Để đánh giá sự phát triển của GD người ta chú ý đến chất lượng mũi nhọn, vì vậy việc bồi dưỡng HS giỏi là vấn đề rất cần thiết và được thực hiện ngay ở trong những tiết học đại trà nhằm
Trang 1
LÊ THỊ KHÁNH
VẬN DỤNG DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO TỔ CHỨC LUYỆN TẬP CHỦ ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG (HÌNH HỌC 10 - NÂNG CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2018
Trang 2LÊ THỊ KHÁNH
VẬN DỤNG DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO TỔ CHỨC LUYỆN TẬP CHỦ ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG (HÌNH HỌC 10 - NÂNG CAO)
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRƯƠNG THỊ DUNG
NGHỆ AN - 2018
Trang 3Sau thời một gian học tập miệt mài và nghiên cứu nghiêm túc, em đã hoàn thành được luận văn này Trước tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Cô giáo hướng dẫn khoa học TS.Trương Thị Dung, người
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và truyền đạt nhiều kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình đó
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ngành Toán viện Sư phạm
tự nhiên Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình; Ban Giám hiệu và các đồng nghiệp của Trường THPT Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình; cùng gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, động viên, ủng hộ, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Nghệ An, tháng 7 năm 2018
Tác giả
LÊ THỊ KHÁNH
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU……….1
1 Lí do chọn đề tài ……….1
2 Mục đích nghiên cứu ……… 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……….3
4 Giả thuyết khoa học ……… 3
5 Đối tượng nghiên cứu ……….3
6 Phương pháp nghiên cứu……… 3
7 Cấu trúc luận văn………… ………….……… 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA……… 5
1.1 Dạy học phân hóa ………5
1.1.1 Khái niệm dạy học phân hóa……… 5
1.1.2 Các cơ sở của dạy học phân hóa ……….6
1.2 Tư tưởng chủ đạo về dạy học phân hóa ……… 12
1.3 Dạy học phân hóa nội tại ……… 13
1.3.1 Quan điểm chung của dạy học phân hóa nội tại ……… 13
1.3.2 Những biện pháp dạy học phân hóa nội tại ……… 13
1.3.3 Các yếu tố sử dụng trong lớp học phân hóa nội tại ……… 17
1.4 Tính ưu việt của dạy học phân hóa trong trường phổ thông ……19
1.5 Hình thức luyện tập trong dạy học môn Toán ……… 22
1.6 Một số chuẩn bị của GV và HS cho dạy học phân hóa ………… 23
1.6.1 Nhiệm vụ của thầy trước khi lên lớp ……….23
Trang 51.6.2 Nhiệm vụ của trò trước khi lên lớp ……… 27
1.7 Quy trình tổ chức giờ học theo hình thức dạy học phân hóa ……28
1.7.1 Tổ chức các pha dạy học đồng loạt ……… 28
1.7.2 Điều khiển các pha phân hóa ………29
1.7.3 Giao bài tập phân hóa về nhà ……….30
1.8 Thực trạng dạy học phân hóa môn Toán ở trường THPT ……….30
1.9 Kết luận chương 1……… 35
Chương 2 DẠY HỌC PHÂN HÓA THÔNG QUA LUYỆN TẬP CHỦ ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG (HÌNH HỌC 10 NÂNG CAO) ………36
2.1 Một số định hướng để xây dựng biện pháp ……….36
2.2 Một số tìm hiểu về cấu trúc nội dung sách giáo khoa và mục tiêu của chủ đề: Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng (Hình học 10 - nâng cao) ……….37
2.3 Một số biện pháp tổ chức hoạt động học tập vận dụng dạy học phân hóa vào tổ chức luyện tập chủ đề: Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng (Hình học 10 nâng cao) ……….38
2.3.1 Biện pháp 1: Tạo nhu cầu, hứng thú cho HS khi luyện tập toán 38
2.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập phân hóa phù hợp với mọi đối tượng học sinh ………45
2.3.3 Biện pháp 3: Lồng ghép một cách hợp lý các pha dạy học phân hóa xen lẫn các pha dạy học đồng loạt ………63
2.4 Kết luận chương 2 ……… 75
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ………76
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm ……… 76
Trang 63.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm ………76
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm ……….… 76
3.2 Nội dung và tổ chức thực nghiệm sư phạm ………76
3.2.1 Nội dung thực nghiệm ……… 76
3.2.2 Tổ chức thực nghiệm ………76
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm ……….77
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm ………77
3.3.2 Nhận định đánh giá ……… …78
3.4 Kết luận chung về thực nghiệm ………82
3.5 Kết luận chương 3 ……… 83
KẾT LUẬN CỦA LUẬN VĂN ……….84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 85
PHỤ LỤC ……… 1
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 8Hình:
Hình 1.1 Sơ đồ thể hiện những pha phân hóa trên lớp 144
Hình 2.1 411
Hình 2.2 444
Hình 2.3 Sơ đồ thể hiện Thang mức độ nhận thức của B.S Bloom 466
Hình 2.4 500
Hình 2.5 511
Hình 2.6 512
Hình 2.7 533
Hình 2.8 544
Bảng: Bảng 1.1 Phân loại tư duy của B.S Bloom 177
Bảng 3.1 Kết quả trước khi thực nghiệm 799
Bảng 3.2 Kết quả sau khi thực nghiệm 800
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc phát triển con người và xác định rằng yếu tố con người là nguồn lực quan trọng bậc nhất Trong giai đoạn nước ta đang thực hiện đổi mới thì việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ được coi như “vừa là động lực vừa là mục tiêu” đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội Vì vậy, nền GD phải chịu trách nhiệm tiên phong của sự đổi mới đó và được thể hiện trong nghị quyết Số: 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo” Xét đến cùng, để đổi mới sự nghiệp
GD, ngoài các hoạch định chính sách, chúng ta cần trực tiếp tiến hành theo ba hướng: Đổi mới SGK ở tất cả các cấp học phổ thông, đổi mới việc kiểm tra đánh giá và đổi mới PPDH
Xu hướng đổi mới trong DH hiện nay đó là: lấy HS làm trung tâm, người thầy phải làm thế nào để phát huy tính tích cực chủ động của HS trong quá trình DH, phải coi trọng và đề cao vai trò chủ thể của HS trong quá trình nhận thức Tuy nhiên, phần đông GV đang trực tiếp giảng dạy hiện nay chưa tiến hành việc đổi mới PPDH chỉ dạy theo phương pháp truyền thống, chủ yếu là thuyết trình đàm thoại bản chất là “thầy truyền đạt trò tiếp nhận, ghi nhớ” Số ít GV còn lại đã thực hiện áp dụng phương pháp mới nhưng chưa
có hiệu quả, hay hiệu quả thấp, hay chỉ có tác dụng cho một số ít HS nào đó
mà thôi
Thực tế của việc DH cho chúng ta thấy rằng, trong mỗi đơn vị lớp học,
HS luôn có sự phân tầng do những lý do chủ quan và khách quan Hầu hết các
GV chỉ chú ý quan tâm đến DH đồng loạt, cho số đông Các GV chỉ tập trung đến đối tượng HS trung bình trong lớp, nắm được kiến thức cơ bản trong SGK còn đối tượng HS khá giỏi có năng lực tư duy về toán và HS có lực học
Trang 10yếu kém có nhiều “lỗ hổng” còn chưa được quan tâm, hay quan tâm chưa
thỏa đáng Nói chính xác là giờ dạy chưa thực sự PH để phù hợp cho tất cả các đối tượng HS, tạo điều kiện cho chúng được mở mang kiến thức theo sức học của mình Để đánh giá sự phát triển của GD người ta chú ý đến chất lượng mũi nhọn, vì vậy việc bồi dưỡng HS giỏi là vấn đề rất cần thiết và được thực hiện ngay ở trong những tiết học đại trà nhằm tạo nền móng vững chắc
và phát hiện, bồi dưỡng những tài năng cho đất nước mai sau Trong một tiết học bên cạnh phải đảm bảo cho chất lượng phổ cập, đại trà đồng thời phải chủ động việc phát hiện và bồi dưỡng nâng cao HS có năng khiếu về Toán làm cho đối tượng này có cơ hội được trải nghiệm, nghiên cứu, mở mang và phát triển Tuy nhiên, nhiều GV chưa đầu tư cho đối tượng này bởi họ có tư tưởng
sợ kiến thức nặng, cháy giáo án, ngại nghiên cứu bài soạn… Ngược lại, một
số GV lại chỉ chú ý đến đối tượng HS khá giỏi song thả lỏng đến sự tiếp thu kiến thức của đối tượng trung bình và yếu làm cho các em càng ngày càng cảm thấy mơ màng và có thể nói là càng ngày càng yếu hơn dẫn đến mất gốc, mất luôn lòng tin GV không để ý để giúp đỡ các em lấp “lỗ hổng” về kiến thức và kỹ năng trong giờ học chính khóa Mặt khác, nếu GV giảng dạy
mà quá tập trung nâng đỡ cho HS yếu kém thì sẽ mang đến sự nhàm chán đến khó chịu cho số HS còn lại, đặc biệt là đối tượng HS giỏi Bên cạnh đó, một số PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, giảng giải… còn rất nhiều hạn chế không thể giải quyết được yêu cầu thỏa mãn tất cả mọi đối tượng Điều đó bắt buộc chúng ta phải đổi mới PPDH, cần áp dụng linh hoạt các PPDH tiên tiến, trong đó DHPH là lựa chọn phù hợp với yêu cầu này Nói cách khác, DHPH làm cho người học có được sự phát triển tối đa khả năng của mình, đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu DH
Trong thời điểm thay đổi chương trình SGK và cũng đang bước đầu đổi mới cách kiểm tra đánh giá, việc lựa chọn hình thức DHPH càng thể hiện
Trang 11được ý nghĩa nhằm đảm bảo đạt mục tiêu phát triển nền GD
Xuất phát bởi các lý do trên, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài:
“Vận dụng dạy học phân hóa vào tổ chức luyện tập trong chủ đề: Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” (Hình học 10 nâng cao)
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận về DHPH đề xuất cách tổ chức luyện
tập chủ đề: “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” cho HS nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu của luận văn nhằm trả lời được các câu hỏi như sau:
- DHPH là gì ?
- Các cơ sở của DHPH ?
- Thực hiện DHPH như thế nào ?
- Các ưu điểm của DHPH ?
- Vận dụng DHPH trong khi luyện tập chủ đề: “Phương pháp tọa độ
trong mặt phẳng” (Hình học 10 nâng cao) như thế nào ?
4 Giả thuyết khoa học
Nếu khai thác và vận dụng DHPH một cách hợp lý vào việc tổ chức
luyện tập chủ đề: “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng ” thì sẽ góp phần
phát huy tính tích cực và nâng cao thành tích của HS trong việc học tập môn Toán ở trường THPT
5 Đối tượng nghiên cứu
DHPH thông qua tổ chức luyện tập chủ đề “Phương pháp tọa độ trong
mặt phẳng” (Hình học 10 nâng cao)
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tiến hành đọc, nghiên cứu các tài
liệu viết về lý luận dạy học môn toán, các tài liệu liên quan đến đề tài, tạp chí nghiên cứu giáo dục, SGK, sách tham khảo, rồi thực hiện thao tác tập hợp,
Trang 12phân tích, đánh giá, tổng hợp, sáng tạo
- Phương pháp điều tra - quan sát - tìm hiểu: Tiến hành dự giờ thăm lớp, trao đổi ý kiến với một số đồng nghiệp có kinh nghiệm, có nhiều trải
nghiệm và chuyên môn cao có tâm huyết hơn nữa rất quan tâm đến đề tài
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Quảng Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, để so sánh kết quả, đánh giá sự tiếp thu và tiến bộ của HS trước và sau khi áp
dụng đề tài
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các bảng, hình và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Dạy học phân hóa vào tổ chức luyện tập chủ đề: Phương pháp
tọa độ trong mặt phẳng (Hình học 10 nâng cao) Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA
1.1 Dạy học phân hóa
1.1.1 Khái niệm dạy học phân hóa
Nhà giáo dục người Pháp Louis Legrand đưa ra tên gọi “dạy học phân
hóa” vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX Vào thời điểm đó, các nhà giáo
dục đang cố gắng để khắc phục tình trạng kiểu DH “thông báo đồng loạt” của
các thầy GD cho một lớp đông HS Các GV chỉ quan tâm đến việc hoàn thành các nội dung được quy định trong chương trình và SGK, cố gắng truyền đạt
để HS hiểu và nhớ những kiến thức đó Cách dạy này dẫn đến tình trạng HS học thụ động, ít suy nghĩ hạn chế chất lượng và hiệu quả học tập
Theo L Legrand thì vấn đề quan trọng không phải là kiến thức có sẵn có trong chương trình mà là chính năng lực của từng HS trước khối kiến thức đó quyết định về kết quả học tập của họ Vì vậy, người dạy phải lọc lại và thiết kế chương trình giáo dục thiết thực với những kỹ năng của chủ thể nhận thức
Tiếp bước L.Legrand là bà Carol Ann Tomlinson Nhà nghiên cứu này cho rằng: DHPH là một cách DH mà GV có thể thay đổi hoặc điều chỉnh về chương trình, PPDH để đáp ứng nhu cầu của cá nhân của họ của người học Như vậy, DHPH là một sự cam kết với một triết lý dạy học, khuyến khích HS
“bằng cách gặp chúng ở chính nơi chúng đang có mặt và đưa chúng đến nơi
chúng cần đến”; là chìa khóa đa năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của HS
mà chúng ta phát hiện được trong lớp học hiện nay [12]
Tác giả Tracey Hall cho rằng: DHPH là cách giảng dạy cần phải có tiếp cận đa dạng và thích nghi với sự khác nhau của HS trong lớp học Tức là yêu cầu GV cần phải linh hoạt trong cách tiếp cận của mình đối với việc giảng dạy, tùy thuộc vào đối tượng để đảm bảo đạt mục đích của DHPH là:
Trang 14tối ưu hóa sự trưởng thành, giúp cho từng cá nhân người học thành công trong quá trình học [18]
Theo Đặng Thành Hưng: DHPH tức là quá trình DH có phân biệt giữa những cá nhân người học hay nhóm người học, mà không tiến hành dạy chung chung Đó là phương thức dạy học quan tâm vào sự khác biệt cá nhân
và nhóm người học Sở dĩ có điều đó là vì trên thực tế mỗi người học thực hiện một quá trình học tập không hoàn toàn như nhau quy định bởi nhu cầu, năng lực, hành vi học tập của họ Trong khi đó trách nhiệm của GV thường giảng dạy ở quy mô lớp và nhóm, trên cùng một chương trình học chung Vì thế khi GV vẫn sử dụng chương trình GD chung theo quy định này nhưng khi tiến hành DH lại có sự tôn trọng cá biệt giữa các em HS thì hiệu quả sẽ khả quan hơn Như vậy, DHPH là khái niệm có liên quan đến người dạy, người học và sự đối xử không đều của GV đối với HS trên một ràng buộc về chương trình có sẵn [19]
Theo tác giả Tôn Thân: DHPH là một quan điểm DH đòi các hoạt động
DH cần phải phù hợp với năng lực, sở thích, nhu cầu, các điều kiện học tập của người học dựa trên những khác biệt của họ, nhằm tạo ra hiệu quả học tập tốt nhất Người học được hưởng công bằng trong giáo dục, đảm bảo quyền bình đẳng về cơ hội học tập và đạt được sự phát triển tốt nhất có thể có [29]
Trên cơ sở những định nghĩa của các tác giả khác nhau đó, chúng ta có thể tổng kết như sau:
DHPH là một quan điểm dạy học tập trung vào việc thiết kế giảng dạy
xuất phát từ tình hình thực tế của HS, dựa vào đặc điểm cá nhân, tâm lý, sinh
lý, nhu cầu, động cơ, hứng thú, nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh của mỗi
HS mà tìm các dạy phù hợp
1.1.2 Các cơ sở của dạy học phân hóa
1.1.2.1 Cơ sở triết học
Trang 15Theo luận điểm của các nhà duy vật biện chứng thì con người là một sản phẩm của tự nhiên, vừa là một thực thể của xã hội Xét về mặt tự nhiên, con người cũng được quy ước bởi các yếu tố sinh học, tạo nên bởi các cấu trúc sinh thể đa dạng, giữa các cá thể người có sự không đồng nhất Vì thế, về
tố chất, thể lực, trí tuệ, tính cách của mỗi người là một cái riêng biệt, một thế giới khác biệt nhau, không ai giống ai Mặt khác, xét về mặt xã hội thì con người là đầu nối của các mối quan hệ Các mối quan hệ xã hội vừa phong phú
đa sắc màu mà mỗi cá nhân là chủ thể của chúng Do đó, mỗi người là một cá tính, có một nhân cách, một thế giới tinh thần riêng của mình
Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1848, các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác đã làm rõ luận điểm của mình đó là: “Phát huy cao nhất năng lực của cá
nhân, rằng sự phát triển của từng người là điều kiện cho sự phát triển cho mọi người” Tư tưởng này được phản ánh một cách rõ nét vào giáo dục đào tạo Một nền giáo dục tiên tiến, nhân văn đòi hỏi phải đạt được mục tiêu toàn diện, nội dung phải phù hợp với thực tế, hình thức mềm dẻo và tương thích đối với từng loại đối tượng DHPH đáp ứng được những yêu cầu trên đảm bảo được lợi ích của người học, giúp thành công của mục tiêu của nền giáo dục [15]
1.1.2.2 Cơ sở tâm lý học
Xét về nhân cách con người, căn cứ qua sự bộc lộ của bản thân trong các mối quan hệ, nhà tâm lí học H J Eysenck đã phân loại nhân cách thành hai loại: Kiểu nhân cách hướng nội và kiểu nhân cách hướng ngoại
+ Người có kiểu nhân cách hướng ngoại thường có cách biểu hiện như là: Cởi mở, năng nổ, nhiệt tình, thích hoạt động, thích thiết lập mối quan hệ, hay xúc động, hay rung cảm với những sự gì xảy ra xung quanh, dễ tiếp nhận
và thích nghi với cái mới, hoàn cảnh mới Tuy nhiên, nhược điểm của nhân cách này là không được bền bỉ, sâu sắc
+ Những người có kiểu nhân cách hướng nội thường có cách biểu hiện như là: Hay để suy nghĩ và cảm xúc của mình vào nội tâm, ít thể hiện ra bên
Trang 16ngoài, không hay chủ động giao tiếp, thiên về phân tích tâm trạng, diễn biến đời sống tâm lý ở bên ngoài hời hợt bên trong sâu sắc và khó đoán
Những HS thuộc loại kiểu nhân cách hướng ngoại và hướng nội đều có
sự khác nhau về tốc độ và cường độ phản ứng trước một vấn đề Về xúc cảm, những người hướng ngoại thường hay hào hứng, vui vẻ, hòa đồng, dễ vui, dễ buồn, cảm xúc không ổn định, không bền, không sâu nhưng dễ thiết lập các mối quan hệ với người khác Loại nhân cách hướng nội lại điềm đạm, bình thản, sâu sắc, xúc cảm chậm nhưng cường độ mạnh, sâu, bền, ít giao tiếp, giao tiếp không rộng, thường vụng về ứng phó, khó thích nghi trong hoàn cảnh mới Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập cũng như
sự phát triển nhân cách của các em và trong việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của HS Tuy nhiên, sự phân định hai loại nhân cách như trên mang tính chất tương đối, trong quá trình GD và tự GD, các cá nhân có thể tự điều chỉnh, khắc phục các nhược điểm trong tính cách của mình Đây cũng là trách nhiệm của các nhà GD cần giải quyết khi đối diện với vấn đề này [9]
Xét về sự phát triển trí tuệ, các nhà tâm lý học cũng đi sâu nghiên cứu
và đã thống nhất đưa ra các chỉ số xem xét đánh giá đó là:
Một là, tốc độ định hướng trí tuệ còn gọi sự nhanh trí, thể hiện ở chỗ HS khi các em giải quyết nhiệm vụ học tập như thế nào Lý giải tại sao có em tìm được cách giải quyết nhanh chóng lại có em loay hoay mãi mới tìm ra cách giải
Hai là, tốc độ khái quát hay còn gọi sự hình thành phương pháp chung, được thể hiện bởi tần số luyện tập cần thiết theo cùng một kiểu để hình thành một quy trình hành động Vì điều này mà có HS chỉ cần làm một lần là có kỹ năng, trong khi đó có HS cần nhiều lần hơn
Ba là, tính tối ưu hay còn gọi là tính tiết kiệm của tư duy được thể hiện bởi số lần ít nhiều của mỗi HS trong các lập luận cần và đủ để đi đến kết quả, đáp số, hay nói cách khác số lần thực hiện để đạt được mục đích
Trang 17Bốn là, tính mềm dẻo của trí tuệ, được thể hiện ở sự HS có khả năng giải quyết vấn đề trong điều kiện thay đổi, hay HS có khả năng xác lập sự phụ thuộc từ những kiến thức đã có, hay là HS có khả năng đề cập một hiện tượng theo nhiều quan điểm khác nhau
Năm là, tính phê phán của trí tuệ, được thể hiện HS ở sự chấp nhận một vấn đề một cách có kiểm tra tính đúng đắn, không phải dễ dàng thừa nhận một cách không kiểm chứng, biết chất vấn trước một kết quả nào đó, xu hướng tìm cách thức xử lý khác ưu việt hơn
Sáu là, tính thấm sâu một tài liệu, thể hiện ở chỗ HS có thể phân biệt được cái bản chất, cái chủ yếu, cái tổng thể trong toàn bộ nội dung của tài liệu
- Phong cách học tập tương đối bền vững
- Phong cách học tập có nguồn gốc từ cấu tạo gen, đúc rút từ kinh nghiệm học tập và có ảnh hưởng bởi nền văn hóa - xã hội mà người học sinh sống
- Phong cách học tập có tính sinh học và phát triển nên đôi lúc cùng cách dạy học nhưng chỉ có tác dụng với một số HS mà không phải là toàn bộ
Xét về mặt thông minh, mỗi cá nhân đều có thể có kiểu thông minh khác nhau Các nhà tâm lý đã nghiên cứu và cho rằng có tám loại hình thông minh thường gặp Có người thông minh về ngôn ngữ họ dễ dàng cảm nhận được tốt về phần ngôn ngữ Có người thông minh về mặt giao tiếp, họ dễ dàng làm chủ dẫn dắt trong các pha giao thiệp với người đối diện Lại có
Trang 18người thông minh về âm nhạc còn gọi có khiếu âm nhạc thường đó là nhà văn nghệ sĩ, ca sĩ; hay có người có khiếu về thể thao, vũ công người ta còn gọi
là thông minh về vận động cơ thể Một số người thông minh về mặt nội tâm
có thể phát triển về mặt phân tích nắm bắt tâm lý của người khác, như là những nhà tâm lý học, phân tích tâm lý tội phạm Có nhiều người lại thông minh về tự nhiên; về logic và Toán học; về không gian có thiên hướng về sở thích khám phá về mặt tự nhiên, về tính toán, nghiên cứu, xây dựng, kiến trúc Như vậy, với cách nhìn nhận về sự thông minh của thuyết Đa thông minh như trên thể hiện một cách nhìn rất nhân văn Nó có sức kêu gọi và giúp mọi người có nhìn nhận, đánh giá người khác một cách tôn trọng hơn Nên xém xét người khác ở nhiều khía cạnh và biết công nhận sự thông minh của người ta Tất cả chúng ta mà hơn ai hết là người GV cần nhận thức rằng mỗi loại thông minh đều quan trọng và đều có khả năng phát triển của riêng mình Vai trò của người GV là khơi dậy, tạo điều kiện cho các HS của mình thể hiện được các tiềm năng đó
1.1.2.3 Cơ sở giáo dục học
Xét về chức năng của GD, một trong những chức năng đó là chức năng phát triển GD nhằm mục đích giúp mỗi cá nhân phát triển, từ đó thúc đẩy phát triển của xã hội Mà người học chỉ có thể được quan tâm phát triển toàn diện, tối đa khi có nền GD và hệ thống giáo dục tiên tiến, nhân văn đáp ứng được mọi nhu cầu của họ Do đó, HS cần được trải qua hoạt động học tập bằng một nội dung chương trình và cách thức phù hợp với khả năng, năng lực sẵn có Khi đó, sản phẩm của quá trình GD là những con người được đào tạo định hướng PH, được phát triển tối đa, phát huy được thế mạnh của mình Và như thế, xã hội được cung ứng nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu phân công lao động xã hội và xu hướng phát triển của từng loại ngành nghề Nói cách khác, giáo dục cung cấp cho xã hội một nhân lực đầy đủ yêu cầu cho sự
Trang 19nghiệp phát triển của đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ mục tiêu của GD: Lý luận GD học đã chỉ ra rằng tính phù hợp đối tượng là một nguyên tắc hàng đầu, bất biến ở xã hội nào trong các hoạt động DH và GD Đó là nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng về DHPH: DH phải đảm bảo tính vừa sức chung và vừa sức riêng trong quá trình GD [15]
Xét về góc độ của người học, khi phân tích, các nhà nghiên cứu đã đưa
ra các khẳng định:
- Không có hai HS bất kỳ nào có một tốc độ tiến bộ
- Không có hai HS bất kỳ nào cùng bắt nhịp học cùng một lúc
- Không có hai HS bất kỳ nào sử dụng những kỹ thuật giống nhau
- Không có hai HS bất kỳ nào giải quyết vấn đề một cách giống nhau
- Không có hai HS bất kỳ nào có chung một trình tự hành vi
- Không có hai HS bất kỳ nào có chung một hứng thú
- Không có hai HS bất kỳ nào đều có cùng động cơ thúc đẩy đạt đến mục đích chung [23]
Tóm lại: Mỗi HS đều trải quá trình học khác nhau bởi vì họ là những con người khác nhau Do đó, quá trình học tập đích thực chỉ có thể tiến hành với những người học cụ thể, tức là tiến hành trên những nhân tố PH cá nhân,
mà thời điểm HS bộc lộ rõ nét sự khác biệt nhất chính là giai đoạn THPT Khi giảng dạy, nếu biết tôn trọng sự khác biệt và thực hiện khéo léo DH thì có thể nâng cao về năng lực tiếp thu và tăng khả năng vận dụng linh hoạt tri thức mới HS cảm nhận được sự quan tâm và tôn trọng cái riêng sẽ có biến đổi về suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm, niềm tin Dẫn đến sự chuyển hóa từ tư tưởng đến hành động, hình thành động cơ học tập, tạo động lực thúc đẩy bên trong, khuyến khích việc học tập của HS Như vậy, DHPH cũng được xem là DH tôn trọng, quan tâm đến sự khác biệt của HS, yêu mến và tin tưởng HS trong
Trang 20quá trình dạy và học
1.2 Tư tưởng chủ đạo về dạy học phân hóa
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim thì: DHPH xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và PH, vừa thỏa mãn yêu cầu đảm bảo khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu các khả năng của người học vừa thực hiện tốt tất cả mục đích DH
Việc DHPH tức là kết hợp giữa GD diện đại trà với GD diện mũi nhọn, giữa phổ cập với nâng cao Trong DHPH ở trường phổ thông nói chung và bộ môn Toán nói riêng cần được tiến hành theo những tư tưởng định hướng sau:
Thứ nhất, GV cần phải lấy nhận thức chung của HS trong lớp làm trung tâm Tức là GV phải xác định được trình độ và điều kiện chung làm để làm trung tâm cho các nhánh phát triển Nội dung bài học và PPDH cần phải phải thiết thực với trình độ và điều kiện đó Vì vậy, GV phải lựa chọn những phương án phù hợp, tương ứng với nó
Thứ hai, GV phải sử dụng DHPH đưa diện HS yếu kém lên trình độ trung bình Đây là nhiệm vụ quan trọng và phải đạt được của mỗi GV khi DHPH Đó là, phải làm cho những HS yếu kém từ chỗ có nhiều thiếu sót trong kiến thức, vụng về trong kỹ năng đến khi chúng đạt được những tiền đề
cơ bản để chúng hòa nhập vào học tập đồng loạt theo tiến trình chung
Thứ ba, GV chỉ bổ sung nội dung và nâng cao yêu cầu khi HS đã đạt được yêu cầu trước đó Điều này, sẽ giúp cho các HS có nền móng thật vững chắc trước các tầng kiến thức cao hơn Đặc biệt đối tượng HS khá giỏi GV cần quan tâm hơn trong việc này để các em không được chủ quan trong học tập
Các nhà nghiên cứu chia việc thực hiện DHPH theo hai hướng:
- PH nội tại, tức là dùng các biện pháp PH thích hợp trong một lớp học thống nhất với cùng một kế hoạch học tập cùng một chương trình và SGK
- PH về tổ chức (còn gọi PH ngoài), tức là sự tổ chức dạy học cho những
Trang 21nhóm HS, lớp chuyên… có chương trình giáo dục khác nhau, giáo án riêng…
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về DHPH nội tại [22]
1.3 Dạy học phân hóa nội tại
1.3.1 Quan điểm chung của dạy học phân hóa nội tại
Mục tiêu của GD là đào tạo nguồn lực có trình độ phục vụ cho xã hội Nhân lực ấy chắc chắn có những sự giống nhau nhất định, ngoài ra cũng cần đến sự khác biệt nào đó Sự giống nhau cần kể đến đó những đặc điểm cơ bản của người lao động, lại vừa có sự khác nhau về trình độ nhận thức, tài năng… Tương tự thế, trong một lớp học không thể tất cả HS đều giống nhau mà còn có
sự khác nhau Vì sự giống nhau thế nên chúng cùng học trong một lớp thống nhất, và cũng chính vì sự khác nhau như trình độ nhận thức, giới tính, điều kiện sống, sở thích… của mỗi HS nên người GV mới dùng các biện pháp PH nội tại trong quá trình DH Vì vậy, GV phải có tầm cao của sự hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt cần nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức, điều kiện phát triển của từng em để có thực hiện tốt đảm bảo hiệu quả của DHPH
Cần xác định rằng, DHPH nên được xây dựng có kế hoạch cụ thể, có mục đích rõ ràng, có hệ thống và thực hiện thường xuyên, đều tay và lâu dài
1.3.2 Những biện pháp dạy học phân hóa nội tại
1.3.2.1 Đối xử cá biệt ngay những pha dạy học đồng loạt
Việc DH trên lớp chủ yếu là các pha DH đồng loạt, được chi phối bởi
tư tưởng chỉ đạo là dựa trên nền tảng chung của HS Thông thường, trong lớp học có sự PH HS thành ba loại: nhóm HS khá giỏi, nhóm HS trung bình và nhóm HS yếu kém Vì vậy khi thiết kế bài dạy, GV nên chú tâm vào việc lựa chọn các tình huống, đôi lúc gài các tình huống phù hợp cho từng đối tượng
đó Cụ thể, GV cần lấy đối tượng HS có học lực làm trung tâm cho các pha
Trang 22DH Ngoài ra GV cần giao cho các em có năng lực khá giỏi những nhiệm vụ nâng cao có tính tìm tòi, phát hiện Riêng những đối tượng HS yếu kém thì cần có sự kèm cặp chỉ bảo kịp thời, đặt các câu hỏi có độ tư duy không cao, hoặc câu hỏi có sự gợi ý hoặc chẻ nhỏ câu hỏi ra Để làm được điều này, ngay trong những pha trên lớp, thông qua quan sát, vấn đáp và kiểm tra, người GV phát hiện được tình trạng lĩnh hội và trình độ phát triển từ đó phân loại được các đối tượng HS Cũng qua đó, GV có biện pháp PH việc giúp đỡ, kiểm tra
và đánh giá HS trong suốt quá trình hoạt động diễn ra trên lớp [22]
1.3.2.2 Tổ chức những pha phân hóa ngay trên lớp
Có những thời điểm, GV cần phải có tác động PH bởi pha ngay trên lớp học Ở những pha này, GV giao cho HS những nhiệm vụ PH, điều khiển quá trình đó nhằm tạo điều kiện tương tác giữa các HS Điều này được thể hiện bởi sơ đồ của tác giả Nguyễn Bá Kim như sau:
GV ra câu hỏi
và bài tập phân hóa:
Tác động qua lại giữa các HS:
- Số lượng phân bậc
- Học theo cặp
- Theo nhóm
Hình 1.1 Sơ đồ thể hiện những pha phân hóa trên lớp
Từ sơ đồ trên ta thấy được việc GV ra câu hỏi và bài tập PH là nhằm cho các đối tượng HS đều có cơ hội trải nghiệm, thử sức của chính mình Các
HS tiến hành các hoạt động khác nhau để chinh phục kiến thức mà GV đã cài đặt trong đó Câu hỏi và bài tập PH là nhằm mục để cho các đối tượng HS
Hoạt động của HS
GV điều khiển phân hóa
GV phân hóa mức độ HS độc lập hoạt động dưới sự quan tâm cá biệt.
Trang 23khác nhau có thể tiến hành các hoạt động khác nhau với trình độ tương xứng với họ GV dành cho HS yếu kém, trung bình những câu hỏi dễ, hoặc chia nhỏ chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để tìm được câu trả lời, ngoài ra nên đặt những câu hỏi đòi hỏi nhiều tư duy, đào sâu, hay mở rộng cho những em có năng lực học tốt Toán Như vậy, các em cảm thấy mình có được quan tâm thỏa đáng từ
GV và có ý thức cùng tham gia các hoạt động học tập ở trên lớp
Đối với bài tập, GV thực hiện PH về yêu cầu nội dung bằng cách sử dụng cách phân bậc Những bài tập có bậc hoạt động cao hơn được giao cho
HS khá giỏi, những bài tập có bậc thấp hơn thì giao cho đối tượng HS khác Hoặc ngay trong cùng một bài tập, GV có thể tiến hành PH được nếu bài tập
đó đảm bảo yêu cầu hoạt động cho cả ba nhóm đối tượng HS là: bồi đắp lỗ hổng cho HS yếu kém, cung cấp kiến thức, kỹ năng chuẩn cho HS trung bình
và nâng cao kiến thức cho HS khá giỏi Để có được những bài tập đảm bảo yêu cầu trên, GV phải nắm chắc kiến thức trọng tâm của từng bài và cần có nhiều đầu tư trong việc nghiên cứu cho bài giảng
GV có thể PH việc ra bài tập về mặt số lượng Để có thể truyền tải một nội dung kiến thức cũng như rèn một kỹ năng kỹ xảo nào đó, GV cần phải xác định được rằng số lượng bài tập cho các đối đượng cần có sự khác nhau Số
HS yếu kém cần thiết kiểu bài tập cùng dạng hơn số HS khác Những đối tượng HS khác sẽ nhận được những bài tập khác để đào sâu hơn GV điều khiển sự PH bằng cách định ra yêu cầu khác nhau về mức độ yêu cầu, mức độ hoạt động độc lập của HS GV có sự hướng dẫn nhiều hơn cho đối tượng này,
có sự gợi ý hoặc chỉ theo dõi với nhóm HS khác tùy vào đối tượng kia Chính nhờ sự PH này mà GV có thể nắm rõ tình hình học tập của từng HS, thấy được sự tiến bộ hay thụt lùi để xem xét lại cách dạy của mình và điều chỉnh cho tương hợp Song song với quá trình đó, GV cần quan tâm cá biệt, động viên những HS thiếu tự tin, định hướng kịp thời những em có nhịp độ nhận
Trang 24thức nhanh nhưng kết quả không cao do vội vàng, bộp chộp, chủ quan; kèm cặp, thúc đẩy, dìu dắt những HS có nhịp độ nhận thức chậm theo kịp tiến trình bài học
Trong các giờ lên lớp, ngoài việc HS có thể lĩnh hội cách thức hoạt động
và giao lưu của thầy còn có sự tương tác giữa các đối tượng HS với nhau Đó là
sự tác động qua lại giữa những HS thể hiện trong lúc thảo luận cặp, thảo luận nhóm, tranh luận, thuyết trình Với hình thức này, người thầy có thể dùng những HS khá giỏi trong nhóm để thay mình truyền tải những kiến thức và kỹ năng cần thiết Điều này có những lợi thế nhất định so với GV trực tiếp thực hiện hơn về tính thuyết phục, không có tính áp đặt, gần gũi, thân thiết, nêu gương mà HS được chọn lại thích thú vì có cơ hội thể hiện mình [22]
1.3.2.3 Phân hóa bài tập về nhà
Một đặc điểm của PPDH môn Toán là vừa dạy vừa luyện Việc luyện
tập này GV có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn HS củng cố ngay trên lớp và trong việc giao nhiện vụ về nhà Trong DHPH cũng như vậy, bên cạnh những pha PH trên lớp GV còn thực hiện ở việc giao bài tập về nhà để HS củng cố kiến tức, rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo và những phương thức tư duy cần thiết Khi HS có số bài tập cho chính mình, họ phải thực hiện công việc tự học Do đó, bài tập về nhà nên được cho trên cơ sở đã học lý thuyết và đảm bảo vừa sức với họ; tránh ra bài tập quá nhiều, ôm đồm nhiều dạng, quá khó mà HS cảm thấy nặng nề Do đó, GV cũng cần chú ý trong khi thực hiện quá trình này cũng phải có sự hợp lý để đảm bảo PH và tính hiệu quả
Cũng như những cách PH bài tập ở trên lớp GV cần PH bài tập về nhà theo số lượng và nội dung bài tập Thời gian để thực hiện bài tập ở nhà tuy không gò bó, nhưng do các em tự thực hành, thiếu yếu tố hướng dẫn nên GV cần hướng dẫn cách các tự học, cách tra cứu tài liệu GV nên giao cho HS yếu kém nhiều bài tập trong cùng một dạng toán so với HS trung bình và khá giỏi
Trang 25Hơn nữa, bài tập của các em yếu kém nên được chẻ nhỏ và có nhiều yếu tố dẫn dắt Các em HS khá giỏi thì giảm số lượng bài tập cùng loại, chủ yếu về
kỹ thuật tính toán và tăng số dạng nhiều hơn, đặc biệt ra thêm nhiều bài nâng cao, cần nhiều hoạt động trí tuệ Tức là GV cần PH về nội dung bài tập để đảm bảo được tính vừa sức, tránh đòi hỏi quá cao hoặc quá thấp cho HS Chú
ý nên ra riêng những bài tập nhằm đảm bảo trình độ PH cho những HS yếu kém để chuẩn bị cho bài học sau, đảm bảo trình độ xuất phát và dành cho HS khá giỏi những bài tập mở rộng, nâng cao Tuyệt đối tránh lối cào bằng, ra bài tập chung chung cho tất cả HS [22]
1.3.3 Các yếu tố sử dụng trong lớp học phân hóa nội tại
1.3.3.1 Phân hóa về nội dung
Khi thực hành DH, GV phải tuân thủ chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương trình môn học do Bộ GD & ĐT ban hành Tuy nhiên, nội dung của một bài học GV có thể thực hiện PH dựa trên những gì HS đã biết Có một thực tế cho rằng, trước lúc thực hiện DH một nội dung nào đó cho một lớp,
GV bắt gặp một hiện tượng đó là: một số HS hoàn toàn chưa biết gì về bài học, một số HS khác đã nắm được một vài phần của nội dung bài học; số khác nữa lại có hiểu biết chưa đúng và có những HS lại có thể làm chủ toàn bộ nội dung Vì vậy, GV phải có sự chuẩn bị để có thể PH các nội dung bằng cách thiết kế các hoạt động cho các nhóm HS dựa trên các mức độ khác nhau GV
có thể tham khảo của bảng phân loại tư duy của B.S Bloom để đánh giá mức
độ nhận thức của HS và dự phòng được những tình huống trên lớp, có thể đáp ứng được nhu cầu của mọi HS
Bảng 1.1 Phân loại tư duy của B.S Bloom
6 SÁNG TẠO
Sản xuất Lập kế hoạch Tạo ý tưởng
Trang 26Biết nhận ra
1.3.3.2 Phân hóa về quá trình
Đó là cách GV sử dụng vật liệu học tập để DHPH cho HS dựa trên phong cách học tập của họ Ví dụ HS có thể tiếp cận bài học bằng “đọc” văn bản, hoặc bằng cách “nhìn” các hình ảnh, hoặc bằng “nghe, nhìn” qua video…Vì vậy, GV có thể tổ chức cho HS học theo nhóm cùng sở thích, cùng phong cách học hoặc phân nhóm học theo năng lực Mục đích của cách tổ chức dạy và học này là HS ở các cấp độ khác nhau học tập không giống nhau;
do đó GV không thể dạy cho tất cả HS theo cùng một cách, nhưng DHPH không có nghĩa là dạy từng HS một PH về quá trình DH có nghĩa là GV tổ chức các hoạt động hoặc các chiến lược khác nhau nhằm mục đích: Đảm bảo
Trang 27phân nhóm linh hoạt, kích thích tư duy trong mỗi nhóm và hỗ trợ tất cả các nhóm HS
1.3.3.3 Phân hóa về sản phẩm
Tức là GV xem xét những gì mà HS thu hoạch được, làm ra được vào cuối bài học, để chứng tỏ họ đã chinh phục được kiến thức, kỹ năng cần có Căn cứ vào đó để GV giao nhiệm vụ hoàn thành sản phẩm khác như viết báo cáo, vẽ sơ đồ tư duy, biểu đồ, làm đồ dùng học tập… GV cần tạo điều kiện cho phép HS được lựa chọn sản phẩm nào đó mà chúng thể hiện được thế mạnh của bản thân Chẳng hạn, sau khi học xong chủ đề: Ba đường Cônic, GV giao nhiệm vụ cho HS về nhà vẽ sơ đồ tư duy của chủ đề đó Điều đó, làm cho chúng phát huy được năng lực tư duy và sự hiểu biết về mối liên hệ giữa các kiến thức trong chủ đề, giúp chúng càng hiểu sâu và rộng nội dung kiến thức
1.4 Tính ưu việt của dạy học phân hóa trong trường phổ thông
⬧ Một số năm trở lại đây, số HS lười học, chán học có chiều hướng gia tăng Đó là một điều đáng lo ngại Đáng kể đến nguyên nhân sư phạm của hiện tượng này là “chủ nghĩa bình quân” của đa số GV trong cách đối xử với
HS Các GV thường không đánh giá cao đến sự khác nhau của HS về tính cách, trình độ, tư chất, khả năng phát triển, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh
tế - xã hội… trong môi trường các em sống Hơn nữa, ta cần xét đến giới tính, văn hóa, nhu cầu, hứng thú của HS cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình học tập
Ở cấp I, do sự khác biệt đủ lớn giữa các em, để DH hiệu quả ở cấp học này, GV quan tâm động viên HS và bổ sung cho các em bằng những giờ học phụ đạo, nâng cao
Ở cấp học trên, mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức HS cần nắm với lượng thời gian cho phép càng lớn Tình trạng mâu thuẫn này có thể tiếp tục tăng và đặc biệt nặng nề với HS có trình độ từ trung bình trở xuống nếu
Trang 28không có phương án để giải quyết một cách triệt để Tuy nhiên nếu khi DH
GV làm cho nhịp độ chậm và giảm khối lượng chiều sâu tri thức thì HS có năng lực tốt không mong muốn Chỉ có DHPH mới giải quyết được mâu thuẫn này
Thực tiễn cho thấy, phần lớn HS biểu hiện sở thích của mình quá sớm đối với một số môn học Các nhà tâm lý đã khảo sát và có kết quả là: HS bậc tiểu học có hứng thú đối với môn học chưa thực sự ổn định mà còn dễ dàng thay đổi với biên độ lớn; nhưng HS cấp hai thì phần lớn HS có sở thích bền vững đối với môn học nào đó Do đó, PH DH đặc biệt cần thiết để khơi gợi và khuyến khích phát triển khả năng và thiên hướng của HS
Xét về tính hiệu quả của quá trình DH thì DHPH là hết sức quan trọng và cần thiết vì:
Một là, đa số HS ở bậc trung học đã có sở thích ổn định đối với vấn đề nào đó nói chung và một số môn học nói riêng Quá trình DH sẽ đạt hiệu quả cao nếu ta biết cách tạo các hứng thú cho HS khi tham gia hoạt động học tập
Hai là, DHPH giúp HS có động lực học tập khi họ được trao cơ hội, tạo sự hanh thông cho sự phát triển tối đa tư chất và năng lực của HS có năng khiếu
Ba là, DHPH có khả năng giải quyết tình trạng quá sức đối với HS Bốn là, DHPH là góp phần giúp chuẩn bị nghề nghiệp cho HS DHPH
là có thể thực hiện nhiệm vụ phân luồng sau khi học xong bậc THPT Khi HS được học theo quan điểm DHPH, chúng sẽ có cơ hội nhận thức được khả năng của bản thân phù hợp với ngành nghề nào, bởi năng lực của họ trong môn học đó quyết định điều đó
⬧ Xét trong giờ học toán ở trường phổ thông, DHPH phát huy tốt khả năng tự hoạt động của HS GV điều khiển quá trình học tập sao cho HS được trở thành chủ thể của quá trình đó, tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo phù hợp với năng lực nhận thức của bản thân Do vậy, GV cần nắm và
Trang 29phân loại được mức độ nhận thức của từng cá thể người học để đưa ra những biện pháp tác động, uốn nắn kịp thời có tác dụng đồng hành, hướng dẫn HS
- DHPH vừa giúp HS có động lực vừa tìm được hứng thú học tập Mặt khác, nó góp phần xóa bỏ mặc cảm tự ti của đối tượng HS có nhịp độ nhận thức thấp cùng tham gia các hoạt động học tập chung mà GV yêu cầu để đạt mục tiêu DH Hơn nữa, DHPH phát huy vai trò kích thích, gây thích thú cho các đối tượng HS khá giỏi khi tạo cho họ nhiều cơ hội để có phát huy hết khả năng, trí tuệ của mình mà không gây cảm giác nặng nề
- DHPH trong giờ dạy toán không khó khăn khi thực hiện Để DHPH, không yêu cầu cao về việc sử các phương tiện thiết bị hiện đại kèm theo Điều này phù hợp với thực trạng điều kiện vật chất còn thiếu thốn ở nhiều trường THPT GV không gặp bất kỳ trở ngại nào trong khâu chuẩn bị cũng như tiến trình DH
- DHPH xóa bỏ khoảng cách giữa HS yếu kém với HS khá giỏi, đưa các em sát lại gần nhau hơn; đồng thời tạo điều kiện cho đối tượng HS yếu kém học hỏi, thảo luận với HS khá giỏi Các em có cơ hội tương tác với nhau, học tập lẫn nhau như “học thầy không bằng học bạn”, để tiếp thu các tri thức một cách nhanh chóng, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển
Hơn nữa, DHPH có vai trò thực hiện dân chủ hóa nền GD Đây là một trong những xu thế của thời đại, được quan tâm ở nhiều nước Xu thế này nhằm đảm bảo cho đạt được những tầm cao văn hóa, phát huy hết năng lực người học, tạo điều kiện thuận lợi để HS có thể khắc phục trở ngại trên đường chinh phục tri thức, tạo cơ hội cho mỗi người tiếp tục được học tập và phát triển không ngừng Để dân thực hiện dân chủ hóa GD, nhà trường cần phải khai thông tư tưởng, trực tiếp là GV giảng dạy phải nội dung GD đa dạng, uyển chuyển không cứng nhắc để phù hợp với năng lực và điều kiện rất khác nhau của người học
Trang 30DHPH là thực hiện được xu thế đảm bảo công bằng xã hội, xem trọng quyền bình đẳng cho mọi công dân về cơ hội đến trường học tập và công nhận sự cố gắng của họ Đó là sự phấn đấu của tất cả các cấp các ngành về nhân sinh, xem nó là một nguyên tắc đạo đức mà và là điều kiện để đảm bảo
sự phát triển xã hội Khi khai thác hết những tiềm năng trí tuệ của cộng đồng thì xã hội sẽ phát triển nhanh và chỉ xảy ra khi công bằng trong GD được đảm bảo
Do vậy, khi tổ chức DHPH cho HS trong một lớp học, người học được hoạt động học tập theo cách của bản thân để đạt được mục tiêu giáo dục đã đặt ra có ý nghĩa sâu sắc, góp phần giúp con người có điều kiện tiến bộ và phát triển
1.5 Hình thức luyện tập trong dạy học môn Toán
Trong môn Toán, luyện tập là một hình thức quan trọng, thiết yếu để củng cố tri thức và rèn luyện kỹ năng cho HS Luyện tập không chỉ đối với tính toán mà còn đối với việc dựng hình, vẽ đồ thị hàm số, giải các phương trình, bất phương trình, hệ phương trình và hệ bất phương trình, sử dụng thước, compa, bảng số, máy tính, bảng số…
Khi GV chuẩn bị cho tiết luyện tập có thể thực hiện cách tiến hành như sau:
- Về mặt gợi động cơ, GV cần làm cho HS có nhu cầu và hứng thú khi luyện tập Muốn vậy, cần làm cho HS nhận thức được rằng học toán thực chất
là học làm toán, do đó luyện tập cần được tiến hành song song với việc học lý thuyết và cho HS thấy được vai trò của từng dạng bài tập trong từng lĩnh vực nội dung của môn Toán hay những môn học khác, đặc biệt là trong khoa học - công nghệ và trong đời sống thực tế
- Về mặt các hoạt động và hoạt động thành phần, GV chú ý rèn luyện cho HS tất cả các dạng hoạt động Tức là ngoài hoạt động toán học GV cần
Trang 31tập cho HS các hoạt động khác nữa gồm: như phân chia trường hợp, xét tính giải được… (còn gọi là những hoạt động trí tuệ phổ biến trong Toán học); phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa… (còn gọi là những hoạt động trí tuệ chung ) và những hoạt động ngôn ngữ như trình bày một vấn đề bằng cách khác nhau, phát biểu một vấn đề bằng lời lẽ của mình…
- Về mặt tri thức mà đặc biệt là tri thức phương pháp, GV cần làm thế nào để HS có tổng quan phương pháp chung khi giải một bài toán Vì vậy,
GV nên cung cấp và tập luyện cho HS phương pháp chung khi giải một bài tập toán của Polya đó là: tìm hiểu nội dung đề bài, tìm cách giải, trình bày lời giải và nghiên cứu sâu bài giải Như vậy, HS dần hiểu và tập luyện ăn khớp, vận dụng được các bước đó trong hoàn cảnh mới, nắm được phương pháp giải toán đồng nghĩa nắm vững tri thức phương pháp
- Về phân bậc hoạt động, GV cần xây dựng mạch bài tập phân bậc để điều khiển quá trình hoạt động học tập theo quan điểm DHPH GV làm thế nào để HS tự mình làm được bài tập, như vậy dù mình làm được ít còn hơn nghe người khác trình bày gấp nhiều lần; nó các tác dụng như thuốc bổ tâm lý
và tạo sự hưng phấn để chinh phục các hoạt động học tập khác [19]
1.6 Một số chuẩn bị của GV và HS cho dạy học phân hóa
1.6.1 Nhiệm vụ của thầy trước khi lên lớp
1.6.1.1 Phân nhóm đối tượng học sinh
Do nhu cầu đòi hỏi của xã hội, GD cần đào tạo ra những con người
có sự giống và khác nhau nào đó Sự phát triển của HS được xây dựng từ những biện pháp PH nội tại của GV thống nhất với mục tiêu DH đồng loạt
Do vậy, GV là người đi sâu sát nghiên cứu tìm hiểu những khả năng và hạn chế của HS để có biện pháp đúng và đủ phù hợp, có thể tác động tích cực đến chúng Có như vậy mới giúp cho tất cả HS đều tiếp thu được những kiến thức
và kỹ năng tối thiểu, đồng thời, phát hiện và đào tạo nhân tài ngay từ trong
Trang 32nhà trường
Trong một lớp học, GV có thể chia nhóm HS theo hai kiểu đó là phân nhóm theo khu vực chỗ ngồi và phân nhóm theo trình độ nhận thức Người dạy có thể linh hoạt để mà lựa chọn cách phân nhóm cho phù hợp với ý đồ
sư phạm
Phân nhóm theo khu vực chỗ ngồi tức là phân nhóm theo bàn, theo dãy bàn, theo tổ là hình thức DH hợp tác với số lượng mỗi nhóm từ 04 đến 08 người Đây là cách phân nhóm có thể thực hiện được một cách nhanh chóng
và được rất nhiều GV lựa chọn Mỗi nhóm cần được bầu ra một người làm trưởng nhóm để điều hành nhóm GV tùy vào mục đích sư phạm và yêu cầu của hoạt động DH mà việc duy trì việc giao nhiệm vụ và thực hiện nhiệm vụ theo nhóm trong thời gian thích hợp Ưu điểm của việc phân nhóm theo khu vực là giúp các HS có thể hòa nhập vào các hoạt động chung, tuy nhiên nhược điểm của nó là một số HS sẽ không tự giác, ỷ lại, không cố gắng hết sức mình
Phân nhóm theo trình độ nhận thức tức là hình thức phân nhóm HS có nhận thức khá giỏi, trung bình và yếu kém Cách phân nhóm này có thể hạn chế được điểm yếu do cách phân nhóm HS theo khu vực, vừa lại phát huy tối
đa khả năng hoạt động cá biệt hóa cá nhân người học, GV dễ kiểm soát, đánh giá chính xác, khách quan Tuy nhiên, để thực hiện được không phải dễ dàng
GV cần phải nhận dạng được những nhịp độ nhận thức của mỗi HS và quy về được nhóm thích hợp
Trong quá trình DH, GV cần cập nhật tình hình của HS để phân chia nhóm HS Thông thường lớp học được chia theo ba nhóm đối tượng dựa vào nhịp độ nhận thức của họ Từ đó, GV đưa ra các yêu cầu tùy theo khả năng của nhóm HS nhằm khuyến khích được sự tư duy cần thiết, tốt cho quá trình học tập của bản thân và đảm bảo mục tiêu DH
Trang 33Đối với HS yếu kém thường biểu hiện: Nắm không chắc hoặc nắm sai kiến thức cơ bản, kỹ năng thực hành yếu kém Tuy nhiên có nhiều em yếu kém do những nguyên nhân bên ngoài, GV cần điều tra cẩn thận, tìm đúng nguyên nhân để có những biện pháp khác nhau cho phù hợp
Đối với HS khá giỏi: Các em có năng lực học tập Toán tốt Do đó, khi học Toán các em thường có xu hướng thích chinh phục nhiều bài toán hay, giải các bài toán khó, gay cấn, các bài toán đòi hỏi tư duy sáng tạo Tuy nhiên, có em lại không chăm chỉ việc học lý thuyết, ít giải các bài toán cơ bản… Nhiều khi có tình trạng nghịch lý là có một số em giải được bài toán khó mà làm sai những bài được đánh giá là dễ hơn Vì vậy, GV cần để ý việc nhen nhóm lòng say mê học Toán, vun đúc hứng thú cho các em, nhưng đồng thời cũng phải thường xuyên giáo dục thái độ kiên nhẫn, khiêm tốn, không ngại khó khăn và sẵn sàng chia sẽ, giúp đỡ bạn bè cùng tiến bộ…
Nhóm HS trung bình yêu cầu là nắm thật chắc kiến thức cơ bản, làm bài tập đầy đủ các bài tập SGK, bài tập ra thêm có thể được gợi ý với mức độ vừa phải của GV Mặt khác, các em có thể lấn sang phần nào kiến thức nâng cao của HS khá giỏi, dần dần nâng cao khả năng của mình
Để phân loại đối tượng HS về khả năng lĩnh hội kiến thức và trình độ phát triển, GV cần tiến hành các biện pháp như: Kiểm tra, tìm hiểu, quan sát, phỏng vấn, điều tra… và nên được thực hiện ngay ở những tiết học đầu tiên
và trong suốt quá trình DH GV cần theo dõi thường xuyên hoạt động của nhóm, cá nhân trong nhóm, điều chỉnh lại nhân sự nhóm, nếu có thành viên nào trong nhóm có sự tiến bộ hay thể hiện sự đuối sức GV cần để ý rằng không nên để tác dụng phụ của việc phân nhóm như là gây tự ti, xích mích giữa các HS xảy ra Do đó, GV cần phải khéo léo trong khâu này để các em cảm thấy thỏa mãn được cách thức của mình đề ra, tạo điều kiện tốt về tâm lý
để học tập đạt hiệu quả cao
Trang 341.6.1.2 Thiết kế các hoạt động học tập
Đây là nhiệm vụ cơ bản của GV trước giờ lên lớp Để bài học đảm bảo chất lượng thì khâu thiết kế càng phải chăm chút Vì vậy, người thầy cần nghiên cứu kỹ để nắm vững nội dung và yêu cầu của bài học Chỉ khi nắm vững nội dung kiến thức bài học thì GV mới có thể tạo ra được những tình huống sẽ có thể xảy ra, hình thành các PPDH sử dụng khi giảng dạy, lường được khả năng có thể diễn ra để có sự chủ động cần thiết ứng phó, đạt được mục đích DH Do vậy, GV nên xem xét nhiều khía cạnh khác nhau của phần kiến thức, các bài tập trong SGK, chuẩn bị thêm những bài tập cho HS khi cần thiết
Thiết kế các pha PH trong các pha DH đồng loạt: Lúc này GV nên sử dụng kết hợp PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề, DH chương trình hóa với các câu hỏi PH Khi trải qua quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, chúng
tự kiến tạo những tri thức mới Do vậy, GV phải xây dựng được các tình huống có vấn đề đảm bảo cho việc DH theo xu hướng tích cực hóa hoạt động của HS trong quá trình học tập
1.6.1.3 Ra bài tập phân hóa
Mục đích của việc ra bài tập PH để cho HS có lực học khác nhau có thể tiến hành các hoạt động phù hợp với trình độ khác nhau của họ
GV chuẩn bị những bài tập có sự phân bậc ít để dành cho HS yếu kém, mức độ vừa phải cho nhóm học lực trung bình và cho HS giỏi những bài tập có hoạt động ở bậc cao hơn so với các đối tượng HS khác Như vậy, HS yếu kém
có những bài tập phân bậc "mịn", tức là khoảng cách giữa hai bậc liên tiếp
không khác nhau nhiều lắm, nhiều bậc HS yếu kém gộp lại thành một bậc của
HS trung bình hoặc khá giỏi, giúp chúng có cách đi chậm nhưng vững chắc
GV cũng có thể tập trung khai thác ngay trong một bài tập Tuy nhiên, người dạy phải chọn lựa kỹ càng, suy xét cẩn thận, cân nhắc những khả năng
Trang 35chứa đựng trong bài tập đó Để PH được GV chọn bài tập đảm bảo yêu cầu cho cả ba nhóm đối tượng HS: Bồi dưỡng lấp lỗ hổng cho HS yếu kém, trang
bị kiến thức cơ bản cho HS trung bình và nâng cao cho HS khá, giỏi
1.6.1.4 Đánh giá các yếu tố liên quan đến quá trình dạy học
Đáng kể đến là những yếu tố như môi trường, phương tiện và điều kiện
DH có thể tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong quá trình DH Khi chúng ta đánh giá đúng những ưu nhược điểm của môi trường, điều kiện DH giúp ta chủ động ứng phó được trước mọi tình huống trên lớp học
Trong mỗi tiết học, GV cần quan tâm và lựa chọn sử dụng các phương tiện DH và đồ dùng học tập bởi đây là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giờ dạy Ngoài các tiết học GV tổ chức cho HS học tập tại lớp, một số tiết học đòi hỏi cần được diễn ra ở không gian khác rộng hơn như các tiết thực hành, thí nghiệm… Do vậy, GV cần chú ý đến điều kiện sân bãi, thời tiết, môi trường xung quanh… nhằm đề ra phương án khác nhau để đảm bảo chất lượng giờ học Hơn nữa, khi thực hiện DH GV cần sử dụng các đồ dùng học tập và phương tiện trợ giúp cho công tác giảng dạy, giúp HS dễ hình dung, minh họa cho các tình huống DH Các GV thường lựa chọn phiếu học tập, máy chiếu, máy vi tính… để hỗ trợ trong các tiết học, đặc biệt khi tổ chức các pha PH nếu GV biết sử dụng hợp lý Chúng góp phần tổ chức điều khiển quá trình học tập đến từng cá thể HS phát huy khả năng của mình, kích thích hứng thú học tập, lại vừa hợp lý hóa công việc của thầy và trò, trong đó các yếu tố thời gian, khối lượng công việc được đảm bảo Nói tóm lại, việc lựa chọn và
sử dụng tốt các vật liệu học tập có tác dụng nhân lên hiệu quả DH
1.6.2 Nhiệm vụ của trò trước khi lên lớp
Thực hiện tốt nhiệm vụ được giao về nhà: HS cần phải có ý thức chủ động học lại lý thuyết để củng cố kiến thức và làm bài tập được giao trước khi đến lớp; nghiên cứu trước nội dung bài học sau; đồng thời có thể chuẩn bị đồ
Trang 36dùng, mô hình, dụng cụ cần thiết cho giờ học…
Nhiệm vụ ôn bài và làm bài tập ở nhà là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất mà mỗi HS cần phải thực hiện tốt trước khi đến lớp Ôn bài ở đây không có nghĩa là phải học thuộc lòng câu chữ, theo kiểu rập khuôn mà cần học để hiểu rõ bản chất vấn đề và biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học để áp dụng vào các bài tập cụ thể, các tình huống nào đó Như vậy, các
em sẽ có đầy đủ những điều kiện cơ bản cho việc xuất phát trong bài học sau
Ngoài việc học và làm bài tập của bài học trước, HS phải nghiên cứu trước nội dung bài học tiếp theo Điều này làm cho HS có được những hiểu biết ban đầu về bài học, giúp GV thấy được tính cực chủ động của HS trong hoạt động học tập
HS cũng có nhiệm vụ chuẩn bị dụng cụ, đồ dùng học tập, phương tiện học tập cho bài học mới Đây cũng là một yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng giờ học trên lớp GV có thể xem đây là sản phẩm của HS thể hiện những hiểu biết của chúng trước mảng kiến thức cần lĩnh hội, do
đó GV nên có hình thức động viên, khuyến khích cộng điểm cho HS khi làm được đồ dùng DH có tính sáng tạo, có tính hợp tác
1.7 Quy trình tổ chức giờ học theo hình thức dạy học phân hóa
1.7.1 Tổ chức các pha dạy học đồng loạt
GV nên sử dụng và kết hợp linh hoạt các PPDH một cách hợp lý nhằm mục đích giúp HS tiếp thu tốt các tri thức khái niệm, định lý, quy tắc, phương pháp Các phương pháp như là phát hiện và giải quyết vấn đề, DH chương trình hóa, lý thuyết tình huống… có ưu điểm tạo ra tình huống gợi vấn đề và điều khiển HS hoạt động tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo
Đối xử cá biệt trong các pha đồng loạt, thu hút tất cả các đối tượng HS trong lớp tham gia tìm hiểu nội dung bài học bằng cách giao nhiệm vụ phù
hợp với khả năng từng đối tượng
Trang 371.7.2 Điều khiển các pha phân hóa
Khi điều khiển HS hoạt động ở các pha PH, thầy giáo nên định ra các yêu cầu khác nhau về yêu cầu, mức độ hoạt động độc lập của HS để đề ra những biện pháp thích hợp Khi HS hoạt động, GV có thể hướng dẫn nhiều hơn cho đối tượng HS này, ít hoặc không gợi ý HS khác, tùy theo khả năng và trình độ của họ GV có thể áp dụng DH theo nhóm đối tượng HS (hay sử dụng phiếu học tập) để việc DHPH được hiệu quả hơn
Việc tổ chức điều khiển quá trình giải bài tập PH của HS có thể được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: GV phân nhóm HS tùy theo ý đồ sư phạm Sau đó, GV thực
hiện giao nhiệm vụ cụ thể đến tận các em Mỗi đối tượng HS khá, giỏi, trung
bình, yếu kém nhận được loại bài tập khác nhau tùy theo khả năng, trình độ nhận thức họ (bài tập PH mà GV đã chuẩn bị từ trước như đã nói ở trên) và đặt ra mục đích yêu cầu một cách rõ ràng cho HS Phân công nhóm trưởng phụ trách nhóm
Bước 2: Cá nhân HS độc lập thực hiện nhiệm vụ được giao GV cần lưu
ý để trợ giúp, điều khiển HS theo ý đồ sư phạm và mục tiêu bài học
Bước 3: GV điều khiển HS thảo luận trong nhóm
Bước 4: GV điều khiển cho đại diện mỗi nhóm trình bày phương án
giải quyết và tổ chức các em trong lớp tham gia thảo luận giao lưu, đóng góp
ý kiến bổ sung Tuy nhiên GV có thể khuyến khích HS tham gia công việc của nhóm kế tiếp nếu đã hoàn thành công việc của nhóm mình
Bước 5: GV tổng kết, chốt lại ý kiến đúng
Chính nhờ PH như vậy GV có thể thấy rõ sự tiến bộ của từng HS để tự điều chỉnh cách dạy học cho phù hợp Đồng thời, GV cần quan tâm cá biệt: Động viên những HS có phần thiếu tự tin, lưu ý HS hay tính toán nhầm lẫn, uốn nắn kịp thời những HS có nhịp độ nhận thức nhanh nhưng kết quả không
Trang 38cao do vội vàng, chủ quan, thiếu sự suy nghĩ chín chắn, dìu dắt HS có nhịp độ nhận thức chậm theo kịp tiến trình của giờ học
1.7.3 Giao bài tập phân hóa về nhà
Việc học có thể chưa dừng lại các hoạt động ở trên lớp mà còn tiếp tục được thực hiện ở nhà Khi hướng dẫn công việc ở nhà, GV làm cho HS có thói quen làm việc với SGK chuẩn bị tốt cho việc học bài mới GV khi giao bài tập PH về nhà giao cho HS trước hết tránh lối cào bằng mà cần phải sát thực với nhu cầu và khả năng của họ Do đó, bài tập phải được chọn lọc kỹ càng, với liều lượng vừa cần và đủ cho mỗi cá nhân
GV có thể thực hiện PH khi giao bài tập cho HS tùy theo số lượng bài tập để cùng chúng đạt được một yêu cầu đặt ra Chẳng hạn như GV giao số bài tập cùng dạng cho nhóm HS yếu kém nhiều hơn các nhóm khác
GV cũng nên PH về nội dung bài tập để đảm bảo tính vừa sức cho HS
GV cần ra những bài tập nâng cao, đòi hỏi tư duy nhiều hơn cho HS khá giỏi, bài tập của HS yếu kém có thể hạ thấp, chia nhỏ nhiều hơn, chủ yếu bài tập mang tính rèn luyện kỹ năng Ra riêng cho những HS yếu kém những bài tập
để từ đó chúng có thể có đủ kiến thức cho bài học sau Đối với đối tượng HS trung bình GV có thể giao cho các em các bài tập ở SGK và nên xem xét giảm hoặc có thể không giao một số bài tập khó
1.8 Thực trạng dạy học phân hóa môn Toán ở trường THPT
Đất nước ta trên đường tiến tới chủ nghĩa xã hội, chúng ta đang xây dựng một xã hội tri thức - xã hội phát triển, trong đó con người là yếu tố trung tâm, là chủ thể kiến tạo xã hội Vì vậy việc đổi mới GD là nhân tố trọng yếu mang tính quyết định cho sự phát triển bền vững đó
Từ yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước, ngành
GD chúng ta đang tiến hành đổi mới, trong đó có đổi mới về PPDH GV phải chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình
Trang 39nhận thức, xem HS là chủ thể của quá trình DH Đây là nguyên tắc của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình DH Nguyên tắc đó được coi như là kim chỉ nam cho phương hướng cải cách GD phổ thông Việt Nam
Tuy nhiên, việc GV thực hiện được vấn đề đổi mới về PPDH mới có thể nói rằng chỉ dừng trên lý thuyết hơn là thực hành và chưa kể đến tính hiệu quả như thế nào Hiện tượng GV đổi mới PPDH chỉ để đáp ứng nhu cầu đặt ra trước mắt, hình thức DHPH chưa phong phú và sự chuẩn bị bài giảng của người dạy đôi lúc còn sơ sài nên hiệu quả thấp
GV cần phải đến được với tất cả HS của mình đang dạy với thời lượng cho phép, phải tính được sự đa dạng của HS Việc nâng cao chất lượng DH cần kể đến đó là việc bồi dưỡng HS giỏi Trong ngay những pha DH đồng loạt GV cần phải phát hiện, bồi dưỡng, phát huy những em có năng lực toán
học tốt Đồng thời người dạy phải đảm nhiệm được trách nhiệm “thắp lửa,
truyền lửa, giữ lửa, tiếp lửa” cho các em về tình yêu Toán học để từ đó họ có
thể “cháy” với niềm say mê của mình Nhưng vì nhiều nguyên nhân, người
dạy chưa thực sự đầu tư nhiều về điều này mà hầu như chỉ dừng lại trang bị kiến thức cơ bản cho HS trung bình trong lớp Điều đó dẫn đến sự thiệt thòi đáng kể cho các em có khả năng Toán trong việc có thể có cơ hội để phát huy điểm mạnh của mình Một số GV khi dạy không có sự PH HS, không quan tâm đến nhóm HS xếp sau của lớp dẫn đến hậu quả các em dần dà càng xa với kiến thức cơ bản và mất gốc
Để điều tra thực trạng việc DHPH môn Toán ở bậc THPT, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn dạy ở một số trường THPT Mục đích của việc khảo sát là nhằm tìm hiểu những vấn đề sau:
- Nhận thức của GV về DHPH trong môn Toán;
- Cách thức DHPH trong môn Toán;
- Thực trạng DHPH trong môn Toán;
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng DHPH trong
Trang 40môn Toán
Chúng tôi đã xây dựng bộ gồm 10 câu hỏi dành cho GV đang trực tiếp
giảng dạy ở một số trường THPT Nội dung phiếu và kết quả trong phụ lục 1
GV được khảo sát thuộc địa bàn tỉnh Quảng Bình, Nghệ An đại diện cho các vùng miền của các trường THPT nước ta như: nông thôn, thành thị, vùng khó khăn Chúng tôi thực hiện khảo sát tới 81 GV, vào tháng 4 năm 2018
Nhận xét:
+ Qua số liệu nhận được GV trả lời câu hỏi 1, tức là để trả lời câu hỏi DHPH là gì, chúng tôi thấy ý kiến được chọn cao nhất là 86,42% và thấp nhất chỉ 64,20% Từ đó cho thấy rằng, các GV có quan niệm khác nhau về DHPH thể hiện ở lựa chọn không giống nhau về số lượng Và chúng ta có kết luận rằng, các GV chưa có nhận thức thấu đáo, đúng đắn và trọn vẹn về DHPH (Bảng PL 1.1)
+ Ở câu hỏi 2, chúng tôi muốn khảo sát tình hình GV thường lựa chọn
sử dụng DHPH ở khâu nào, qua khảo sát chúng tôi thấy: Chỉ có 22,22% chọn
để giảng bài mới; 18,25% chọn để trình bày giải quyết vấn đề; 48,15% cho rằng chọn đề nghiên cứu sâu vấn đề; có 91,36% chọn để hướng dẫn tự học và
có đến 92,50% GV tin tưởng dạy được khi luyện tập củng cố Hay nói cách khác, các GV cho rằng khi dạy luyện tập, củng cố là được lựa chọn DHPH nhất (Bảng PL 1.2)
+ Khi được hỏi về việc GV dùng DHPH để thực hiện chức năng nào của quá trình DH thì 72,84% chọn để đảm bảo trình độ xuất phát; 30,86% chọn để hướng đích và gợi động cơ; 82,72% chọn dùng để làm việc với nội dung mới và đến 97,53% chọn để củng cố Từ kết quả đó, cho thấy GV sử dụng DHPH không đều tay; không thường xuyên và các GV lựa chọn DHPH khi dạy củng cố nhiều nhất (Bảng PL 1.3)
+ Đối với câu hỏi số 4, khảo sát về việc DHPH khi dạy các tình huống