Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này với nhiều biến đổi trên bản đồ hành chính (từ dinh Thái Khang đến dinh Bình Khang, dinh Bình Hòa, trấn Bình Hòa, rồi tỉnh K[r]
Trang 1NINH HÒA TRONG BẢN ĐỒ
VỊ TRÍ HUYỆN NINH HÒA TRONG TỉNH KHÁNH HÒA.
Ninh Hòa là một huyện của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam Huyện lỵ là thị trấn
Ninh Hòa
Vị trí
Ninh Hòa nằm trong tỉnh Khánh Hòa, phía Bắc giáp huyện Vạn Ninh, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp thành phố Nha Trang, huyện Diên Khánh và huyện Khánh Vĩnh, phía Tây giáp tỉnh Đăk Lăk
Diện tích và dân số
Ninh Hòa rộng 1.196,6 km² và có 213,6 nghìn nhân khẩu
Hành chính
Ninh Hòa có 26 xã là Ninh Sơn, Ninh Thượng, Ninh Tây, Ninh Trung, Ninh
An, Ninh Thọ, Ninh Hải,
Ninh Sim, Ninh Xuân,
Ninh Thân, Ninh Bình,
Ninh Quang, Ninh Đa,
Ninh Giang, Ninh Diêm,
Ninh Thủy, Ninh Phú,
Ninh Phước, Ninh Vân,
Ninh Ích, Ninh Lộc, Ninh
Hưng, Ninh Tân, Ninh
Đông, Ninh Phụng, Ninh
Hà và 1 thị trấn là Ninh
Hòa.
Lịch Sử
Ninh Hòa Địa lý
Huyện lỵ Thị trấn Ninh Hòa
Bí thư Huyện ủy :
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở: {{{Fax}}}
Trang 2* Năm 1653, Chúa Nguyễn Phúc Tần đánh vua champa Bà Thấm lập ra phủ Thái Khang Kéo dài đến năm 1690 là 37 năm
* Năm 1690, Chúa Nguyễn Phúc Trăn đổi tên Phủ Thái Khang thành Phủ Bình Khang Kéo dài đến năm 1803 là 113 năm
* Năm 1803, Vua Gia Long đổi Phủ Bình Khang thành Phủ Bình Hòa Kéo dài đến năm 1831 là 28 năm
* Năm 1831, Vua Minh Mạng đổi tên Phủ Bình Hòa thành Phủ Ninh Hòa Kéo dài đến năm 1949 là 118 năm (Đặc biệt, khoảng năm 1930-1931 chính phủ thực dân Pháp đổi phủ Ninh Hòa thành huyện Vạn Ninh, còn huyện Tân Định thì đổi thành phủ Ninh Hòa, theo Nguyễn Đình Tư)
* Năm 1949, phủ Ninh Hòa đổi thành quận Ninh Hòa Kéo dài đến năm 1975 là 26 năm
* Từ năm 1975 đến nay: quận Ninh Hòa đổi thành huyện Ninh Hòa
* Từ khi thành lập 1653 đến năm 1793 là 140 năm, lỵ sở của Khánh Hòa xưa đặt tại Ninh Hòa bên bờ Bắc sông Dinh gần khu vực Cầu Dinh thuộc thôn Vĩnh Phú, huyện Ninh Hòa ngày nay Còn phủ đường của Ninh Hòa xưa từ khi mới thành lập cho đến thời Pháp thuộc khoảng 230 năm đóng tại thôn Phước Đa, huyện Ninh Hòabây giờ, rồi mới dời về địa điểm gần Ngã Ba Bùng Binh Thị trấn Ninh Hòa như ngày nay
* Năm 1793, Nguyễn Ánh xây Thành Diên Khánh, lỵ sở Khánh Hòa xưa được dời vào Thành (156 năm) đến năm 1949 mới dời xuống Nha Trang cho đến bây giờ
Trang 3Ảnh Núi Vọng Phu
Cách nay 351 năm Ninh Hòa Xưa có tên là phủ Thái Khang, gồm 2 huyện Quảng Phước, Tân Định, chạy dài từ Đèo Cả đến phủ Diên Ninh (Diên Khánh)
Bài viết này căn cứ
vào các tài liệu
tham khảo quý giá
có liệt kê ở cuối
bài, người viết xin
mạn phép và chân
thành cám ơn quý
tác giả, cùng các
nhà xuất bản
Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh
Sự tích tôn thần Nguyễn Hữu Cảnh tại đền thờ Châu Phú
Trang 4->
Chúng tôi mạo muội ghi lại đôi dòng lịch sử, chắc chắn còn nhiều thiếu sót nhầm
lẫn, kính mong được sự chỉ giáo của các bậc cao minh và quý đồng hương để sựhiểu biết của chúng ta về Tiền Nhân và Quê Hương mỗi ngày một thêm sáng tỏ, xin
(MỘT BÀI VIẾT KHÁC CÓ LIÊN QUAN XIN ĐƯỢC LƯỢC TRÍCH)
Địa lý tự nhiên hành chính - dân cư tỉnh Khánh Hòa
10:32' 24/02/2005 (GMT+7)
Đất nước – con người Khánh Hòa / Báo điện tử Khánh Hòa
I - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Câu 1: Vị trí địa lý Khánh Hòa nằm trong giới hạn nào?
Khánh Hòa nằm ở vùng duyên hải Nam Trung bộ, trên toạ độ
địa lý từ 108 độ 40 phút 33 giây đến 109 độ 27 phút 55 giây kinh
độ Đông và từ 11 độ 42 phút 50 giây đến 12 độ 52 phút 15 giây
Trang 5160km, từ Tây sang Đông nơi rộng nhất khoảng 60km, nơi hẹp nhất khoảng 1 đến 2km ở phía Bắc và 10 đến 15km ở phía Nam (không kể vị trí địa lý huyện đảo Trường Sa).
Câu 2: Khánh Hòa hiện nay tiếp giáp với những tỉnh nào?
Khánh Hòa hiện nay tiếp giáp với 4 tỉnh Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, phía Đông giáp với biển Đông
Câu 3: Từ Bắc vô Nam, theo Quốc lộ 1 đến TP Nha Trang, sẽ vào địa phận huyện nào của Khánh Hòa trước tiên?
Từ Bắc vô Nam theo Quốc lộ 1 đến TP Nha Trang sẽ vào địa phận huyện Vạn Ninh trước tiên Vạn Ninh là một huyện phía Bắc của Khánh Hòa, cách TP Nha Trang khoảng 60km
Câu 4: Từ Nam ra Bắc, theo Quốc lộ 1 đến TP Nha Trang, sẽ vào địa phận huyện, thị nào của Khánh Hòa trước tiên?
Từ Nam ra Bắc theo Quốc lộ 1 đến TP Nha Trang sẽ vào địa phận thị xã Cam Ranh trước tiên Thị xã Cam Ranh cách TP Nha Trang khoảng 60km về phía Nam
Câu 5: Từ Đắc Lắc, theo Quốc lộ 26 về TP Nha Trang, sẽ đến địa phận huyện nào của Khánh Hòa?
Từ Đắc Lắc theo Quốc lộ 26 về TP Nha Trang sẽ đến địa phận huyện Ninh Hòa của Khánh Hòa Huyện Ninh Hòa cách TP Nha Trang khoảng 30km
Câu 6: Quốc lộ 1 chạy từ Bắc vô Nam, qua địa phận mấy huyện, thị, thành phố của tỉnh Khánh Hòa, là những huyện, thị, thành phố nào?
Quốc lộ 1 chạy từ Bắc vào Nam qua 5 địa phận huyện, thị, thành phố của tỉnh Khánh Hòa Đó là huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, TP Nha Trang, huyện Diên Khánh
và thị xã Cam Ranh
Câu 7: Điểm cực Đông trên đất liền của nước ta nằm ở địa phương nào?
Điểm cực Đông trên đất liền của nước ta nằm ở tỉnh Khánh Hòa, đó là Mũi Đôi bánđảo Hòn Gốm thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh
Báo điện tử Khánh Hòa
Trang 6ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ
Lịch sử Ninh Hòa Xưa gắn liền với lịch sử tỉnh Khánh Hòa
Tỉnh Khánh Hòa là phần đất của nước Tây Đồ Di, nước Tây Đồ Di (Lin Yi) còngọi là Lâm Ấp ra đời khoảng năm 190-192 độc lập hùng cường, trong lúc nước ta(người Tàu đặt tên là Giao Chỉ) còn bị lệ thuộc nhà Hán, về sau nước Lâm Ấp bịChiêm Thành (Champa, Nagara Campa) chiếm mất
Theo "Xứ Trầm Hương", Khánh Hòa là châu Kaut Hara của Chiêm Thành, ngườiTàu gọi là Kautan
Theo "Sài Gòn 300 năm cũ" phần đất Khánh Hòa (Kanthara, Kanthara chứ khôngphải Kaut Hara), Phan Rang (Panduranga) và Bình Thuận được gọi là miền NamChiêm Thành
Sử nhà Minh chép Chiêm Thành có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nước An Namlấy chỉ còn 5 xứ Bang Đô Lang (Phan Đô Lung) đến Chân Lạp mà thôi
Cũng theo Quách Tấn, Cù Huân là tên cổ dùng để gọi Khánh Hòa có lẽ do tiếngKaut Hara đọc trại ra, Nha Trang hiện còn địa danh "cầu Hà Ra, xóm Hà Ra"
Sách "Phủ Biên Tạp Lục" ghi: "Năm 1653 Vua Chiêm là Bà Tấm quấy rối đất Phú
Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần sai 3.000 quân đi đánh ( ) Bà Tấm xin hàng và cắt đất từ sông Phan Rang trở ra đến Phú Yên dâng cho, Chúa Nguyễn đặt làm 2
phủ: phủ Thái Khang và phủ Diên Ninh (Diên Khánh)"
Sách "Việt Nam Sử Lược" chép: "Năm Quý Tỵ (1653) Vua nước Chiêm Thành là Bà
Thấm sang quấy nhiễu ở đất Phú Yên, chúa Hiền là Nguyễn Phúc Tần mới sai
quan cai cơ là Hùng Lộc sang đánh Bà Thấm phải dâng thư xin hàng Chúa
Nguyễn để từ sông Phan Lang trở vào cho vua Chiêm, còn từ sông Phan Lang trở
ra lấy làm Thái Ninh phủ, sau đổi làm phủ Diên Khánh (tức là Khánh Hòa bây
giờ), đặt dinh Thái Khang để Hùng Lộc làm thái thú."
Sách "Sài Gòn 300 năm cũ" ghi: "Năm 1653 đến lượt chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa quân dân vượt đèo vượt núi (Thạch Bi) lấn chiếm lãnh thổ Chiêm Thành đến
tận Phan Rang, đặt dinh Thái Khương với hai phủ Thái Khương (Ninh Hòa) và
Diên Ninh (Diên Khánh)."
Trang 7Sách "Xứ Trầm Hương" viết: "từ sông Phiên Lang trở ra đến Phú Yên thì chiếm
cứ, lập ra hai phủ là Diên Ninh và Thái Khang, và 5 huyện là Phước Điền, Hòa
Châu, Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh, và Tân Định, Quảng Phước thuộc phủ
Thái Khang
Hùng Lộc được bổ làm Thái Thú cai trị hai phủ Dinh đóng tại Thái Khang."
Từ 4 sử liệu trên, chúng ta có thể kết luận rằng năm 1653, cách nay 351 năm,
Vua Chiêm Thành là Bà Thấm sang quấy nhiễu đất Phú Yên, Chúa Hiền NguyễnPhúc Tần sai quan Cai cơ Hùng Lộc dẫn 3.000 quân vượt đèo vượt núi Thạch Bi(đèo Cả) sang đánh, Vua Chiêm đại bại dâng thư xin hàng và cắt châu Kaut Haracủa Chiêm Thành từ sông Phan Rang ra đến Đèo Cả dâng cho, Chúa Nguyễn đặtdinh Thái Khang với 2 phủ, 5 huyện 2 phủ là Thái Khang (Ninh Hòa) và DiênNinh (Diên Khánh) 5 huyện là Phước Điền, Hòa Châu,Vĩnh Xương thuộc phủDiên Ninh; Tân Định, Quảng Phước thuộc phủ Thái Khang Hùng Lộc được cử làmThái Thú cai trị 2 phủ, dinh đóng tại Thái Khang tức Ninh Hòa bây giờ
Huyện Tân Định thuộc địa phận Ninh Hòa, còn huyện Quảng Phước thuộc địa
phận Vạn Ninh bây giờ
Theo tác giả Quách Tấn, từ khi châu Kaut Hara của Chiêm Thành thuộc về ta "cơ quan cai trị đều đóng ở Bình Khang cho đến đời Nhà Nguyễn Trung hưng mới dời
vào Diên Khánh Dinh quan trấn thủ đóng trong vùng Ninh Hòa hiện tại Nhân
sông chảy qua trước dinh, người địa phương mới gọi là sông Dinh cho gọn." Theo tác giả Nguyễn Thặng: "Huyện Ninh Hòa trước kia là huyện Tân Định thuộc phủ Thái Khang có ranh giới từ đèo Rù Rì đến sông Dinh ( ) Dinh Bình Khang có thủ phủ đóng trên bờ Bắc sông Dinh thuộc làng Phước Đa."
Theo tác gả Nguyễn Đình Tư: "Vào khoảng 1930-1931 ( ) chính phủ thực dân
Pháp bèn đổi huyện Tân Định thành phủ Ninh Hòa (tức Ninh Hòa bây giờ), còn
phủ Ninh Hòa cũ thì đổi là huyện Vạn Ninh, tên Tân Định mất hẳn từ đó."
Tác giả Trần Đình Tây trong bài "Hòn Khói Quê Tôi" viết: " Trước năm 1930 Hòn Khói quê tôi là Tổng Hà Ngoại trực thuộc huyện Vạn Ninh ( ) Hòn Khói
cách huyện Vạn Ninh dộ 50 cây số đường biển, cách huyện Ninh Hòa hơn 10 cây
số Thuở ấy, tổ tiên chúng ta di chuyển từ nơi này đến địa phương nọ chỉ có 2
Trang 8phương tiện duy nhất là đi bộ hoặc bằng ghe thuyền Từ Hòn Khói lên Vạn Ninh
(Vạn Giã) đêm nào cũng có " ghe đò" chở khách lên xuống - một đêm đi lên, một đêm đi xuống - ghe đò nằm tại bến Bình Tây kẻ đi người về tấp nập ( ) Từ làng Phú Thọ đi lên Ninh Hòa phải qua Chánh Thanh, sườn núi Hòn Hèo, rồi đến đèo Hà Thanh tức đèo Bánh Ít cho đến đầu làng Phước Đa đều là rừng rậm.
Thuở ấy cọp beo, thú dữ vô số ( ) Hòn Khói cách Ninh Hòa gần hơn đi Vạn Ninh
mà ít ai muốn liên lạc, kể cả quan quân Bởi lý do giao thông trắc trở như thế nên Hòn Khói tức Tổng Hà Ngoại năm xưa trực thuộc huyện Vạn Ninh là vậy."
Ninh Hòa xưa mang tên Thái Khang tới 37 năm mới đổi thành Bình Khang, do
đó theo tôi, tên con sông Dinh không phải đợi tới khi đổi thành Bình Khang mới
"gọi là sông Dinh cho gọn" mà đã có từ khi Ninh Hòa còn mang tên Thái Khang,
và tôi cũng tin 1 số địa danh khác như Núi Ba Non, Hòn Vọng Phu, v.v cũng xuấthiện rất sớm trong khoảng thời gian ấy
Tôi đồng ý với Ông Nguyễn Thặng "dinh Bình Khang có thủ phủ đóng trên bờ
Bắc sông Dinh", nhưng "đóng tại làng Phước Đa" theo tôi không phải là dinh BìnhKhang, dinh Bình Khang đóng tại làng Vĩnh Phú bên bờ tả ngạn tức bờ Bắc sôngDinh gần khu vực cầu Dinh hiện nay Đóng tại làng Phước Đa là phủ đường BìnhKhang (về sau đổi là phủ đường Ninh Hòa), theo xác minh của anh Trần Thế Vinhtuổi trên 60, quê Thuận Lợi, Ninh Hòa cho biết như sau:
"Từ cầu Dinh thuộc Thị trấn Ninh Hòa đi ra hướng Bắc chừng 1 cây số là tới
cống Phước Đa, gần cống có 1 con đường rẽ trái, đi khoảng hai, ba trăm mét sẽ gặp một khu đất cao (thuộc làng Phước Đa), chính nơi đây ngày xưa là Phủ đường của phủ Ninh Hòa, cho nên dân chúng mới gọi con đường này là "đường lên phủ cũ", về sau có lẽ vào thời Pháp, Phủ đường được dời về địa điểm mới gần khu vực Ngã Ba Bùng Binh Thị trấn Ninh Hòa hiện nay".
Tóm lại, Phủ đường Thái Khang là nơi làm việc của quan Tri Phủ phủ Thái
Khang đóng tại làng Phước Đa, xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa Còn dinh TháiKhang là nơi làm việc của quan Thái Thú (khi đổi thành Bình Khang thì gọi làquan Trấn Thủ) cai trị 2 phủ đóng bên bờ tả ngạn tức bờ Bắc sông Dinh gần khu
Trang 9vực cầu Dinh thuộc làng Vĩnh Phú, xã Ninh Hiệp, tức Thị Trấn Ninh Hòa ngàynay
Có nghĩa là sông chảy ngang qua dinh Thái Thú được gọi là sông Dinh, cầu bắtngang qua sông được gọi là cầu Dinh, và chợ bên kia sông được gọi là chợ Dinh
Khoảng năm 1930-1931 huyện Tân Định được đổi thành phủ Ninh Hòa
Theo Ô Nguyễn Thặng, huyện Tân Định có ranh giới từ sông Dinh đến đèo Rù
Rì
Còn tác giả Nguyễn Đình Tư (viết năm 1968) thì cho biết đèo Rọ Tượng là ranh
giới của "hai quận Vĩnh Xương và Ninh Hòa" cùng một ý kiến với Thi sĩ Quách
Tấn
Như vậy, ranh giới của Ninh Hòa xưa ở phía Bắc là Đèo Cả, còn ở phía Nam
thì thay đổi theo thời gian, lúc thì tại đèo Rù Rì, lúc thì tại đèo Rọ Tượng, và hiệnnay là tại cuối thôn Ngọc Diêm xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa giáp ranh với xãVĩnh Lương, huyện Vĩnh Xương
Còn sông Dinh có phải là ranh giới giữa 2 huyện Tân Định (Ninh Hòa) vàQuảng Phước (Vạn Ninh) như tác giả Nguyễn Thặng đã viết hay không? Hay là tạiđèo Bánh Ít hoặc dốc Đá Trắng? Xin thỉnh cầu ý kiến của quý vị trưởng bối
Có 3 tư liệu quý tôi xin ghi ra đây để giúp cho các nhà nghiên cứu:
Hòn Khói trước năm 1930 có tên là Tổng Hà Ngoại trực thuộc huyện QuảngPhước tức huyện Vạn Ninh bây giờ (theo tác giả Trần Bình Tây)
Chuông chùa Thanh Lương thôn Nhĩ Sự , xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa đúc
năm 1763 còn lưu tại chùa, có ghi câu: "Đại Việt quốc, Quảng Nam xứ, Vương
Thái hà, Tân Định huyện , Tổng Trung, Bình An xã, Bình An thôn." Bình An thôn là
thôn Nhĩ Sự bây giờ
Bức Giới Đao Độ Điệp của Bộ Lễ triều Minh Mạng cấp cho Đại Đức Liễu Huệ Thân trụ trì chùa Thiên Bửu Hạ, thuộc thôn Mỹ Hiệp, xã Ninh Hiệp, huyện
Bửu-Ninh Hòa năm 1835 còn lưu tại chùa, có ghi câu: "Khánh Hòa tỉnh, Tăng Lê văn
Tự, pháp danh Liễu Bửu, quán Khánh Hòa tỉnh, Ninh Hòa phủ, Tân Định huyện, Trung Tổng, Toàn Thạnh xã." Toàn Thạnh xã sau đổi thành thôn Mỹ Thạnh, rồi
thôn Mỹ Hiệp tức Thị trấn Ninh Hòa bây giờ
Trang 10Tại sao Dinh Thái Khang không đặt tại Nha Trang hay Diên Khánh mà đặt tại
Ninh Hòa?
Theo tôi, trong binh pháp, việc giữ đất giữ thành khó hơn chiếm đất chiếm thành,kinh nghiệm lịch sử cho thấy trong quá khứ quân Chiêm Thành thường sang quấynhiễu nước ta, thường hay đánh chiếm lại những vùng đất đã mất Thời Chế BồngNga họ đã đánh tới Thăng Long và đốt rụi cả Kinh Thành nhà Trần Do đó, quanThái thú Hùng Lộc vốn là một vị danh tướng văn võ toàn tài và Chúa Hiền là một
vị Chúa thông minh sáng suốt, sau khi chiếm được châu Kaut Hara của ChiêmThành không đặt dinh Thái Khang ở Diên Khánh hay Nha Trang mà đặt dinh ởNinh Hòa nằm bên bờ tả ngạn tức bờ Bắc sông Dinh là có ý lo xa đề phòng trườnghợp quân Chiêm có thể tái chiếm Từ Phan Rang muốn chiếm dinh Thái Khangquân Chiêm phải chiếm phủ Diên Ninh, từ đó tiến ra Thái Khang họ phải vượt qua
ba bốn chục cây số trên con đường độc đạo với 1 địa hình hiểm trở có 2 con sông
và 2 ngọn đèo ngăn chận Do đó đặt dinh Thái Khang ở Ninh Hòa vào thời điểm
đó về mặt phòng thủ an toàn vững chắc hơn đặt ở Nha Trang hay Diên Khánh Còn
về mặt hành chánh, tiếp tế và liên lạc với phủ Chúa ở Phú Xuân cũng thuận lợi dễdàng hơn Riêng về kinh tế thì phủ Thái Khang tương đối cân đối đồng đều hơn vềcông nông lâm ngư nghiệp, có đủ lúa gạo, cá, muối để quân, dân có thể tạm thời
tự túc trong thời gian chờ viện binh
Sau khi đặt dinh chia phủ, cử quan thái thú lập xong bộ máy cai trị, Chúa Hiền
cho tiến hành chính sách di dân đã có 40 năm trước thời Chúa Tiên (1611)
Theo tác giả Nguyễn Xuân Lâm: "Năm 1648, chiến tranh Trịnh Nguyễn xảy ra
quyết liệt, quân Nguyễn bắt được gần 3 vạn tù binh đưa hết vào những vùng đất
từ Quảng Nam đến Phú Yên khai khẩn Cứ 50 người làm 1 ấp được cấp công cụ
và lương thực trong nửa năm đầu Ba năm đầu khỏi nộp thuế Nhờ chính sách di
dân khai hoang tích cực này, Thuận Quảng diện tích canh tác được mở rộng, nhiềulàng xóm mọc lên ngày càng đông."
Sách "Lịch sử Việt Nam Tập I" trang 293 ghi: "Họ Nguyễn đẩy mạnh công
cuộc khai hoang bằng chính sách khẩn hoang lập làng Nông dân di cư và tù
binh là lực lượng chủ yếu Họ được cấp nửa năm lương thực và 1 số nông cụ, rồi
Trang 11chia thành từng đoàn đi khai phá đất hoang lập thành những làng ấp mới Ruộng đất khai khẩn sung vào làm ruộng đất công của làng đặt dưới quyền sở hữu tối cao
Tác giả Nguyễn Thặng cho biết: "Giữa thế kỷ thứ 17, cư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đến Ninh Hòa sinh sống Họ cư trú mở mang trước tiên
ở những vùng đất bằng, trên 2 bờ sông Dinh, ven các trục giao thông, trên cửa
sông, cửa biển, những nơi có điều kiện đi lại, lui về thăm quê cũ thuận tiện Những
xóm làng đầu tiên của Ninh Hòa là những làng xung quanh Ngã Ba sông Dinh, nay là Thị trấn Ninh Hòa và các thôn ở vùng ven."
Qua 3 trích dẫn trên, chúng ta biết đoàn di dân vào 2 phủ Thái Khang và DiênNinh, hầu hết lấy từ vùng Thuận Quảng gồm những người nghèo khổ khôngruộng đất, và những tù nhân tù binh được cho đi khai khẩn đất hoang để lập côngchuộc tội
Tôi tin đợt di dân thời Chúa Tiên vào khai khẩn đất Phú Yên đã mau chóng
thành tựu nhờ chính sách khẩn hoang lập làng rất tích cực của Chúa Nguyễn, cũngnhư Phú Yên là vựa lúa miền Trung có đồng bằng sông Đà Rằng rộng lớn phì nhiêukhác hẳn với vùng Thuận Hóa cằn cỗi đất cày lên sỏi đá, khí hậu khắc nghiệt trờihành cơn lụt mỗi năm Trong vòng 40 năm đủ dài để đời sống cư dân ổn định sungtúc là một hình ảnh đầy sức thuyết phục sau mỗi chuyến họ về thăm cố hương thaycho ngàn câu tâm lý chiến tuyên truyền khiến Chính sách Di dân và Phong tràoNam Tiến của Chúa Nguyễn được thuận lợi
Do đó, sau khi Chúa Hiền phát động chiến dịch di dân vào đất Thái Khang, tôi
tin rằng Tổ tiên chúng ta đã vui vẻ hưởng ứng, hăng hái lên đường với bao niềm tintưởng lạc quan hy vọng trong lòng Tất cả được chia thành nhiều toán, mỗi toán 50người nhận nửa năm lương thực, dụng cụ di chuyển bằng đường bộ, đường biểnvào đất Thái Khang để khẩn hoang lập làng, ruộng đất khẩn được, họ được làm ănmiễn thuế trong 3 năm đầu Những vùng đất ven biển Đại Lãnh, ven cửa Vạn cửaGiã, cửa Hà Liên, cửa sông Dinh, Hòn Khói, ven sông Tu Bông, sông Bình Trung,sông Vạn Giã, sông An Lương, sông Dinh, sông Cầu Lấm, ven Quốc lộ số 1 như
Tu Bông, Vạn Giã, Phước Đa, Vĩnh Phú, Vĩnh Hiệp, Phong Ấp, Thuận Lợi, Thuận
Trang 12Mỹ, Mỹ Trạch, ven Bến Đò như Tân Tế, Phong Phú Có lẽ đó là những địa điểm
mà lưu dân đặt chân tới đầu tiên, nhà cửa được cất lên đầu tiên, làng xã được lập rađầu tiên Từ đó sẽ tỏa rộng ra như "tầm thực" trên những vùng đồng bằng màu mỡĐồng Găng, Đồng Mốc, Đồng Đáy, Đồng Gáo, Đồng Bà Chỉ, Đồng Đụt, Đồng TânPhước, Hội Khánh, Tứ Chánh, Bình Trung, Phú Cang, Quảng Hội, Mỹ Đồng, v.v
ở Vạn Ninh, Đồng Cháy, Đồng Nẩy, Đồng Chuôm, Đồng Lau, Đồng Thân, ĐồngKhách Mười, Đồng Nghi Xuân, Vĩnh Thịnh, Ninh Ích, Quang Đông, Điềm Tịnh,Xuân Hòa, Phú Bình, Phú Hòa, Đại Tập, Đại Mỹ, Hà Thanh, Thanh Châu, TânHưng, Trường Lộc v.v ở Ninh Hòa
Theo "Phủ Biên Tạp Lục" đường sá đi lại lúc bấy giờ chỉ là những con đườngmòn nhỏ hẹp băng qua nhiều truông nhiều đèo rậm rạp hiểm trở Đoạn qua đèo HổDương (Đèo Cả) có nhiều đá đen lởm chởm Đường bộ thì đi bộ, đôi khi đi bằngngựa Còn đường thủy thì đi bằng thuyền buồm, như đoạn từ Hòn Khói đến Hội An(Quảng Nam) trời tốt chỉ đi chừng năm ba ngày
Từ đó, chúng ta có thể hình dung vào thời xa xưa tại phủ Thái Khang khu vực 2
bên Cầu Dinh tấp nập người qua kẻ lại dưới sông ghe thuyền xuôi ngược, trên bờlưu dân gồng gánh, binh lính xa mã rộn ràng bên này sông, dinh Thái Khang cờ
xí tung bay, bên kia sông, chợ Dinh người buôn kẻ bán, và xa hơn, ẩn hiện saunhững bờ tre đám chuối hàng cau là nhà cửa của các tân thôn Vĩnh Phú, MỹHiệp, tức Thị trấn Ninh Hòa bây giờ
VINH HỒ - Ninh Hòa Com
(Orlando, Tháng 6/2004)Tài liệu tham khảo:
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
Lịch Sử Đ.B Ninh Hòa của Nguyễn Thặng
Sài Gòn Ba Trăm Năm Cũ của Nguyên Hương Nguyễn Cúc
Xứ Trầm Hương của Quách Tấn
Non Nước Khánh Hòa của Nguyễn Đình Tư
Trang 13Các Đặc San Khánh Hòa-Nha Trang tại: Orlando, Houston, Nam Cali, Bắc Cali(nhiều số).
Đ I T Ì M D I T Í C H D I N H X Ư A
Nguyễn Man Nhiên
ĐÔI NÉT VỀ TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH Ở KHÁNH HÒA DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN (1653-1801) VÀ TRIỀU NGUYỄN (1802-1945)
Chúa Nguyễn là cách gọi chung dòng họ các nhà cai trị vùng đất phía nam của nước Đại Việt - mà thời bấy giờ gọi là xứ Đàng Trong hay Nam Hà - trong
giai đoạn lịch sử từ giữa thế kỷ XVI (đầu thời Lê trung hưng) cho đến đầu thế kỷ
XIX (khi vua Gia Long lên ngôi) Các chúa Nguyễn là tiền thân của nhà Nguyễn,
triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê và lập ra nhà Mạc Nguyễn Kim (1468-1545), một tướng giỏi của nhà Hậu Lê, vì giúp vua Lê chống lại nhà Mạc nên được phong chức Thái Sư Hưng Quốc Công, thống lãnh toàn bộ quân đội
Về cuối nhà Hậu Lê, các vua Lê bị Trịnh Kiểm chiếm quyền Trịnh Kiểm tự xưng
là "Chúa" (Chúa Trịnh) và trông coi tất cả mọi việc trong triều đình Trịnh Kiểm luôn tìm cách giảm bớt quyền lực của họ Nguyễn Nguyễn Kim có hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, cả hai cũng là tướng giỏi của triều đình và đều được phong chức Quận công Vì người con trai lớn, Nguyễn Uông, bị Trịnh Kiểm giết nên người con trai còn lại là Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng xin vua Lêcho vào cai trị vùng đất Thuận Hóa để xa Chúa Trịnh
Khi mới vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), Nguyễn Hoàng (sử sách thường gọi là
Chúa Tiên) cùng tùy tùng đóng dinh ở xã Ái Tử, huyện Vũ Xương, phủ Triệu
Phong (nay thuộc tỉnh Quảng Trị) Đây là nơi đặt lỵ sở của các cơ quan chính quyền trung ương của xứ Thuận Hóa và cũng là nơi cư ngụ của quan quân chúa Nguyễn cùng gia đình Sau khi được kiêm lãnh xứ Quảng Nam (1570), Nguyễn
Hoàng lập dinh Quảng Nam Danh từ dinh giờ đây không chỉ có nghĩa là chỗ ở của
Trang 14chúa mà còn chỉ một khu vực hành chính Dưới đời Chúa Sãi Nguyễn Phúc
Nguyên (1613-1634) đặt thêm các dinh Quảng Bình, dinh Trấn Biên (sau gọi là dinh Phú Yên), dinh Bố Chính Sau đó, cùng với sự mở rộng lãnh thổ về phía
Nam, các dinh khác cũng lần lượt được thiết lập Đến đời Chúa Võ Nguyễn Phúc
Khoát (1738-1765), lúc này ở phía bắc Chúa Trịnh đã xưng vương nên Nguyễn
Phúc Khoát cũng xưng vương (Võ Vương) vào năm 1744 và xem Đàng Trong như
một nước độc lập, lãnh thổ chia làm 12 dinh và 1 trấn như sau:
- Cựu dinh (ở xã Ái Tử)
- Chánh dinh (nơi đặt phủ chúa ở Phú Xuân)
- Dinh Bố Chính (tục gọi dinh Ngói)
- Dinh Quảng Bình (tục gọi dinh Trạm)
- Dinh Lưu Đồn (tục gọi dinh Mười)
- Dinh Quảng Nam (tục gọi dinh Chiêm)
- Dinh Phú Yên
- Dinh Bình Khang
- Dinh Bình Thuận
- Dinh Trấn Biên (ở Biên Hòa)
- Dinh Phiên Trấn (ở Gia Định)
- Dinh Long Hồ (ở Vĩnh Long)
- Trấn Hà Tiên
Về bộ máy chính quyền ở các địa phương, đứng đầu mỗi dinh có quan Trấn thủ coi việc hành chính lẫn quân sự, phụ tá có các quan Cai bộ, Ký lục; đặt ra 3 ty:
ty Xá xai coi việc từ tụng văn án, ty Tướng thần lại coi việc thu tiền sai dư, thóc tô
và phát lương tháng, ty Lệnh sử coi việc tế tự, lễ tiết Dinh chia ra nhiều phủ, phủ gồm nhiều huyện, huyện gồm nhiều tổng, tổng gồm nhiều xã; các bản, làng ở miền rừng núi hoặc ven sông biển mới khai lập thì đặt làm thuộc, quy tụ các cụm dân cư nhỏ, lẻ như phường, thôn, nậu, man Phủ có tri phủ, huyện có tri huyện đứng đầu, coi việc từ tụng, xã có xã trưởng, tổng có cai tổng, thuộc có cai thuộc… Quân đội
có bộ binh, thủy binh và tượng binh, chia làm các đơn vị như thuyền, đội, cơ, dinh Chỉ huy đội có Cai đội và Đội trưởng, chỉ huy cơ có Chưởng cơ và Cai cơ
Trang 15Chưởng dinh là chức quan cao nhất trong quân đội… Về nhân sự, các đời chúa
Nguyễn thường chỉ dùng người trong họ, trong huyện (Tống Sơn) và xứ Thanh Hoa(nay là tỉnh Thanh Hóa), từ chức Cai cơ, Cai đội cho đến Chưởng dinh, Chưởng cơ nếu không đạt các tiêu chuẩn ấy thì không được sung tuyển
Từ giữa thế kỷ XVII, vùng đất Khánh Hòa ngày nay đã thuộc chủ quyền của
người Việt, dưới sự cai trị của các chúa Nguyễn Năm 1653 (đời Chúa Hiền
Nguyễn Phúc Tần) lập dinh Thái Khang, gồm 2 phủ: Thái Khang (quản 2 huyện: Quảng Phước, Tân Định) và Diên Ninh (quản 3 huyện: Phước Điền, Hoa Châu, Vĩnh Xương), cho Cai cơ Hùng Lộc làm trấn thủ Năm 1690 (đời Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn) đổi tên phủ Thái Khang thành phủ Bình Khang Năm 1742 (đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát) đổi tên phủ Diên Ninh thành phủ Diên
Khánh, lập dinh Bình Khang thống lãnh 2 phủ Bình Khang, Diên Khánh Từ năm
1773 dinh Bình Khang thuộc quyền kiểm soát của nhà Tây Sơn, chính quyền Tây Sơn bỏ dinh, chỉ để phủ, huyện Năm 1793 nhà Nguyễn lấy lại được đất này, lập lạidinh Bình Khang, đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục; lại đắp thành Diên Khánh,
sai đại thần trấn thủ Năm Gia Long thứ 2 (1803) đổi dinh Bình Khang thành dinh Bình Hòa, đổi phủ Bình Khang thành phủ Bình Hòa Năm Gia Long thứ 7 (1808) đổi dinh Bình Hòa thành trấn Bình Hòa Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi phủ Bình Hòa thành phủ Ninh Hòa Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) chia lại tỉnh hạt trên toàn quốc, trấn Bình Hòa đổi thành tỉnh Khánh Hòa, cơ quan đầu tỉnh có 2 ty:
Bố chánh, Án sát đặt dưới quyền Tuần phủ Thuận Khánh; đồng thời trên địa bàn
phủ Diên Khánh sáp nhập huyện Hoa Châu vào huyện Phước Điền
LỴ SỞ CỦA DINH THÁI KHANG (SAU NÀY LÀ DINH BÌNH KHANG, BÌNH HÒA) Ở ĐÂU?
Tài liệu xưa nhất ghi chép về việc này có lẽ là sách Nam triều công nghiệp diễn chí của Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm, soạn năm 1719: “Năm Khánh Đức thứ 5, vua Lê cải niên hiệu là Thịnh Đức nguyên niên (tức 1653 - NVT)) Bấy giờ vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm xâm vào đất Phú Yên Hiền vương
Trang 16(tức Chúa Nguyễn Phúc Tần - NVT) sai Cai cơ là Hùng Lộc đem binh đi đánh, kéo thẳng đến Chiêm Thành, vua Chiêm thua chạy Hùng Lộc tiến đến sông Phan Rang Vua Chiêm dựng biểu xin hàng Ngài bèn lấy đất ở phía đông sông Phan Rang đến sát địa giới Phú Yên, chia làm 2 phủ: Thái Ninh (các sách khác đều chép là Thái Khang - NVT) và Diên Ninh mà đặt làm một dinh Thái Khang, cho Hùng Lộc làm trấn thủ đất ấy”(1)
Theo sách Phủ biên tạp lục (PBTL) của Lê Quý Đôn (viết năm 1776, khi ông giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hóa) thì “huyện Quảng Phước có quan đóng giữ, gọi là dinh Bình Khang, ký lục, tri bạ, cai án mỗi chức một viên,
sở thuộc có ty Xá xai, câu kê 1 người, cai hợp 2 người, thủ hợp 3 người, lại viên
20 người và ty Tướng thần lại số người cũng thế”(2)
Sách Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) của Sử quán triều Nguyễn, quyển XI viết
về tỉnh Khánh Hòa, trong mục Thành trì có đoạn: “Trước kia lị sở của dinh ở địa phận xã Phước Đa huyện Quảng Phước” ”(3); cũng sách này ở mục Cổ tích chép:
“Dinh cũ Bình Hòa: ở xã Phước Đa, huyện Quảng Phước, trước kia có 3 tòa công đường, nay bỏ, nền cũ vẫn còn”(4)
Từ các nguồn sử liệu trên, có thể xác định rằng:
- Dinh Thái Khang (tiền thân của tỉnh Khánh Hòa ngày nay) đã được thành lập vào năm 1653 với tư cách là một đơn vị hành chính của xứ Đàng Trong, với người đứng đầu là quan trấn thủ Hùng Lộc
- Lỵ sở của dinh Thái Khang - sau này đổi tên là dinh Bình Khang (1742), dinh Bình Hòa (1803) - đóng ở xã Phước Đa, huyện Quảng Phước
- Tại lỵ sở này có 3 tòa công đường của các quan trấn thủ, cai bạ, ký lục - là những
cơ quan đầu não về hành chính lẫn quân sự ở địa phương
Vậy xã Phước Đa ở đâu? Theo Địa bạ tỉnh Khánh Hòa [do nhà Nguyễn lập từ
năm Gia Long thứ 10 (1811), có sửa chữa, bổ sung vào các năm Minh Mạng thứ 11
(1830) và Tự Đức thứ 26 (1873)], tên cũ của xã Phước Đa là Phước Toàn phụ lũy
xã, thuộc tổng Trung, huyện Quảng Phước, phủ Bình Hòa (hai chữ “phụ lũy” trong
tên xã góp phần khẳng định đây là nơi đặt lỵ sở dinh trấn thủ, vì thời bấy giờ các làng mạc xung quanh dinh sở hoặc thành trấn đều gọi là phụ lũy) Về địa giới,
Trang 17“đông giáp địa phận thôn Mỹ An Đông (tổng Hạ huyện Tân Định), lấy bờ đê làm giới; tây giáp địa phận xã Quan Đông, lại giáp xã Toàn Thạnh (tổng Trung huyện Tân Định); nam giáp địa phận xã Thanh Châu (tổng Hạ huyện Tân Định); bắc giáp núi (Hòn Dài)”(5) Thôn Mỹ An Đông sau này đổi tên là thôn Mỹ
Lệ thuộc xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa; xã Quan Đông sau là thôn Quang Đông, xã
Ninh Đông, huyện Ninh Hòa; xã Toàn Thạnh sau đổi tên là xã Mỹ Thạnh, rồi thôn
Mỹ Hiệp thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Ninh Hòa, hiện nay thuộc thị trấn Ninh Hòa;
xã Thanh Châu sau là thôn Thanh Châu thuộc xã Ninh Giang, huyện Ninh Hòa Như vậy, vị trí của xã nằm ở giáp giới giữa hai huyện Quảng Phước và Tân Định,
phía tả ngạn (bờ bắc) sông Vĩnh Phú (có tục danh là sông Dinh) Đến khoảng giữa
thế kỷ XIX, xã Phước Toàn đổi tên thành xã Phước Đa Sau năm 1954 phủ Ninh Hòa đổi thành quận Ninh Hòa, và sau tháng 4-1975 đổi thành huyện Ninh Hòa Thời kỳ này xã Phước Đa đổi thành thôn Phước Đa thuộc xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa Khi thành lập thị trấn Ninh Hòa (10-1978), Phước Đa trở thành một thôn thuộc thị trấn
Xã Phước Đa không chỉ từng là nơi đóng dinh quan trấn thủ mà còn là nơi đặt
lỵ sở phủ Ninh Hòa Theo ĐNNTC, nguyên thuở trước lỵ sở của phủ ở xã Phước
Đa, huyện Quảng Phước Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) phủ Bình Hòa đổi thành
phủ Ninh Hòa, dời phủ đường từ xã Phước Đa qua xã Vĩnh Phú (về sau đổi là thôn Vĩnh Phú, xã Ninh Hiệp, huyện Ninh Hòa, hiện nay thuộc thị trấn Ninh Hòa) Tuy nhiên phủ lỵ cũng chỉ đóng ở đây một thời gian rồi sau lại dời về chỗ ban đầu là xã Phước Đa Dưới đời vua Duy Tân (1907-1916) bỏ huyện Quảng Phước giao phủ Ninh Hòa kiêm lý Năm 1931, đổi phủ Ninh Hòa làm huyện Vạn Ninh, cắt 3 tổng của phủ cũ là Phước Khiêm, Phước Hà Ngoại, Phước Hà Nội (trong đó có xã
Phước Đa) nhập vào huyện Tân Định, đổi huyện Tân Định thành phủ Ninh Hòa, lỵ
sở phủ mới dời về xã Mỹ Thạnh, tổng Hiệp Trung, trên nền của huyện đường Tân Định (vốn đã xây dựng tại đây từ năm 1832) Hiện nay di tích lịch sử Phủ
đường Ninh Hòa nằm trong khu vực trụ sở UBND huyện Ninh Hòa, thuộc thôn 2 thị trấn Ninh Hòa
Trang 18Còn “Phủ cũ” ở xã Phước Đa? Từ cầu Dinh ở thị trấn đi ra hướng bắc chừng
một cây số là tới cống Phước Đa, gần cống có một con đường rẽ trái mà bà con địa
phương vẫn quen gọi là “đường lên phủ cũ”, đi khoảng hai, ba trăm mét gặp một
khu đất cao, đây chính là dấu tích của phủ lỵ Ninh Hòa xưa Theo hồi ức của nhữngbậc cao niên ở địa phương, trước 1945 nơi đây vẫn còn thấy lưu lại một ngôi nhà lợp ngói âm dương, rêu phong gần như đổ nát, xây trên một nền cao độ một mét bằng đá vôi Ngôi nhà ấy nằm giữa một khu đất hình chữ nhật rộng độ một mẫu ta, bao quanh bởi hàng rào tre gai, còn sót lại vài cây keo cổ thụ Theo thời gian di tíchtrở thành hoang phế, nay không còn gì
NHỮNG ĐỊA DANH GẮN VỚI TỪ “DINH” Ở NINH HÒA
Thị trấn Ninh Hòa hiện nay vốn là nơi thủ phủ của dinh Thái Khang xưa, vì vậy không có gì lạ khi trên mảnh đất này đến nay vẫn còn bảo lưu nhiều địa danh có
liên quan đến vị trí của dinh trấn một thời như sông Dinh, cầu Dinh, chợ Dinh, cánh đồng Dinh…
- Sông Dinh: tức sông Cái Ninh Hòa, con sông chảy ngang qua huyện Ninh Hòa, là
nguồn nước chính yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân huyện Ninh
Hòa Xưa có tên là sông Vĩnh An, triều Nguyễn đổi là sông Vĩnh Phú (sở dĩ có tên
này vì làng Vĩnh Phú chính là nơi hợp lưu của bốn nguồn nước tạo nên sông) Sách
ĐNNTC chép: “Sông Vĩnh Phú ở cách huyện Tân Định chừng 2 dặm về phía bắc,
trước gọi là sông Vĩnh An, có bốn nguồn: một nguồn từ núi Lam Sơn chảy về phía đông nam 11 dặm đến xã Hương Cam; một nguồn từ trong Động Hương chảy về phía đông nam 5 dặm cũng đến xã Hương Cam, hai dòng hợp lưu với nhau chảy sang phía đông 23 dặm đến thôn Vĩnh Phú; một nguồn từ núi Đá Bàn chảy về phía nam 33 dặm; một nguồn từ núi Đồng Hương chảy về phía nam 22 dặm, đều chảy vào thôn Vĩnh Phú rồi hợp với nhau Bốn dòng họp lại làm sông Vĩnh Phú, sau khi hợp nhau, chảy chừng 4 dặm nữa lại chia làm 2 nhánh: một nhánh chảy về phía đông nam 7 dặm đến sông Hà Liên rồi đổ vào vũng Nha Phu; một nhánh chảy về phía đông bắc chừng 4 dặm qua xã Bình An, lại chảy ngoặt về phía nam chừng 5
Trang 19dặm, cũng đổ vào vũng Nha Phu”(6) Người dân địa phương bao đời nay vẫn quen gọi là sông Dinh, có lẽ vì sông chảy qua địa phận các làng cổ Vĩnh Phú, Mỹ
Thạnh, Phước Đa (nay là thị trấn Ninh Hòa) là nơi xưa kia từng đặt lỵ sở của dinh Thái Khang, Bình Khang, Bình Hòa
- Cầu Dinh: cây cầu huyết mạch bắc ngang sông Dinh, nối liền con đường cái quan xưa Theo ĐNNTC, nguyên thủy là cầu gỗ có tên là Chánh Đô, “ở chỗ giáp giới 2 huyện Quảng Phước và Tân Định, tục danh Cầu Chợ Dinh”(7) Phía bắc cầu thuộc địa phận thôn Vĩnh An (sau này đổi tên là Vĩnh Phú), huyện Quảng Phước, phía nam cầu thuộc địa phận thôn Mỹ Thạnh (sau này đổi là Mỹ Hiệp), huyện Tân Định - cả hai làng này nay đều thuộc thị trấn Ninh Hòa Cầu Dinh gần chợ Dinh
(chợ Ninh Hòa), nên còn gọi là Cầu Chợ Dinh Nơi đây hàng ngày người xe tấp
nập qua lại, đi về khắp nơi hoặc vào chợ Dinh mua sắm, giao thương Cây cầu này từng bị trận bão lụt năm Thìn (1904) cuốn trôi, chỉ còn trơ lại một số trụ gỗ ngả nghiêng, nên có một thời gian đổi làm bến đò Thời Pháp thuộc (khoảng những năm 20 của thế kỷ XX), chính quyền thực dân cho xây dựng lại cầu mới bằng xi-măng cốt thép Đến đầu những năm 70, để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược,
Mỹ đã thay thế cây cầu già nua làm từ thời Pháp này bằng một cây cầu bê-tông hiện đại hơn, vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay
- Chợ Dinh: tức Chợ Dinh Bình Khang ở thế kỷ XVIII theo cách gọi của Lê Quý Đôn trong PBTL, chính là Chợ Mỹ Thạnh ở xã Mỹ Thạnh, huyện Tân Định xưa
(xã Mỹ Thạnh sau đổi tên thành Mỹ Hiệp, nay là một thôn thuộc thị trấn Ninh Hòa,còn chợ Mỹ Thạnh hay chợ Dinh hiện nay là khu Chợ Cũ Ninh Hòa) Vì sao có tên
chợ Dinh? Theo ĐNNTC (đời Tự Đức): “Chợ Mỹ Thạnh ở huyện Tân Định, tục gọi chợ Dinh, vì hồi đầu bản triều ba dinh Trấn thủ, Cai bạ và Ký lục đóng ở đây, nên gọi tên thế”(8) Được lập trên vùng đất lỵ sở của Dinh Thái Khang xưa, sau này là dinh Bình Khang, Bình Hòa, đây là ngôi chợ có quy mô to lớn, hàng hóaphong phú, buôn bán sầm uất nhất thời bấy giờ (theo sự ghi nhận của Lê Quý Đôn,
“chợ Dinh Bình Khang tiền thuế 166 quan 2 tiền”(9), cao nhất so với các chợ khác cùng thời ở địa phương!) Về sau, khi dân cư, phố xá nơi này ngày càng mở
Trang 20mang, đông đúc, người ta xây dựng thêm khu chợ Mới bên cạnh khu chợ Cũ (dân địa phương vẫn gọi cả hai chợ là chợ Dinh) Cũng theo ĐNNTC (đời Duy Tân),
khu chợ mới này “ở xã Mỹ Hiệp huyện Tân Định, xe thuyền tụ tập, buôn bán phồn thịnh, thành nơi đô hội thứ nhất trong tỉnh hạt”(10)
THÀNH DIÊN KHÁNH - TỈNH LỴ KHÁNH HÒA THỜI NGUYỄN
Sách ĐNNTC (đời Tự Đức), khi chép về Thành tỉnh Khánh Hòa có đoạn: “Trước kia lị sở của dinh ở địa phận xã Phước Đa huyện Quảng Phước, sau dời đến chỗ hiện nay, tức là thành Diên Khánh cũ”(11) Thành Diên Khánh được xây dựng vàonăm 1793, ở địa phận 2 xã Phú Mỹ và Trường Thạnh thuộc huyện Phước Điền, phủDiên Khánh (nay là khóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh) Thành đắp bằng đất,
“mở 6 cửa, mỗi cửa đều có lầu (sau này lấp hết 2 cửa); 4 góc thành đều có núi đất Ngoài thành có hào, ngoài hào có xây lũy chắn ngang Các cửa thành đều
có xây cầu đi qua, trước thành sau thành đều có núi sông bảo vệ, thật là một nơi hiểm trở vô cùng”(12) Đến nay chúng ta vẫn chưa biết một cách chính xác các cơ quan đầu não ở địa phương đã được chuyển từ Bình Khang vào Diên Khánh từ lúc nào Nhiều ý kiến cho rằng đó là năm 1793, ngay sau khi Chúa Nguyễn Phúc Ánh xây dựng xong Thành Diên Khánh và giao cho quan đại thần trấn thủ Theo chúng
tôi, thực ra ban đầu Thành Diên Khánh chỉ có chức năng như một căn cứ quân sự,
là nơi tích trữ lương, tiền ở Gia Định, Bình Thuận chở ra để dùng cho quân đội bắc phạt, là một cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng thủ của quân Nguyễn trong cuộc chiến tranh với nhà Tây Sơn Vì vậy, vào năm 1793, cùng với việc triệu tướng
Nguyễn Văn Thành về đóng giữ Diên Khánh, Nguyễn vương đã “đặt quan công đường dinh Bình Khang, lấy quản Hậu thủy dinh là Nguyễn Thoan làm Lưu thủ, Hình bộ tham tri Lê Đăng Khoa làm Cai bạ, Hàn Lâm viện Đặng Hữu Đào làm ký lục” (13) Rõ ràng là vào thời gian này lỵ sở của dinh vẫn ở Bình Khang Phải đến thời kỳ sau khi Gia Long lên ngôi (1802), với việc đổi dinh Bình Hòa thành trấn Bình Hòa (1808) rồi tỉnh Khánh Hòa (1832), đây mới chính là thời điểm chuyển lỵ sở của dinh từ xã Phước Đa huyện Quảng Phước vào Diên Khánh Từ đó
Trang 21Thành Diên Khánh mới có thêm chức năng là một trung tâm chính trị, trở thành lỵ
sở của các cơ quan đầu não của triều Nguyễn ở địa phương, là tỉnh lỵ của tỉnh
Khánh Hòa thời Nguyễn cho đến ngày Cách Mạng tháng 8-1945 thành công Điều này cũng giải thích vì sao trong ĐNNTC (bản hoàn thành năm 1882 đời Tự Đức),
dinh cũ Bình Hòa (ở Quảng Phước) đã được sách ghi nhận như một di tích đã bị
(2) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1977, tr 145
(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập III, Quyển XI: Tỉnh
Khánh Hòa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1971, tr 89
(4) Sách đã dẫn ở mục (3), tr 104
(5) Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Khánh Hòa, NXB TP Hồ
Chí Minh, tr 132
(6) Sách đã dẫn ở mục (3), tr 98
(7) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Quyển 10&11: Tỉnh Phú
Yên Khánh Hòa, Nha Văn Hóa Bộ Quốc gia giáo dục (Sài Gòn cũ), 1964, tr 108(8) Sách đã dẫn ở mục (3), tr 108
Trang 2210:32' 24/02/2005 (GMT+7)
Đất nước – con người Khánh Hòa / Báo điện tử Khánh Hòa
Câu 53: Huyện Ninh Hòa có từ bao giờ?
Vào năm 1653, khi chúa Nguyễn Phúc Tần lập ra dinh Thái Khang, gồm có 2 phủ Diên Ninh và Thái Khang, có 5 huyện thuộc 2 phủ là Phước Điền, Hoa Châu, Vĩnh Xương, Tân Định và Quảng Phước trên vùng đất của Khánh Hòa ngày nay Huyện Tân Định thuộc phủ Thái Khang, chính là tiền thân của huyện Ninh Hòa ngày nay, được hình thành có ranh giới từ đèo Rù Rì đến giữa sông Dinh
Qua bao thăng trầm, đến năm 1930 - 1931, sau khi Quốc lộ 21 hoàn thành, nối liền huyện Tân Định với Tây Nguyên, huyện Tân Định trở nên phồn thịnh, Pháp cắt 7 làng ở phía Nam đèo Rọ Tượng cho huyện Vĩnh Xương và nhập 3 tổng của huyện Quảng Phước vào huyện Tân Định, đổi tên thành phủ Ninh
Hòa, là huyện Ninh Hòa ngày nay, còn phủ Ninh Hòa cũ đổi
thành huyện Vạn Ninh ngày nay
Câu 54: Đơn vị hành chính huyện Ninh Hòa có những thay
đổi như thế nào? Không gian địa lý huyện Ninh Hòa nằm
trong giới hạn nào?
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, năm 1976, huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh hợp nhất thành huyện Khánh Ninh Năm 1979, lại được tách ra và có ranh giới như hiện nay
Hiện nay, phía Bắc huyện Ninh Hòa giáp huyện Vạn Ninh, phía Nam giáp TP Nha Trang, phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc và huyện Sông Hinh (Phú Yên), phía Tây và Tây Nam giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp biển Đông
Câu 55: Huyện Ninh Hòa hiện nay có diện tích bao nhiêu km2? Có bao nhiêu
xã, thị trấn? Đó là những xã, thị trấn nào?
Huyện Ninh Hòa hiện nay có diện tích tự nhiên là 1.196km2 Ninh Hòa hiện có 26
xã và 1 thị trấn Đó là các xã Ninh Quang, Ninh Bình, Ninh Xuân, Ninh Đa, Ninh Diêm, Ninh Hưng, Ninh Hà, Ninh Giang, Ninh Thọ, Ninh Phụng, Ninh Đông, NinhTrung, Ninh Thân, Ninh Phú, Ninh Thủy, Ninh Hải, Ninh Sim, Ninh Sơn, Ninh An,
Trang 23Ninh Ích, Ninh Thượng, Ninh Tây, Ninh Phước, Ninh Vân, Ninh Lộc, Ninh Tân và thị trấn Ninh Hòa.
Báo điện tử Khánh Hòa
Phần 1: Xứ Ninh Núi Non
Xứ Ninh, tức Ninh Hòa xưa có tên là phủ Thái Khang chạy dài từ Ðèo Cả đến
Ngọc Diêm, rộng khoảng 2.051km2 gần bằng phân nửa diện tích tỉnh Khánh Hòa
Tỉnh Khánh Hòa thuộc miền Nam Trung Phần nằm giữa vĩ tuyến 12 và 13, chạy
dọc bờ biển từ Ðèo Cả đến mũi Cà Tiên dài khoảng 120km, phía Ðông giáp biển, phía Tây giáp Ðắc Lắc, Tuyên Ðức, núi rừng chiếm 15/16 diện tích, hình dạng giống như cái bầu rượu, dưới chân núi Ðại Lãnh rộng chưa tới 1km, vùng Ninh Hòa, Diên Khánh, Vĩnh Xương có chỗ rộng tới 5, 6 chục km, vùng Cam Lâm còn chừng 15km
Theo sách Non Nước Khánh Hòa viết năm 1968, diện tích toàn tỉnh là 5.997
km2, bằng 1/60 diện tích toàn quốc, chia ra như sau:
Diện tích xứ Ninh là 2.051 km2 (đã trừ đi 1000 km2 của tỉnh Ðắc Lắc sáp nhập vào quận Khánh Dương, cộng thêm 290 km2 bị cắt giao cho tỉnh Ninh Thuận) Núi Non xứ Ninh trùng điệp có nhiều hoành sơn ăn ra tận biển làm cho xứ Ninh đẹp như một bức tranh sơn thủy:
Trang 24Ðường vô xứ Vạn xứ Ninh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
(……)
VINH HỒ
(Orlando, Tháng 7/2004)Tài liệu tham khảo:
- Non Nước Khánh Hòa, Nguyễn Ðình Tư, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003
- Xứ Trầm Hương, Quách Tấn, Hội Văn Học Nghệ Thuật Khánh Hòa, tái bản lần thứ hai năm 2002
- Các đặc san Khánh Hòa-Nha Trang tại Nam California, Bắc Cali, Texas, Florida (nhiều số)
Phần 2: Xứ Ninh Núi Non
(…)
NÚI VỌNG PHU: cao 2.051m, là ngọn núi chúa, cao nhất tỉnh Khánh Hòa.
Trang 25Quách Tấn gọi hòn Mẫu Tử là "Cảnh lạ trong đời như ngọn Khuông Lư của Thánh Thán"
(………)
VINH HỒ
(Orlando, Tháng 7/2004)Tài liệu tham khảo:
- Non Nước Khánh Hòa, Nguyễn Ðình Tư, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003
- Xứ Trầm Hương, Quách Tấn, Hội Văn Học Nghệ Thuật Khánh Hòa, tái bản lần thứ hai năm 2002
- Các đặc san Khánh Hòa-Nha Trang tại Nam California, Bắc Cali, Texas, Florida (nhiều số)
Phần 3: Xứ Ninh Núi Non
Khi qua khỏi núi Ðá Ðen của Vạn Ninh bước vào địa phận Ninh Hòa, du khách
sẽ nhìn thấy một ngọn núi có hình thù rất dễ thương, đó là Hòn Vung
Trang 26HÒN VUNG cao 326 m, thuộc xã Ninh An, huyện Ninh Hòa, đứng thẳng, dáng
thanh tú, đỉnh nhọn vút lên trời xanh, trông giống như một Nhũ Sơn nhưng lại đặt tên là Hòn Vung, có lẽ vì người đặt tên cho núi muốn có một mối quan hệ tình cảm lứa đôi tốt đẹp nào đó giữa Hòn Vung của Ninh Hòa và Hòn Chảo của Vạn Ninh cách 10 km về hướng Bắc
NÚI PHƯỚC HÀ còn gọi là Hòn Hèo, ở phía Ðông Thị Trấn Ninh Hòa rộng
hàng trăm cây số vuông chạy ra biển theo hướng Ðông Nam, là một bán đảo dài trên vài chục km, rộng cả chục km, nằm trên địa phận 3 xã Ninh Phú, Ninh Diêm, Ninh Phước Biển bao quanh 3 mặt, gồm vịnh Vân Phong, vịnh Nha Phu Phước
Hà Sơn là 1 quần sơn có hình dạng giống như cái đuôi rồng giỡn nước "vĩ long hí thủy", gồm cả chục ngọn liên sơn, cao nhất là Hòn Hèo 819 m, Hòn Tiên Du 777
m, hòn Phủ Mái Nhà 725 m Phía Ðông có Hòn Nhọn, Hòn Răng Cưa cao dưới 500
m Vì Hòn Hèo cao nhất nên quần sơn Phước Hà còn có tên là Hòn Hèo, nơi có nhiều mây bông (hoa đằng) vừa to vừa thẳng dùng làm gậy, hèo rất đẹp: "mây Hòn Hèo"
Sau lưng Hòn Hèo là nhà máy xi măng Hòn Khói thuộc xã Ninh Thủy và nhà máy đóng tàu Huyndai thuộc xã Ninh Phước
Hòn Hèo có suối Hoa Lan, còn gọi là suối Tử Sĩ, thuộc xã Ninh Phú, huyện Ninh
Hòa, muốn lên đó phải mất 2 ngày leo núi Nơi đó, cả một rừng cây mọc trên đá với vô số loài hoa có tên lẫn không tên, nhiều nhất là phong lan Suối Hoa Lan dài khoảng 6 km, được hình thành từ nhiều suối nhỏ, nước trong vắt chảy rầm rì hòa với tiếng chim kêu, phảng phất mùi hương rừng dịu nhẹ, mang một vẻ đẹp hoang
sơ nguyên thủy Chảy qua nhiều ghềnh thác cheo leo, trước khi đổ vào vịnh Nha Phu suối băng qua một vùng đất bằng có diện tích khoảng 20 ha
Từ bến Ðá Chồng sát Quốc lộ 1, thuộc Cát Lợi, huyện Vĩnh Xương, sau 30
phút tàu thủy sẽ cập bến Hòn Hèo, du khách đến suối Hoa Lan Có 1 tảng đá nằm dưới chân suối khắc chữ Chàm ghi sự kiện ngày xưa vua Chàm thường đến đây hành hương Theo bước chân người xưa du khách sẽ gặp những ghềnh đá cheo leo hùng vĩ, và các ngọn thác số 1, số 2 mỗi thác có một dáng vẻ khác nhau Thác số
4 cao nhất khoảng 350 m
Trang 27Dọc theo vịnh Nha Phu bờ đá ngổn ngang chồng chất, vách đá dựng đứng cao
ngất dài đến 3, 4 km Mặt trong của núi càng kỳ dị, hiểm trở, tại Hòn Tiên Du có 1 cái hang rất lớn chứa cả 3, 4 trăm người nằm ở lưng chừng núi, vì trước kia có 1 vị Thiền sư đến ẩn tu nên hang có tên là Chùa Hang Gần Chùa Hang có một địa danhkhá nổi tiếng tên là Ðá Trải, hình chữ nhật dài khoảng 70 m rộng khoảng 50 m nằmlài lài trên triền núi
NÚI HÒN KHÓI: Tại phía Bắc dãy núi Phước Hà trên 1 doi đất chạy dài xuống
vịnh Vân Phong nổi lên 1 ngọn núi nhỏ chỉ cao độ 155 mét, nhưng lại rất nổi tiếng,
đó là núi Hòn Khói, tên chữ là Yên Cang
Dưới chân núi Hòn Khói có đầm Ðông Hải, quanh đầm về phía Ðông và phía Tây
rải rác 1 số gò đống Cả vùng này mang tên là Hòn Khói, người Pháp gọi là Hone
Cohé
Truyền rằng quân Nguyễn Ánh thường đóng ở đây, trên núi có đặt trại canh, hễ
thấy thuyền chiến của quân Tây Sơn xuất hiện thì phải đốt khói lên để làm hiệu nênnúi này được gọi là Hòn Khói
Theo sách Non Nước Khánh Hòa, Hòn Khói tên chữ là Yên Cang tuy không cao nhưng đủ sức ngăn gió, nên vùng này trở thành hải cảng đón tiếp những chiếc tàu
buôn vào lấy muối "Sở dĩ gọi là Hòn Khói, vì xưa kia tại đây là cửa biển quan
trọng, triều đình cho đặt quan trấn phòng ngự, trên đỉnh núi có chất củi khô, khi nào có giặc bể vào cướp bóc, thì quan trấn ra lệnh đốt lửa un khói làm hiệu để gọi quân tiếp viện."
Cũng có thuyết cho rằng vùng núi này xưa kia là núi lửa đã nguội, thỉnh thoảng động đất núi bị rạn nứt, khói trong lòng đất theo kẻ hở bay ra, do đó người ta mới đặt tên cho núi là Hòn Khói
Năm 1825, Yên Cang đổi thành Vân Phong
NÚI Ổ GÀ thuộc xã Ninh Ðông, cách huyện lỵ Ninh Hòa khoảng 3 km nằm dọc
theo đường hỏa xa, xưa núi nổi tiếng nhiều cọp: "Cọp Ổ Gà"
Ðèo Bánh Ít tức là Ðèo Hà Thanh gần núi Ổ Gà, xưa cọp thường ra rình bắt người,
dân địa phương có lập một miếu nhỏ gọi là miếu Ông Hổ
Tại địa phận xã Ninh An có các ngọn như:
Trang 28NÚI ÔNG TÂY, hiện còn 1 lô cốt, dấu tích của đồn bốt thời Tây
Tại làng Phú Văn có 1 cái gò cát rộng tên:
GÒ DINH, trước đây người ta nhặt được một sợi dây neo của thuyền biển nằm trong lòng đất khi đào giếng, nên người trong làng cho rằng vùng này xưa kia là biển, hiện có 1 bàu sen rất lớn nằm bên cạnh
Tại vùng Lòng Hồ Ðá Bàn có:
NÚI ÐÁ BÀN THƯỢNG và NÚI ÐÁ BÀN HẠ: mạch núi tiếp giáp với vùng
rừng núi Ba Non, Vọng Phu, thế núi vô cùng hiểm trở Có một con đường đôc đạo chạy ngoằn ngoèo ăn thông với mật khu Ðá Bàn, một bên là vách núi cao chót vót, một bên là dòng sông Ðá Bàn (sông Lốt) sâu như vực thẳm Con đường này là mồ chôn nhiều giặc Pháp trong những năm kháng chiến chống thực dân xăm lược
NÚI ÐẤT ÐỎ ở phía Tây núi Ổ Gà, núi thấp có nhiều heo rừng: "Heo Ðất Ðỏ" NÚI ÐEO nằm chắn ngang Quốc lộ 21.
Ðèo Núi Ðeo thấp, ngắn, còn gọi là đèo Cạnh băng qua núi này
Từ đèo Núi Ðeo đi dọc theo con mương từ đập Suối Trầu chảy xuống các xã NinhHưng, Ninh Lộc sẽ nhìn thấy những ngọn núi:
HÒN LÁCH
GIỒNG ÐỀN
HÒN LỚN còn gọi là Hòn Bà cao 1356 m, nằm tại phía Tây Nam Thị Trấn Ninh
Hòa, thuộc xã Ninh Hưng đứng song song với Hòn Long theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam Cây cối rậm rạp, có nhiều cây dó cho kỳ nam trầm hương Dân Ninh Hòa cho núi này là núi của Bà Thiên Y A Na, trên núi có lập miếu thờ, dân đi địu tìm trầm trước khi lên đường thường mang lễ vật đến tận Miếu Bà cầu khẩn
Tiếp giáp với Hòn Lớn là những hòn:
Trang 29HÒN LONG hay Hòn Ông, cao 1339 m
HÒN DUNG cao 1290 m
HÒN DÙ (886 m)
HÒN GIỮ hay hòn Dữ cao 674 m
HÒN SẦM nằm cạnh Quốc lộ 1, thuộc xã Ninh Giang
HÒN HOÀI thuộc xã Ninh Hà
Tại xã Ninh Bình có một cái gò mọc toàn cây quít, nên gò được đặt tên là
GÒ QUÍT: Theo Nguyễn Văn Thành, tác giả bài "Trái Quít Ninh Hòa", xôi quít
ăn rất ngon và thơm là món ăn đặc sản của người Ninh Hòa Ðến mùa quít dân Ninh Hòa thường lên Gò Quít hay vô Hòn Sầm để hái trái quít về hấp xôi
HÒN NÚI ÐẤT nằm cạnh Quốc lộ 1, thuộc xã Ninh Hà, Ninh Quang
HÒN XANG nằm cạnh Quốc lộ 1 thuộc xã Ninh Lộc
Truyền rằng thuở tạo Thiên lập Ðịa có một ông Khổng Lồ đào đất vịnh Nha Phu
gánh đổ núi Hòn Bà Một hôm vì gánh 1 gánh đất quá nặng, 1 chân đứng dưới vịnh Nha Phu, 1 chân đặt lên một tảng đá lớn tại Trảng Trung, xã Ninh Lộc, ông cố vận dụng hết sức mạnh để bước lên không ngờ tảng đá bị lún sâu xuống in nguyên bàn chân khổng lồ của ông và làm đổ cả 2 thúng đất xuống cánh đồng tạo thành 2 hòn núi, mà ngày nay có tên là Hòn Sầm và Hòn Núi Ðất nằm cạnh Quốc lộ 1, còn dấu chân bị lún sâu xuống đá tại Trảng Trung có tên là Bàn Chân Ông Khổng Lồ
HÒN GIỐC THƠ cao 423 m, có tên là núi Ðá Vách hay gò Thạch Lũy vì nơi
đây xưa kia quân Chiêm lợi dụng thế núi hiểm trở ăn sát bờ biển mới đắp thành xâylũy rất kiên cố để phòng vệ, hiện nay dấu tích vẫn còn Thành toàn bằng đá xếp có thứ lớp, dưới chân thành có 1 hồ nước trong vắt sâu thăm thẳm, được xếp đá thành
bờ trông rất đẹp Ngày nay trên núi còn đồn bót do quân Pháp xây
Tại núi này có đèo Rọ Tượng dài khoảng 40m, chạy sát biển, 2 bên đèo có miếu cô hồn
(…….)
Nhìn chung, núi non xứ Ninh hoành tráng hiểm trở án ngữ bốn mặt chiếm phần lớn diện tích, có nhiều hoành sơn ăn ra tận biển như những con rồng xanh giỡn nước tạo nhiều cảnh đẹp cho xứ Ninh Ngoài ra, nhờ lòng hồ, ao nước, khe suối
Trang 30nằm trên núi theo thế "long ngọa yểm sơn" nên núi non xứ Ninh tươi tốt quanh năm, nước sông nhờ thế cũng ít cạn vào mùa nắng
Núi rừng xứ Ninh nổi tiếng với các loại gỗ quý Cẩm Lai, Giáng Hương, nhất là Trầm Kỳ lấy từ cây Dó Theo sách Xứ Trầm Hương thì Trầm Kỳ xứ Ninh được liệtvào loại Trầm Kỳ tốt nhất nhì trên thế giới
Vì thế người xứ Ninh luôn yêu quý và tự hào về quê hương của mình:
Xứ Ninh non nước hiền hòa
Người quê Ninh sống thật thà dễ thương
Xứ Ninh quê của trầm hương
Bức tranh thủy mạc vấn vương tình người
Dù cho bão dập sóng dồi
Người quê Ninh vẫn giữ lời nước non
Dù cho đá lỡ non mòn
Tình quê Ninh vẫn sắt son một lòng
Sông Dinh còn chảy còn trong
Vọng Phu còn đứng còn mong người về
Dù cho cách trở sơn khê
Người quê Ninh chẳng quên quê hương mình.
VINH HỒ
(Orlando, Tháng 7/2004)Tài liệu tham khảo:
- Non Nước Khánh Hòa, Nguyễn Ðình Tư, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003
- Xứ Trầm Hương, Quách Tấn, Hội Văn Học Nghệ Thuật Khánh Hòa, tái bản lần thứ hai năm 2002
- Các đặc san Khánh Hòa-Nha Trang tại Nam California, Bắc Cali, Texas, Florida (nhiều số)
Trang 31Theo “Địa lý tự nhiên hành chính - dân cư tỉnh Khánh Hòa”
10:32' 24/02/2005 (GMT+7)
Đất nước – con người Khánh Hòa / Báo điện tử Khánh Hòa
Câu 13: Núi non Khánh Hòa có đặc điểm như thế nào?
Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dải Trường Sơn, lại là phần cuối, phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng, tạo ra nhiều cảnh đẹp và truyền thuyết dân gian rất đáng ghi nhớ
Phía Bắc và Tây Bắc tỉnh có dãy Tam Phong cùng với dãy núi Đại Lãnh làm thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa
Ngoài dãy Tam Phong, vùng này còn có các núi khác có độ cao trên 1.000m như: núi Dốc Mõ, núi Đại Đa Đa, núi Hòn Chảo, Hòn Chát…
Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh về phía Nam thuộc các địa phận Ninh Hòa, Nha Trang, Diên Khánh, Cam Ranh thường có độ cao kém hơn, có nhiều nhánh đâm ra sát biển, tạo nên nhiều cảnh đẹp nổi tiếng, gắn với những huyền thoại dân gian và
di tích lịch sử, cách mạng của địa phương như núi Chúa, Hòn Ngang, Hòn Bà, Hòn
Trang 32Cù Lao, Hòn Chồng, Hòn Vợ, Hòn Dung, Hòn Dữ, núi Đồng Bò, núi Xưởng (đồi Trại Thủy), núi Sinh Trung, núi Chụt
Hai huyện miền núi phía Tây tỉnh là Khánh Sơn, Khánh Vĩnh núi rừng chiếm hầu hết diện tích, có nhiều núi cao hiểm trở, trong đó có các đỉnh núi cao trên 1.000m như: Hòn Giao (2.062m), núi Chư Tông (1.717m), Chư Bon Gier
(1.967m), Chư Bon Giang (1.418m), Hòn Tiêu Quang (1.743m), Hòn Gia Lo
Câu 15: Từ phía Bắc vào Nam, khi đến địa phận tỉnh Khánh Hòa sẽ gặp dãy núi nào đầu tiên?
Từ phía Bắc vào Nam, khi đến địa phận tỉnh Khánh Hòa ta sẽ gặp dãy núi Tam Phong, nằm ở phía Tây núi Đại Lãnh Ở giữa Đại Lãnh và Tam Phong có núi Gian Nan, tục gọi là núi Cục Kịch, trên núi có đèo, thế núi hiểm trở
Dãy Tam Phong có 3 ngọn núi cao Ngọn cao nhất tên là Trấn Sơn, tục gọi là Hòn Giữ (1.264m) Ngọn thứ nhì nằm phía Đông Hòn Giữ tên là Hoành Sơn, tục gọi là Hòn Ngang (1.128m) Ngọn thứ ba nằm phía Nam Hòn Ngang, tên là Hộ Sơn, tục gọi là Hòn Giúp (1.127m)
Câu 16: Dãy núi nào trong tỉnh Khánh Hòa được vịnh Vân Phong và vịnh Nha Phu bao quanh 3 mặt? Dãy núi này còn có những tên gọi gì?
Đó là dãy núi Phước Hà, nằm ở phía Đông thị trấn Ninh Hòa, rộng hàng trăm km2, chạy xiên ra biển theo hướng Đông - Nam tạo thành một bán đảo, nằm trên địa phận 4 xã Ninh Phú, Ninh Diêm, Ninh Thủy và Ninh Phước Dãy núi Phước Hàđược vịnh Vân Phong và vịnh Nha Phu bao quanh 3 mặt Từ trên cao nhìn xuống, hình núi giống như ngón tay cái củ gừng của bàn tay mặt úp sấp
Trang 33Dãy núi Phước Hà có trên 10 ngọn núi, cao nhất là Hòn Hèo (819m) ở giữa, rồi đến hòn Tiên Du (787m) ở phía Tây Nam và hòn Phủ Mái Nhà (725m) ở phía Tây Bắc, còn các hòn khác ở phía Đông như hòn Răng Cưa, hòn Nhọn
Trong dãy Phước Hà Sơn có Hòn Hèo là cao nhất, cho nên người dân địa
phương thường gọi là núi Hòn Hèo Tại Hòn Hèo có cây mây bông, chữ là Hoa Đằng, cây vừa to vừa thẳng Người dân địa phương thường chặt về làm vật dụng, nhất là làm hèo Do đó, người dân thường gọi là Hòn Hèo, khách văn chương thì gọi văn vẻ là Hoa Đằng Sơn
Câu 17: Đặc điểm hình dáng của dãy núi Phước Hà như thế nào?
Hình thế núi Phước Hà rất hiểm trở và có hình dạng kỳ thú Đứng tại Phước Sơn, xã Ninh Đa ngó xuống thì giống hệt mái nhà rêu phong, dáng tuy hiền lành nhưng nghiêm nghị Đứng ngoài Phú Thọ, xã Ninh Diêm ngó vô thì nơi lồi lõm, hốc hác, hình dáng trông rất xấu xí, dữ tợn Đứng tại Ninh Tịnh, xã Ninh Phước trông ngược lên thì thế núi trông rất hiền hòa, quan cảnh thanh u, kỳ bí Đứng ở Lệ Cam, xã Ninh Phú mà nhìn thì phong cảnh thật là tú mỹ Đi dọc theo bờ biển ở Vịnh Nha Phu mà nhìn thì đá núi ngổn ngang, chồng chất, có trăm dạng ngàn hình
Phần 1 : Xứ Ninh Biển, Bờ Biển và Hải Đảo
Trang 34Xứ Ninh tức Ninh Hòa xưa có tên là phủ Thái Khang chạy dài từ Đèo Cả đến
Ngọc Diêm, bao gồm 2 huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa và 1 phần huyện Khánh Dươngngày nay
I BIỂN
Biển Khánh Hòa bắt đầu từ Vũng Rô đến vịnh Cam Ranh dài khoảng 120km
gồm: Vũng Rô và 4 vịnh: Vân Phong, Nha Phu, Cù Huân (từ chân đèo Rù Rì đến chân núi Cầu Hùm), Cam Ranh
Biển Xứ Ninh gồm Vũng Rô và 2 vịnh Vân Phong, Nha Phu Trong các vịnh có vũng và cửa biển
2 VỊNH VÂN PHONG:
Rộng lớn, kín đáo, tiếp giáp với các khu vực quanh biển như:
Suối Bùn, Ninh Thọ, Tiên Mao, Diêm Điền, Ninh Lâm thuộc Tu Bông;
Phú Hội, Quảng Hội, Tân Mỹ, Hiền Lương, Xuân Tự thuộc Vạn Ninh;
Ninh Thọ, Ninh Diêm, Ninh Hải, Ninh Thủy, Ninh Phước, Ninh Vân thuộc Ninh Hòa
Bán đảo Bàn Sơn (còn gọi là bán đảo Hòn Gốm) dài gần 30km từ đèo Cổ Mã chạy
theo hướng Đông Nam là cánh cửa che gió Bấc Bán đảo Phước Hà Sơn dài trên 20km cũng chạy theo hướng trên là cánh cửa che gió Nam Tàu bè gặp bão thường ghé vào vịnh để đụt
Vịnh Vân Phong có 4 vũng:
Vũng Trâu Nằm gần Tu Bông,
Vũng Bến Gội,
Vũng Hòn Khói và
Vũng Cây Bàng ở cuối dãy Phước Hà Sơn
Vịnh Vân Phong có 2 cửa biển:
Cửa Vạn và
Cửa Giã
Cửa Vạn, người Pháp gọi là Port Dayot, ở Đầm Môn dưới chân bán đảo Bàn Sơn,
trước cửa có đảo Hòn Lớn tên chữ là hòn Đại Dư đứng che rất kín đáo để tàu bè
Trang 35vào ẩn núp bão tố Vào ra cửa có 2 lạch nằm giữa Hòn Lớn và Bàn Sơn là lạch Cửa
Bé ở phía Đông và lạch Cửa Lớn (hay lạch Cổ Cò) ở phía Tây
Cửa Giã nằm tại Vạn Giã, nơi sông Hậu chảy ra, thuyền bè buôn bán ra vào tấp
nập, cá tôm từ các vũng đổ dồn về, dân cư đông đúc, góp phần làm cho Vạn Ninh thịnh vượng
Tên Vạn Giã là do tên của 2 cửa biển ghép lại
3 VỊNH NHA PHU (còn gọi là Đầm Nha Phu):
Bề ngang gần 6 km, bề dài vài chục km, chỉ bằng 1 phần tư vịnh Vân Phong, có cửa Hà Liên, tức là cửa sông Dinh, ghe thuyền buôn bán với Ninh Hòa ra vào cửa này Đứng trên đèo Rọ Tượng nhìn về hướng Đông sẽ thấy hầu như trọn vẹn khu vực vịnh chạy dọc theo bán đảo Phước Hà Sơn (dãy núi Hòn Hèo) đến tận Lương Sơn
II BỜ BIỂN
Bờ biển Khánh Hòa hơi cong lưỡi liềm, phần lưỡi đưa ra biển
Sách Non Nước Khánh Hòa viết:
"Trong các tỉnh miền Trung không mấy nơi có được một bờ biển đẹp như bờ
biển Khánh Hòa Cong queo lồi lõm đến non 200 cây số từ Vũng Rô vào đến hải cảng Cam Ranh, bất cứ chỗ nào bờ biển cũng hiến cho du khách những bức tranh thiên nhiên ngắm mãi không chán."
(…….)
VINH HỒ (Orlando, Tháng 8/2004)
Tài liệu tham khảo:
Non Nước Khánh Hòa, Nguyễn Ðình Tư, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003
Xứ Trầm Hương, Quách Tấn, Hội Văn Học Nghệ Thuật Khánh Hòa, tái bản lần thứ hai năm 2002
Các đặc san Khánh Hòa-Nha Trang tại Nam California, Bắc Cali, Texas, Florida (nhiều số)
Trang 36Phần 2 : Xứ Ninh Biển, Bờ Biển và Hải Đảo
Hòn Khói như ngón tay nhô ra hướng Bắc che lấy vũng Hòn Khói, ngoài xa
Hòn Ninh Đảo (tức hòn Lớn) vẫn án ngữ phía Đông, nhờ thế mà tàu thuyền vào vũng được bảo đảm
Hòn Khói như một thị trấn nhỏ ở miền biển cách huyện lỵ Ninh Hòa 16 km đường
bộ, cách Vạn Giã 50 km đường biển Trước 1930 Hòn Khói là Tổng Hà Ngoại trực thuộc huyện Vạn Ninh gồm các làng: Đông Hà (Rớ), Đông Hòa (Xóm Bà Đỏi), Đông Hải (mũi Hòn Khói nằm tại làng này), Đông Cát (Xóm Cát), Bình Tây (Xóm Đò), Thạnh Danh, Phú Thọ và Bá Hà (Cồn Cạn) Từ Hòn Khói đi Vạn Ninh có ghe
đò nằm tại bến đò Bình Tây
(… )
Ngày nay, Hòn Khói thuộc huyện Ninh Hòa gồm 4 xã
Xã Ninh Hải gồm các thôn:
Đông Hà, Đông Hòa, Đông Hải, Đông Cát, Bình Tây
Xã Ninh Diêm gồm các thôn:
Thạnh Danh, Phú Thọ, Chánh Thanh, Chánh Bình
Trang 37Xã Ninh Thủy gồm các thôn:
Bá Hà, Ngân Hà, Thủy Đầm
Xã Ninh Phước gồm các thôn:
Ninh Tịnh, Ninh Yển, Mỹ Giang, Đầm Vân
Dân Hòn Khói đa số làm ruộng muối Dù 3 mặt là biển và sông ngòi nước
mặn, nhưng số người làm nghề đánh cá lại ít hơn Nghề chài lưới ở đây làm chơi ănthiệt Gặp ngày nước cạn xách giỏ dạo quanh mép nước chừng 30 phút là có 1 giỏ đầy cua, ghẹ, tôm sò, hay chèo xuồng ra lạch 2 người lặn chừng 1 giờ là có một rổ
ốc nhảy, ốc ngựa Còn câu cá Suốt thì không cần mồi, cứ cách 1 tấc cột 1 lưỡi câu, một cần câu mười lưỡi thả xuống, mỗi lần giật lên được một vài con, cá bị vướn vào lưỡi câu
Từ trong Cầu Treo dọc theo 2 bên sông Đò mé làng Đông Hải, nằm rải rác những ụ muối trắng tinh, cứ đến Rằm, Mùng Một nước triều lên, người ta đưa ghe vào chở muối ra Dépot bán Muối tại Dépot như một hòn núi muối Dân Hòn Khói nhờ ăn cá tươi, hít thở ngọn gió biển trong lành, đi bộ trên cát và lao động ngoài nắng gió nên đàn ông đàn bà người nào cũng rắn chắc vạm vỡ, có tuổi thọ rất cao Như Bà Cụ Thân Mẫu Anh Đoàn Thảo quê làng Bình Tây vừa tạ thế năm nay thọ
101 tuổi
Thôn Đông Hải thuộc trung tâm Hòn Khói, dân cư đông đúc, nhà ngói san sát Nơi đây, kho muối của chính phủ với những ngọn núi muối cao ngất trời, vì để lâu ngày nên kết lại rắn như đá, muốn lấy phải dùng xà beng Có một con sông cụt như một cái hồ lớn khiến du khách phải băng qua một con đường độc đạo và một cái cầu, hai bên là nước mặn mới tới được Hòn Khói Bên kia sông, trên đỉnh đồi về phía Bắc, một tòa nhà lầu bề thế, kiến trúc tân thời do Pháp xây dựng gọi là
Douanes et Régies de Hone- Coché (Sở Thương Chánh Hòn Khói)
Sau này hoang phế trở thành nơi hò hẹn của những cặp tình nhân, được gọi tên
là Lâu Đài Tình Ái hay Lầu Ông Hoàng Tàu ngoại quốc tới mua muối phải đậu ngoài khơi để các ghe chở muối từ kho ra bốc lên tàu, mỗi lần như thế có hàng trămchiếc ra vào cửa sông tấp nập và tại kho mấy trăm nhân công làm việc cật lực
Trang 38Tác giả Trần Bình Tây viết: "Bờ biển Nha Trang đã đẹp mà bãi biển Dốc Lết còn
Từ đó trở vào Nam bờ biển thường cao, dốc, nhiều nơi ghềnh đá chênh vênh, dưới chân ghềnh có nhiều hang hố, có một số hang hố ăn sâu vào lòng núi làm ngõ
ra vào cho những thạch thất, tức động đá ở bên trong, bởi vì núi Hòn Hèo nằm sát biển
Trang 39Du khách sẽ đi qua đèo Quít, rồi đến suối Vông, suối Chình, suối Tra, qua thôn Ninh Yển đến suối Cái Ngoài biển có các đảo nhỏ như hòn Mỹ Giang, hòn Hỏa, hòn Đỏ, hòn Cứt Chim, hòn Sẹo
Từ suối Cái trở đi, bờ biển hơi bằng phẳng vì cánh đồng thôn Ninh Tịnh nằm sát biển, nơi đây có bãi Cây Bàng, suối Mỏ Cài, suối Ngang Từ đó chân núi Hòn Hèo giáp biển nên bờ biển lại lởm chởm đá có nhiều mũi như mũi Bàn Thang, mũi
Cỏ, mũi Cây Sung, mũi Bãi Chướng, mũi Bắt Tay Mũi Hòn Thị là cùng điểm của dãy Phước Hà Sơn Ngoài biển có các đảo: hòn Chà Là, hòn Hổ, hòn Rồng, hòn Đụng Chóp Vung, hòn Bạc
Không ghé thì lại chạy ngay
Đi hết nửa ngày mũi Cỏ, Cây Sung
Chà Là, Hổ, Đụng Chóp Vung
Kinh ngoài Hòn Bạc kinh trong Ninh Hòa
Đứng tại hòn Bạc thấy Nha Trang, nhưng nếu quay mũi ghe về phía tay phải sẽ
vào vịnh Nha Phu, mặt biển yên tĩnh Giống như bên vịnh Vân Phong, vịnh Nha Phu núi cũng chạy sát biển, bờ biển cao, có nơi thẳng, ít chỗ lồi lõm như bên Vân Phong, nhưng dưới chân ghềnh cũng có nhiều hang hố ăn thông vào các thạch động
ở bên trong núi Hòn Hèo Trong vịnh có nhiều đảo như hòn Thị (lớn nhất), hòn Trồng, hòn Rêu, hòn Nứa, hòn Cóc, hòn Lao
Bờ biển phía Đông vịnh Nha Phu cao nhưng bờ biển phía Tây từ cửa Hà Liên
vào Ngọc Diêm, Rù Rỳ thấp vì núi chạy xa dần biển, tuy nhiên thỉnh thoảng núi độtkhởi chạy thọc ra biển khiến bờ biển vụt chênh vênh làm thay đổi hình thể và sắc thái bờ biển, như hòn Hoài ở Ninh Hà, hòn Giốc Thơ ở Tân Thủy (đèo Rọ Tượng)
Vịnh Nha Phu giáp vũng Lương Sơn thuộc huyện Vĩnh Xương, nếu tiếp tục đi
vòng qua chân núi Hòn Khô đến mũi Khe Gà sẽ gặp bờ biển Đồng Đế với thôn Ba Làng (thành lập năm 1955) thuộc xã Vĩnh Hải Rời Ba Làng đến Hòn Chồng, một thắng cảnh của thành phố biển Nha Trang
Trang 40Phần 3 : Xứ Ninh Biển, Bờ Biển và Hải Đảo
III HẢI ĐẢO
Dọc theo bờ biển Khánh Hòa, có tất cả 71 hòn đảo lớn nhỏ
(… )
Hòn Mỹ Giang ở phía Đông bán đảo Phước Hà Sơn, trước mặt có 2 đảo nhỏ
là hòn Thẹo, hòn Khô, ngoài xa có hòn Đỏ, hòn Cứt Chim, hòn Hỏa, hòn Sẹo Hòn Đỏ (còn gọi là Hòn Hèo) cao 136 m thuộc hải phận Ninh Hòa Trên đảo theo triền núi nghiêng nghiêng xuống mé biển đi về hướng Tây chừng 100 m có một cái hang nhỏ gọi là Hang Lỗ Lườn Gần đó có Miếu Lỗ Lườn là một di tích lâuđời do ngư dân tạo lập để thờ một vị Nữ Thần không rõ danh hiệu
Hòn Chà Là (còn gọi là Trà Là), cao 192 m, bên cạnh có hòn Hổ, hòn Rồng,
là ba hòn đảo yến nằm ngoài khơi, về hướng Đông của xã Ninh Vân, thuộc hải phận Ninh Hòa
Khánh Hòa có 8 hòn đảo yến, riêng hòn Ngoại thu hoạch cao nhất với 6.000 tổ
mỗi mùa, kế đến là hòn Nội (2 hòn này thuộc hải phận Cam Ranh) Các hòn đảo yến có nhiều hang hóc ăn sâu vào lòng núi, hay chạy dài như những hành lang, vách đá bị sóng gió mài cọ lâu ngày trơn láng như gương, chim yến bám vào nhữngnơi cao ráo thoáng mát để làm tổ Tổ yến bám chặt vào vách hang, vòm hang, miệng tổ có 2 chân như 2 cái mấu nhỏ để treo tổ yến lên, ngửa mặt trông lên sẽ thấy từng điểm trăng trắng như sao trên trời trong một đêm sương
Tổ yến nặng từ 8 đến 10 g Tổ có màu sáng đủ 2 chân không dính nhiều lông chim,
tạp chất, gọi là yến quang, hay bạch yến Tổ có màu sẫm hơn chỉ có 1 chân gọi là yến thiên Tổ nhỏ hơn chỉ bằng 2 ngón tay gọi là yến bài Tổ pha nhiều tạp chất gọi
là yến địa Tổ yến hay yến sào, do chất nhựa, dãi trong cổ họng chim khạc ra
Yến ở Khánh Hòa hầu hết là yến tía, yến vàng rất ít Chim yến bắt đầu làm tổ từ
tháng Chạp Â.L nhưng đến cuối tháng Hai Â.L mới làm tổ xong để chuẩn bị đẻ, nhưng người ta sẽ đến lấy tổ trước khi yến đẻ Độ năm hôm sau yến làm lại tổ kháccũng tại chỗ cũ, tổ thứ hai này người ta để yên cho yến đẻ để khỏi bị tuyệt giống,
và khi chim con biết bay, người ta mới đến thu tổ yến Chim yến đẻ trứng sau 25