1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến tranh Đông dương 3 P14

14 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 134,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàng Dung Chiến tranh Đông dương 3 P14 Ghi chú các nhân vật (Những chữ viết tắt dùng để chỉ các quốc gia Việt nam, Lào, Campuchia, Trung hoa, Hoa kỳ) Bành Bái (TQ): Cán bộ lãnh đạo cộng sản Trung hoa tại Quảng Châu những năm 1920.

Trang 1

Hoàng Dung

Chiến tranh Đông dương 3

P14

Ghi chú các nhân vật

(Những chữ viết tắt dùng để chỉ các quốc gia Việt nam, Lào, Campuchia, Trung hoa,

Hoa kỳ) Bành Bái (TQ): Cán bộ lãnh đạo cộng sản Trung hoa tại Quảng Châu những năm

1920 Thày dạy nhiều lãnh tụ cộng sản Việt nam trong những lớp do Quốc tế cộng sản

tổ chức mà Hồ Chí Minh làm thông ngôn Bị Quốc dân đảng hành quyết năm 1929 Bành Chân (TQ): Thị trưởng Bắc kinh từ 1951 tới 1966 Bị thanh trừng trong cuộc

Cách mạng Văn Hoá

Bành Đức Hoài (TQ): Thống Chế Hồng quân Tư lệnh quân Trung hoa tại Cao Ly từ

1950 đến 1954 Bị mất chức Bộ trưởng quốc phòng năm 1959

Bluecher Vasily (LX): Tướng lãnh Liên xô, bí danh Ga-lin, cố vấn quân sự trong phái

bộ Borodin của Quốc tế cộng sản, giúp thành lập trường Hoàng Phố Sau 1927, về

nước, bị Stalin bắt, đày đi Siberi rồi chết ở đó

Borodin, Mikhail Markovich (LX): Trưởng phái đoàn cố vấn Liên xô cho Quốc dân đảng, thủ trưởng của Hồ Chí Minh từ 1925 đến 1927 Sau khi về nước, bị Stalin cho

bắt và đày đi Siberi rồi chết ở đó

Bou Thang (Campuchia): Cán bộ Khmer Đỏ trốn sang Việt nam Sau này được thăng

tướng, Bộ trưởng quốc phòng của Hun Sen

Brévié (Pháp): Thống Đốc Nam Kỳ năm 1935, người đã vẽ ranh giới lãnh hải giữa

Việt nam và Campuchia

Brezinski, Zbigniew (Mỹ): Cố vấn an ninh của Tổng thống Carter, thúc đẩy việc thiết

Trang 2

lập ngoại giao với Trung hoa để kìm hãm Liên xô, và vì thế đã trì hoãn việc thiết lập

quan hệ ngoại giao với Việt nam

Bùi Đình Hòe: Tư lệnh sư đoàn 320 sau 1975

Bùi Cát Vũ: Tư lệnh phó quân đoàn 4 xâm lăng Campuchia, sau này giữ chức tư lệnh

phó quân khu VII

Bùi Phùng: Tổng cục trường Tổng cục hậu cần cộng quân Việt nam trong thời gian

chiến tranh biên giới

Chakray (Campuchia): Tư lệnh quân khu Phnom Penh của Khmer Đỏ, (có tài liệu nói

là tư lệnh sư đoàn I) Bị giết năm 1976 vì bị Pol Pot nghi ngờ âm mưu đảo chánh Chaplin, B.N (LX): Đại sứ Liên xô tại Hà nội trong thời gian chiến tranh Đông dương

III

Chu Chẹt (Campuchia): Bí thư khu Tây Khmer Đỏ, bị thanh trừng tháng 3 1978 Chu Dương (TQ): Chỉ đạo văn nghệ Trung hoa Bị mất chức năm 1976

Chu Đức (TQ): Thống chế Hồng quân Từng làm Bộ trưởng quốc phòng và Chủ tịch

Quốc hội Trung quốc Bị hạ bệ trong cuộc Cách mạng Văn Hoá

Chu Ân Lai (TQ): Thủ tướng Trung hoa từ 1949 đến lúc chết năm 1976 Bí danh Tiểu

Sơn Từng tham dự hội nghị Genève về Việt nam năm 1954

Chu Huy Mân: Thượng tướng Cộng quân Việt nam, tổng cục trưởng tổng cục chính trị

trong thời gian tranh chấp, mất chức năm 1987

Diêu Văn Nguyên (TQ): Một trong “Lũ bốn người”, xuất thân phê bình văn nghệ Tiến

thân nhờ thân cận với Giang Thanh Bị bắt năm 1976 và bị xử tử

Diệp Kiếm Anh (TQ): Thống chế Hồng quân Đóng vai trò quan trọng trong việc thanh toán nhóm Giang Thanh Chủ tịch nhà nước từ 1978 đến 1983

Duch (Campuchia): Chỉ huy trưởng Công an Khmer Đỏ, chỉ huy trung tâm thẩm vấn

Tuol Sleng Hung thủ những cuộc tra tấn và tàn sát dã man

Dương Đắc Chí (TQ): Đại tướng Hồng quân Tham dự trận chiến Cao Ly Tư lệnh quân khu Tây Nam (Thành Đô) Cùng Hứa Thế Hữu chỉ huy quân Trung hoa trong trận chiến biên giới Việt Hoa Năm 1980 được thăng Tham mưu trưởng quân đội Trung hoa Năm 1989 dù đã về hưu cũng viết thư ngỏ cho Đặng Tiểu Bình khuyên

không nên dùng quân đội đàn áp sinh viên ở Thiên An Môn

Đào Đình Luyện: Tư lệnh Không quân năm 1978 sau này được thăng Tổng tham mưu

Trang 3

Trường quân đội thay Đoàn Khuê

Đào Huy Vũ: Tư lệnh thiết giáp năm 1979

Đàm Văn Nguỵ: Gốc người Thổ, từng giữ chức tư lệnh sư đoàn 316, sau 1980 thay

Đàm Quang Trung làm tư lệnh quân khu I

Đàm Quang Trung: Gốc Thổ, trong chiến tranh Đông dương II làm tư lệnh quân khu

IV, trách nhiệm chính trong vụ thảm sát tết Mậu Thân Được cử thay Chu Văn Tấn làm tư lệnh quân khu I Mấy năm sau, thăng làm một trong sáu Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Có lẽ là tư lệnh quân đoàn 14 được thành lập khi tình hình Lạng Sơn nguy

ngập

Đặng Tiểu Bình (TQ): Tác giả đường lối cởi mở và thực dụng của Cộng đảng Trung hoa Đã bị thanh trừng và phục chức hai lần Từng là Phó Thủ tướng, Tổng bí thư

đảng, Chủ tịch quân uỷ Trung ương

Đặng Dĩnh Châu (TQ): Vợ Chu Ân Lai Sau khi Chu Ân Lai chết, ủng hộ phe Đặng

Tiểu Bình và được bầu vào Bộ Chính trị năm 1978

Đặng Xuân khu (TQ): Bí danh Trường Chinh Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam từ

1940 Mất chức Tổng bí thư năm 1956 sau chính sách Cải cách ruộng đất Sau đó giữ

chức Chủ tịch Quốc hội và rồi Chủ tịch nhà nước

Đỗ Văn Dũng: Tư lệnh sư đoàn 7 khi xâm lăng Campuchia

Đoàn Khuê: Tư lệnh quân khu V trong trận chiến 1978-1979 Năm 1987, thay Lê Đức Anh làm Tổng tham mưu trưởng quân đội rồi sau đó Bộ trưởng quốc phòng Dap Chuon (Campuchia): Cựu tỉnh trường Siem Reap Được sự giúp đỡ của chính phủ Ngô Đình Diệm, âm mưu lật đổ Sihanouk năm 1959, nhưng bị bại lộ và bị bắn chết Đinh Bá Thi: Tên thật Ưng Văn Chương, được Lê Duẩn nâng đỡ nhờ bày kế để Duẩn lấy người vợ thứ ba Đại diện Việt nam tại Liên hiệp quốc sau 1975, bị triệu hồi năm

1978 sau vụ án gián điệp Có tin bị công an đặc biệt của Việt nam giết vì đã móc nối

với Trung hoa

Đỗ Phạm: Tư lệnh sư đoàn 325 thuộc quân đoàn 2 năm 1978, tham dự trận xâm lăng

mặt nam Campuchia

Đồng Văn Cống: Tư lệnh phó quân khu VII, có lẽ đã chỉ huy lực lượng chủ lực quân khu VII (các sư đoàn 5, 302, 303 ) để xâm lăng Campuchia từ hướng tây bắc tỉnh Tây

Ninh

Trang 4

Giang Thanh (TQ): Vợ thứ ba của Mao Trạch Đông, xuất thân là diễn viên Chỉ bắt đầu lộ diện trong cuộc Cách mạng Văn Hoá Là một trong “Lũ bốn người”, bị bất năm

1976, và bị xử tù chung thân đến lúc chết

Hieng Samrin (Campuchia): Cựu tư lệnh sư đoàn 4 Khmer Đỏ Trốn sang Việt nam

năm 1978, sau đó được đưa về làm Chủ tịch nhà nước

Hồ Diệu Bang (TQ): Được Đặng Tiểu Bình nâng đỡ làm Tổng bí thư Cộng đảng Trung hoa từ 1980 đến 1987 Chết năm 1989 Cái chết gián tiếp đưa đến vụ thảm sát

Thiên An Môn

Hồ Chí Minh: Tên thật Nguyễn Tất Thành, còn có nhiều tên khác như Nguyễn ái Quốc, Trần Vương Khi viết sách tự ca tụng mình thì lấy tên Trần Dân Tiên Chủ tịch Đảng Lao động (cộng sản) Việt nam và Chủ tịch nhà nước Bắc Việt Chết năm 1969 Hoa Quốc Phong (TQ): Chủ tịch đảng cộng sản Trung hoa từ 1976 đến 1982 Từng là

Bí thư đảng uỷ Hồ Nam Bộ trưởng An Ninh năm 1975 Được Mao Trạch Đông đưa lên làm Thủ tướng sau cái chết của Chu Ân Lai Mất dần quyền lực sau năm 1978 Hoàng Cầm: Bí danh Năm Thạch Cựu tư lệnh sư đoàn 312 và 9 Sau 1975, tư lệnh quân đoàn 4 Chỉ huy mũi tấn công chính xâm lăng Campuchia Sau này được thăng

làm Tư lệnh quân khu IV

Hoàng Minh Chính: Bí thư đoàn Thanh niên cộng sản Việt nam trước 1954 Từng du học tại Liên xô Cựu Viện trưởng Viện Triết học Mất chức năm 1967 vì bị coi là “xét

lại”

Hoàng Hoa (TQ): Cựu Bộ trưởng ngoại giao của Trung quốc Mất chức năm 1978 vì

thuộc phe của Hoa Quốc Phong

Hoàng Hoa: Thiếu tướng Cộng quân, Tham mưu trưởng đội quân chiếm đóng của Việt

nam tại Campuchia

Hoàng Văn Hoan: Một trong những lãnh tụ Cộng đảng Việt nam đầu tiên Từng là Uỷ viên Bộ Chính trị, đại sứ Bắc Việt tại Trung hoa, phó chủ tịch Quốc hội Trốn sang

Tàu năm 1979, tố cáo phe Lê Duẩn bán nước

Hoàng Minh Thảo: Trung tướng quân đội nhân dân Việt nam Tư lệnh sư đoàn 304 rồi liên khu tư trong chiến tranh Đông dương I Chỉ huy mặt trận Tây Nguyên trong chiến tranh Đông dương II Sau 1975, giữ chức Giám đốc học viện quân sự cao cấp

Hoàng Hữu Thái: Tư lệnh Hải quân năm 1978

Trang 5

Holbrook, Richard (Mỹ): Thứ trưởng ngoại giao Hoa kỳ thời Carter, phụ trách việc

đàm phán với Việt nam

Hou Youn (Campuchia): Một trong những lãnh tụ Khmer Đỏ Đậu tiến sĩ kinh tế học tại Pháp Mất tích năm 1975, có lẽ bị Pol Pot thanh trừng vì chống đối đường lối quá

khích

Hu Năm (Campuchia): Cựu Bộ trưởng Thông tin Khmer Đỏ Có bằng Tiến sĩ Luật Khoa, từng dạy ở Đại học Phnom Penh Bị Pol Pot bắt vào Tuol Sáng ngày 10-4-1977

và bị xử tử Hun Sen (Campuchia): Trung đoàn trưởng Khmer Đỏ thuộc quân khu Đông Bỏ trốn sang Việt nam cuối năm 1977 Được Việt nam đưa về, sau này trở thành Thủ tướng Hứa Thế Hữu (TQ): Bí thư và Tư lệnh quân khu Quảng Châu Bảo vệ Đặng Tiểu Bình trong cuộc thanh trừng lần thứ hai Tổng chỉ huy quân Trung hoa trong trận chiến biên giới Vì bị tổn thất nặng, mất thực quyền chỉ huy cho Dương Đắc Chí và sau đó bị mất

chức

Ieng Sary (Campuchia): Tên Việt là Kim Trang, em cột chèo của Pol Pot, ngoại trưởng

Khmer Đỏ

Kayson Phomvihan (Lào): Tổng bí thư đảng cộng sản Lào, sau 1975 làm Thủ tướng Lào Tên thật không rõ, con của Nguyễn Trí Loan, một công chức người Việt tại Lào

Ke Pauk (Campuchia): Bí thư khu uỷ khu Trung tâm của Khmer Đỏ Trực tiếp thanh

trừng quân khu Đông

Keo Meas (Campuchia): Lãnh tụ cộng sản Campuchia kỳ cựu Bí thư thành uỷ Phnom

Penh tới 1958 Bị Pol Pot bắt ngày 20-9-1976 và bị xử tử

Kham phan Vilacit (Lào): Đại sứ Lào tại Campuchia thời Pol Pot Xuất thân tu sĩ Phật

Giáo

Khieu Ponnary (Campuchia): Vợ Pol Pot, Chủ tịch Hội Phụ Nữ Khmer Đỏ 1975-1979 Khieu Sam phan (Campuchia): Tốt nghiệp Sorbonne Từng giừ chức Chủ tịch nhà nước của chế độ Khmer Đỏ Hiện nay đại diện Khmer Đỏ trong chính phủ liên hiệp Khieu Thirith (Campuchia): Vợ Ieng Sary, từng giữ chức Bộ trưởng Xã Hội Khmer

Đỏ

Kim Tuấn: Tư lệnh sư đoàn 320 năm 1975, sau đó thăng tư lệnh quân đoàn 3 Bị bắn

chết tại chiến trường Campuchia

Trang 6

Koy Thoàn (Campuchia): Bí thư khu uỷ khu Bắc của Khmer Đỏ, bị thanh trừng đầu

năm 1976

La Quý Ba (TQ): Cố vấn chính trị của Trung hoa cho Việt nam từ 1950 đến 1954 Sau

1954 làm đại sứ tại Hà nội Cố vấn cho Việt nam phát động Cải cách ruộng đất Lâm Bưu (TQ): Thống chế Hồng quân Từng tham chiến ở Mãn Châu, Triều tiên Được coi như người kế vị Mao Trạch Đông trong những năm của cuộc Cách mạng Văn Hoá Tử nạn máy bay khi muốn trốn sang Liên xô sau khi đảo chánh thất bại năm

1969

Lê Đức Anh: Bí danh Sáu Nam, từng phụ tá cho Trần Văn Trà Đầu năm 1975, được

cử tư lệnh đoàn 232 tiến đánh Sài gòn từ hướng nam Sau ngày 30-4-1975, được cử tư lệnh quân khu IX Gặp nhiều may mắn và gặp thời Năm 1977, làm tư lệnh quân khu VII, rồi tư lệnh chiến dịch xâm lăng Campuchia Thăng Tổng tham mưu trưởng năm

1986, rồi Bộ trưởng quốc phòng và cuối cùng Chủ tịch nhà nước

Lê Quảng Ba: Gốc người Tày, tư lệnh đầu tiên của sư đoàn 316 (còn gọi là sư đoàn Thổ) trong những năm trận chiến Đông dương I Bị khai trừ cùng lúc với Chu Văn

Tấn

Lê Ngọc Bi: Tư lệnh mặt trận tỉnh lộ 13 Tây Ninh năm 1978, có lẽ lúc đó kiêm nhiệm

tư lệnh sư đoàn 2

Lê Duẩn Gia nhập phong trào cộng sản rất sớm Từng giữ những chức vụ quan trọng như bí thư xứ uỷ Trung Kỳ rồi Nam Kỳ Sau khi Trường Chinh bị mất chức, được cử

làm Bí thư thứ nhất (1957), rồi Tổng bí thư (1976)

Lê Quang Hoà: Tư lệnh quân khu IV năm 1979

Lê Thiết Hùng: Tốt nghiệp Hoàng Phố, tư lệnh Liên Khu Tư năm 1946 Chỉ huy trưởng trường Lục quân từ 1947 tới 1954 Cùng các cố vấn Trung quốc phát động Rèn

cán chỉnh quân để thanh lọc hàng ngũ sĩ quan

Lê Linh: Thiếu tướng Cộng quân Việt nam, chính uỷ quân đoàn 2 từ 1974

Lê Hồng Phong: Được gửi đi Liên xô trong thập niên 1920, học trường chính trị Stalin

và làm lính không quân Liên xô Được Quốc tế cộng sản gửi về sau năm 1930, đứng

đầu ban “Chỉ huy ở ngoài”, bị Pháp bắt năm 1940

Lê Khả Phiêu: Phó chính uỷ quân đoàn 2 năm 1975 Tới 1991 làm tổng cục trưởng

tổng cục chính trị thay Nguyễn Quyết

Trang 7

Lê Trọng Tấn: Đại tướng, bí danh Ba Long, xuất thân hạ sĩ quan quân đội Pháp Trong chiến tranh Đông dương I, làm tư lệnh sư đoàn 312 Trong chiến tranh Đông dương II, làm tham mưu trưởng Cục R Năm 1972, chỉ huy quân đoàn 72 E đánh Quảng Trị Tới

1975, chỉ huy cánh quân duyên hải đánh xuống miền Nam Sau 1975, làm Tổng tham mưu phó quân đội Năm 1980, thay Văn Tiến Dũng làm Tổng tham mưu trưởng Chết

bất ngờ năm 1986, sau khi được đề cử làm Bộ trưởng quốc phòng

Lê Thanh: Năm 1979, thiếu tướng quân đội nhân dân Việt nam, tư lệnh phó quân khu

I

Lê Đức Thọ: Tên thật Phan Đình Khải, theo cộng sản từ 1925, từng bị cầm tù tại Sơn

La Năm 1949, được cử vào hoạt động tại miền Nam Sau 1954, được cử làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng Từ 1968 đến 1973, cố vấn cho Xuân Thuỷ tại Hội nghị

Ba Lê Được coi như cánh tay mặt của Lê Duẩn sau 1975, đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh với Campuchia Bị mất chức năm 1986, khi đảng cộng sản phải “cải

tổ” để xoa dịu sự bất mãn của nhân dân

Liêu Thừa Chí (TQ): Chủ tịch Uỷ ban Hoa kiều Hải ngoại Vụ của Trung hoa, người đầu tiên công bố chính sách của Trung hoa đối với Hoa kiều hải ngoại

Lưu Thiếu Kỳ (TQ): Chủ tịch nhà nước Trung quốc từ 1958 đến 1967 Là mục tiêu chính của Hồng vệ binh Thầy dạy nhiều cán bộ lãnh đạo Cộng đảng Việt nam, trong

đó có Hoàng Văn Hoan

Lon Nol (Campuchia): Tham mưu trưởng quân đội Campuchia từ 1954 Đảo chánh

Sihanouk năm 1970, và làm quốc trưởng tới 1974

Lý Tiên Niệm (TQ): Phó Thủ tướng Trung quốc nhiều năm (từ 1962) Chủ tịch nhà

nước Trung hoa từ 1983 đến 1988

Mai Xuân Tần: Tham mưu trưởng Quân Đoàn 2 năm 1979 Sau thăng thiếu tướng Mao Trạch Đông: Chủ tịch đảng cộng sản Trung hoa từ 1945 đến 1976 Tư tưởng cũng như đường lối của Mao đã được các lãnh tụ cộng sản Việt nam tôn sùng và học tập Nghiêm Kế Tổ: Lãnh tụ Việt nam Quốc dân đảng có uy tín với Quốc dân đảng Trung hoa, từng can thiệp để cứu Hồ Chí Minh ra khỏi tù Thứ trưởng ngoại giao trong chính

phủ liên hiệp 1945

Ngô Đình Diệm: Thủ tướng rồi Tổng thống Nam Việt nam từ 1954 Bị giết trong vụ

đảo chánh ngày 1-11-1963

Trang 8

Ngô Điền: Đại sứ Việt nam tại Phnom Penh trước 1978 và sau 1979

Ngô Đình Nhu: Em ruột và cố vấn cho Ngô Đình Diệm, bị giết cùng lúc với anh Ngô Trọng Hiếu Đại sứ Nam Việt nam tại Phnom Penh thời Tổng thống Diệm Dự

phần trong các âm mưu lật đổ và ám sát Sihanouk

Nhim Ros (Campuchia): Bí thư khu uỷ khu Tây Bắc của Khmer Đỏ, bị Pol Pot thanh

trừng vào cuối năm 1977

Nguyễn Hữu An: Từng tham dự trận Điện Biên Phủ với chức Trung đoàn trưởng Tư lệnh quân đoàn 2 sau 1975 Sau trận chiến Đông dương III, được thăng trung tướng,

thay Hoàng Minh Thảo làm Giám đốc Học viện quân sự

Nguyễn Thế Bôn: 1975 tư lệnh phó quân đoàn 1, năm 1979 phụ tá cho Hoàng Cầm chỉ huy quân đoàn 4 để xâm lăng Campuchia Năm 1980, được thăng làm một trong nhiều

Tổng tham mưu phó quân đội

Nguyễn Nhơn: Tư lệnh sư đoàn 2 Năm 1979 thay Nguyễn Hữu An làm tư lệnh quân

đoàn 2 trong một thời gian ngắn

Nguyễn Khắc Hào Chính uỷ sư đoàn 3 trong trận chiến Việt Hoa Mấy năm sau thăng

thiếu tướng, tư lệnh quân đoàn 5 Tân lập

Nguyễn Xuân Hoà: Thiếu tướng, tư lệnh binh đoàn 94, một binh đoàn được thành lập tại Campuchia, rút về nước năm 1987 và bị giải thể Năm 1990, Nguyễn Xuân Hoà

được cử làm chính uỷ quân khu VII

Nguyễn Nam Hưng: Tư lệnh sư đoàn 303 thuộc lực lượng quân khu VII xâm lăng từ

hướng tây bắc Tây Ninh

Nguyễn Văn Linh: Bí danh Mười Cúc, bí thư thành uỷ Sài gòn năm 1975 Được vào

Bộ Chính trị năm 1976 Tới 1986, được bầu Tổng bí thư Được Gorbachev hậu thuẫn,

phát động chính sách “đổi mới”

Nguyễn Quyết: Tư lệnh quân khu III năm 1979, sau đó được thăng Thượng tướng, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị từ năm 1987, thay Chu Huy Mân Còn được giữ chức tư lệnh quân đoàn 68, một quân đoàn được thành lập năm 1979 để phòng thủ biên giới

Việt Hoa Quân đoàn này bị giải thể cuối năm 1980

Nguyễn Sơn: Tốt nghiệp Hoàng Phố và phục vụ Cộng quân Trung hoa, theo Mao Trạch Dông chạy đến Diên An Về nước sau 1945 được cử làm tư lệnh Liên Khu Tư

Vì bất hoà với Hồ và Giáp nên bị gửi trả về Trung quốc

Trang 9

Nguyễn Cơ Thạch: Thứ trưởng ngoại giao năm 1979 Thay Nguyễn Duy Trinh làm

ngoại trưởng năm 1980 Tới 1992 bị mất chức

Nguyễn Quốc Thước: Tư lệnh quân đoàn 3 tại Campuchia sau khi Kim Tuấn tử trận

Năm 1988, thay Hoàng Cầm làm tư lệnh quân khu IV

Nguyễn Duy Trinh: ngoại trưởng chính phủ cộng sản nhiều năm cho tới 1980 Nguyễn Thanh Tùng Thiếu tướng Cộng quân Tư lệnh binh đoàn 99, một binh đoàn được thành lập để bình định Campuchia Binh đoàn này rút về nước năm 1987, có lẽ

đã bị giải thể Hiện Tùng được cử làm chính uỷ kiêm tư lệnh phó quân khu IX Nguyễn Duy Thương: Tư lệnh sư đoàn 3, sư đoàn chính phòng thủ Lạng sơn Nguyễn Trọng Vĩnh Đại sứ Việt nam tại Bắc kinh trong thời gian tranh chấp Nguyễn Văn Vịnh: Trung tướng Cộng quân, bị kết tội làm gián điệp cho Liên xô trong những năm Liên xô chủ trương “xét lại” Nhưng chỉ bị giáng xuống thiếu tướng khi

Việt nam muốn lấy lòng Liên xô

Nguyễn Trọng Xuyên: Chính uỷ quân khu III năm 1979 Hiện là tổng cục trưởng tổng

cục hậu cần

Nuon Chia (Campuchia): Nhân vật số 2 của Khmer Đỏ sau Pol Pot

Pen Sovan (Campuchia): Cán bộ Cộng Sản Campuchia Tập kết đi Hà nội năm 1954, đeo quân hàm thiếu tá Cộng quân Việt nam trước khi được đưa về năm 1979 Được đề

cử làm Chủ tịch đảng cộng sản mới thành lập năm 1979, sau đó bị mất chức vì không

được lòng cán bộ Việt nam

Phạm Văn Ba: Đại sứ Việt nam tại Phnom Penh trước 1978

Phạm Văn Đồng Bí danh Lâm Bá Kiệt, theo cộng sản rất sớm Học trường Bưởi nhưng bỏ học vì rớt Tú tài Bộ trưởng Tài chánh năm 1945 Thủ tướng Bắc Việt từ

1954 đến 1975, Thủ tướng cả nước từ 1975 đến 1986 Nơi nào, lúc nào mà Đồng làm Thủ tướng có lẽ là thời gian và nơi chốn mà nhân dân Việt bị nghèo đói và điêu linh

nhất

Phạm Hùng: Tên thật Phạm Văn Thiện, trong thời kỳ chiến tranh Đông dương III, đứng hàng thứ tư trong Bộ Chính trị Sau đó có lúc được làm Thủ tướng một thời gian

ngắn

Phan Hiền: Một trong nhiều Thứ trưởng ngoại giao của Việt nam

Phương Nghị (TQ): Cán bộ Cộng đảng Trung hoa Từ 1961, là Chủ tịch Uỷ ban Kế

Trang 10

hoạch Nhà nước trực tiếp phụ trách công tác viện trợ cho Việt nam trong nhiều năm

Năm 1978 là Phó Thủ tướng

Pol Pot (Campuchia): Tên thật Saloth Sar Lãnh tụ Khmer Đỏ

Sam Sary (Campuchia): Cựu cố vấn của Sihanouk Đại sứ Campuchia tại Luân Đôn năm 1957 Trở thành đối lập sau khi bị triệu hồi Mất tích từ 1962, có lẽ bị Sihanouk

cho người ám sát

Siêu Heng (Campuchia): Nhân vật số 2 phong trào cộng sản Campuchia trong chiến

tranh Đông dương I Hồi chánh Sihanouk năm 1959

Sihanouk Norodom (Campuchia) Hiện đã trở về làm Quốc trưởng Campuchia, một chính trị gia khôn khéo, nhưng cũng gặp nhiều phen trầm từ khi cầm quyền trong một

nửa thế kỷ qua

Sirik Matak (Campuchia): Đối thủ chính trị của Sihanouk, cùng Lon Noi đảo chánh

năm 1970 Từ chối di tản, và ở lại bị Khmer Đỏ giết

So Khaeng (Campuchia): Đại sứ Campuchia tại Hà nội tới 1977, về nước bị thanh trừng vì bị một viên chức ngoại giao Hà nội “ôm hôn thắm thiết” khi từ giã tại phi

trường

So Phim (Campuchia) Cán bộ lãnh đạo Khmer Đỏ, từng giữ những chức Uỷ viên thường vụ đảng, phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, tư lệnh quân khu Đông Bị Pol Pot

thanh trừng ngày 2-6-1978

Son Sann (Campuchia): Cựu Bộ trưởng Tài Chánh thời Sihanouk trước kia, lập một Mặt trận giải phóng sau khi Việt nam xâm lăng, hiện đứng đầu một trong ba thành

phần của chính phủ liên hiệp

Son Sen (Campuchia): Bộ trưởng quốc phòng của Khmer Đỏ

Sơn Ngọc Minh Campuchia) Chủ tịch đầu tiên của cộng sản Campuchia, tập kết đi Hà

nội năm 1954 rồi chết ở Bắc kinh

Sơn Ngọc Thành (Campuchia) Chính khách Campuchia, sinh tại Nam Việt nam Bộ

trưởng ngoại giao rồi Thủ tướng năm 1945

Souphanouvong (Lào) Thuộc hoàng tộc Lào, theo cộng sản, được giữ chức Chủ tịch

nhà nước sau 1975

Sùng Lãm: Tư lệnh đặc khu Quảng Ninh sát biên giới Việt Hoa năm 1979

Sử Chân Hoa (TQ): Tư lệnh hải quân Trung hoa năm 1979

Ngày đăng: 13/05/2021, 21:27