ai Cập là thổ dân châu Phi, được hình thànhtrên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc Về sau, có một tộc người tự xưng là Hamít từ Tây
Á xâm nhập vào miền hạ lưu sông Nil, dần dần đồng hoá thổ dân châu Phi ở đây, rồitrải qua một quá trình hỗn chủng lâu dài, hình thành nên một bộ tộc mới là người AiCập cổ
Đầu TNK IV TCN, các cư dân này đã phát triển nghề nông trên cơ sở hợp sứclàm thuỷ lợi để từ đó tiến nhanh đến ngưỡng cửa của lịch sử văn minh
2 Lịch sử phát triển Ai Cập cổ đại
2.1 Ai Cập thời Tảo kỳ vương quốc
Thời kỳ này kéo dài từ 3200 TCN đến 3000 TCN gồm 2 vương triều đầu tiên
Trang 27Vào đầu TNK IV TCN, cư dân Ai Cập cổ đã sống thành từng công xã nhỏ, gọi lácông xã nông thôn, mà nền kinh tế nông nghiệp chiếm địa vị hang đầu trong nền kinh
tế của công xã Để có thể đảm bảo thu hoạch mùa màng được ổn định, đều đặn, chốngmọi thiên tai như hạn hán, lũ lụt do sông Nil gây ra, công tác thủy lợi được coi là côngtác trọng yếu nhất của các công xã nông thôn Do nhu cầu xây dựng các công trìnhthủy lợi với quy mô ngày càng lớn khiến các công xã nông thôn phân tán đã liên kếtvới nhau tạo nên các liên minh công xã Đây chính là hình thức nhà nước sơ khai xuấthiện đầu tiên còn có tên là các Nôm, các Châu, các Xêpan…
Nôm chính là một đơn vị kinh tế bao gồm cả thành thị và nông thôn, xét về cơcấu giai cấp đứng đầu là một chúa Nôm gọi là Nôm Máccơ Nôm Máccơ vừa là thủlĩnh quân sự vừa là thẩm phán tối cao, tăng lữ tối cao Chính chức tăng lữ tối cao đã
đã đem lại cho các chúa Nôm một quyền lực rất lớn: thần quyền Chúa được coi nhưmột vị thần sống Mỗi Nôm có một tôn giáo và tín ngưỡng riêng Trên lưu vực sôngNil có khoảng 40 Nôm tồn tại riêng rẽ với nhau trong đó có một số Nôm mới như:Êlephantin, Tebơ, Adibơt (phía Nam), Hêralêôpôlit, Memphít (phía Bắc)… NhữngNôm này thường xảy ra tranh chấp với nhau do những cuộc tranh giành đất đai, nguồnnước, tôn giáo… Tình hình này kéo dài đến giữa TNK IV TCN, do yêu cầu ngày cànglớn, do hậu quả nặng nề của những cuộc tranh chấp nên các Nôm ở miền Bắc đã hợpnhất thành vương quốc Hạ Ai Cập; các Nôm ở miền Nam đã thống nhất thành vươngquốc Thượng Ai Cập Mỗi vương quốc như thế có chừng 20 Nôm Trong một thờigian dài, giữa hai vương quốc này thường xuyên có những cuộc chiến tranh ác liệt đểtranh giành địa vị bá chủ trên lưu vực sông Nil Năm 3200 TCN, người đứng đầuvương quốc Hạ Ai Cập là vua Mênet, bằng con đường chiến tranh thôn tính đã thốngnhất cả thượng và hạ Ai Cập thành một nhà nước Ai Cập thống nhất Sự thống nhất
đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế ở hai miền bổ xung cho nhau để phát triểnmạnh hơn
Kinh đô của nhà nước Ai Cập thống nhất trong thời kỳ đầu đóng ở Timit nên còngọi là thời kỳ Timit tức thời Tảo kỳ vương quốc (3200- 3000TCN) Đây là thời kỳ mởđầu cho một nhà nước Ai Cập thống nhất trên cơ sở một xã hội cư dân nông nghiệpvới yêu cầu trị thuỷ Mặc dù còn rất sơ khai, nhà nước Ai Cập thời kỳ này đã đặt cơ
sở, nền móng cho lịch sử Ai Cập ở các giai đoạn sau Nhà nước Ai Cập cổ đại đã hìnhthành và mang tính chất của một Nhà nước chuyên chế phương Đông
2.2 Ai Cập thời kỳ Cổ vương quốc (3000- 2400 TCN)
Thời kỳ này kéo dài từ năm 3000 đến 2400 TCN và bao gồm 8 vương triều từvương triều thứ 3 đến vương triều thứ 10 Thời kỳ cổ vương quốc được đánh giá là
Trang 28thời kỳ thịnh đạt đầu tiên của nhà nước Ai Cập trên tất cả các lĩnh vực và cũng đượccoi là thời kỳ hình thành nhà nước trung ương tập quyền Các vương triều kế tiếpnhau đều ra sức củng cố chính quyền trung ương tập quyền Bất cứ một Pharaông nào,khi lên cầm quyền đều ra sức củng cố quyền lực trong tay để thống trị thần dân Mộttrong những biểu hiện cho sức mạnh của vua là việc xây dựng các lăng mộ cực kỳkiên cố và đồ sộ Đó là những Kim tự tháp hung vĩ làm kinh ngạc thế giới cổ kim vàtrường tồn mãi với thời gian Hầu hết các đời vua từ vương triều 3 đến vương triều 6đều cho xây dựng các kim tự tháp to nhỏ khác nhau Kim tự tháp lớn nhất còn tồn tạicho đến ngày nay là kim tự tháp của vua Kêốp- một trong những kỳ quan của thế giới
cổ đại
Các Pharaông tiến hành hàng loạt các cuộc chiến tranh xâm lược với các nướcláng giềng: Libi, Xulin, Xinai… Trong bản cổ văn của ông quan giữ thành Una cómiêu tả tỉ mỉ một cuộc viễn chinh rất lớn của quân Ai Cập sang vùng Palextin, họ đãchiến thắng và bắt tù binh về làm nô lệ như thế nào
Do tiêu hao quá nhiều nhân lực, vật lực và tài lực cho việc xây dựng những côngtrình kiến trúc to lớn (cung điện, đền đài, Kim tự tháp) và tiến hành những cuộc chiếntranh liên miên với các nước láng giềng, do sự phản kháng ngày càng tăng của nô lệ
và dân nghèo, từ vương triều V trở đi, thế lực của chính quyền trung ương bắt đầu suyyếu Lợi dụng sự suy yếu của các Pharaông, bon quý tộc địa phương thoát ly khỏi sựkhống chế của chính quyền trung ương, nền thống nhất không duy trì được nữa Thời
Cổ vương quốc chấm dứt từ đó
2.3 Ai Cập thời kỳ Trung vương quốc (2150-1710 TCN)
Sau khi Cổ vương quốc tan rã, Ai Cập bước vào thời kỳ phân liệt và loạn lạckhiến cho nền kinh tế bị phá hoại nghiêm trọng Các công trình thuỷ lợi bị bỏ bê,không ai chăm sóc, nông nghiệp suy yếu Tình trạng mất mùa, đói kém vì vậy liêntiếp xảy ra Các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô lệ thường xuyên nổ ra ở nhữngchâu chống lại sự bóc lột của nhà nước Tình hình này đặt ra một yêu cầu cho xã hội
Ai Cập là phải thống nhất trong toàn lãnh thổ của lưu vực sông Nil, khôi phục lại mộtnhà nước thống nhất trung ương tập quyền Yêu cầu này được đáp ứng thông qua quátrình đấu tranh thống nhất giữa hai tập đoàn quý tộc lớn ở thành Tebê (miền Nam) vàHeraclêôpôlit (miền Bắc) Do có sự liên minh của các châu ở miền Nam Ai Cập nênTebe đã giành thắng lợi và lãnh tụ của thành Tebe là Mentuhôtép trở thành người sánglập ra vương triều thứ 11 Ông là người mở đầu cho một thời kỳ nhà nước Ai Cập mới
và cũng là người mở đầu cho một thời kỳ mới ở Ai Cập- thời kỳ trung vương quốc
Trang 29Thời kỳ này kéo dài từ năm 2150 TCN đến 1710 TCN gồm các vương triều từ
11 đến 17, kinh đô là thành Tebơ
Ngay sau khi lên ngôi, để khôi phục lại chính quyền tập quyền, để đàn áp cáccuộc nổi dậy của nhân dân, các Pharaông thực hiện biện pháp thiết thực nhằm khuyếnkhích sự phát triển nông nghiệp Nhờ đó, nhà nước Ai Cập được khôi phục, duy trì trởlại sự ổn định và phát triển xã hội, thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển
Đặc điểm cơ bản của thời kỳ này là trong lĩnh vực sản xuất, công cụ lao động đã
có những thay đổi và cải tiến căn bản: đồ đồng thau đã ra đời, kinh tế nông nghiệpphát triển mạnh, kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp có những khởi sắc Đặcbiệt công tác thủy lợi được Nhà nước trung ương và chính quyền địa phương chútrọng khôi phục và mở rộng Đó là công trình sửa chữa hồ Mơrit tại châu Phayum,khiến hồ này có khả năng cung cấp nước quanh năm cho cả một vùng rộng lớn
Khi tình hình chính trị trong nước ổn định, các Pharaông lại thực hiện chiếntranh với các nước láng giềng Tại những nơi Ai Cập chinh phục được, các Pharaông
cử hẳn một đội ngũ quân thường trực và quan lại đến để cai trị tại đó Các Pharaôngcòn cho mở mang xây dựng hàng loạt những đường giao thông thủy bộ, thuận tiện choviện kiểm soát Điều đó ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển của ngành thương mại Đây
là điểm khác với chính sách đối ngoại của thời kỳ trước
Kinh tế phát triển, xã hội Ai Cập phân hóa ngày càng mạnh, mâu thuẫn xã hộingày một tăng trở nên gay gắt Nô lệ và dân nghèo chịu hai tầng áp bức, bóc lột của
Pharaông và các chúa châu Một tác phẩm văn học thời ấy đã phản ánh: “Thần đói lảng vảng xung quanh túp lều tranh của nông dân, lao động nhọc nhằn vẫn không đảm bảo cho họ đủ sống Người ta đánh đập họ không chút thương tiếc… Và nếu họ
có đi thưa kiện thì họ cũng không tìm đâu ra chân lý” Do đó, các cuộc khởi nghĩa của
nô lệ và dân nghèo bùng nổ ngày một nhiều Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa năm
1750 TCN Phong trào khởi nghĩa kéo dài trên 40 năm làm ảnh hưởng không nhỏ tớiđến kinh tế xã hội Ai Cập
Trong lịch sử cổ đại Ai Cập, nô lệ và dân nghèo đã nhiều lần nổi dậy nhưngnguồn sử liệu còn lại rất ít ỏi Do chỉ có tầng lớp quý tộc quan lại biết chữ, mà họ thìkhông bao giờ muốn ghi lại những cuộc bạo động phản loạn ấy và nếu có ghi lại thìcũng với lời lẽ đầy học hằn và phỉ báng những người khởi nghĩa Người ta biết đến
cuộc khởi nghĩa này qua tài liệu còn lưu lại được “Lời khuyên bảo của Ipuxe” và “Lời tiên đoán của Nêphéctuy” Hai tác giả kể lại: Người ta phá phách các cung điện nhà
vua, người ta xục xạo vào các nơi bí mật để thiêu huỷ hồ sơ, sổ sách của các cơ quan
Trang 30tư pháp, tài chính, đạc điền… Người bạo động thậm chí còn bắt trói nhà vua đem đi
và kết luận” bây giờ những kẻ tôi tớ trở thành những người chủ nhà”
Do đó, thời kỳ này, kinh tế trong nước bị đình đốn, xã hôị bị lay chuyển, mất ổnđịnh, bị đảo lộn mọi trật tự
Tình hình này là điều kiện thuận lợi cho người ngoại tộc tiến hành xâm lược AiCập Năm 1710, người Hichxôt đã tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị lên Ai Cập.Mâu thuẫn giữa dân tộc Ai Cập với ngoại tộc Hichxôt ngày càng tăng Nhân dân AiCập liên tiếp nổi dậy chống lại sự đô hộ của người Hichxôt, trở thành phong trào giảiphóng dân tộc Đứng đầu phong trào này là một quý tộc thành Tebơ tên là Atmet Đếnnăm 1560 TCN, người Ai Cập đã đánh đuổi hoàn toàn người Hichxôt ra khỏi lãnh thổcủa mình Ai Cập được giải phóng Atmet lên ngôi vua trở thành người sáng lập ravương triều thứ 18, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Ai Cập- thời Tân vương quốc
2.4 Ai Cập thời Tân vương quốc
Thời Tân vương quốc kéo dài từ năm 1560 TCN đến 941 TCN gồm các vươngtriều từ 18 đến 21 Ngay sau khi lên ngôi, các Pharaông đã thực hiện lại quyền tự chủ,khôi phục lại bộ máy trung ương tập quyền và các chính sách khuyến khích nền kinh
tế trong nước phát triển và ổn định lại kinh tế xã hội
Bên cạnh đó các Pharaông thực hiện một loạt các cuộc chiến tranh xâm lược rabên ngoài Với các chính sách bành trướng bằng vũ lực, các Pharaông đã mở rộnglãnh thổ của Ai Cập, đưa Ai Cập trở thành mọt đế quốc rộng lớn Biên giới phía Bắcgiáp Tiểu Á, phía Nam tiến đến Nubi, tổng chiều dài từ Bắc xuống Nam là 3200 Km.Nếu thời kỳ trước, Ai Cập thống trị trên cơ chế quân chủ chuyên chế thì thời kỳnày, do lãnh thổ rộng lớn, các Pharaông đã chia đất nước thành hai đơn vị hành chínhmiền Bắc và miền Nam Đứng đầu mỗi đơn vị hành chính là quan Vidia do chínhPharaông bổ nhiệm cai quản được quy định những chức năng và quyền hạn trongphạm vi mình cai quản Do xa chính quyền trung ương nên các Vidia trên thực tế córất nhiều quyền hành, không kém gì các Pharaông Vidia nắm mọi quyền hành trừquyền sở hữu toàn bộ ruộng đất
Để bảo vệ chính quyền chuyên chế, các Pharaông luôn chú ý xây dựng một độiquân hùng mạnh Quân đội có sự thay đổi cơ bản về mặt tổ chức gồm hai lực lượngchính: lực lượng bộ binh và lực lượng chiến xa Tham gia lực lượng chiến xa chủ yếu
là những người giàu có và quý tộc (bởi Ai Cập có quy định là tất cả những ai tham gialực lượng quân đội đều phải trang bị vũ khí cho mình, vũ khí thì đắt nên chỉ có nhữnglực lượng trên mới có điều kiện tham gia Nhưng nguồn chiến lợi phẩm sau chiếntranh họ nhận được một phần lớn)
Trang 31Lực lượng bộ binh chủ yếu là dân tự do nghèo, có thêm đội lính đánh thuê làngười nước ngoài chủ yếu là người Libi và Nubi Đây là một nét mới so với thời kỳtrước (vì Ai Cập sợ những người nghèo nổi dậy như ở giai đoạn trước.)
Kinh tế phát triển, chính trị được mở rộng làm cho xã hội trở nên phức tạp Dothường xuyên xảy ra chiến tranh nên phải tăng thuế nhiều, nông dân công xã càng trởnên nghèo khó, khổ cực Mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, quyết liệt Thời kỳ nàykhông chỉ đơn thuần là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị mà còn đanxen nhiều mâu thuẫn khác:
+ Mâu thuẫn giữa lính chiến xa và lính bộ binh trong quân đội vì lực lượng lính
bộ binh phải chịu nhiều hy sinh trong khi nguồn chiến lợi phẩm lại không đượchưởng
+ Mâu thuẫn giữa quyền lợi và địa vị của giai cấp quý tộc với tầng lớp tăng lữ.Lực lượng tăng lữ thâu tóm tinh thần của toàn xã hội Tất cả mọi người đều tôn trọngtầng lớp này Sau mỗi cuộc chiến tranh, các Pharaông thường cúng rất nhiều chiến lợiphẩm, kể cả dân nghèo Tầng lớp này ngày càng giầu có, bắt đầu lấn át và thâu tómquyền lực của giai cấp quý tộc Đó chính là nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn cơbản của thời kỳ này
Mâu thuẫn trên ngày càng phát sinh, phát triển và trở nên gay gắt Đến thời kỳvua Amenkhôtép IV, để thoát khỏi tình trạng này, ông cho tiến hành cuộc cải cách tôngiáo năm 1400 TCN với mục đích đánh đổ thế lực của tập đoàn tôn giáo Amô và khôiphục lại địa vị, đề cao quyền lực của các Pharaông Trên cơ sở đó ông đề xướng mộttôn giáo mới thờ thần Antôn với nội dung: Cấm thờ thần Amôn, đóng cửa các đền đài,bắt các Amôn phải hoàn tục, thay tên các vị thần cũ trên các lăng tẩm thờ thần Amôn.Ông đã thay tên hiệu thành Iknatôn- thực chất của vị thần này là các Pharaông đượcthần thánh hoá Ông rời thành Tebơ, cho xây dựng một kinh đô mới các Tebơ khoảng
300km về phía Bắc với tên gọi là Akhêtatôn- nơi trú ngụ của thần Antôn.
Ông còn cho xây dựng rất nhiều đền đài, công trình kiến trúc đồ sộ khác để thờthần Antôn trong kinh đô mới và ở các địa phương khác
Những biện pháp của ông đã gây sự phản kháng chống đối mạnh mẽ của cáctăng lữ và quý tộc ở các châu Nhay sau khi ông chết, các tăng lữ ngay lập tức xoá bỏcuộc cải cách của ông đề xướng, khôi phục lại thần Amôn Cuộc cải cách của ông bịthất bại
Tình hình xã hội Ai Cập lại bước vào giai đoạn rối ren Dưới thời kỳ thống trịcủa các Pharaông vương triều 19, 20, để củng cố tình hình chính trị, các Pharaông tiếnhành hàng loạt các chính sách cải cách hành chính, giảm bớt thuế để xoa dịu xã hội,
Trang 32ngăn ngừa các cuộc nổi dậy của dân nghèo Bên cạnh đó, các Pharaông tiếp tục mởrộng uy quyền ra bên ngoài nhằm mở rộng quyền thống trị với các nước ở châu Á.Nhờ đó, vương triều thứ 19, 20 được hưng thịnh trở lại trong tất cả các lĩnh vực.
Từ vương triều 20 trở đi, xã hội Ai Cập lại rơi vào khủng hoảng, suy yếu do sựtranh chấp giữa các Pharaông Nhân tình hình đó, lực lượng lính đánh thuê đã đảochính và cướp chính quyền của các Pharaông vào năm 941 TCN Một vương triềungoại tộc mới lại thống trị Ai Cập
2.5 Ai Cập thời Hậu kỳ vương quốc
Năm 941 TCN, người Libi đã đặt ách thống trị ở Ai Cập cho đến năm 726 TCN
Từ năm 726 TCN đến 671 TCN, người Nubi đã thay thế người Libi thống trị Ai Cập
Từ năm 671 TCN đến 654 là thời kỳ thống trị của người Atxiri Trong suốt các thời
kỳ này, Ai Cập suy yếu
Sau đó, người Ai Cập đã nổi dậy và giành được độc lập Đất nước đã được phụchưng trong một thời gian ngắn dưới triều Sait Các Pharaông đã đặt quan hệ với một
số nước
Từ năm 525 TCN trở đi, Ai Cập lại rơi vào tay thống trị của đế quốc Ba Tư Đếnnăm 332 TCN, người Hy Lạp đã thay người Ba Tư thống trị Ai Cập Vua Hy Lạpkhông trực tiếp cai trị mà xây dựng một chính quyền bù nhìn và cử người sang caiquản Song song với sự củng cố về chính trị, người Hy Lạp còn chú trọng phát triểnkinh tế ở Ai Cập nên thời thời kỳ này được gọi là thời kỳ Hy Lạp hoá
Từ sau năm 30 trở đi, ách thống trị của Hy Lạp bị lật đổ Ai Cập rơi vào tay La
Mã và từ đây, lãnh thổ Ai Cập bị biến thành một bộ phận của đế quốc La Mã Lịch sử
Ai Cập cổ đại đến đây kết thúc Sang thời Trung đại, Ai Cập trở thành quốc gia Hồigiáo nằm trong đế quốc Arập Hồi giáo
3 Tình hình kinh tế- xã hội Ai Cập cổ đại
3.1 Về kinh tế
Nông nghiệp
Nền kinh tế của Ai Cập là nền kinh tế mang tính chất tự nhiên, trong đó nôngnghiệp đóng vai trò chủ đạo Họ trồng trọt trên những mảnh đất phì nhiêu hai bên bờsông Nil Khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều công cụ lao động Ai Cập thời cổ, rấtphong phú về loại hình, đa dạng về chất liệu, có thể làm từ đá, xương và kim loại Vềloại hình, phổ biến là cày, cuốc đã được nối cán gỗ và lưỡi có thể là đá hoặc gắn kimloại Họ đã sử dụng sức kéo trong sản xuất nông nghiệp Các công cụ lao động Ai Cập
có đặc điểm chung là rất đơn giản nhưng phù hợp với điều kiện canh tác trên lưu vựcsông Nil Kỹ thuật canh tác tiến bộ, thâm canh hai vụ trên 1 năm với các loại cây
Trang 33trồng như: lúa mì, lúa mạch… Nông dân Ai Cập cũng trồng cây lanh để lấy sợi dệtvải, trồng các loại rau, cây ăn quả: nho, chà là, vải…
Hoạt động nông nghiệp gắn liền với công tác thuỷ lợi Nhà nước Ai Cập rất quantâm xây dựng hệ thống thuỷ nông nhân tạo, lớn nhất là hồ Mơphít (Phayum), họ đãđào một con kênh nối hồ với sông Nil và trên con kênh này có một nắp cống để điềuhoà mực nước với sông Nil vào mùa hạn, dự trữ nước để đảm bảo nước tưới cho đồngruộng vào mùa khô
Ruộng đất trong cả nước thuộc quyền sở hữu của nhà nước Hình thức tư hữucũng có nhưng rất ít Trước khi nhà nước ra đời, sở hữu ruộng đất thuộc về công xãnông thôn nhưng sau đó thuộc về nhà nước, công xã đóng thuế cho nhà nước Từ thờiTảo vương quốc đã xuất hiện nông trang lớn, có 3 loại nông trang: nông trang vươngthất; nông trang đại quan, nông trang thần miếu Trong các nông trang, hoạt độngnông nghiệp vẫn là chủ yếu, bên cạnh đó còn có các nghề thủ công Trong thủ côngnghiệp đã có sự phân hoá lao động rõ rệt, sản phẩm sản xuất ra phục vụ cho nhu cầucủa nông trang Do đó, kinh tế nông trang là nền kinh tế khép kín, tự cung, tự cấp Laođộng chính là nô lệ và nông dân, điều kiện lao động khắc nghiệt dưới sự giám sát củađốc công
Vào thời Trung vương quốc, các nông trang lớn tan rã, trong xã hội xuất hiện cácnông trang nhỏ, tạo điều kiện cho hoạt động trao đổi buôn bán phát triển do nền kinh
tế của mỗi nông trang không đủ đảm bảo tự cung, tự cấp
Thủ công nghiệp
Thủ công nghiệp của Ai Cập cũng phát triển bởi Ai Cập là đất nước rất giàu tàinguyên thiên nhiên Trong thời cổ đại đã hình thành hàng trăm các nghề thủ côngkhác nhau với sự phân công lao động tỉ mỉ Các nghề thủ công nổi tiếng như; rèn, dệt,chế tạo thuỷ tinh màu, đặc biệt là nghề chế tác đá Người Ai Cập cổ đã biết sử dụngcác ống bễ để thổi lò rèn, khung cửu kiểu đứng hoặc nằm do hai, ba người cùng dệt
Kỹ thuật dệt vải khá cao với màu sắc phong phú Người Ai Cập là người đầu tiên trênthế giới biết chế tạo thuỷ tinh màu (được khẳng định qua các di tích khảo cổ) Saunày, kỹ thuật đó được truyền sang các nước Tây Á và phát triển ở trình độ cao hơnnhất là ở Phênixi
Trong các nghề thủ công của Ai Cập, nghề chế tác đá phát triển hơn cả bởinguyên liệu rất phong phú, đa dạng Tất cả những di sản văn hoá, văn minh có giá trịnhất mà người Ai Cập để lại đến ngày nay đều là những di sản được làm bằng đá nhưlăng mộ, đền đài, tượng…
Trang 34Ngoài ra, ở Ai Cập còn phát triển nghề ướp xác- một nghề độc đáo có một khônghai trên thế giới và được xem như một nghề thủ công ở Ai Cập
Về thương nghiệp, sự phong phú và đa dạng của các sản phẩm nông nghiệp vàthủ công nghiệp đã thúc đẩy sự trao đổi buôn bán giữa các vùng trong nước và giữa
Ai Cập với thế giới bên ngoài Ai Cập đem bán ngũ cốc và các sản phẩm thủ công rồimua về gỗ bá hương để đóng quan tài, đóng thuyền, vàng, trầm hương và các hàng xa
xỉ khác Thương mại chủ yếu thông qua sông Nil nhưng người Ai Cập cũng xây dựngnhững đồn binh nhỏ trên các nẻo đường xa mạc để bảo vệ các đoàn buôn Thời xaxưa, cư dân Ai Cập vẫn dùng hình thức vật đổi vật
Dưới Pharaông là hệ thống quan lại từ trung ương tới địa phương Đứng đầu làVidia (tương đương chức tể tướng) có chức năng điều hành công việc chính về tưpháp, thu thuế và việc xây dựng các công trình công cộng, thuỷ lợi Dưới đó làScơribơ- một tổ chức bao gồm đông đảo quan lại cao cấp và thư lại Đây là tầng lớpchiếm số lượng đông đảo nhất
Đơn vị hành chính quan trọng nhất là các “Nôm” hay châu do các Nômmáccơ(chúa châu) cai quản Về cơ bản, Nômmáccơ có quyền lực rất lớn ở địa phương màmình cai quản, nắm giữ các chức năng cơ bản: tăng lữ, thẩm phán, chỉ huy quân sựcao nhất ở địa phương Nômmáccơ thường là những quan lại do trung ương cử xuốnghoặc thuộc hoàng tộc, rất hiếm trường hợp do địa phương bầu lên
Dưới Nômáccơ là chức trưởng thôn- người đứng đầu các công xã nông thôn.Trưởng thôn có nhiệm vụ trưng thu thuế cho nhà nước, trực tiếp thu thuế của nôngdân công xã, sau đó mới chuyển về các hạt của Nômmáccơ
Như vậy, hệ thống quan lại khá đông đảo mang tính chất quan liêu nên dễ rơivào tình trạng trì trệ
Giai cấp bị trị bao gồm nông dân công xã, nô lệ và một bộ phận thợ thủ công.
Nông dân công xã chiếm số lượng đông đảo trong xã hội, có nhiệm vụ chính là sảnxuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc Họ được nhận đất của công xã và có nghĩa vụnộp thuế thông qua công xã Họ còn phải thực hiện nhiều nghĩa vụ khác như: lao dịch,
Trang 35binh dịch Trên danh nghĩa, họ là những người tự do nhưng trên thực tế đời sống của
họ hết sức khổ cực và chịu sự áp bức bóc lột nặng nề
Nô lệ có số lượng ngày càng tăng, người Ai Cập gọi nô lệ là Giet tức là các convật Nguồn gốc nô lệ chủ yếu trong xã hội Ai Cập là những tù binh chiến tranh Ngoài
ra còn có một bộ phận những người tự do bị mắc nợ hoặc những người nông dân công
xã bị bần cùng hoá và bị biến thành nô lệ Nô lệ chủ yếu là phục dịch, hầu hạ trongcác gia đình nhà chủ hoặc trong cung đình của nhà vua Do đó, nô lệ được coi là mộtphần tài sản của các Pharaôn và các gia đình quý tộc
Xã hội Ai Cập là xã hội chiếm hữu nô lệ nhưng biểu hiện lại chủ yếu là giai cấpquý tộc và nông dân công xã Vì vậy, xã hội Ai Cập không được liệt vào thời kỳchiếm hữu nô lệ mà chỉ được coi là một trong các quốc gia cổ đại phương Đông.Tầng lớp những người thợ thủ công chiếm số lượng không đáng kể trong xã hội
Họ cũng bị áp bức bóc lột và vai trò của họ cũng không có gì nổi bật
4 Văn hóa Ai Cập cổ đại
Nền văn minh Ai Cập là một trong những nền văn minh lâu đời nhất trên thếgiới Người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra một nền văn hóa phong phú, đa dạng vàmang đậm bản sắc dân tộc Nền văn hóa Ai Cập cổ đại đã đạt được những thành tựu,góp phần cống hiến to lớn vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại
4.1 Chữ viết
Người Ai Cập đã sang tạo ra chữ viết của mình sớm nhất thế giới Người ta dungnhững hình vẽ đơn giản để diễn đạt các từ nên chữ viết của người Ai Cập cổ đại làchữ tượng hình Về hình dạng, chữ tượng hình Ai Cập rất giống với các sự vật màngười ta mô tả Ví dụ: từ Mặt Trời được diễn đạt bằng một vòng tròn nhỏ, ở giữa thêmmột cái chấm, từ nước hay sông được biểu hiện bằng 3 làn sóng, từ đồng ruộng, người
ta vẽ hình chữ nhật chia thành nhiều ô, từ núi được vẽ thành hình hai ngọn núi, ở giữa
có một cái đèo…
Phương pháp tượng hình chỉ có thể diễn đạt được những sự vật cụ thể, cá biệt,không đủ khả năng diễn đạt các từ có nội dung phức tạp, trừu tượng Vì thế, người AiCập cổ đại đã phải dùng phương pháp tượng hình kết hợp với phương pháp tượng
trưng Để diễn đạt từ “công bằng”, người ta vẽ một chiếc lông cánh chim đà điểu vì tất cả những lông cánh của chim đà điểu đều dài bằng nhau; muốn diễn đạt từ “khát nước”, người ta vẽ 3 làn sóng với một đầu trâu ở phía trước, khi vẽ một người quỳ gối, giơ ngửa hai bàn tay lên là muốn biểu thị khái niệm “thỉnh cầu” Nhìn vào bảng
chữ tượng hình, người ta có cảm giác đó là một bức tranh Muốn đọc được buộcngười ta phải liên tưởng, suy đoán
Trang 36Kiểu chữ viết mô phỏng các sự vật thật có rất nhiều hạn chế, nhất là khi viết trênnguyên liệu đá Vì vậy, ngay từ thời Cổ vương quốc, người Ai Cập đã cải tiến chữviết theo hướng đơn giản hóa bằng cách chỉ lấy một phần điển hình nào đó của vật thể
để biểu đạt, dần dần tiến tới chỗ kết hợp cả ký hiệu tượng hình và dấu hiệu chỉ âm,đồng thời xây dựng hệ thống chữ cái Ví dụ: hình vẽ cái bát để chỉ cái bát- đọc là Ka,đồng thời cũng là biểu thị chữ K; hình vẽ hai đường song song để chỉ kênh đào và
được đọc là “Mer” Với cách làm đó, người Ai Cập từ thời Cỏ vương quốc đã có một
hệ thống mẫu tự bằng ký hiệu Người ta đã tìm thấy trong văn tự cổ Ai Cập có tới 750
ký hiệu tượng hình và 24 dấu hiệu chỉ phụ âm
Người Ai Cập cổ viết chữ tượng hình trên đá, đồ gốm… nhưng thong dụng nhất
là viết trên giấy papyrút Papyrút là một loại cây gần giống cây sậy mọc rất nhiều ởhai bên bờ sông Nil Đây là loại giấy sớm nhất trên thế giới Rất nhiều di tích văn tự
cổ được lưu lại trên các bức tường đá của các đền miếu, lăng mộ và trên giấy papyrút
4.2 Văn học
Văn học cổ Ai Cập phát triển từ rất sớm (khoảng cuối TNK IV- đầu TNK IIITCN) Người Ai Cập cổ đã sáng tạo một nền văn học phong phú về hình thức và thểloại, phản ánh sinh động hiện thực xã hội
Thể loại văn học dân gian truyền miệng như tục ngữ, ngạn ngữ, ca dao, đối
thoại… được lưu truyền sớm và rộng rãi trong xã hội Thể loại văn học này do nhândân lao động sáng tác và phản ánh những quan niệm về tự nhiên và xã hội của quầnchúng nhân dân
Thể loại văn học tôn giáo: thường lấy đề tài từ trong thần thoại, tôn giáo và đều
không mang tên tác giả, đó là những bài thần chú khắc trên tường vách những lăngtẩm, hầm mộ và những bài ca thần bí dành cho các lễ hội tế thần Nội dung của thểloại văn học này thường ca ngợi thần thánh mà phổ biến hơn cả là những bài ca ca
ngợi thần Mặt trời Amôn-Ra và độc đáo hơn cả là bài “Tụng ca Mặt trời Amôn” của
Pharaông Ichnaton Trong thể loại văn học này còn có một loại văn phẩm soạn cholinh hồn người chết, gồm tới trên 2000 cuộn giấy papyrut, được các học giả ngày nay
tập hợp lại thành một tập sách gọi là Tử thư (Cuốn sách của người chết).
Thể loại văn chương thế tục xuất hiện từ thời Cổ vương quốc Dưới hình thức tự
thuật hay giáo huấn, loại văn học này thường ghi lại tiểu sử, sự giao tiếp của những kẻquyền quý hay cuộc sống của thường dân Những bài ca thể hiện tình yêu giữa anhtrai và em gái, mà theo phong tục thời đó thường kết hôn với nhau Nhiều câu chuyện
lý thú còn được lưu giữ tới ngày nay như: Thuyền gặp nạn, Truyện hai anh em, Đối
Trang 37thoại của một người thất vọng với linh hồn của mình, Lời kể của Ipuxe, Lời tiên đoán của Neephectuy…
4.3 Tôn giáo
Tuy đã bước vào giai đoạn văn minh nhưng cư dân Ai Cập vẫn còn duy trì một
số hình thức tôn giáo sơ khai như thờ thần thánh Một trong những hình thức tínngưỡng sơ khai còn khá thịnh hành ở Ai Cập là sùng bái các lực lượng tự nhiên, cácđộng vật, thực vật, thờ cúng người chết Trong đó, việc thờ cúng thần Mặt trời Amôn-
Ra là phổ biến và tôn nghiêm hơn cả Thần Mặt trời là vị thần tối cao của cả nước, vịthần chúa tể của các thần và tượng trưng cho quyền lực tối cao và vô hạn của cácPharaông
Người Ai Cập cổ đại cũng rất coi trọng việc thờ cúng người chết Họ rất tin vào
sự bất tử của linh hồn họ cho rằng, trong thân thể của mỗi người đều có “Ka” (linhhồn) đi theo thân thể người như hình với bong, chỉ khi nào người chết đi thì “Ka” mớirời khỏi thể xác Và cũng chỉ khi nào, xác người bị hoàn toàn hủy diệt thì “Ka” mớichết theo Nếu giữ được các chết thì sẽ có ngày “Ka” trở lại quay về với thể xác, nhậpvào thể xác, con người sẽ được sống lại Vì vậy, người Ai Cập có tục ướp xác chết đểgiữ xác chết lâu dài
4.4 Kiến trúc và điêu khắc
Một trong những di sản quan trọng nhất, có giá trị nhất trong nền văn minh AiCập cổ đại là nghệ thuật kiến trúc vô tiền khoáng hậu và nổi tiếng trong lịch sử thếgiới Ai cập cổ đại đã để lại nhiều công trình kiến trúc bằng đá như những cung điện,đền đài, lăng mộ mà nổi bật nhất là những Kim tự tháp
Vì có niềm tin mãnh liệt vào sự hồi sinh bất tử, người Ai Cập cổ đại chuẩn bị rấtchu đáo cho cuộc sống sau khi chết, bởi lúc đó mới chính là sống Quan niệm của họ
là mộ táng mới chính là nhà ở vĩnh viễn nên người Ai Cập cổ đại rất coi trọng việcxây dựng lăng mộ
Hiện nay các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hàng trăm Kim tự tháp bên tả ngạnsông Nil Những quần thể Kim tự tháp ở Ghiza gần Cairo là lớn nhất, tập trung nhiềunhất những bí ẩn và những điều lý thú khiến các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm.Trong đó Kim tự tháp Kêốp là lớn hơn cả (cao 146m, hiện nay bị thiên nhiên bào mònchỉ còn cao 137m, mỗi cạnh đáy dài 230m, phải dùng khoảng 2300000 tảng đá, mỗitảng nặng trung bình 2,5 tấn- được xem là một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại.Gắn liền với các Kim tự tháp còn có một giáo đường dùng để tế lễ, một đền thờcác bức tượng của nhà vua Giữa các bộ phận đó được nối liền với nhau bằng đườnghành lang cột đá
Trang 38Nghệ thuật điêu khắc cũng đạt trình độ khá cao và chịu ảnh hưởng khá đậm nétcủa những quan niệm tôn giáo Bên cạnh Kim tự tháp là tượng sư tử đầu ngườiXphanh dài 57m, cao 20m Tượng Xphanh là những khối đá lớn nguyên vẹn Các nhàđiêu khắc cổ Ai Cập đã tạc khối đá thành đầu người mình sư tử để tượng trưng choquyền lực oai hung và bất diệt của Pharaông.
Ngoài ra, còn có nhiều tượng chân dung tuyệt tác như: tượng đá “Viên thư lại ngồi”, tượng “Vua Ramxet II”, tượng bán thân “Nữ hoàng Nêphécti” Bên cạnh đó
còn có những bức điêu khắc được tạc vào vách đá, nổi tiếng nhất là bốn bức tượngRamxet II ngồi, cao 20m ở Abu Simben
Các tác phẩm nghệ thuật của Ai Cập cổ đẹp nhưng thường trang nghiêm, ít thểhiện được nội tâm của nhân vật
4.5 Khoa học tự nhiên
Thiên văn học
Do yêu cầu của sản xuất nông nghiệp, người Ai Cập cổ đại đã biết quan sát bầutrời Việc quan sát mực nước sông Nil thực hiện cùng với việc quan sát các chòm saochuyển động trên bầu trời Họ quan sát thấy một ngày nào đó sao Lang xuất hiện đúng
ở chân trời thì cũng là lúc nước sông Nil bắt đầu dâng lên Nhờ thường xuyên quan sátbầu trời, các nhà thiên văn học Ai Cập đã sớm phát hiện các ngôi sao thuộc hệ thốngMặt Trời, vẽ được bản đồ thiên thể cùng 12 cung hoàng đạo
Thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực thiên văn học của người Ai Cập cổ đại
là việc làm ra lịch Phép làm lịch của Ai Cập cổ đại cũng gắn với việc quan sát saoLang trên bầu trời Khoảng thời gian giữa hai lần sao Lang xuất hiện đúng ở đườngchân trời được tính là một năm- 365 ngày Mỗi năm được chia thành 12 tháng, mỗitháng có 30 ngày, 5 ngày còn thừa vào cuối năm thành 5 ngày lễ
Năm mới của Ai Cập được tính từ ngày nước soonh Nil dâng lên (khoảng tháng
7 dương lịch) Một năm được chia thành 3 mùa, mỗi mùa 4 tháng: mùa nước dâng,mùa ngũ cốc và mùa thu hoạch
Toán học
Do nhu cầu phải thường xuyên đo đạc lại ruộng đất vì bị nước sông Nil làmngập, do cần phải tính toán vật liệu để xây dựng nhà cửa, đền miếu, lăng mộ, tính toánthu nhập sản vật của Nhà nước, Giáo hội và tư nhân… mà toán học của Ai Cập cổ đạisớm phát triển
Người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra chữ số và biết dùng phép đếm lấy 10 làm cơ
sở (phương pháp thập tiến vị) Các chữ số được dùng chữ tượng hình để biểu thịnhưng vì họ chưa biết đến số 0 nên cách viết chữ số của họ rất phức tạp:
Trang 39Hàng mười vẽ một đoạn dây thừngHàng trăm vẽ một cuộn dây thừngHàng nghìn vẽ một cái cây
Hàng vạn vẽ một ngón tayNgười Ai Cập cổ đại mới chỉ biết phép cộng và trừ, còn phép nhân và chia thìđược thực hiện bằng cộng và trừ nhiều lần
Sử gia Hêrôđốt của Hy Lạp đã giải thích sự xuất hiện của môn hình học Ai Cập
là do nhu cầu phải đo đạc lại ruộng đất hang năm bị nước lũ sông Nil đem phù xa vàoxóa lấp bờ ruộng Việc xây dựng công trinh Kim tự tháp đòi hỏi phải vận dụng nhiềutri thức hình học và số học Người Ai Cập cổ đại đã biết cách tính diện tích hình tamgiác, diện tích hình tròn, thể tích hình cầu và thể tích hình tháp đáy vuông Họ cũngtính được trị số của pi là 3,16
Y học
Y học ở Ai Cập cũng phát triển từ rất sớm Do có tục ướp xác, họ có hiểu biếtkhá rõ về cơ thể con người, phát hiện ra nguyên nhân gây bệnh do sự không bìnhthường của mạch máu Các tài liệu y học còn lưu lại đến ngày nay đều nói về việc mô
tả về óc, quan hệ giữa tim và mạch máu, gọi tên các loại bệnh, cách khám bệnh, khảnăng chữa trị
Ở Ai Cập cổ đại, người ta cũng đã biết dùng thảo mộc để làm thuốc chữa bệnhnhư chế biến dầu cao, dầu thơm Các thầy thuốc biết dùng phẫu thuật để chữa một sốbệnh như chữa vết thương ở đầu và ngực, những chỗ dập, gãy, mụn nhọt
Câu hỏi ôn tập
1 Quá trình phát triển của lịch sử Ai Cập cổ đại?
2 Lập sơ đồ cơ cấu xã hội Ai Cập cổ đại Phân tích vị trí, vai trò của mỗi
giai cấp, tầng lớp xã hội trong cơ cấu đó?
3 Miêu tả cấu trúc Kim tự tháp và quá trình xây dựng Kim tự tháp Kêốp
4 Những thành tựu văn hóa mà người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra?
Trang 40CHƯƠNG II: LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI
(6 tiết)
1 Điều kiện tự nhiên và cư dân
Điều kiện tự nhiên
Lưỡng Hà cổ đại nằm ở Trung Á có hai con sông Tigrơ và Ơphơrat bắt nguồn từrừng núi Amênica chảy xuôi suốt chiều dài của Lưỡng Hà Vùng bình nguyên nằm
giữa hai con sông này thường được gọi là Mêdôpôtami- miền đất giữa hai con sông hay Lưỡng Hà Hai con sông này có vị trí rất quan trọng đối với sự hình thành và phát
triển của các quốc gia ở khu vực Lưỡng Hà Nguồn nước ở hai con sông này dâng lênvào mùa xuân khi tuyết tan, khi nước rút để lại một lớp phù xa màu mỡ, thuận lợi chophát triển nông nghiệp Tigrơ và Ơphơrat còn tạo ra những con đường thương mại cầunối giữa vùng đất Hắc Hải- vịnh Ba Tư và giữa Địa Trung Hải với phương Đông, tạonên hành lang giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia Đông- Tây
Lưỡng Hà là một vùng đất bằng phẳng, là một lãnh thổ mở, để ngỏ ở mọi phíanên thuận lợi cho buôn bán giao lưu hàng hoá
Khí hậu của Lưỡng Hà là khí hậu lục địa, ngày rất nóng, đêm rất lạnh và mưa ít.Lưỡng Hà hiếm kim loại và mỏ đá quý, song có rất nhiều đất sét tốt- nguồn nguyênliệu chủ yếu để Lưỡng Hà phát triển sành sứ, gạch, gốm… Thiên nhiên đã ưu đãi choLưỡng Hà cây chà là, một thứ cây rất quý hiếm, quả để ăn, vỏ để đan lát và hạt có thểdùng để đốt thay than
Những điều kiện tự nhiên đó có ảnh hưởng khá rõ trong hoạt động kinh tế cũngnhư đời sống chính trị, xã hội của cư dân cổ ở khu vực này, tạo nên sắc thái riêng củavùng Lưỡng Hà
Cư dân
Cư dân cổ nhất của Lưỡng Hà là người Xume (từ TNK IV TCN) Khi đến Lưỡng
Hà, họ đã từ bỏ cuộc sống du mục sang cuộc sống định cư trên cơ sở của nền kinh tếnông nghiệp tưới tiêu từ đó tạo nên nền văn minh tối cổ đầu tiên ở Lưỡng Hà
Cuối TNK IV, đầu TNK III, người Accat đến định cư ở Lưỡng Hà Người Xumeđịnh cư ở miền Nam, người Accat định cư ở miền Trung Hai tộc người này luôn xungđột để tranh chấp khu vực ở Lưỡng Hà Từ đó, tạo nên sự đồng hoá lẫn nhau giữa haitộc người này
Sau người Accat còn có nhiều tộc người khác (Phênixi, Atxiri, Canđê…) thiên diđến và định cư ở Lưỡng Hà làm cho thành phần cư dân ở Lưỡng Hà càng trở nên