ĐỀ SỐ 4Nêu những nét chính về sự nghiệp sáng tác văn chương của Nam Cao trước Cách mạng?Đánh giá vị trí của Nam Cao trong nền văn học Việt Nam hiện đại.. - Đề tài người trí thức tiểu tư
Trang 1ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚT
ĐỀ SỐ 1
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con.
Các động từ: Xiên, đâm, ngán, lại, san sẻ
Biện pháp đảo ngữ cùng những động từ mạnh “xiên”, “đâm” được đặt lên đầu câu thơthể hiện cao độ sự phẫn uất trong lòng nữ sĩ Biện pháp nhân hóa khiến cho thiên nhiêncựa quậy trên trang giấy như mang linh hồn của con người Đá đã rắn chắc giờ lại phảinhọn hoắt lên để “đâm toạc chân mây”
Câu 2:
Bài thơ mở ra bằng thời gian vắng lặng và không gian cô liêu của một đêm sắp tàn:Canh khuya văng vẳng trống canh dồn Đây là thời gian và không gian gợi tình, gợi cảm.Con người khi được đặt vào đó thường tự thấy mình nhỏ bé, bơ vơ đêm khuya làm chotiếng trống cầm canh thêm rõ và ngược lại nó cũng làm cho màn đêm trở nên hoang vắng,rợn ngợp tới vô bờ
Bài thơ diễn tả một cách hài hòa ngoại cảnh và tâm cảnh, “tình trong cảnh ấy, cảnhtrong tình này” Tác giả nhìn lên vầng trăng mong nhận được sự tròn đầy viên mãn vậy màtrăng “khuyết chưa tròn” Hình ảnh thơ vừa là cảnh thực của đời sống vừa là ẩn dụ chothân phận và tình duyên của Hồ Xuân Hương
Trang 2Thiên nhiên cựa quậy trên trang giấy như mang linh hồn của con người Rêu vốn là loàiyếu đuối, còn hèn mọn hơn cả “cỏ nội hoa hèn” vậy mà ở đây cũng từng đám cũng phảimọc xiên lên mà “xiên ngang mặt đất” Đá đã rắn chắc giờ lại phải nhọn hoắt lên để “đâmtoạc chân mây” Thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương không bao giờ là thứ thiên nhiênbình bình lặng lặng Nó phải là những hình ảnh có màu có sắc, có hơi thở phập phồng trêntrang giấy Rêu và đá hay cũng chính là sức sống và nỗi niềm của nữ sĩ.
ĐỀ SỐ 2
Câu 1: Liệt kê các từ chỉ màu sắc trong bài Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) Các từ ngữ
đỏ diễn tả bức tranh thu như thế nào?
Câu 2: Câu thơ “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” trong bài thơ Câu cá mùa thu của
Nguyễn Khuyến được viết bằng thủ pháp nào? Hiệu quả nghệ thuật của cách viết đó rasao?
ĐÁP ÁN Câu 1:
Sóng biếc, lá vàng, xanh ngắt Màu xanh là gam màu chủ đạo của bài thơ với sắc xanhcủa trúc, bầu trời xanh ngắt, nhuốm màu lên từng con sóng Lá vàng cũng là tín hiệu quenthuộc của mùa thu Một chiếc là vàng giữa nền trời xanh, sóng biếc càng làm nổi bật sắcxanh của đất trời Đó là thủ pháp gợi tả quen thuộc của thơ ca trung đại
Câu 2:
Câu thơ được viết bằng thủ pháp “dùng động tả tĩnh”: dùng cái động nhỏ giữa khônggian tĩnh mịch để làm nổi bật tĩnh lặng Tư thế “tựa gối ôm cần” là tư thế của con ngườiđầy tâm trạng và nặng trĩu suy tư Con người ấy dường như không để tâm vào công việccủa mình vì vậy chỉ một tiếng “cá đâu đớp động dưới chân bèo” cũng đủ làm nhà thơ giậtmình “Đâu” có thể hiểu theo hai nghĩa: Là từ phủ định (Đâu có cá) và là từ chỉ vị trí (có
cá đớp động ở đâu đó) Thủ pháp dùng động tả tĩnh đã thể hiện thứ âm thanh nhỏ bé đó đãphá tan cái tĩnh lặng của cảnh vật cũng như của người đi câu Nguyễn Khuyến có khác gì
Lã Vọng xưa kia, đi câu cá với chiếc giỏ rỗng để suy ngẫm về thời cuộc, về nhân sinh.Người câu nhưng không để tâm vào chuyện câu cá mà suy ngẫm sự đời
ĐỀ SỐ 3
Trang 3Hình ảnh nào được miêu tả lặp đi lặp lại nhiều lần trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”? Tác
dụng của chi tiết nghệ thuật đó như thế nào với việc thể hiện chủ đề của tác phẩm?
ĐÁP ÁN
Giới thiệu chung:
Chi tiết được miêu tả lặp đi lặp lại trong tác phẩm là bóng tối
Bóng tối bao trùm lên phố huyện nghèo.
- Bóng tối xuất hiện nhiều lần trong truyện (gần 30 lần) Sự xâm lấn của bóng tối thểhiện qua sự vận động của thời gian từ chiều đến đêm
- Bóng tối không còn là hiện tượng tự nhiên đơn thuần nữa, nó đã thâm nhập vào cuộcsống con người, mang theo cái buồn gieo vào cuộc đời họ Trong bóng tối con người chỉcòn là những cái bóng dật dờ
Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối
- Buổi chiều: Còn sót lại chút ánh sáng nhưng rất yếu ớt, đang lụi tàn dần
+ Ánh sáng: "Mặt trời đỏ rực như lửa cháy; Đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn,Đèn hoa kì leo lét"
+ Bóng tối: Dãy tre làng đen lại, Bóng tối đầy dần trong mắt Liên
- Khi đêm về: Sự tương phản thể hiện rõ nhất, bóng tối ngự trị khắp phố huyện
+ Ánh sáng: Ánh sáng lấp lánh của hàng ngàn ngôi sao, vệt sáng của những con đomđóm, quầng sáng của ngọn đèn chị Tí, Bếp lửa bác Siêu - một chấm lửa nhỏ, ngọn đèn củaLiên - một hột sáng
+ Bóng tối: Bầu trời đêm, Bóng tối trên đường ra chợ, Bóng tối trên đường ra sông,Bóng tối trên các ngõ làng
Ỷ nghĩa
- Ý nghĩa biểu trưng: Nhà văn cảm nhận được trong cuộc sống tĩnh lặng đến vô cảm đó
có những tâm hồn, những số phận đang tàn lụi Bóng tối xâm lấn, che mờ hết con người,cuộc đời mờ mịt, không chút ánh sáng và tương lai
- Thủ pháp miêu tả tương phản, được lặp đi lặp lại nhiều lần càng khắc sâu, ám ảnhngười đọc, từ đó giá trị nhân văn của tác phẩm hết sức lớn lao: cần cứu lấy những tâm hồntrẻ thơ, những con người đang ngày một tàn lụi trong xã hội xưa
Trang 4ĐỀ SỐ 4
Nêu những nét chính về sự nghiệp sáng tác văn chương của Nam Cao trước Cách mạng?Đánh giá vị trí của Nam Cao trong nền văn học Việt Nam hiện đại
ĐÁP ÁN Câu 1 (2,0 điểm):
1 Nam Cao là nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại ông viết văn từ năm
1936 cho đến lúc hi sinh (năm 1951) nhưng những thành tựu nổi bật của ông chủ yếu lànhững sáng tác trong giai đoạn trước năm 1945
2 Trước Cách mạng: lúc bắt đầu cầm bút Nam Cao sáng tác nhiều thể loại, với nhiềutrường phái phong cách khác nhau, có cả thơ trữ tình lãng mạn Từ sau 1941, với việc tácphẩm Chí Phèo được công bố, ông trở thành nhà văn hiện thực chủ nghĩa tiêu biểu của vănhọc Việt Nam trước Cách mạng Tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tập trung vào 2mảng đề tài:
- Đề tài người nông dân: quan tâm đến cảnh ngộ, số phận của người nông dân trong xãhội xưa, trên con đường tha hóa ông khám phá và trân trọng những giá trị nhân phẩm, bảntính tốt đẹp của con người đang bị giằng xé bởi cái đói, sự tha hóa và sự áp bức bóc lột tàn
nhẫn Các tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, Lão Hạc, Lang Rận, Tư cách mõ, Một bữa no
- Đề tài người trí thức tiểu tư sản: phạm vi đời sống của người trí thức cũng đầy sự cangthẳng, dằn vặt đấu tranh giữa lí tưởng, khát vọng sống tốt đẹp, sáng tạo nghệ thuật chânchính và những lo toan tủn mủn vun vặt của đời thường Những sự lo toan cơm áo ghì sátđất đã khiến cho người trí thức không còn là chính mình, họ sống mòn, bị tha hóa, dần dầnmất hết lí tưởng và đời sống hiện thực cũng bế tắc Những cảnh ngộ của họ trong tác phẩm
Sống mòn, Đời thừa, Giăng sáng thực sự là những cảnh đời sinh động, xót xa, thể hiện
sự cảm thông, trân trọng của nhà văn
3 Sau Cách mạng: Nam Cao tích cực tham gia cách mạng, đem ngòi bút phục vụ Cáchmạng, nhân dân và cuộc kháng chiến, ông hòa mình vào đời sống nhân dân, sôi nổi thamgia cách mạng, ông sáng tác văn chương cổ vũ cho cuộc kháng chiến của dân tộc Đángchú ý Nam Cao có truyện ngắn “Đôi mắt” - Tô Hoài gọi đó là bản tuyên ngôn nghệ thuậtcủa các nhà văn cùng thời
Trang 5Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệthuật.
ĐỀ KIỂM TRA 45 PHÚT
ĐỀ SỐ 1
Câu 1: Trong bài thơ Thương vợ (Tú Xương) có nhiều hình ảnh cũng xuất hiện trong ca
dao, dân ca như: “thân cò, đò đông, duyên - nợ” Chép lại một số câu ca dao có các từ ngữ
đó mà em biết
Câu 2: Trong bài thơ Thương vợ, nhà thơ Tú Xương đã nhiều lần dùng số từ (năm - một;
một - hai; năm -mười) Phân tích giá trị biểu đạt của việc dùng số từ trong các trường hợpđó
Câu 3: Phân tích bài thơ Thương vợ để làm rõ tình cảm của nhà thơ Tú Xương dành cho
người vợ của mình
ĐÁP ÁN Câu 1:
Trong bài Thương vợ Tú Xương đã dùng một số ngữ liệu, ý tứ từ ca dao:
- Con cò lặn lộ bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
- Con ơi mẹ dặn câu này
Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua
- Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây
Câu 2:
Trang 6Nhà thơ sử dụng con số “một duyên - hai nợ” Trong dân gian, số một, hai chỉ là số thứ
tự để nói cái may rủi của đời người con gái nhưng trong thơ Tú Xương, chúng không còn
là thứ tự ngẫu nhiên nữa mà đã trở thành cấp số nhân Duyên chỉ có một mà nợ đến gấphai
Câu thơ “nuôi đủ năm con với một chồng”, nhà thơ dùng con số “một - năm” để chỉ về
số lượng Bà Tú đứng giữa cái gánh nặng ở hai đầu: một bên là năm con, bên kia là mộtchồng, ông chồng tương ứng với năm đứa con, vừa làm nổi bật nỗi vất vả của bà Tú, vừacho thấy sự trớ trêu của số phận
Ông Tú đã vừa thương vợ, vừa trách mình, tự đem mình ra mà cười nhạo
Câu 3:
Qua bài thơ, người đọc nhận thấy tình cảm của ông Tú dành cho vợ trước hết là sự cảmthông, thấu hiểu công việc và trách nhiệm của bà Nỗi đau đớn xót xa nhất trong lòng ông
Tú chính là ông thấu hiểu nỗi khổ của vợ mà đành buông tay bất lực ông mượn tiếng chửi
“thói đời” là chửi cái chung, chửi những thói tật của cả xã hội thì “ăn ở bạc” lại đã chỉ rõtrách nhiệm của cá nhân, ông không đổ thừa cho cái chung vô thưởng vô phạt mà đã dámnhận lỗi về chính mình thật là rạch ròi, chân thành và trung thực, ông thấy mình hờ hữngbởi con - ông trút cho bà, đến thân ông- ông cũng trút cho bà ông thấy công vô tráchnhiệm với vợ nên tự kết tội mình: “Có chồng hớ hững cũng như không” Có mà cũng nhưkhông thì còn tệ hơn là không có hẳn, là chết ngay trong lúc sống Lời thơ, bởi vậy, nhưlời tự kiểm điểm, nhận lỗi về mình
“Thương vợ” là bài thơ chữ nghĩa giản dị mà ý tình thật sâu sắc Tác phẩm cho thấy cáitình của Tú Xương thật sâu nặng Nói như Nguyễn Tuân, bài thơ gớp vào “bảo tàng conngười Việt Nam” hai mẫu người: bà Tú- một người vợ đảm đang, chịu thương chịu khó,giàu đức hi sinh và một ông Tú rất mực chân tình Đây là những mẫu người rất nhân bản,rất Việt Nam
ĐỀ SỐ 2
Phần I (5,0 điểm): “Cuộc sống ngày nay tuy có nhiều phương tiện truyền thông như điện
thoại thông minh, mạng xã hội nhưng càng ngày thì sự truyền thông giữa vợ và chồng,
Trang 7bố mẹ và con cái, thầy cô và học sinh lại càng trở nên khó khăn Điều đó nói lên rằng các phương tiện truyền thông hiện đại không hề giúp ta truyền thông tốt hơn”.
Câu 1: Từ “truyền thông” được in đậm có nghĩa là gì?
Câu 2: Viết đoạn văn trình bày quan điểm của anh (chị) về nội dung đoạn trích trên, trong
đó có sử dụng một thành ngữ
Phần II (5,0 điểm): Anh (chị) cảm nhận như thế nào về giọng điệu, chân dung của tác giả
qua “Bài ca Ngất ngưởng”?
ĐÁP ÁN Phần I:
Phần II:
Đề bài yêu cầu phân tích bài thơ để làm nổi bật bức chân dung tinh thần của tác giả,đồng thời cho thấy giọng điệu của bài thơ Cho nên học sinh có thể phân tích kết hợp hìnhtượng tác giả và giọng điệu theo trình tự bài thơ hoặc có thể tách riêng từng phần
1 Mở bài
Qua bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” là một sáng tác độc đáo của Nguyễn Công Trứ Toàn
bộ bài thơ đã thể hiện một giọng điệu và phong cách thống nhất của nhà thơ: thái độ ngôngvới cuộc đời
Thể hát nói tài tử đã góp phần tô đậm bức chân dung tinh thần tác giả
2 Thân bài
- Giới thiệu về thể hát nói:
Trang 8+ “Bài ca ngất ngưởng” là bài hát nói dôi khổ, có niêm luật tự do, phóng túng, kết hợpnhiều thế loại với cả hai thứ văn tự : Nôm và Hán Tác phẩm vừa mang phong cách bìnhdân vừa mang phong cách bác học, dành cho người biết thú chơi, rất phù hợp với phongcách Nguyễn Công Trứ.
+ Nhan đề: bài thơ đã thể hiện thái độ ngông ngạo, không thèm quan tâm tới mọi điềutiếng khen chê Như vậy, Nguyễn Công Trứ đã chọn từ “ngất ngưởng” để vừa chỉ nói một
tư thế vừa chỉ một thái độ sống, một phong cách sống
a Chân dung nhà thơ với lí tưởng, chí nam nhi và làm quan trong triều
- Nhà thơ là người có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình: Câu thơ mở đầu "Vũ trụnội mạc phi phận sự” là một câu thơ toàn âm Hán Việt, gợi âm hưởng trang trọng, thiêngliêng, có nghĩa: Mọi việc trong khoảng trời đất này đều thuộc phận sự của ta Giọng thơđầy kiêu bạc thể hiện thái độ tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm củachính mình
- Ông cũng là người kiêu hãnh, tự tin vào tài năng nhưng lại mang niềm bất đắc chí vớithời cuộc, ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng Nguyễn Công Trứ không chỉ xưng tên mình màcòn tự nhận là “ông” (ông Hi Văn) Đây là sự tự khẳng định mình trong một tư thế đứngcao hơn tất cả Chốn quan trường vốn đầy bon chen danh lợi, nhơ nhuốc, xấu xa khôngphải chỗ để một người tính tình tài hoa, phóng túng như Nguyễn Công Trứ neo đậu Bởivậy, ông hình dung ra việc mình làm quan giống như mắc phải chiếc lồng tù túng, ngộtngạt Điều này được rút ra từ chính cuộc đời làm quan của tác giả nên nó thấm thìa và cóphần xót xa
- Nguyễn Công Trứ là người thành đạt trên con đường hoạn lộ, dẫu có thăng trầmnhưng ông vẫn không thể giấu được niềm tự hào, kiễu hãnh về những gì đã đạt được Biệnpháp liệt kê phát huy tác dụng triệt để trong đoạn thơ này Như vậy, “Ngất ngưởng” củaNguyễn Công Trứ trong triều là tư thế ngất ngưởng của một người có tài năng
b Chân dung nhà thơ khi lui về ở ẩn
- Nhà thơ sảng khoái, sung sướng khi thoát khỏi chốn quan trường, như con chim baykhỏi chiếc lồng chật hẹp “Đô môn giải tổ chi niên” - câu thơ giống như một tiếng thởphào nhẹ nhõm
Trang 9- Lúc làm quan, Nguyễn Công Trứ đã ngất ngưởng, khi từ giã chốn quan trường, ôngcũng sống khác đời, khác người: "Đạc ngự bò vàng đeo ngất ngưởng" Việc cưỡi bò vềkhông chỉ như một hành vi ngất ngưởng mà còn là một cách Nguyễn Công Trứ nhạo đời,xem thường thế tục, khinh thị thế gian Nó cũng không phải là một lối sống lập dị màchính qua hành vi ngông ngạo này, tác giả bày tỏ thái độ chế giễu lối sống sáo mòn củanhà nho.
- Nguyễn Công Trứ còn thể hiện ở việc ông đùa cợt ngay ở chốn trang nghiêm như cửaThiền Nhà thơ muốn đề cập tới chính là sự đối lập với xã hội phong kiến đầy phép tắc,tôn ti, trói buộc con người Đoạn thơ cho ta thấy một tâm hòn tài hoa, phóng túng và hómhỉnh của Nguyễn Công Trứ ông cho rằng lối chơi của ông khiến ngay đến Bụt cũng phảibật cười Không phải là cái cười chế giễu mà cười vì nể sợ bản lĩnh táo tợn của con ngườinày
- Kết thúc bài thơ là hoàn thiện bức chân dung ngông nghênh của nhà thơ ông bỏ ngoàitai tiếng thị phi vì lòng đã an lạc, đã biết việc đời và hiểu mệnh trời
- Ba câu cuối thể hiện sự tự ý thức về tài năng, phẩm giá của bản thân tác giả Quanđiểm của Nguyễn Công Trứ giản dị mà cũng hết sức rõ ràng Với ông, dù ngất ngưởngtrong triều hay khi đã hưu quan, dù “không Phật, không Tiên, không vướng tục” thì cũngvẫn phải giữ trọn được đạo nghĩa vua tôi Như vậy, ngất ngưởng chỉ là bề nổi còn sâuthẳm bên trong “ông Hi văn” vẫn là một con người luôn trăn trở với những đạo lí ở đời
3 Kết luận
Bài thơ thể hiện chân dung tinh thần của Nguyễn Công Trứ tương đối trọn vẹn với tàinăng cá nhân và tính cách ngất ngưởng Đây là một chân dung lớn, hiếm có trong văn họctrung đại nước ta Chân dung ấy được hoàn thiện và nổi bật nhờ giọng điệu khinh đời, caongạo của tác giả
ĐỀ SỐ 3
Câu 1: Trên mạng xã hội, nhiều bạn trẻ sẵn sàng phê phán hay chỉ trích thậm tệ một cá
nhân nào đó nhưng ở ngoài đời sống thì không sẵn sàng chờ đợi khi xếp hàng
Viết bài văn ngắn (1 trang giấy) trình bày quan điểm của anh (chị) về tình trạng đó
Trang 10Câu 2: Truyện ngắn Chữ người tử tù đã thể hiện phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
- tài hoa, uyên bác và ngông - như thế nào?
ĐÁP ÁN Câu 1: về hình thức: Bài văn ngắn (đủ 3 phần)
Về nội dung: nghị luận về hiện tượng xã hội, một thái độ sống: giới trẻ tự do phát ngôn
và hành động trên mạng xã hội nhưng không sẵn sàng xếp hàng chờ đợi Đây là sự mâuthuẫn giữa thế giới thực và thế giới ảo:
- Nhiều bạn trẻ dành nhiều thời gian và sự quan tâm đến mạng xã hội
- Dễ dàng bình luận, phán xét hay chê trách một ai đó trên mạng xã hội; luôn nói nhữngđiều tốt đẹp về bản thân
- Tuy nhiên nhiều cá nhân không ứng xử văn minh ở ngoài đời, thiếu sự kiên nhẫn vàchờ đợi: đơn giản như chuyện xếp hàng để chờ đến lượt mình cũng rất khó thực hiện
Từ đó, cần đề cao lối sống văn minh, lịch sự ở đời thực
Câu 2:
Giới thiệu chung
Phong cách nghệ thuật là nét cá tính riêng biệt của tác giả, làm nên cái riêng, đặc sắccủa nhà văn thể hiện qua nhiều phương diện: Ngôn từ, giọng điệu, cách thức tổ chức câu Phong cách nghệ thuật của ông thống nhất trong 1 chữ ngông: tài hoa, uyên bác Truyệnngắn “Chữ người tử tù” thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật đó
Phân tích cụ thể
a Độc đáo về đề tài
- Nguyễn Tuân chọn đề tài về những giá trị xưa, của một thời vang bóng Tập truyệnngắn trước Cách mạng đã thể hiện rõ quan niệm về đời sống, cách khám phá rất riêng củanhà van Trở về thời quá khứ, chọn một nhân vật Huấn Cao - người vừa nổi danh tài hoaviết chữ đẹp vừa có khí phách của kẻ chống đối triều đình; vừa là sự sáng tạo hư cấu củanhà văn, vừa có hình mẫu Cao Bá Quát ngoài đời sống
- Đề tài như thế đòi hỏi ở nhà văn sự hiểu biết, vốn tri thức vô cùng phong phú Không
am hiểu nghệ thuật thư pháp, sẽ không cảm nhận được ý nghĩa của hình tượng và các chitiết trong truyện
Trang 11b Về nghệ thuật tạo tình huống
- Nguyễn Tuân không chú ý xây dựng cốt truyện, truyện chỉ là tình huống gặp gỡ giữaHuấn Cao - tử tù và viên quan ngục Trong tư thế người bị tội chết nhưng Huấn Cao lại đạidiện cho cái Đẹp, sức mạnh cao cả của thiên lương Quản ngục là đại diện cho quyền lựccủa chế độ thì lại quỳ gối trước viên quản ngục Điều đó cho thấy, cái Đẹp có sức mạnhcứu rỗi thế giới, không phân biệt giai cấp, địa vị Cảnh cho chữ trở thành “cảnh tượng xưanay chưa từng có”
- Tài năng của nhà văn tạo dựng tình huống bất ngờ nhưng hợp lí, để thể hiện tư tưởng:Cái Đẹp ngự trị trong cuộc sống, ngay cả ở chốn lao tù, nó sẽ chiến thắng cái chết, chiếnthắng sự tầm thường
c Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Huấn Cao mang vẻ đẹp lí tưởng: Anh hùng và tài hoa, hình mẫu cổ điển lí tưởng màNguyễn Tuân theo đuổi
- Quản ngục cũng là người biết trọng cái đẹp, trọng giá trị con người, có “tấm lòng biệtnhỡn liên tài, là thanh âm trong trẻo chen giữa vào một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn
xô bồ” giữa cuộc đời hỗn tạp
- Nhà văn đã rất cao tay, đặt quản ngục trong sự thử thách gay go giữa trách nhiệm vàkhát vọng Khát vọng vươn tới cái đẹp đã chiến thắng nỗi sợ hãi, sự sỉ nhục Trong sự đấutranh tư tưởng đó, quản ngục hướng theo cái đẹp và như vậy bộc lộ được bản chất trongsáng của mình Từ đó cách dẫn chuyện của tác giả cũng hết sức tự nhiên: Huấn Cao lànhân vật trung tâm nhưng hoàn toàn được cảm nhận qua con mắt của “phía bên kia”- quảnngục
d Ngôn ngữ
Nguyễn Tuân tỏ ra là người vô cùng am hiểu về ngôn ngữ thời xưa: những ngôn từ củagiới trí thức, quan lại Ồng cũng có vốn từ vựng, sự tường tận về nghệ thuật thư pháp.Những trang văn, những cảnh tượng miêu tả hết sức tinh tế, cô đúc: Chỉ một cái rỗ gôngnói lên khí phách của Huấn Cao, một lời thầy thư lại cho thấy phẩm chất của ông
Trang 12Kết luận: Với những yếu tố trên, chúng ta thấy rõ nét phong cách nghệ thuật NguyễnTuân: tài hoa trong cách viết, uyên bác trong kiến thức, ngông về ý tưởng, đề cập tuyệt đốicái Đẹp trong đời sống.
ĐỀ SỐ 4
Phần I (4,0 điểm): Trong bức thư gửi cho thầy Hiệu trưởng, một học sinh lớp 5 viết “Con
được biết là hằng năm khi bắt đầu khai giảng, nhà trường thường cho các lớp thả bóng bay lên trời Nhưng khi thả bóng lên thì các chú chim hoặc động vật khác nuốt vào, nó có thể bị chặn đường ruột và dẫn đến chết đói Còn khi bóng bay rơi xuống đất hoặc biển thì những chú rùa biển và các loài sinh vật biển khác sẽ bị nhầm lẫn giữa bóng bay và sứa biển Con nghĩ rằng trường mình có thể đừng thả bóng bay vào hôm khai giảng hoặc hạn chế số lượng bóng bay, có được không ạ?”
Câu 1: Hãy dùng một câu tóm tắt ý chính của văn bản trên.
Câu 2: Trình bày quan điểm của anh (chị) về đề nghị của học sinh trên bằng một bài văn
ngắn
Phần II (6,0 điểm): Qua việc miêu tả những con người và cảnh vật ở phố huyện nghèo
trong truyện Hai đứa trẻ, Thạch Lam đã thể hiện thái độ và tư tưởng như thế nào về vấn đề
thân phận con người?
ĐÁP ÁN Phần I:
Câu 1: Ý kiến của em học sinh Tiểu học đặt ra vấn đề khiến nhiều cá nhân và trường học
phải suy nghĩ và hành động:
Việc thả bóng bay gửi ước mơ là hoạt động thường thấy ở trong lễ khai giảng hoặc các
sự kiện của cộng đồng Tuy nhiên, việc thả quá nhiều bóng bay có thể gây ra một số hậuquả cho môi trường Vì thế, đề nghị của em học sinh đó là hoàn toàn hợp lí, đúng đắn Đó
là ý thức của một thế hệ trẻ đối với vấn đề bảo vệ môi trường, từ đó cần có những hànhđộng tích cực, thiết thực, có ý nghĩa
Phần II:
1 Mở bài
Trang 13- Thạch Lam là một cây bút mang phong cách đặc biệt trong tự trong Tự lực văn đoànvới văn phong điềm tĩnh, nhẹ nhàng mà truyền cảm lạ lùng Thạch Lam thường quan tâmđến những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.
- Truyện “Hai đứa trẻ” rất tiêu biểu cho phong cách văn chương này của tác giả Quacảnh phố huyện nghèo, cảnh những đứa trẻ chờ tàu, tác giả thể hiện tấm lòng và nhữngquan điểm hết sức nhân văn về con người
2 Thân bài
* Giới thiệu về truyện “Hai đứa trẻ” và bút pháp nghệ thuật của nhà văn:
+ Đây là truyện ngắn xuất sắc của cây bút văn xuôi lãng mạn Thạch Lam,được rút từ tậptruyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938)
+ Nét đặc sắc trong văn chương của Thạch Lam là bút pháp tâm lí trữ tình, không thiên
về miêu tả những xung đột gay gắt của hiện thực mà quan tâm tới những rung động tinh vi
“như cánh bướm non” trong tâm hồn con người Truyện của ông thường không có chuyện,tất cả cứ nhẹ nhàng, mơn man “như một bài thơ trữ tình đượm buồn”
2.1 Hình ảnh phố huyện nghèo:
+ Bức tranh phố huyện được đặt trên nền thiên nhiên lúc chiều muộn và đang đi dần vàođêm Những câu văn dài, chậm buồn đã bắt được đúng cái hồn của buổi chiều quê nơi phốhuyện Đây là một thiên nhiên đẹp nhưng tàn và buồn Tất cả đều được mô tả ở độ sắp sửalụi tàn, sắp sửa biến mất
+ Phiên chợ tàn: “chợ về hết và và tiếng ồn ào cũng mất Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏbưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía Mùi ẩm mốc bốc lên.” Thiên nhiên trong “Hai đứa trẻ”không chỉ buồn và tàn mà còn thấm đẫm chất thơ và êm dịu Khung cảnh phố huyện trongmột buổi chiều tàn của “Hai đứa trẻ” tuy có buồn nhưng không khiến cho người đọc cảmthấy chán nản Ngay trong nhịp điệu u buồn đó ta vẫn nhận ra những ý vị thật thân quencủa hơi thở quê hương, của hồn Việt bình dị
+ Thiên nhiên trong tác phẩm mang tính lưỡng giá, vừa khơi gợi, vỗ về tâm hồn ngườiđọc trong những cảm xúc bâng khuâng, dịu dàng lại vừa đánh lạc hướng cảm xúc Ngườiđọc bị bẫy vào một thế giới êm ái, tưởng chẳng có gì để rồi lại bị sa ngay vào sợi tơ nhệncủa sự day dứt trước những mảng đời nơi phố huyện lầm than
Trang 142.2 Những kiếp người cũng mỏi mòn, quẩn quanh.
+ Truyện dường như không có gì để kể, chỉ lă cuộc sống uể oải của con người nơi mộtphố huyện heo hút vă những buồn vui đm thầm của hai đứa trẻ - những chuyện vặt vênh
mă chỉ một chút lơ đễnh thôi người đọc sẽ rất dễ lêng quín Nếu câi nghỉo mới chỉ lă câiđói về vật chất thì câi buồn chân lại lă câi đói về tinh thần Nó đm ỉ vă tí tâi hơn gấp nhiềulần sự thiếu ăn, thiếu mặc
+ Con người phố huyện hiện lín trong bóng tối: Câch miíu tả bóng tối của Thạch Lamrất lạ Nó dường như không xuất phât từ thiín nhiín mă ra đi từ đối mắt của thiếu nữ:
“Liín ngồi yín lặng bín mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần” Đđykhông chỉ giản đơn lă thứ bóng tối vật lí mă còn lă thứ bóng tối thđn phận vă số phận.+ Nhă văn sử dụng nghệ thuật tương phản đặc trưng của chủ nghĩa lêng mạn khi miíu tảânh sâng - bóng tối Đặc biệt nhất lă ânh sâng ngọn đỉn trín chõng hăng chị Tý, nó đượcnhắc tới bảy lần, khi lă “hột sâng”, “giọt sâng” lúc lại lă “đốm” sâng Đđy lă một âm ảnhnghệ thuật mạnh mẽ, gđy ấn tượng sđu sắc về sự đậm đặc của bóng tối vă những kiếpngười cũng nhỏ nhoi, leo lĩt như ngọn đỉn nơi chõng hăng chị Tý
+ Mỗi người mỗi cuộc sống khâc nhau song đều gặp nhau ở sự lam lũ mưu sinh vă vật
vờ tồn tại Đó lă lũ trẻ con bới nhặt những thứ người ta đê bỏ đi sau phiín chợ, lă gia đìnhchị Tý, gia đình bâc xẩm Âm ảnh nhất có lẽ lă tiếng cười giòn, vang của cụ Thi điín cứtắt dần trong ngõ vắng
2.3 Tư tưởng của nhă văn về vấn đề thđn phận con người
+ Thạch Lam không chú tđm miíu tả số phận bi đât của con người trong nghỉo khổ mẵng suy tư nhiều đến đời sống tinh thần của họ Những con người sống buồn tẻ, nhợt nhạt,mòn mỏi qua năm thâng Tinh thần nhđn đạo ấy toât lín trước hết ở niềm xót thương chđnthănh của nhă văn trước những cảnh đời tội nghiệp, nhỏ bĩ, mong manh nơi phố huyện.Thạch Lam đê viết về cuộc sống nghỉo năn của họ với tình yíu thương vă cảm thông sđu
sắc Đđy cũng lă điểm gặp gỡ của nhă văn với câc cđy bút đương thời như Xuđn Diệu (Toả Nhị Kiều), Nam Cao (Sống mòn, Đời thừa).
Trang 15+ Thạch Lam còn muốn gióng lên trong tâm trí con người một hi vọng mong manh vềcuộc sống Niềm hi vọng ấy được nhà văn gửi vào việc chờ đợi đoàn tàu đi qua phố huyệncủa hai chị em Liên.
Đặt trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm 1930-1945, đó chính là sự thức tỉnhcủa ý thức cá nhân mới mẻ Nói lên điều này, tác phẩm của Thạch Lam đã có sự đóng gópđáng kể làm phong phú hơn tư tưởng nhân đạo thời kì này
3 Kết luận
Hai đứa trẻ là một sáng tác độc đáo của Thạch Lam, ông đã gửi gắm trong đó tư tưởngnghệ thuật của mình Đó là tấm lòng yêu thương, trân trọng những con người nhỏ bé, là sựthức tỉnh về cuộc sống buồn tẻ, vô vị đang giết chết con người
- Vào dịp cuối tuần, được đi chơi và về nhà trễ hơn, đi shopping cùng bạn bè
- Tận hưởng cuộc sống mà không phải gánh chịu trách nhiệm gì, những thứ mà cháu biết sau này sẽ có
- Sắp đến tuổi được phép lái xe
- Được tự do trải nghiệm những điều mới lại, nhưng vẫn còn một gia đình tràn đầy yêu thương và an toàn để quay về nếu điều không may xảy ra”.
Trang 16(Adele Faber&Alaine Mazlish: Nói teen, teen nghe - Nghe teen, teen nói”)Nếu được hỏi, em sẽ trả lời câu hỏi đó như thế nào? Bày tỏ ý kiến của em bằng một bàivăn ngắn
Câu 2 (5,0 điểm): Có người cho rằng: Nét độc đáo trong truyện ngắn Chữ người tử tù là:
vẻ đẹp về tài năng và khí phách của Huấn Cao đều được cảm nhận qua con mắt và sự đánhgiá của quản ngục Anh (chị) hãy chứng minh điều đó và cho biết, dụng ý của NguyễnTuân thông qua cách miêu tả đó
ĐÁP ÁN Câu 1:
Học sinh có thể lựa chọn một trong số ý kiến đã nêu hoặc đưa ra ý kiến của riêng mình.Điều quan trọng là diễn giải ý kiến một cách rõ ràng, thể hiện sự chủ động, quan điểmriêng, phù hợp với lứa tuổi và chuẩn mực của cộng đồng
Câu 2:
Gợi ý: đề bài yêu cầu phân tích hình tượng Huấn Cao với hai đặc điểm nổi bật: Tài năng
và khí phách Chú ý nét đặc sắc trong cách kể chuyện của tác giả là vẻ đẹp đó được cảmnhận qua cái nhìn của quản ngục, tạo nên sự tỏa sáng của nhân vật một cách khách quan
1 Mở bài:
- “Vang bóng một thời” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân xuất bản năm 1938
“Chữ người tử tù” nằm trong tập truyện này
- Truyện ngắn đã khắc hoạ được một hình tượng đẹp: Hình tượng Huấn Cao Đặc biệt,chân dung nhân vật ông Huấn lại luôn được đặt trong sự quan sát, đánh giá của viên quảnngục
2 Thân bài:
* Giới thiệu hình tượng Huấn Cao - nhân vật trung tâm của tác phẩm Hình tượng nhânvật này được xây dựng từ nguyên mẫu Cao Bá Quát - một danh sĩ thế kỉ XIX, nổi tiếng vềtài viết chữ đẹp và khí phách lừng lẫy Nguyễn Tuân đã khai thác triệt để đặc điểm này khixây dựng nhân vật Huấn Cao, biến Huấn Cao trở thành một ẩn dụ nghệ thuật, bộc lộ ý đồ
tư tưởng của mình: Sự trân trọng, tôn thờ cái đẹp như một báu vật thiêng liêng vượt lên
Trang 17trên cõi đời phàm tục ở Huấn Cao có sự kết tụ, hoài hoà giữa tài năng, khí phách và thiênlương.
2.1 Huấn Cao là người có tài năng khác thường:
+ Nét tài hoa này trước hết thể hiện ở tài viết chữ đẹp Tuy chưa xuất hiện nhưng tài viếtchữ đẹp của Huấn Cao đã được viên quản ngục và thầy thơ lại nhắc đến với sự ngưỡng
mộ ông là người viết chữ đẹp “nổi tiếng cả tỉnh Sơn Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuônglắm”
+ Tình cảm, thái độ của quản ngục ngay từ khi mới gặp Huấn Cao: thầy quản đã quên đichức trách của một nhà hành pháp để đau đớn, khát khao có được chữ ông Huấn về treo.Thái độ của viên quản ngục tạo ra hai cái khác thường: Tài hoa của Huấn Cao đạt đến mứckhác thường và niềm đam mê cái đẹp của thầy quản cũng đạt tới mức khác thường Cáikhác thường sau tôn cao cái khác thường trước khiến vẻ đẹp của ông Huấn càng trở nênrực rỡ
2.2 Huấn Cao là người có khí phách khác thường Với cảm hứng lãng mạn, Nguyễn Tuân đã tô đậm nhân vật tới mức khác thường và lớn lao.
+ Huấn cao lớn về tầm vóc tư tưởng, ông là người dám từ bỏ công danh để xả thân vìnghĩa lớn, phất cờ dấy binh, chống lại triều đình, trở thành kẻ đại nghịch
+ Huấn Cao lớn lao và bất khuất trong tư thế: bị bắt, bị khép vào tội đại hình nhưng ôngvẫn giữ tư thế đàng hoàng, ung dung đến khinh bạc
+ Sự xuất hiện của Huấn Cao trong nhà ngục tỉnh Sơn: hành động “rỗ gông” cho thấykhí phách phi thường của Huấn Cao, chứng tỏ thái độ coi khinh cường quyền của một conngười tuy bị cầm tù về thể xác nhưng lại hoàn toàn tự do về mặt tinh thần
+ Trước cái uy của Huấn Cao, quản ngục không chỉ kính nể mà còn khiếp hãi Bị HuấnCao xua đuổi, kẻ nắm trong tay quyền lực chốn lao tù chỉ dám khúm núm: “xin lĩnh ý”
Đó cũng là sự khuất phục của quyền lực trước cái đẹp khiến hình tượng Huấn Cao cứ sừngsững suốt cả thiên truyện
2.3 Thiên lương trong sáng của Huấn Cao
+ Bức chân dung ông Huấn chỉ được hoàn thiện khi nhà văn chấp bút đưa ra vẻ đẹp thứba: thiên lương trong sáng tạo thành thế liên hoàn giữa tài hoa - khí phách - thiên lương
Trang 18Huấn Cao còn có một tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, biết quý cái đẹp trong tâm hồn ngườikhác.
+ Cảnh cho chữ: vẻ đẹp của Huấn Cao được khắc hoạ nổi bật nhất, toàn diện nhất, sinhđộng nhất Đây chính là sự thống nhất hài hoà đến cao độ của cái tài và cái tâm, của khíphách anh hùng và thiên lương trong sáng, ở đây nhân vật không còn là một tù nhân nữa
mà là một nghệ sĩ đang sáng tạo ra cái đẹp
+ Kết thúc tác phẩm là lời khuyên của Huấn Cao dành cho quản ngục Trong lời khuyên
ấy ta nhận thấy vẻ đẹp của nhân cách Cái đẹp có thể nảy sinh từ cái chết nhưng cái đẹpkhông bao giờ song hành cùng cái ác Giữ lấy thiên lương cho lành vững cũng chính là giữđược cái thiện ở đời Lời khuyên cùng những hoài bão tung hoành của cả đời Huấn Cao đãcảm hoá được viên quản ngục: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”
* Nhận xét về nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Tuân: Tác giả đã chọn được một chi tiết
nghệ thuật hết sức độc đáo để phô diễn quyền uy của cái đẹp trong việc khuất phục quyềnlực của cái ác, cái xấu
Nguyễn Tuân chọn thời điểm người anh hùng sa cơ để bộc lộ bản lĩnh của mình Đấycũng là chỗ độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Tuân - tước bỏ những thước đobên ngoài để miêu tả người anh hùng với thước đo mới từ bên trong Cái “hùng” của nhânvật được toát lên từ thái độ và con mắt đánh giá của người khác
3 Kết luận:
Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công khi xây dựng một chân dung con người rất mựctài hoa, khí phách và có thiên lương trong sáng như Huấn Cao Nguyễn Tuân chứng minhbằng cách đưa Huấn Cao vào tận ngục tù mà toả sáng Hình ảnh lồng lộng của ông Huấnchính là biểu tượng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, là lời tụng ca bất tận cho cái đẹp vĩnh cửucủa cuộc đời này
ĐỀ SỐ 2
Câu 1 (4,0 điểm): Nếu có một người tư vấn, sẵn sàng lắng nghe anh (chị) chia sẻ, hãy viết
một bức thư cho người tư vấn đó bày tỏ một số vấn đề khiến anh (chị) lo lắng, quan tâm:
về điểm số/về lựa chọn nghề nghiệp tương lai/sự hòa hợp - hợp tác với bạn bè/khác biệtvới số đông/diện mạo bên ngoài
Trang 19Câu 2 (6,0 điểm): Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã thể hiện xung đột giữa nghệ
thuật muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân thể hiện như thế nào? vấn đề có có ýnghĩa với văn học nghệ thuật đương thời và muôn đời như thế nào?
ĐÁP ÁN Câu 1: Hình thức: viết thư
Nội dung: bày tỏ được suy tư, trăn trở của cá nhân trước các vấn đề lựa chọn nghềnghiệp / sự hòa hợp lứa tuổi - những vấn đề của tuổi thanh thiếu niên Từ thực tiễn bảnthân, người viết có thể trình bày quan điểm, tâm sự, cũng có thể đưa ra các câu hỏi, sự lựachọn hay giải pháp của riêng mình và trao đổi xin ý kiến tư vấn
hệ giữa nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh
Phân tích cụ thể
1 Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động và bạo chúa
- Đoạn trích xây dựng mâu thuẫn: Tình huống kịch xảy ra trong hồi V xuất phát từ mâuthuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa cùng các phecánh của chúng
+ Mục đích xây Cửu Trùng Đài nguy nga tráng lệ để ăn chơi hưởng lạc
+ Nguyên liệu và công sức để xây Cửu Trùng Đài, là tiền bạc, của cải mà vua đã ra sứcbắt thuế, tróc thợ từ dân lành, làm cho nhân dân vất vả, đói khát, chết vì bệnh dịch, tai nạn.Tương Dực không phải là một ông vua yêu nước, thương dân Điều này tất yếu dẫn đến
“loạn” và “biến” Kết quả : hôn quân bị giết, hoàng hậu nhảy vào lửa Cửu Trùng Đàihiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê Tương Dực bị đốt thành tro
2 Mâu thuẫn giữa sáng tạo nghệ thuật và đời sống con người
Trang 20Mâu thuẫn chìm sâu dưới bề mặt văn bản và cũng là tư tưởng nghệ thuật của tác giả:Xung đột giữa nghệ thuật muôn đời và đời sống Mâu thuẫn này thể hiện qua cặp nhân vật
Vũ Như Tô và Đan Thiềm
a Nhân vật Vũ Như Tô:
+ Ông là một bậc kiến trúc sư có “tài trời”, người mang một ước nguyện lớn lao: “xâymột lâu đài nguy nga tráng lệ, cùng với vũ trụ trường tồn”, một vị chỉ huy xây dựng quyếtđoán như ông tướng cầm quân: “”kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu”, và “quyết đánh tan hếtnhững kẻ thoái chí”, một tổng công trình và sự sống chết với công trình của mình: khiquân khởi loạn nổi lên tìm bắt chàng, Vũ Như Tô khảng khái nói: “Tôi sống với CửuTrùng Đài, và chết cũng với Cửu Trùng Đài Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước.Hồn tôi để cả đây, thì tôi chạy đi đâu?”
+ Vũ Như Tô coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác và phần hồn của cuộc đời mình (vì đây
là công trình nghệ thuật tô điểm cho vẻ đẹp của đất nước).Vì nó, ồng sẵn sàng chấp nhậnlàm việc cho hôn quân bạo chúa; dù bị thương vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc; trị tội nhữngthự bỏ trốn
+ Ngược lại trong mắt dân chúng, Cửu Trùng Đài lồ hiện thân của sự ăn chơi hưởng lạccủa vua chúa Do đó, cha đẻ của nó - Vũ Như Tô - chính là kẻ thù của chơi xa xỉ, hiện thâncủa tội ác họ cần phải bị trị tội Họ vui mừng khi Cửu Trùng Đài cháy
+ Vũ Như Tô ra pháp trường Khi bị đưa ra pháp trường, Vũ Như Tô vẫn không thể trảlời được câu hỏi: “Ta tội gi?” hay vẫn một câu “Các ngươi không hiểu được ta” Vũ Như
Tô chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ thuần tuý, hết mình phụng sự cái đẹp ôngkhông đứng về phía Lê Tương Dực, nhưng lại muốn mượn uy quyền, tiền bạc của hắn đểthực hiện hoài bão nghệ thuật của mình Nhưng lợi ích nghệ thuật mà Vũ Như Tô theođuổi đã mâu thuẫn với thực tế đời sống của nhân dân
b Nhân vật Đan Thiềm
+ Nàng là một cung nữ nhưng lại có “bệnh” đam mê , trân trọng, nâng niu cái đẹp, cáitài của Vũ Như Tô -một kiến trúc sư biết sáng tạo cái đẹp Vì mê đắm cái tài mà ĐanThiềm không quản ngại những điều thị phi, quên cả nguy hiểm của bản thân để bảo vệ VũNhư Tô Đan Thiềm là một người biết “ biệt nhỡn liên tài”
Trang 21+ Đan Thiềm là người khuyên Vũ Như Tô ở lại để xây Cửu Trùng Đài (ở hồi 1), nhưngkhi có biến lại tìm mọi cách thuyết phục ông trốn đi.
Cả 2 lời khuyên này đều “có ý nghĩa” duy nhất: bảo vệ cái tài, cái đẹp (“khi trước trốn
đi thì ông nguy, bây giờ trốn đi thì ông thoát chết”)
Đan Thiềm là một người không mơ mộng mà tỉnh táo, thức thời, hiểu đời, hiểu người(đây là điểm khác biệt giữa nàng và Vũ Như Tô)
+ Nàng đau đớn khi nghĩ đến sự sống chết của Vũ Như Tô Có đến 20 lần nàng thúcgiục Vũ Như Tô “trốn đi, lánh đi, đi đi, chạy đi” Lời thúc giục vừa van xin, vừa khẩnthiết, quyết liệt: “Ông nghe tôi ! Đợi thời là thượng sách ! Đừng để phí tài trời Trốnđi!” Có đến 4 lần nàng nhắc lại yêu cầu khẩn thiết đó Nàng sẵn sàng lấy tính mạng củamình để đánh đổi sự sống còn của Vũ Như Tô “Đừng giết ông Cả Kẻo tướng quân manghận về muôn đời Tha cho ông Cả Tôi xin chịu chết”
+ Đến khi “có trốn cũng không được nữa”, Đan Thiềm tìm mọi cách van xin tha tội cho
Vũ Như Tô “Ông Cả! Đài lớn tanh tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”
+ Kết thúc lớp kịch thứ VII, chỉ còn tiếng kêu thảng thốt, đau đớn, nghẹn ngào, nức nởcủa Đan Thiềm
+ Những đổ vỡ của một giấc mộng lớn bây giờ thật tan hoang : ông cả, Đài lớn, cái tài,cái đẹp, tất cả đền tan tành trong cơn biến loạn
Mọi cố gắng giữ gìn, bảo vệ không thành Câu nói cuối cùng của Đan Thiềm là lời vĩnhbiệt mãi mãi Cửu Trùng Đài - vĩnh biệt một giấc mộng lớn trong máu và nước mắt
c Bi kịch Vũ Như Tô và quan niệm về nghệ thuật
- Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường Cái chết của ông đã thức tỉnh ý thức củachúng ta về vấn đề muôn thuở : Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống - nghệ thuậtphải vị nhân sinh thì nghệ thuật mới tòn tại và được nhân dân tôn thờ, nâng niu, bảo vệ
- Lời tựa đề của tác phẩm “ cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm” có ýnghĩa nói về mối quan hệ tương giao - đồng cảm của những người cùng yêu quý , trântrọng cái đẹp, cái tài giữa Vũ Như Tô - Đan Thiềm - nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Kết luận:
Trang 22Đặt vào thời điểm năm 1941, khi tác phẩm ra đời, lúc đó đời sống văn nghệ vẫn đangdiễn ra cuộc đấu tranh sôi nổi giữa Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh.Tác phẩm lớn đầu tiên của Nguyễn Huy Tưởng đánh dấu bước nhận thức của ông về nghệthuật Tác phẩm sau Cách mạng còn được sửa chữa nhiều lần, đưa vào nhiều tư tưởng mớicủa ông, nhưng những vấn đề đặt ra từ lần xuất bản đầu tiên vẫn còn nguyên giá trị.
Giới thiệu chung
- Tản Đà là tài năng lớn trong nền thơ ca Việt Nam Khi ông xuất hiện trên văn đàn,cũng là lúc nền văn học cổ điển Việt Nam khép lại và mở ra một thời kì mới Phong cáchthơ Tản Đà vì thế vừa mang tính cổ điển, vừa hiện đại
- Bài thơ “Hầu trời” viết dưới dạng một câu chuyện tưởng tượng, trong đó nhà thơ thểhiện ý thức cá nhân và ý thức về nghề văn một cách sâu sắc
- Phân tích cụ thể
1 Tính chất của thơ cổ điển
- Tản Đà sử dụng thể thơ thất ngôn cổ điển, cách gieo vần chân theo từng khổ
- Sử dụng ngữ liệu cổ: Hằng Nga, Thiên Tào, Ngân Hà, chư tiên, Song Thành, TiểuNgọc gợi không khí du tiên cổ xưa Nhiều từ Hán Việt sử dụng tăng thêm không khítrang trọng, cổ kính
2 Tính chất hiện đại trong bài thơ
- Tiêu biểu nhất là ý thức cá nhân mạnh mẽ của tác giả: Hình bóng tác giả hiển hiện rõnét trong bài thơ Đặc biệt là ý thức về nghề văn: nhận mình là văn sĩ, tự hào về nghề văn