Cuộc chiến tranh Đông Dương gắn liền với các chiến lược toàn cầu của Mỹ đã diễn ra ác liệt và tàn khốc, nhưng nếu nhìn nhận kỹ chúng ta sẽ thấy những năm 60, cuộc chiến trang Đông Dương
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của thầy giáo Nguyễn Đôn Thanh, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử cùng toàn thế các bạn gần xa
Nhân dịp đề tài hoàn thành, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy giáo Nguyễn Đôn Thanh, các thầy cô giáo trong khoa cùng toàn thể các bạn
Sinh viên Nguyễn Thị Huyền
Trang 2PHẦN Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự ra đời của "Trật tự lưỡng cực Ianta" , đã đưa quan hệ quốc tế bước vào một thời kỳ căng thẳng cực độ của cuộc Chiến tranh lạnh, làm bùng phát những cuộc chiến tranh nóng cục bộ ở nhiều khu vực trên thế giới Cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài suốt
30 năm (1945 - 1975) gắn liền với các chiến lược toàn cầu của Mỹ là một thí dụ điển hình
Mục tiêu xác lập ách thống trị Đông Dương là mối quan tâm của 6 đời Tổng thống Mỹ từ F Rudơven đến Nichxơn Trước khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đã có dấu hiệu can thiệp vào Đông Dương với việc không muốn Pháp dành quyền kiểm soát ở khu vực này Ý đồ của Mỹ là muốn biến Đông Dương thành khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của mình nên đã dùng Tưởng Giới Thạch để thực hiện âm mưu đó Nhưng sau khi không thực hiện được ý đồ này, Mỹ từ chỗ bất đồng với Pháp, quay lại giúp Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và Mỹ trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến tranh này từ năm 1949 trở đi Khi Pháp thất bại (1954),
Mỹ đã hiện diện ở Đông Dương bằng cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài hơn
20 năm (1954 - 1975)
Cuộc chiến tranh Đông Dương gắn liền với các chiến lược toàn cầu của
Mỹ đã diễn ra ác liệt và tàn khốc, nhưng nếu nhìn nhận kỹ chúng ta sẽ thấy những năm 60, cuộc chiến trang Đông Dương dưới "Chiến lược hoà bình" của Kennơđi có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình thế giới và nhất là với nước
Mỹ lúc bấy giờ
Trang 3Với thắng lợi của phong trào Đồng Khởi năm 1960 ở miền Nam Việt Nam thì "Chiến tranh đơn phương" của Mỹ đã thất bại, Mỹ rơi vào sự bế tắc không lối thoát Hơn nữa, tình hình thế giới diễn ra phức tạp có chiều hướng bất lợi cho Mỹ, sự đối đầu Đông - Tây quyết liệt hơn khi chủ nghĩa xã hội ngày càng phát triển và mở rộng trên phạm vi thế giới Kennơđi lên nắm chính quyền nhận thấy sự khó khăn của tình hình nên ông đã đề ra chiến lược mang tính toàn cầu mới: "Chiến lược hoà bình" Với việc điều chỉnh chiến lược này thì Đông Dương không còn là nơi thí điểm cho "Chủ nghĩa thực dân mới" mà Đông Dương trở thành điểm nóng tối quan trọng, quyết định sự sống còn của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á Khi Kennơđi còn là nghị sĩ ông đã nói: Việt Nam là hòn đá tảng, là chiếc cầu vòm và là nơi xung yếu của thế giới tự
do ở Đông Nam Á, nếu mất Việt Nam thì cả Đông Nam Á sẽ sụp đổ Chính vì vậy mà khi lên nắm chính quyền, Kennơđi đã xác định Đông Dương là địa bàn chiến lược quan trọng, là mục tiêu để Mỹ chiến thắng Ông coi Đông Dương là cái hàn thử biểu chính xác đo thành bại của Mỹ ở Á, Phi, Mỹ La Tinh và toàn thế giới, là vấn đề trung tâm của quan hệ quốc tế thời kỳ này Vì những lý do đó mà cuộc chiến tranh Đông Dương những năm 60 dưới con mắt của Mỹ là rất quan trọng, bằng mọi giá Mỹ phải nắm được Đông Dương trong bàn tay tham lam của mình
Cuộc chiến tranh Đông Dương đã đi qua, nhưng những vấn đề liên quan thì vẫn đang là mối quan tâm cho tất cả mọi người Cho đến nay không chỉ có các nhà sử học mà còn có rất nhiều các nhà chính trị, nhà quân sự trong
và ngoài nước đã nghiên cứu về cuộc chiến tranh này Tại sao Việt Nam thắng? tại sao Mỹ thua? vấn đề "hậu chiến tranh Việt Nam" ra sao vẫn đang còn gây nhiều bàn cãi Đặc biệt vấn đề "Chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương" thì vẫn chưa có quan điểm thống nhất và chưa được trình bày một cách có hệ thống Cho nên việc nghiên cứu đề tài này không chỉ có ý
Trang 4nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nó giúp chúng ta hiểu đúng, hiểu toàn diện về những chính sách của Mỹ, về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta
Vậy tại sao giai đoạn 1961 - 1968 trong cuộc chiến tranh Đông Dương lại có vị trí quan trọng đến như vậy và nó diễn ra như thế nào dưới "Chiến lược hoà bình" của Kennơđi? Việc nghiên cứu sâu giai đoạn này có ý nghĩa ra sao? Đó là những câu hỏi không chỉ thu hút sự quan tâm của bản thân tôi, mà thu hút tất cả những sinh viên chuyên ngành Lịch Sử và những ai quan tâm đến cuộc chiến tranh này
Vì những lý do trên mà tôi quyết định chòn đề tài "Chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương dưới thời Kennơđi - Giônxơn" làm khoá luận tốt nghiệp của mình, mong sao qua việc nghiên cứu này sẽ giúp độc giả hiểu đúng và có cách nhìn mới về cuộc chiến tranh Đông Dương, đặng bổ sung cho những kiến thức đã học
2 Lịch sử vấn đề
Cuộc chiến tranh Đong Dương đã lùi xa gần 30 năm, nhưng những vấn
đề liên quan đến nó thì vẫn đang là mối quan tâm cho tất cả chúng ta Đã có rất nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về cuộc chiến tranh này, nhưng để đi sâu nghiên cứu một giai đoạn cụ thể thì chưa có Đặc biệt khi tìm hiểu về những chính sách của Mỹ thì vẫn đang còn là vấn đề mơ hồ, chưa rõ ràng và chưa được trình bày có hệ thống
Trong cuốn sách tham khảo "Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và những bài học về kinh nghiệm về Việt Nam" của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1995 cũng đã trình bày về chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương dưới thời Kennơđi - Giônxơn Nhưng tác giả của cuốn sách này
là Roberts - McNamara, vị Bộ trưởng quốc phòng của Mỹ suốt 7 năm (1961 - 1968) trong cuộc chiến tranh Đông Dương đã trực tiếp đối mặt với diễn biến
Trang 5của tình hình, cho nên quan điểm của tác giả có phần thiếu khách quan, đôi khi trình bày chưa đầy đue và chưa đúng sự thật
Cuốn sách "Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu" của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1996 do Lý Thực Cốc dịch cũng đã nêu khá đầy đủ
về những chiến lược toàn cầu của Mỹ và sự điều chỉnh những chiến lược toàn cầu đó trong điều kiện lịch sử cụ thể Tuy nhiên, tác giả chỉ trình bày ở dạng tổng quát mà không đi vào các chính sách của Mỹ trong một giai đoạn nhất định Cho nên việc tiếp cận cuốn sách này để hiểu sâu sắc chính sách của
Mỹ vẫn là vấn đề khó khăn, khó khai thác
Một công trình nghiên cứu gần đây nhất của một học giả nước ngoài,
đó là "Đặc biệt tin cậy" của Anatôli Đôbrưnlin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2001 cũng đề cập khá rõ về chính sách đối ngoại của các Tổng thống Mỹ Song cuốn sách này đi sâu vào vấn đề đối ngoại của Mỹ với Liên Xô, còn những chính sách về Đông Dương của Chính phủ Mỹ chỉ đề cập ở phạm vi mối quan hệ với Liên Xô mà thôi
Cuốn sách trình bày khá rõ và khá đầy đủ về những chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương cho đến nay vẫn là cuốn: "Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Nichxơn" Đây là cuốn sách của Nhà xuất bản Thông tin lý luận Hà Nội 1986 do Vũ Bích Hợp dịch, mặc dù cuốn sách này không đi sâu vào một giai đoạn hay của một Tổng thống Mỹ cụ thể, nhưng đây có thể xem là tài liệu cơ bản giúp chúng ta dễ tiếp cận với những chính sách cuả Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương
Bên cạnh còn có rất nhiều các tài liệu khác, các nguồn thông tin tư liệu khác, nhưng tất cả chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu khái quát mà chưa đi vào một giai đoạn cụ thể Với bản thân là một sinh viên, trình độ nghiên cứu chưa quen, kiến thức còn hạn chế, việc tiếp cận với tài liệu chưa nhiều, cho nên đi sâu vào nghiên cứu giai đoạn 1961 - 1968 của cuộc chiến tranh Đông
Trang 6Dương tôi chỉ mong sao qua đó để độc giả có cách nhìn đúng về cuộc chiến tranh này Từ đó rút ra những kết luận xác thực từ vấn đề mà mình nghiên cứu
3 Nhiệm vụ của đề tài
Đi vào nghiên cứu đề tài này tôi tự đặt cho mình mấy nhiệm vụ cần giải quyết sau:
Nhiệm vụ thứ nhất: Bối cảnh lịch sử trước khi Kennơđi lên làm Tổng thống như thế nào
Nhiệm vụ thứ hai: Những chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương như thế nào và việc áp dụng vào cuộc chiến tranh Đông Dương ra sao
Nhiệm vụ thứ ba: Rút ra những nhận xét đánh giá
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp truyền thống như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống để trình bày có hệ thống những chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương dưới thời Kennơđi - Giônxơn Qua đó rút ra những kết luận và bài học nhận thức từ đề tài mà tôi nghiên cứu
5 Bố cục của đề tài
Gồm ba chương:
Chương 1 Bối cảnh quốc tế trước thời Kennơđi
1.1 Sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội
1.2 Sự lớn mạnh của Tây Âu và Nhật Bản
1.3 Sự thay đổi quan điểm của ban lãnh đạo Liên Xô đứng đầu
là Khơrúpsốp
1.4 Tình hình Đông Dương và vị trí chiến lược của khu vực
này dưới cách nhìn của Chính phủ Mỹ
Chương 2 Chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương
Trang 72.1 Chính sách đối ngoại của Mỹ
2.2 Chính sách của Chính phủ Kennơđi- Giônxơn trong
cuộc chiến tranh Đông Dương
2.2.1 Tình hình Đông Dương cuối những năm 50
2.2.2 Giai đoạn từ 1961 đến 1963
2.2.3 Giai đoạn từ 1964 đến 1968
Chương 3 Đánh giá chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh
Đông Dương dưới thời Kennơđi – Giônxơn
3.1 Giai đoạn từ 1961 đến 1963
3.2 Giai đoạn từ 1964 đến 1968
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: BỐI CẢNH QUỐC TẾ TRƯỚC THỜI KENNƠĐI
1.1 Sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ trở thành nước giàu mạnh nhất, chiếm ưu thế về mọi mặt trong thế giới tư bản chủ nghĩa Điều đó được lý giải bằng việc Mỹ tham gia chiến tranh thế giới thứ hai trong điều kiện hoà và thuận lợi
Lục quân Mỹ đã vươn lên hàng đầu, hải quân và không quân cũng vượt
xa các nước khác Đặc biệt một thời gian đầu sau chiến tranh, Mỹ đang nắm độc quyền về bom nguyên tử và phương tiện đưa vũ khí tới đích xa Bên cạch
đó Mỹ lại có nền tài chính mạnh, có khối lượng dự trữ vàng lớn nhất thế giới,
là nước chủ nợ duy nhất trên thế giới, ngay cả Anh và Pháp trước đây là chủ
nợ của Mỹ thì sau chiến tranh cũng phải vay Mỹ
Một nền kinh tế, khoa học - kỹ thuật như vậy đã tạo nền tảng tương đối vững chắc để Mỹ thực hiện đường lối đối nội, đối ngoại hiếu chiến của mình Điểm nổi bật trong đường lố đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh cho đến
Trang 8năm 1973 là hầu hết các đời Tổng thống Mỹ đều đưa ra những chiến lược toàn cầu, phôi thai của nó là do Gióoc giơ Kênan nêu ra
Tuy nhiên, Mỹ cũng nhận thức được rằng không chỉ có Mỹ đang ở vị trí "con át chủ bài", mà bên cạnh đó còn có Liên Xô và hàng loạt các nuớc xã hội chủ nghĩa đang ngày càng lớn mạnh về tất cả mọi phương diện Khi chủ nghĩa phát xít Đức vừa bị đánh bại vào tháng 5 năm 1945, Tư lệnh không quân Mỹ G.Acnôn cho rằng: "Kẻ thù tiếp theo của chúng ta là Nga" Tướng
Mỹ Mác Actơ, tháng 11 năm 1945 cùng bàn với tướng Anh Brúc: Chúng ta phải chuẩn bị chiến tranh và tập trung ít nhất một nghìn quả bon nguyên tử ở Anh và Mỹ, phải tiến công nước Nga từ Mỹ mà những căn cứ ở Ôkinaoa (Nhật Bản) là những nơi dừng chân lý tưởng để lấy xăng dầu Điều này chứng
tỏ Mỹ đã ý thức sâu sắc việc chủ nghĩa công sản đang lan tràn khắp Đông Âu
và Châu Á Nó cũng lý giải vì sao các đời Tổng thống Mỹ cứ mãi cố thực hiện cho được những mục tiêu đặt ra khi đang ở cương vị lãnh đạo một siêu cường
Cuối những năm 50, Liên Xô đã phát triển mạnh mẽ về mọi lĩnh vực và
đã có những lĩnh vực Liên Xô không những đuổi kịp mà còn vượt xa Mỹ Trong các lĩnh vực đó thì việc Liên Xô đã trở thành một quốc gia công nghiệp hùng mạnh làm Mỹ quan tâm hơn cả Việc Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử vào năm 1949 đã phá thế độc quyền về vũ khí hạt nhân của Mỹ Song biểu tượng cho sự tiến bộ khoa học - kỹ thuật ở Liên Xô còn là cuộc chinh phục vũ trụ Tháng 10 năm 1957, Liên Xô đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên Tiếp đó là những tên lửa vũ trụ đã đưa những động vật lên
vũ trụ, đổ bộ xuống mặt trăng Và tháng 4 năm 1961, con người đã bước vào
vũ trụ, người đầu tiên của trái đất, công dân Liên Xô: Iuri Gagarin Sau đó là tên tuổi của G.Titốp, A.Nicôlaiép, Valentina Têrếchxcôva Những thành quả
to lớn trên của Liên Xô đã làm thay đổi sâu sắc về so sánh lực lượng giữa hai
Trang 9nước và trên thế giới Hơn nữa nó làm cho dư luận Mỹ phải hốt hoảng trước
"khoảng cách chênh lệch" về tên lửa giữa Mỹ và Liên Xô Đặc biệt nó làm cho chiến lược quân sự toàn cầu "trả đũa ồ ạt" của Mỹ bị khủng hoảng trầm trọng Bởi từ nay Liên Xô có tên lửa vượt đại châu thì lãnh thổ của Mỹ không còn là đất thánh bất khả xâm phạm nếu họ liều lĩnh phát động chiến tranh hạt nhân
Bên cạnh sự lớn mạnh của Liên Xô, chủ nghĩa xã hội đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới Cách mạng Cuba thành công vào năm 1959 và việc Cuba tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội đã cho thấy chủ nghĩa xã hội lần đầu tiên đã có mặt ở Tây bán cầu Chủ nghĩa xã hội không chỉ ở phạm vi Châu
Âu, Châu Á mà đã phát triển đến cả Châu Mỹ la tinh rộng lớn Thắng lợi của cách mạng Cuba có ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc đối với phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ la tinh Mỹ đã mất hết những quyền lợi béo bở ở đất nước giàu có này Ngoài ra, sự tồn tại và phát triển của một nước Cuba xã hội chủ nghĩa ở ngay sát cạnh Mỹ là một điều mà giới thống trị Mỹ không thể nào chấp nhận được
Phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ la tinh cuối những năm 50 phát triển rất mạnh mẽ Chỉ tính từ năm 1954 đến năm 1960 ở châu Phi đã có đến 17 nước dành được độc lập Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 ở Việt Nam đã làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của Pháp, gây ảnh hưởng lớn đến phong trào giải phóng dân tộc ở Bắc Phi, Tây Phi và châu Phi xích đạo
Mở đầu bằng cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân Angiêri (tháng 11 năm 1954), đến năm 1956 có đến 4 nước là Tuyniđi, Marốc, Xuđăng và Gana giành được độc lập, năm 1958 thì có Ghinê Riêng bán đảo Đông Dương đang đứng trước nguy cơ bị cộng sản hoá
Tất cả những điều trên đã làm Mỹ điên cuồng và phải thừa nhận một thực tế: Mỹ đã thất bại trong "Chiến lược trả đũa ồ ạt" mà Mỹ đề ra Thực tế
Trang 10lịch sử đặt Mỹ trước những thử thách lớn: Từ bỏ hay theo đuổi mộng làm bá chủ thế giới, người kế nhiệm của Aixenhao sẽ hành động như thế nào khi lên cầm quyền ở nước Mỹ
1.2 Sự lớn mạnh của Tây Âu và Nhật Bản
Khi Liên Xô tạo được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ thì Mỹ
đã tỏ ra yếu kém Mỹ vừa không dám dùng vũ khí hạt nhân, vừa không có sức
áp dụng chiến tranh hạn chế, vì thế mà "Chiến lược trả đũa ồ ạt" đi vào ngõ cụt không có lối thoát Trong khi Mỹ lao sâu vào những cuộc đấu tranh ở khắp các khu vực trên thế giới, nhất là cuộc chạy đua vũ trang thì Tây Âu và Nhật Bản nổi lên như một hiện tượng thần kỳ Mỹ mãi "chìm đắm" trong chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Đông Dương thì Tây Âu và Nhật Bản lại thêm khởi sắc
Khoảng 5 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản và Tây Âu hoàn thành khôi phục kinh tế và đi vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, rút ngắn dần khoảng cách giữa họ với Hoa Kỳ Với Nhật, những năn 50, 60 nền kinh tế
có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng mà dư luận phương Tây suy tôn là "Thần
kỳ Nhật Bản" Vì Nhật Bản kiếm được những lợi nhuận khổng lồ do thực hiện những đơn đặt hàng của Mỹ Cuộc chiến tranh Việt Nam cũng thế, nó đã làm suy giảm mạnh mẽ nền kinh tế Mỹ thì ngược lại, nó lại là "ngọn gió thần" thứ hai thổi vào nền kinh tế Nhật Bản cũng vì những đơn đặt hàng của Mỹ [12,306]
Tâu Âu cũng bắt đầu phát triển cao hơn cả Mỹ Cùng với nhịp độ phát triển nhanh chóng, cơ cấu kinh tế cũng thay đổi nhiều Các ngành cơ khí, hoá chất, năng lượng phát triển cao nhất, trong khi đó các ngành truyền thống như luyện kim, may mặc, thực phẩm tuy phát triển nhưng ở mực độ thấp hơn; các mặt hàng tiêu dùng mới lâu bền như ô tô, tủ lạnh, tiện nghi sinh hoạt tăng lên rất nhiều
Trang 11Quan trọng hơn cả là nửa cuối những năm 50, khối "Thị trường chung"
và khối "Mậu dịch tự do" ra đời Mục đích là các nước tư bản Tây Âu muốn liên kết với nhau thành một Liên minh Châu Âu nhằm chống lại hệ thống xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào cách mạng vô sản ở các nước Tây Âu và chống phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Đồng thời đây là
sự liên kết có tính quốc tế của tư bản tài chính nhiều nước, thành lập Cácten quốc tế kiểu mới, nhằm giải quyết hiện tượng sản xuất vô chính phủ trên phạm vị quốc tế và nhằm điều hoà mâu thuẫn giữa các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Điều quan trọng cuối cùng là Liên hiệp Tây Âu nhằm điều hoà mâu thuẫn giữa các nước Tây Âu và chống lại sự cạnh tranh xâm nhập của Mỹ
Việc các thành viên rời khỏi "Mậu dịch tự do" sau khi khối này giải tán
và xin gia nhập vào khối "Thị trường chung Châu Âu" đã làm cho Mỹ phải đối diện với những thử thách mới đe doạ đến địa vị của Mỹ lúc bấy giờ
1.3 Sự thay đổi quan điểm của ban lãnh đạo Liên Xô đứng đầu là Khơrúpsốp
Tình hình thế giới diễn ra theo chiều hướng bất lợi cho Mỹ thì ở Liên
Xô, ban lãnh đạo mà đứng đầu là Khơrúpsốp đã có những quan điểm chính trị mới mà theo một số nước xã hội chủ nghĩa cho rằng Liên Xô đi theo con đường chủ nghĩa xét lại hiện đại Tại Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành vào tháng 2 năm 1956, trong phiên họp cuối cùng kết thúc Đại hội, Khơrúpsốp đã đọc báo cáo về "Tệ sùng bái cá nhân và hậu quả của nó" Báo cáo đã dẫn ra nhiều sự kiện "đàn áp, khủng bố" dưới thời Xtalin Điều này cũng có cái đúng vì tệ sùng bái cá nhân đã tồn tại từ lâu, song đó lại nhằm phủ nhận công lao của Xtalin Nếu sự phủ nhận đó trong giai đoạn hiện nay thì hậu quả sẽ không lớn lắm, nhưng ở thời điểm năm 1956 thì đã làm giảm vị trí của Đảng Cộng sản Liên Xô, gây chia rẽ trong phong trào cộng sản
Trang 12quốc tế, vì đụng đến Xtalin là đụng đến một quá khứ hào hùng của nhân dân
Xô viết Quan điểm này của Khơrútsốp đã được Mỹ đặc biệt chú ý và lợi dụng để thực hiện chính sách đối ngoại của mình
Ban lãnh đạo Liên Xô đứng đầu là Khơrúpsốp đã nóng vội khi nhận định về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, họ cho rằng: Liên Xô đã cơ bản hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và mục tiêu trước mắt là bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa cộng sản Chính kế hoạch kinh tế 7 năm (1959-1965) đề ra để thực hiện mục tiêu đó, nhưng thực tế đã thất bại hoàn toàn, thay cho tăng trưởng 70% theo kế hoạch thì chỉ đạt có 15% (trong nông nghiệp) [12,158] Ở đây chứng tỏ nhận thức sai lệch, chủ quan thậm chí nóng vội của ban lãnh đạo Liên Xô Chính từ nhận thức này
mà Khơrúpsốp cho rằng nhiệm vụ đặt ra trước mắt không phải là đối đầu với
Mỹ mà thực hiện một chính sách chung sống hoà bình để tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho việc phấn đấu thực hiện những mục tiêu đặt ra Trong bức điện gửi Kennơđi của Khơrútsốp ngày 20 tháng 1, Chính phủ Liên Xô đã bày tỏ hy vọng: quan hệ hai nước sẽ được cải thiện một cách cơ bản và toàn
bộ thế giới sẽ trở nên lành mạnh
Về chính trị, Khơrúpsốp cho rằng nền tảng chính trị Liên Xô giờ đây không phải là chuyên chính vô sản như Mác, Ăngghen, Lênin nêu ra mà là chính quyền của toàn dân Còn Đảng, từ trước đến nay là Đảng của giai cấp
vô sản thì nay được thay thế bằng khái niệm Đảng của toàn dân Như vậy, trong quan điểm của ban lãnh đạo Liên Xô đã phủ nhận hoàn toàn quan điểm của Lênin và Xtalin đưa ra
Chính sách đối ngoại cũng đã thay đổi, không còn sự đối đầu mà thắng thua được quyết định bằng mọi mặt như dưới thời Xtalin, giờ đây là thi đua hoà bình, quá độ hoà bình Điều đó cũng dễ hiểu khi một vị nguyên thủ quốc gia lần đầu tiên của Liên Xô thực hiện chuyến công du thăm Mỹ, sự kiện này
Trang 13càng chứng tỏ quan điểm của ban lãnh đạo Liên Xô Song nó đã dấy lên sự chống đối mạnh mẽ của một số nước xã hội chủ nghĩa, trong đó đứng đầu là Trung Quốc Liên Xô ghép cho Trung Quốc theo chủ nghĩa giáo điều và sự rạn nứt giữa Trung Quốc và Liên Xô đã xuất hiện Kennơđi đã ý thức được điều đó và tiến hành một số biện pháp để khoét sâu mâu thuẫn này Đây là một điều kiện thuận lợi để Kennơđi - một nhà chính trị tài ba đưa ra "Chiến lược hoà bình" mà một phần mục tiêu của nó là thực hiện quá trình diễn biến hoà bình nhằm thay đổi bản chất chế độ xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
1.4 Tình hình Đông Dương và vị trí chiến lước của khu vực này dưới cách nhìn của Chính phủ Mỹ
Cuối những năm 50, tình hình Đông Dương diễn ra khá phức tạp, gây cho Mỹ nhiều khó khăn thử thách Bấy giờ Pháp đã thất bại nặng nề trên chiến trường Đông Dương, Mỹ bị giáng một đòn chí mạng trong âm mưu can thiệp vào Đông Dương Điều này đẩy tình thế cách mạng của nhân dân Đông Dương lên tới đỉnh cao Mặc dù phải gánh chịu hậu quả nặng nề của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, song không vì thế mà nhân dân Đông Dương từ bỏ mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước Ngược lại nó càng thúc đẩy nhân dân Đông Dương nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước vững mạnh để tiếp tục công cuộc chống "thù trong giặc ngoài"
Như chúng ta đã biết thì sau khi ký Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam được giải phóng, có điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội,tạo dựng cơ sở vật chất cho cách mạng cả nước và ủng hộ cách mạng Lào, cách mạng Cămpuchia, thúc đẩy tinh thần đoàn kết của nhân dân Đông Dương
Với phong trào Đồng Khởi năm1960 ở miền Nam, lực lượng cộng sản không còn nằm trong tầm kiểm soát của Mỹ Nguy cơ cộng sản đã lan tràn
Trang 14khắp Đông Dương và đã phát triển khá mạnh về chất Điều này buộc Mỹ tăng cường can thiệp hơn nữa vào Đông Dương dưới thời Kennơđi
Hơn nữa vị trí của Đông Dương có tầm chiến lược quan trọng, ngay từ thời Tổng thống Rudơven thì Đông Dương đã trở thành một căn cứ tiền tiêu quan trọng để thực hiện mục đích nắm quyền kiểm soát Inđônêxia, nước có nhiều dầu lửa Các hải cảng và các sân bay ở Đông Dương rất có ích và thiết yếu trong cuộc tấn công của Nhật đánh chiếm Malaixia, Xingobo và Inđônêxia
Khi Kennơđi lên nắm chính quyền, khu vực Đông Dương vẫn là nơi quan trọng dưới con mắt của Mỹ Việc kiểm soát nửa phía Tây của Lào là tối quan trọng cho việc phòng thủ Thái Lan, một đồng minh mạnh nhất của Mỹ trên đất liền ở Đông Nam Á Chính vì thế mà Lào là sự thách thức quan trọng đối với chính sách của Mỹ, Việt Nam là một trong những vấn đề đối ngoại khó khăn nhất mà Mỹ phải đương đầu
Toàn bộ tình hình trên, cộng với sự yếu kém về mọi mặt của Mỹ đã khiến cho Kennơđi đề ra chính sách mới, chuyển từ chính sách cực đoan hiếu chiến sang "Chiến lược hoà bình" Cuộc khủng hoảng trong chiến lược quân
sự toàn cầu của Mỹ, đặc biệt trong so sánh lực lượng quân sự giữa Mỹ và Liên Xô càng làm cho các nhà chiến lược Mỹ phải tính đến hai điều: Một là phải chuyển hướng chiến lược toàn cầu từ đối đầu quyết liệt sang hoà hoãn với Liên Xô, nhằm tập trung đối phó với phong trào giải phóng dân tộc đang ngày càng phát triển, trở thành mối nguy cơ đe doạ trực tiếp chủ nghĩa đế quốc Mỹ; mặt khác đi vào hoà hoàn với Liên Xô, Mỹ hy vọng có cơ hội khuét sâu mâu thuẫn giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Trung Quốc
và Liên Xô Thứ hai là điều chỉnh chiến lược quân sự linh hoạt hơn nhằm thực hiện cả ba loại hình chiến tranh: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ
và Chiến tranh bằng vũ khí hạt nhân
Trang 15Như vậy, tình hình thế giới, tình hình Đông Dương trước con mắt của
Mỹ đã rất nghiêm trọng Cho nên năm1961 khi bước vào Nhà Trắng, Kennơđi lập tức đưa ra chiến lược toàn cầu mới mà chiến lược này đã chi phối chính sách đối ngoaị của Mỹ trong suốt những năm 60, cho đến khi người kế nhiệm của ông là Giônxơn rời Nhà Trắng vào năm 1968 đó chính là "Chiến lược hoà bình" Vậy "Chiến lược hoà bình" là như thế nào, chiến lược này được thực hiện trong cuộc chiến tranh Đông Dương ra sao dưới thời Tổng thống Kennơđi - Giônxơn? Đó là những vấn đề được đề cập ở chương 2
Trang 16Chương 2: CHÍNH SÁCH CỦA MỸ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH
ĐÔNG DƯƠNG DƯỚI THỜI KENNƠĐI - GIÔNXƠN
2.1 Chính sách đối ngoại của Mỹ
Điểm nổi bật trong đường lối đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cho đến năm 1973 là hầu hết các đời Tổng thống Mỹ đều đưa ra những chiến lược toàn cầu Các chiến lược chỉ khác nhau ở thủ đoạn và biện pháp tiến hành, còn mục đích và bản chất không hề thay đổi Tất cả tựu trung vào thực hiện ba mục tiêu: 1 - Ngăn chặn bao vây tiến tới tiêu diệt hệ thống
xã hội chủ nghĩa trên hành tinh này; 2 - Đàn áp phong trào dân tộc và những lực lượng hoà bình dân chủ đấu tranh cho những mục tiêu cơ bản của thời đại;
3 - Lệ thuộc các nước tư bản và tập hợp các nước này trong một mặt trận đồng minh dưới sự lãnh đạo của Mỹ
Dưới thời Tổng thống Rudơven, chính sách đối ngoại của Mỹ có phần hoà dịu, nhất là đối với khu vực Đông Dương Khi Pháp có ý định quay trở lại xâm chiếm Đông Dương thì Rudơven không những đã không muốn giúp Pháp dành lại quyền kiểm soát thuộc địa ở khu vực Đông Nam Á, mà còn thúc dục những người lãnh đạo, đồng minh cùng với ông thiết lập sự uỷ trị quốc tế để thay thế cho chính quyền Pháp Thế nhưng Rudoven đã chết gần hai tháng sau khi ở Hội nghị Ianta trở về Trong bốn năm rưỡi tiếp theo, Chính phủ Mỹ ít quan tâm đến việc đề cao sự nghiệp tự quyết cho các dân tộc Đông Dương Điều này khiến ta tự hỏi: Nếu Rudơven còn sống thì liệu sự việc có gì khác chăng? Có thể là dù cho Pháp có nghi ngờ Rudơven sẽ đi đến quyết định ủng hộ Hồ Chí Minh, người mà mùa xuân năm 1945 đã đưa các lực lượng Việt Minh ở vào vị trí có thể tuyên bố là tổ chức thân Đồng minh chủ yếu ở Đông Dương? Liệu Đông Duơng có phải trải qua hai cuộc chiến tranh dành độc lập đau thương và mất mát hay không ? Tất cả đã bị thay đổi khi người kế nhiệm của ông là Tổng thống Tơruman với một chính sách đối
Trang 17ngoại hiếu chiến và cực đoan
Ngay sau khi nhậm chức Tổng thống, Tơruman đã đưa ra học thuyết mang tên mình: "Chủ nghĩa Tơruman" với mục tiêu ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản sang Châu Âu Gắn liền với "Chủ nghĩa Tơruman" là kế hoạch Mácsan Nội dung chủ yếu của "Chủ nghĩa Tơruman" và kế hoạc Mácsan là viện trợ kinh tế, cung cấp cho các nước Tây Âu 12 tỷ USD ứng dụng và trợ cấp trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1951, vừa giúp vực dậy nền kinh tế các nước bị kiệt quệ sau chiến tranh, củng cố chủ nghĩa tư bản
ở Tây Âu vừa tạo cho Mỹ thị trường rộng lớn nhằm thu những lợi nhuận béo
bở, vừa thực hiện khống chế nền kinh tế các nước đồng minh Tây Âu Hơn nữa kế hoạch Mácsan còn là miếng mồi ngon để nhử các nước Đông Âu, để các nước Đông Âu không phát triển theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội Nhưng các nước Đông Âu đã không cắn mồi và không mắc phải lưỡi câu nguy hiểm đó
Chính sách ngoại giao của Mỹ thời Tổng thống Tơruman khác xa so với chính sách mềm dẻo linh hoạt dưới thời Tổng thống Rudơven trước đó Tơruman thực hiện chính sách ngoại giao trên sức mạnh, lôi kéo các nước đồng minh và chư hầu tham gia vào các Liên minh quân sự đa phương do Mỹ đứng đầu, tiêu biểu là NATO, ANZUS Như vậy, chiến lược quân sự toàn cầu quân sự của Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã hình thành, nó được dựa trên cơ sở độc quyền vũ khí nguyên tử, de doạ ngăn chặn, đẩy lùi Liên Xô và các nước dân tộc tự dứng lên giải phóng Phương tiện thực hiện là bộ ba vũ khí: Vũ khí nguyên tử, máy bay ném bom chiến lược B29 và hệ thống các căn
Trang 18qua Nhưng âm mưu và hy vọng của Mỹ đã hoàn toàn bị phá sản khi hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới không những không bị tiêu diệt mà còn làn rộng khắp Á, Phi, Mỹ La Tinh Thực tế bao giờ cũng là câu trả lời xác đáng nhất cho chính sách hiếu chiến của Chính phủ Mỹ "Chiến lược ngăn chặn" tuy đã đưa nước Mỹ lao nhanh trên con đường chạy đua vũ trang, cột chặt các nước đồng minh trên các lục địa, quay cổ xe quân sự do Mỹ điều khiển đã làm cho tình hình thế giới ở trong bầu không khí căng thẳng của cuộc Chiến tranh lạnh, nhưng dù Mỹ có nhiều âm mưu thủ đoạn vẫn không thể nào ngăn chặn được sự lớn mạnh của phong trào cách mạng thế giới, nhất là ở Đông Dương thì giờ điểm chung cho hai tên đế quốc cũ và mới đã đến Thế nhưng Mỹ không dừng lại mà vẫn tiếp tiến sâu trên con đường thực hiện mộng làm bá chủ với việc đề học thuyết chiến lược mới "Chiến lược trả đũa ồ ạt" dưới thời Tổng thống Aixenhao
Phong trào Đồng Khởi năm 1960 đã đánh dấu sự thất bại của "Chiến tranh đơn phương", điều này đặt Mỹ trước những thử thách mới Dưới tác động của tình hình quốc tế, buộc Mỹ phải thông qua Kennơđi để mong tìm ra lối thoát cho chính sách cực đoan hiếu chiến mà Tơruman - Aixenhao đề ra và thực hiện thất bại Tiếp theo Kennơđi là Giônxơn, Giônxơn tiếp tục đường lối của Kennơđi cho đến khi ông rời Nhà Trắng vào năm 1968
Việc điều chỉnh chiến lược toàn cầu lần thứ hai của Mỹ là nhằm giải quyết những yêu cầu và đối phó với những thử thách nói trên So với chủ nghĩa Tơruman - Aixenhao thì "Chiến lược hoà bình" của Kennơđi đã khác ở một số thủ đoạn và biện pháp tiến hành, nhưng mục đích và bản chất vẫn như nhau không hề thay đổi "Học thuyết hoà bình" của Kennơđi được che đậy bởi những thủ đoạn hoà bình nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở
Á, Phi, Mỹ la tinh, tranh thủ "khu vực trung gian", "thế giới thứ ba", các nước dân tộc chủ nghĩa, thúc đẩy các nước xã hội chủ nghĩa đi trên con đường
Trang 19"diễn biến hoà bình", theo chủ nghĩa xét lại hiện đại
Biểu hiện rõ nét của cái gọi hoà bình mà Kennơđi nêu ra đó là cuộc gặp
gỡ giữa đại hai Chính phủ Liên Xô và Mỹ tại Viên vào năm 1961 Cuộc gặp
gỡ đã bàn về vấn đề giải trừ quân bị, trong đó có nghị quyết về cấm phát triển
vũ khí hạt nhân Như vậy, quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô thời kỳ này đã cởi mở hơn Trong bài phát biểu công khai của mình sau khi đắc cử, Tổng thống mới Kennơđi đã nhiều lần tuyên bố rằng Chính phủ của ông chủ trương cải thiện quan hệ với Liên Xô và giải quyết các vấn đề quốc tế bằng con đường thương lượng Trong công hàm ngày 24 tháng 1, Chính phủ Mỹ khẳng định rằng Tổng thống Kennơđi đã ra lệnh cấm các máy bay Mỹ vi phạm không phận của Liên Xô Thế nhưng, suốt năm 1960 bầu trời đã không được trong sạch như mong đợi ban đầu Dù sao đây cũng là biểu tượng chứng tỏ cho cái gọi là hoà bình mà Tổng thống Kennơđi đưa ra và rêu rao thực hiện
Chiến lược mới mà Kennơđi điều chỉnh gồm 3 bộ phận cấu thành: đó là
kế hoạch "xây dựng biên giới mới và xã hội vĩ đại" ở Mỹ nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở trong nước, chính sách đối ngoại hoà bình, thực hiện hoà hoãn với Liên Xô nhằm tập trung lực lượng chống phá phong trào giải phóng dân tộc Ngay sau cuộc tranh cử, ông đã chứng tỏ là một chính trị gia sâu sắc
và một sự khôn khéo hiếm thấy Khẩu hiệu "biên giới mới" của ông cũng chứa đựng những lời hứa hẹn tương tự như khẩu hiệu "tự do mới" của W.Wilson; "Chính sách mới" của FD.Roosevelt hay "Chính sách công bằng" của Tơruman Nhưng với việc "gợi lại một quá khứ hào hùng, ông đã mở ra một chân trời vô tận cho một dân tộc năng động như dân tộc Mỹ"[3,338]
Từ ngày 3 tháng 3 năm 1961, chỉ sau hơn một tháng nhậm chức Tổng thống, Kennơđi đã đưa ra một kế hoạch rộng lớn nhằm tập hợp chặt chẽ hơn nữa những nước Mỹ la tinh chung quanh Hoa Kỳ Cũng như những người tiền nhiệm của mình, Tổng thống Kennơđi hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của
Trang 20khu vực Trung và Nam Mỹ đối với sự thịnh vượng và an ninh của Hoa Kỳ, nhất là từ khi xuất hiện một nước Cuba xã hội chủ nghĩa ngay bên cạnh Mỹ Ông cũng ý thức được sự thiếu thiện cảm, nếu không muốn nói là thù địch của các nước Mỹ la tinh dành cho anh láng giềng khổng lồ ở phía Bắc Ông
đề nghị các nước này hợp tác với Hoa Kỳ trong một kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội rộng lớn với thời gian 10 năm Số tiền 20 tỷ USD dành cho một kế hoạch vĩ đại không khỏi làm người ta nhớ lại kế hoạch Mácsan thời hậu chiến
ở Châu Âu Theo lời của Kennơđi, kế hoạch này nhằm "xây dựng một bán cầu mà trong đó mọi người đều có thể hy vọng một mức sống cao hơn và sống cuộc đời của mình trong phẩm giá và tự do" [3,341-342]
Kennơđi đã từng nói: trên huy chương của Tổng thống, Mỹ có con chim ưng vuốt bên trái quặp cành ô liu, vuốt bên phải quặp mũi tên, chúng tôi
dự định cũng sẽ làm như thế Chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" với cả ba loại hình chiến tranh được xây dựng trên cơ sở học thuyết của Tướng Mác xoen Taylo đề ra trong cuốn "Tiếng kèn ngập ngừng" Năm 1959 Taylo cho ra mắt tập sách nhỏ "Tiếng kèn ngập ngừng" lần đầu tiên nêu lý luận "Chiến lược phản ứng linh hoạt", chủ trương đưa chiến tranh làm ba loại: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh hạn chế và Chiến tranh hạt nhân, xây dựng một lực lượng quân sự đa dạng hoá nhằm trong bất kỳ thời gian nào và địa điểm nào, dùng vũ khí và chiến dịch phản ứng thích hợp với tình hình [2,46]
Về mặt quân sự, Mỹ chấp nhận lấy "Chiến lược phản ứng linh hoạt" làm chính sách quốc gia của Mỹ Kennơđi công khai nói: chúng ta cần một thứ vũ khí tốt hơn bom khinh khí, thứ vũ khí tốt hơn ấy là sự hợp tác hoà bình Ông còn nói: sự hiểu biết lẫn nhau giữa Liên Xô và Mỹ nếu được sẽ tạo
ra tâm lý hoà bình trên toàn thế giới Ông cũng mong muốn Mácxcơva sẽ có
sự hiểu biết về ý tưởng một thoả thuận tạm thời và đồng ý từ bây giờ giải quyết một số vấn đề tranh chấp mà không đụng chạm đến uy tín của Mỹ và
Trang 21Liên Xô Sự cải thiện không khí căng thẳng sẽ đưa chúng ta đi nhanh lên phía trước Ông đề nghị hai bên không đe doạ lẫn nhau, đừng làm cho tình hình thêm căng thẳng mà nên thừa nhận trách nhiệm chung đối với việc kiên nhẫn tìm kiếm giải pháp chung thay cho vì nó có những hành động đơn phương hấp tấp để tạo ra mối nguy cơ đe doạ hoà bình đang tồn tại
Như vậy chính sách đối ngoại của Kennơđi có phần hoà dịu hơn Mục đích chuyển từ đối đầu sang đối thoại với Liên Xô của Mỹ là để tranh thủ thời gian và điều kiện củng cố sức mạnh bên trong của Mỹ, hơn nữa tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện "diễn diến hoà bình" ở Đông Âu Xuất phát từ nhận định, phe chủ nghĩa xã hội không còn là một khối thống nhất, Mỹ đã tiến hành cải thiện quan hệ với Đông Âu nhằm tạo cơ hội để thực hiện mục đích của mình
Kennơđi nói: "chúng ta muốn hoà bình như thế nào? Không phải thứ hoà bình dành được bằng vũ khí và chiến tranh, không phải thứ hoà bình đạt được bằng những nấm mồ hay sự hy sinh của những kẻ nô lệ Tôi muốn nói đến thứ hoà bình thực sự mà nó làm cho cuộc sống trên trái đất này đáng sống, thứ hoà bình mà tất cả mọi người và các dân tộc đều được phát triển, hy vọng được nhìn thấy con cháu họ sống tốt đẹp hơn Đó không phải là thứ hoà bình chỉ dành riêng cho người Mỹ, mà cho tất cả mọi người nam nữ trên thế giới, không chỉ phải hoà bình cho thời đại ta mà cho tất cả mọi thời đại" Ông còn nói: "một điều thật rõ ràng là một dân tộc không thể mạnh hơn trên thế giới hơn là trong một nước Chỉ có một nước Mỹ thuyết giáo về quyền bình đẳng và công lý xã hội sẽ được các nước khác tôn trọng" [13,53] Điều này chứng tỏ chính sách đối ngoại của Mỹ đã có sự xuống thang, không còn hiếu chiến cực đoan như trước nữa Song thực chất của "Chiến lược hoà bình" không hoàn toàn hoà bình như Kennơđi tuyên bố
Với "Chiến lược phản ứng linh hoạt", Mỹ chủ trương ra sức chuẩn bị
Trang 22cho cuộc "Chiến tranh hạn chế" "Chiến tranh hạn chế" gồm hai hình thức: hình thức "Chiến tranh đặc biệt" sẽ áp dụng với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, khi hình thức chiến tranh của đối phương chủ yếu là chiến tranh du kích, trong trường hợp địch chống lại những cuộc chiến tranh quy mô hơn thì
Mỹ sẽ áp dụng "Chiến tranh cục bộ", tức Mỹ trực tiếp tham chiến với việc dùng quân viễn chinh là chủ yếu bên cạnh lực lượng tay sai người bản xứ Hai hình thức này chính là vũ khí tấn công sắc bén mà Mỹ sử dụng với bất kỳ một nước nào dám chống lại hay khuấy động "thế giới tự do"
Hình thức chiến tranh cao nhất là hình thức chiến tranh với phe xã hội chủ nghĩa Mỹ áp dụng "hình thức chiến tranh trả đũa ồ ạt tức là tấn công bằng tất các mạnh vốn có của mình, bằng vũ khí hạt nhân Để thực hiện một cách có hiệu quả, Kennơđi một mặt tăng cường vũ khí hạt nhân, mặt khác gấp rút phát triển lực lượng vũ trang thông thường" [2,46] Mỹ cũng bắt đầu triển khai hệ thống phòng chống tên lửa chống đạn đạo hạt nhân, tất cả các quân chủng đều được tăng cường "Năm 1961 có 2,5 triệu quân thì đến năm 1968 tăng lên 3,5 triệu quân Riêng lục quân từ 0,86 triệu năm 1961 lên đến 1,75 triệu năm 1968 Nhưng ngược lại với tiền viện trợ quân sự cho nước ngoài hàng năm giảm xuống, năm 1961 là 1,353 tỷ USD, đến năm 1968 xuống còn 0,656 tỷ USD, riêng viện trợ kinh tế thì xấp xỉ như trước (gần 2 tỷ USD) Tổng số ngân sách quốc phòng của Mỹ tăng lên rất nhanh, năm 1961 là 46,5
tỷ USD thì năm 1968 tăng lên 68,4 tỷ USD" [2,50]
Sau tập sách "Tiếng kèn ngập ngứng" của Mácxen Taylo thì đến năm
1965, Chính phủ Mỹ lại tiếp nhận "Chiến lược từng bước leo thang" của nhà
lý luận quân sự Conhen Ông chia thành 7 giai đoạn, 44 nấc thang và 6 cửa, từ khủng hoảng đến diễn biến chiến tranh lớn hạt nhân toàn diện, nhằm giúp cho người lãnh đạo chính trị tiến hành khống chế khủng hoảng và cân nhắc quyết sách Lý luận của Conhen được xem là cụ thể hoá "Chiến lược phản ứng linh
Trang 23hoạt" Lúc ấy chỉ tiêu chuẩn bị chiến tranh của quân Mỹ là đòi hỏi có khả năng đánh "hai cuộc chiến tranh rưỡi", tức đồng thời có thể tránh cuộc chiến tranh ở Châu Âu, Châu Á và có thể đánh cuộc chiến tranh nhỏ đàn áp phong trào giải phóng dân tộc Nhưng điều này làm cho chiến lược của Mỹ rơi vào mâu thuẫn vì mục tiêu thì rộng mà phương tiện lại hạn chế Với lý luận của Conhen, chúng ta còn thấy rõ bản chất hiếu chiến của Hoa Kỳ Mặc dù đã có những bước xuống thang, song đó chỉ là sự khác nhau về thủ đoạn và biện pháp tiến hành còn mục đích vẫn không thay đổi
Bên cạnh đó, Mỹ tiếp tục duy trì hệ thống các nước đồng minh, đặc biệt
là Liên minh quân sự NATO Chúng ta đã biết thì NATO với một mạng lưới dày đặc các căn cứ quân sự trọng yếu đang phình to và thu hút hơn 60 vạn quân trong tổng số 1 triệu quân Mỹ ở khắp các đại lục Sau "Học thuyết Tơruman" và kế hoạch Macsan, việc thành lập NATO là một bước tiến mới
và cũng là một bộ phận quan trọng trong việc thực hiện những kế hoạch thống trị thế giới của Mỹ Hơn thế mạng lưới nhân viên gián điệp của Cục tình báo Trung ương Mỹ CIA núp dưới danh nghĩa là "các đội hoà bình", "đội tình nguyện quốc tế" thâm nhập vào nhiều nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ la tinh
Để che đậy những danh từ lừa bịp như "bảo vệ hoà bình, an ninh chung", "bảo vệ tự do", "bảo vệ di sản và an ninh chung của các dân tộc", Mỹ
đã lôi kéo đồng minh thành lập khối quân sự dưới quyền chỉ huy của Mỹ Mỹ
đã khống chế các nước ký thêm một bước nữa về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế để biến các nước này thành những căn cứ quân sự và nguồn cung cấp nhân, tài lực cho Mỹ Vì thế ngay sau khi thành lập, NATO đã chất chứa nhiều mâu thuẫn gay gắt, Anh và Mỹ tranh dành nhau quyền lãnh đạo và ảnh hưởng trong khối NATO, Pháp và Tây Âu vươn lên cũng đang đấu tranh gay gắt đòi Mỹ chia sẻ quyền lãnh đạo, năm 1966 Pháp tuyên bố rút khỏi bộ chỉ
Trang 24huy NATO Đến đây thì địa vị quốc tế của Mỹ đã sa sút nghiêm trọng, ngay
cả trong mối quan hệ với các anh bạn đồng minh của Mỹ
Không chỉ có NATO, Mỹ còn thành lập các khối liên minh quân sự khác ở mọi khu vực nhằm hỗ trợ cho NATO và bao vây Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đó là Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật (tháng 9 năm 1951), khối ANZUS (tháng 9 năm 1951), SEATO ở Đông Nam Á (tháng 9 năm 1954), khối CENTO ở Trung cận Đông (năm 1959)
Ngoài các chính sách đối ngoại về quân sự phản cách mạng, thì về mặt chính trị nhất là văn hoá, Mỹ tung ra các chiêu bài nhằm đánh sập các nước giám chống lại Mỹ, không ủng hộ Mỹ
Trong lịch sử loài người, mọi cuộc chiến tranh xâm lược đều cho thấy sức mạnh quân sự chỉ là bước khuất phục ban đầu, còn sức mạnh văn hoá mới
là tiềm ẩn đảm bảo cho quá trình xâm lược hoàn tất lâu dài Để làm điều đó,
Mỹ thực hiện chính sách và thủ đoạn tinh vi làm thui chột bản sắc văn hoá dân tộc các nước Á, Phi, Mỹ la tinh Trước đây dân tộc Việt Nam cũng đã từng đối mặt với những chính sách đó như Hán hoá Mỹ đưa ra các thủ đoạn như tuyên truyền qua báo chí, đài phát thanh, qua sách vở, tiểu thuyết, băng hình, phim ảnh để du nhập lối sống Mỹ và tư tưởng sợ Mỹ Một mặt chúng ca ngợi chủ nghĩa tư bản, mặt khác rêu rao nói xấu chủ nghĩa xã hội Cái kiểu
"diễn biến hoà bình" và cuộc tấn công văn hoá của bọn phản cách mạng đã bất chấp biên giới địa lý, bất chấp những bản sắc văn hoá dân tộc, nó luôn mồm xuyên tạc phủ nhận cái giá trị bền vững của chân lý khách quan, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ truyền thống văn hoá dân tộc, truyền thống cách mạng của nhân dân Đồng thời Mỹ lại một mực ca ngợi, thần thánh hoá chủ nghĩa tư bản, phủ nhận tính ưu việt hợp quy luật của chủ nghĩa xã hội Đặc biệt Mỹ ra sức lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc, nhất là những kẻ theo chủ nghĩa cực đoan và bọn phản động đội lốt tôn giáo, kích động và thổi phồng ngọn lửa hận
Trang 25thù dân tộc, phục hồi những tình cảm tôn giáo được lợi dụng với quan niệm 1 USD cho tuyên truyền thì có tác dụng ngang với 5 USD chi cho quốc phòng
Mỹ còn hậu thuẩn cho bọn phản cách mạng lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp sâu vào nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa, rêu rao trong chế độ cộng sản quyền công dân, quyền con người bị chà đạp Chúng còn tìm mọi cách dụ dỗ mua chuộc những nghệ sĩ, tầng lớp tiểu tư sản, những người có tài về Mỹ làm việc với tiền lương rất cao, chúng truyền miệng rằng
"nhân quyền không có biên giới"
Những thủ đoạn trên rất tinh vi và nguy hiểm, nhưng điều đó cũng có thể đưa Mỹ lên tột đỉnh của sự chiến thắng nếu như tất cả các dân tộc, các phần tử mà Mỹ ý thức đã lu mờ đi trước sức mạnh và cạm bẫy của Mỹ, nhưng cũng có thể đưa Mỹ đến thất bại thảm hại nếu như các dân tộc và mọi phần tử
ý thức được bản chất bịp bợm của Mỹ Khi đề ra những nội dung đó, Mỹ đã nhanh chóng thực hiện vào các nước như giật dây các thế lực phản động người bản xứ, tiến hành nhiều cuộc đảo chính quân sự lật đổ các Chính phủ tiến bộ như ở Bôlivia, Hylap, Aicập, Xiri uy hiếp phong trào giải phóng dân tộc ở Trung cận Đông, tiến hành đổ bộ xâm lược Cuba Mỹ đã không dừng lại
ở "không nổ súng, không đổ máu" mà còn phát triển thành những cuộc xung đột quân sự mang tính chất khu vực ở nhiều nơi trên thế giới Đặc biệt đối với bán đảo Đông Dương, Mỹ đã tiến hành hàng loạt các hình thức chiến tranh ởViệt Nam và Lào, sau đó tìm cách lôi kéo Cămpuchia vào guồng máy chiến tranh chung của 3 nước Đông Dương
Ngay khi Kennơđi còn là nghị sĩ, ông đã nói: "Việt Nam là hòn đá tảng,
là chiếc cầu vòm và là nơi xung yếu của thế giới tự do ở Đông Nam Á" Ông cho "Chiến lược trả đũa ồ ạt" của Chính phủ Ai xen hao là một chiến lược vừa không dám đánh lớn cũng không dám đánh nhỏ" [2,248], nên cần phải định ra một chiến lược mới để chỉ đạo hoạt động của Mỹ, "Chiến lược phản ứng linh
Trang 26hoạt" được ra đời chỉ một thời gian ngắn sau khi ông lên cầm quyền Và cũng như các vị Tổng thống trước, Kennơđi - Giôn xơn tiếp tục xác định Đông Dương là địa bàn chiến lược quan trọng nhất, là mục tiêu để Mỹ chiến thắng Kennơđi coi đó là cái hàn thử biểu chính xác đo thành bại của Mỹ ở Á, Phi Mỹ
la tinh và toàn thế giới, là vấn đề trung tâm của quan hệ quốc tế thời kỳ này
Vậy những chính sách của Chính phủ Kennơđi - Giônxơn trong cuộc chiến tranh Đông Dương như thế nào và kết quả ra sao? Tôi xin đi vào phần trọng tâm của đề tài
2.2 Chính sách của Chính phủ Kennơđi - Giônxơn trong cuộc chiến tranh Đông Dương
2.2.1 Tình hình Đông Dương cuối những năm 50
Chúng ta biết rằng, Nhật chiếm đóng Đông Dương trong chiến tranh thế giới thứ hai và Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của Việt Nam ngay sau khi cácn mạng tháng Tám thành công Thế nhưng Mỹ đã ngấm ngầm giúp Pháp quay trở lại Đông Dương vì sợ một sự rạn nứt Pháp - Mỹ có thể làm cho việc ngăn chặn Liên Xô bành trướng ở Châu Âu trở nên khó khăn hơn Điều đó càng chứng tỏ Mỹ coi Đông Dương là một bộ phận cần thiết trong
"chính sách ngăn chặn" của mình, là bức tường thành quan trọng trong "Chiến tranh lạnh" mà Mỹ đã và đang thực hiện
Đặc biệt sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân Đông Dương càng đoàn kết hơn và đấu tranh mạnh mẽ hơn Phong trào cách mạng lan rộng, đỉnh cao là phong trào Đồng Khởi năm 1960 ở miền Nam Việt Nam, nó đã thúc đẩy phong trào cách mạng Đông Dương Ngay bản thân chính quyền EiSenhowen đã đồng ý với quan điểm của Chính phủ Tơruman rằng việc Đông Dương rơi vào tay cộng sản sẽ đe doạ an ninh của
Mỹ Vào tháng 4 năm 1954 Tổng thống EiSenhowen đưa ra lời tiên đoán nổi tiếng rằng: "nếu Đông Dương sụp đổ, phần còn lại của Đông Nam Á sẽ sụp
Trang 27đổ rất nhanh như những quân bài Đômino" [14,44] Vì thế Mỹ đã nhanh chóng thay Pháp đảm đương trách nhiệm bảo vệ Nam Việt Nam theo đường phân giới 1954 Với Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) Mỹ cam kết bảo vệ Đông Dương một cách có điều kiện và từ năm 1955 đến năm 1961, Mỹ đã
"bơm hơn 7 tỷ đô la viện trợ kinh tế và quân sự vào Nam Việt Nam" [14,44]
Những năm ở Thượng nghị viện, Kennơđi đã lập lại chính sách của EiSenhowen về Đông Nam Á Trong bài diễn văn năm 1956, Kennơđi đã nói:
"Việt Nam là hòn đá tảng của thế giới tự do ở Đông Nam Á Đó là con đẻ của chúng ta Chúng ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó"[14,44]
Năm 1956, Diệm đã mở một chiến dịch rộng lớn săn lùng những người lãnh đạo Việt Minh - những người đã ở lại miền Nam sau khi ký Hiệp định ngừng bắn năm 1954 Việt Minh đã phản ứng bằng một chiến dịch bắt giữ, giết chết những cảnh sát, và quan chức địa phương do chính quyền Trung ương chỉ định Chiến dịch này nhanh chóng trở thành cuộc nổi dậy trên phạm
vi cả nước và được sự ủng hộ của bộ phận rất đông nông dân Phong trào nổi dậy ở miền Nam đã chính thức mở đầu dưới danh nghĩa "Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" Thế là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai bùng nổ, Mỹ và Chính phủ Nam Việt Nam cho rằng chiến tranh Đông Dương lần thứ hai bắt đầu vì sự xâm lược của Bắc Việt Nam Nói chung là
Mỹ đã làm ngơ trước bản chất đàn áp của Chính quyền Diệm - nguyên nhân
đã đẩy nhiều người miền Nam vào cuộc chiến đấu chống lại cái thuyết mà Mỹ
và Chính phủ Nam Việt Nam nêu ra về sự xâm lược của Bắc Việt Nam, đây
là âm mưu là cái cớ để Mỹ "lộng hành" tiến hành cuộc chiến tranh Đông Dương
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Cămpuchia tuyên bố đi theo con đường trung lập, cho nên hầu như cuộc chiến tranh Đông Dương dưới thời
Trang 28Tổng thống Kennơđi - Giôn xơn chỉ diễn ra ở Lào thời gian đầu, còn lại thì diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam Chỉ sau này vào cuối những năm 60, khi Níchxơn lên làm Tổng thống thì Cămpuchia mới bị kéo vào guồng máy của cuộc chiến tranh này
2.2.2 Giai đoạn từ 1961 đến 1963
Sau cuộc chiến tranh với quy mô lớn nổ ra ở Việt Nam, điều vô cùng quan trọng đối với các hoạt động hậu cần của Hà Nội là miền Đông nước Lào phải năm dưới sự kiểm soát của mình Đối với Mỹ việc kiểm soát nửa phía Tây nước Lào là tối quan trọng cho việc phòng thủ Thái Lan, một đồng minh mạnh nhất của Mỹ ở Đông Nam Á
Hiệp định năm 1954 về Lào đã yêu cầu các lực lượng Việt Nam rút ra khỏi đất Lào và sát nhập quân đội PhaThét Lào với quân đội Hoàng gia Lào, Chính phủ Lào sẽ từ bỏ các liên minh quân sự và viện trợ quân sự với ngoại bang trừ các mục đích phòng thủ Nhưng Pháp đã được phép duy trì hai căn
cứ quân sự ở Lào, Mỹ cũng được phép cung cấp viện trợ kinh tế và thiết bị quân sự nhưng không được đưa các cố vấn và huấn luyện viên vào Lào
Tuy nhiên, chính sách của Mỹ đối với Lào trong nửa cuối những năm
60 đã trở nên vô cùng lộn xộn, do thiếu sự lãnh đạo vững vàng của Oasinhtơn, quyền hành của Đại sứ Mỹ ở Lào đã bị các quan chức CIA và Lầu Năm Góc công khai chế nhạo Mỹ đã cung cấp vũ khí và tiền bạc cho cả hai quân đội Chính phủ lẫn các lực lượng cánh hữu đang công khai nổi lên chống lại Mỹ Trong khi đó ở Oasinhtơn, Aixenhao đã chuẩn bị trút gánh nặng cho vị Tổng thống mới trủng cử và cho các cố vấn của ông ta "Mặc dù Aixenhao và Kennơđi cách nhau hơn một thế hệ và có quá khứ rất khác nhau, cả hai đều ký tên vào Học thuyết Đômino và coi cuộc khủng hoảng ở Lào là sự thách thức quan trọng đối với chính sách của Mỹ Cả hai đều cảm thấy rằng nhân dân và Chính phủ trên toàn thế giới sẽ đánh giá khả năng của Mỹ trong việc giữ cho
Trang 29một vương quốc đồi núi xa xôi ở biên giới phía Nam Trung Quốc khỏi bị cộng sản tràn qua"[7,82]
Quyết định đâu tiên của Chính phủ Mỹ là việc Kennơđi chơi một canh bạc xem phải chăng trên thực tế việc chia cắt nước Lào sẽ được các bên hữu quan dễ chấp nhận hơn so với một cuộc chiến tranh lớn Do đó mục tiêu tối thiểu của Chính phủ Mỹ ở Lào được xác định là ngăn không cho các lực lượng cộng sản và thân cộng sản đánh chiếm khu vực đất thấp và đông dân của miền Tây nước Lào Chính quyền Kennơđi tuyên bố rằng điều đó sẽ làm cho cuộc chiến tranh ở Lào khỏi lan sang Thái Lan, nếu đạt được kết quả thì những quân cờ Đômino ở Đông Nam Á sẽ không bị sụp đổ Ngày 23 - 03 -
1961, Tổng thống Kennơđi đã nói trong cuộc họp báo trên vô tuyến truyền hình rằng Mỹ đã chuẩn bị để tham dự vào một cuộc Hội nghị Giơnevơ, nhằm bảo đảm quyền trung lập ở Lào Kennơđi còn nói: cái Mỹ muốn ở Lào là hoà bình chứ không phải chiến tranh, một Chính phủ độc lập thực sự chứ không phải là con tốt đen của cuộc Chiến tranh lạnh, mọi giải pháp được kết thúc trên bàn hội nghị chứ không phải trên chiến trường
Thế nhưng, với trận Nậm Thà và việc thành lập Chính phủ Liên hiệp là
sự kiện cuối cùng đã phá vỡ sự chống đối của PhumiNôxavằn Với sự trợ giúp của lực lượng Bắc Việt Nam, lực lượng Pha Thét Lào đã bao vây từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1962 cuối cùng đã dành được thắng lợi Mười hai cố vấn Mỹ có mặt ở đó đã được trực thăng di tản, những người sống sót của quân đội Hoàng gia Lào đã tháo chạy tán loạn, điều này làm cho một số quan chức trong bộ ngoại giao và Nhà Trắng muốn đưa quân Mỹ vào Thái Lan Đến ngày 12 tháng 5 thì họ đã quyết định đưa quân Mỹ vào Thái Lan, tuy nhiên Tổng thống Mỹ chỉ tuyên bố công khai quyết định việc đưa hạm đội 7 vào Vịnh Thái Lan
Ngày 15 tháng 5, Tổng thống Kennơđi tuyên bố rằng 1 nghìn lính Mỹ
Trang 30giữ lại ở Thái Lan sau cuộc tập trận của khối SEATO sẽ được tăng cường thêm 4 nghìn quân nữa Kennơđi nói hoạt động này là "lòng mong muốn đã được xem xét cho các cuộc tấn công vừa qua của lực lượng cộng sản ở Lào và các hoạt động sau đó của các đơn vị cộng sản hướng về phía biên giới Thái Lan Hai ngày sau đó, một lực lượng đặc nhiệm gồm 1800 lính thuỷ đánh bộ
đã đến Thái Lan, sẵn sàng tham chiến ở Lào và thúc ép chính quyền Sài Gòn đưa quân vào Đông Nam Lào để ngặn chặn đường tiếp tế của ta từ Bắc vào Nam Từ giữa năm 1961, quân đội phái hữu Lào từ 3 vạn tăng lên 5 vạn với
11600 cố vấn Mỹ " {6,181} Chúng thúc đẩy bọn phản động tiến công chiếm vùng giải phóng Lào Thực tế từ năm 1961, cùng với việc thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở Việt Nam, Mỹ còn thực hiện "Chiến tranh đặc biệt" cả ở Lào
Chiến thắng trận Nậm Thà buộc Mỹ và tay sai ký kết hiệp nghị Giơnevơ về Lào ngày 23 tháng 2 năm 1962 Hiệp nghị này công nhận Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời lần thứ hai ở Lào Những ngày sau đó, các thế lực phản động lại phá hoại Hiệp định, khủng bố những người yêu nước, phá
vỡ khối liên minh giữa các lực lượng tiến bộ và làm cho Chính phủ Liên hiệp không hoạt động được nữa Song chính Hariman cho rằng Mỹ phải để mặc cho phía cộng sản dành lấy trách nhiệm phá vỡ các hiệp định Giơnevơ và quan điểm này đã trở thành chính sách của chính quyền Mỹ ở Lào thời điểm này
Những năm tiếp theo, Mỹ vẫn tiếp tục cung cấp viện trợ quân sự cho các lực lượng trung thành với chính phủ Xuvana Phuma nhưng dưới dạng bí mật càng tốt để đánh lạc hướng dư luận công chúng Mỹ và không công khai thừa nhận những sự vi phạm Hiệp định của Giơnevơ của chính phủ Mỹ Trên thực tế, nước Lào vốn là nơi có chủ nghĩa bè phái lại là nơi không liên quan đến lợi ích trực tiếp của Mỹ, nên chúng ta thật khó đoán được Mỹ có thể và sẽ
Trang 31làm được gì hơn nữa Cho đến năm 1963, nước Lào đã chia làm hai, các lực lượng cánh tả kiểm soát Miền Đông, lực lượng cánh hữu và trung lập nắm giữ khu vực miền Tây đông dân hơn rất nhiều Nguy cơ một cuộc chiến tranh ở Lào phát triển sang Thái Lan, cũng như nguy cơ quan trọng hơn do sự can thiệp của các cường quốc, có thể dẫn tới cuộc chiến tranh với quy mô lớn tạm thời bị đẩy lùi Song nước Mỹ lại tiếp tục lao sâu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam
Suốt những năm tháng thời Kennơđi, hoạt động của Mỹ dựa trên hai tiền đề mà kết cục cho thấy hoàn toàn trái ngược nhau "Một tiền đề cho rằng việc Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản sẽ đe doạ an ninh nước Mỹ và thế giới phương Tây; tiền đề thứ hai lại cho rằng chỉ có người Nam Việt Nam mới bảo vệ được đất nước họ và rằng Mỹ chỉ nên giới hạn vai trò của mình trong việc giúp đỡ hậu cần và huấn luyện" [14,42] Theo quan điểm thứ hai thì năm 1963 Mỹ đã bắt đầu lên kế hoạch rút lực lượng quân đội Mỹ theo từng giai đoạn Bước đi này đã bị phản đối quyết liệt của những người cho rằng việc rút quân sẽ dẫn tới việc mất Việt Nam và rất có thể cả Châu Á nữa Tổng thống Kennơđi đã kêu gọi nước Mỹ và phương Tây cùng chiụ gánh nặng của một cuộc chiến tranh lâu dài và tù mù Ông nói trong bài diễn văn nhậm chức:"hãy để cho tất cả các quốc gia biết rằng dù họ muốn chúng ta khoẻ mạnh hay ốm yếu, chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, chịu đựng mọi gánh nặng, đương đầu với mọi khó khăn, hậu thuẫn bất cứ người bạn nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào
để đảm bảo sự sống còn và thắng lợi của tự do" {14,45}
Thế nhưng năm 1960, miền Nam Việt Nam đã diễn ra phong trào Đồng Khởi, kết quả phong trào Đồng Khởi đã giành thắng lợi to lớn, nó đă làm thất bại chiến lược "Chiến tranh đơn phương" của Mỹ, làm cho bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền bị đẩy vào tình trạng khủng hoảng Bên cạnh đó, phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ dưới
Trang 32sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
Để đối phó với tình hình này và để cứu vãn chế độ thực dân kiểu mới
mà Mỹ đã dày công dựng lên đang bên bờ của sự sụp đổ, Mỹ đã tiến hành thay thế chiến lược chiến tranh mới, "Chiến lược phản ứng linh hoạt " của Kennơđi được áp dụng vào miền Nam Việt Nam bằng việc cho ra đời "Chiến tranh đặc biệt " Kennơđi cho rằng:" Chiến lược trả đủa ồ ạt" của Aixenhao là chiến lược vừa không giám đánh lớn, cũng không giám đánh nhỏ nên cần phải định ra một chiến lược mới để chỉ đạo hoạt động của Mỹ"
"Chiến tranh đặc biệt" là cuộc chiến tranh phù hợp với chủ nghĩa thực dân mới để thực hiện âm mưu "dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam"
Và nó diễn ra theo công thức: Nguỵ quân, nguỵ quyền, vũ khí Mỹ, do cố vấn
Mỹ chỉ huy "Chiến tranh đặc biệt" được thực hiện qua hai kế hoạch quân sự Stalây - Taylo và Giônxơn - MácNamara Chúng coi việc lập ấp chiến lược là xương sống của chiến lược chiến tranh này
Ngày 8 - 5 - 1961, chính sách đối với Việt Nam đã được phê chuẩn và mang tên là HSAM - 52 với nội dung chủ yếu: "Tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy yểm hộ của phái đoàn cố vấn quân sự MAAG, đưa lực lượng đặc biệt của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, giúp Diệm xậy dựng lực lượng đặc biệt, khoá chặt biên giới chống miền Bắc xâm nhập; Tăng cường mở rộng, cải tiến trang bị và huấn luyện quân đội, coi đó là công
cụ chủ yếu để chống chiến tranh du kích; khẩn trương bình định, lập "ấp chiến lược" hòng dồn hơn 10 triệu dân miền Nam vào các trại tập trung trá hình để thực hiện " tát nước bắt cá", cô lập để tiêu diệt cách mạng miền Nam; ra sức củng cố chính quyền các cấp và đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh phá hoại chống lại miền Bắc" [6,179]
Thực tế thì Mỹ đang đứng trước tình thế tiến thoái lượng nan Nếu người Nam Việt Nam nỗ lực mạnh mẽ thì rất có thể không cần đến quân
Trang 33chiến đấu Mỹ; nếu ngược lại, quân đội Mỹ không thể hoàn thành sứ mạng trong đám dân chúng thờ ơ hoặc thù địch Từ đó mà chính quyền Mỹ không đưa ra được các câu hỏi cơ bản: "Có thật là nếu Việt Nam sụp đổ sẽ kéo theo
sự sụp đổ của cả Đông Nam Á? Liệu rồi điều đó có tạo ra mối đe doạ nghiệm trọng đối với an ninh phương Tây? kiểu chiến tranh gì, thông thường hay du kích sẽ phát triển? chúng ta có thể thắng nổi chiến tranh này nếu quân đội Mỹ cùng chiến đấu bên cạnh quân Nam Việt? chúng ta có cần biết câu trả lời cho những câu hỏi này trước khi quyết định cam kết đưa quân vào hay không?" [14,55]
Mỹ tuyên bố rõ ràng: một trong những mục tiêu không thể thay đổi là ngăn không cho Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản Để thực hiện mục tiêu
đó có hiệu quả, Mỹ tăng cường viện trợ cho Nam Việt Nam về mọi mặt
Ngày 11- 5 - 1961, Mỹ đưa 400 tên lính đầu tiên, thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam, nâng tổng số quân Mỹ ở đây từ 1077 cố vấn quân sự (1960) lên 10640 (1962) - gồm 2360 cố vấn và 8280 tên thuộc các đơn vị kỹ thuật [6,179]
Trong năm tài khoá bắt đầu từ tháng 7 - 1961, viện trợ của Mỹ đã tăng
từ 287 triệu USD so với 209 triệu USD năm trước đó Trong năm tài khoá
1963 viện trợ của Mỹ là 376 triệu USD Mỹ tăng cường cố vấn quân sự, thay
bộ chỉ huy quân sự mới MACV; số cố vấn quân sự tăng từ 2600 năm 1961 lên đến 18000 người năm 1963 Lực lượng không quân, hậu cần cũng dần được đưa vào miền Nam Đầu năm 1963 kế hoạch Stalây - Taylo được tiến hành toàn diện Cuối năm 1962 lực lượng yểm trợ chiến đấu Mỹ đã lên tới 11300 tên, lực lượng quân sự của Diệm cũng tăng lên 354000 người Tháng 7 năm
1961 đợt thí điểm "ấp chiến lược" được triển khai ở Vĩnh Long và Quảng Ngãi Đến tháng 8 - 1961, chúng triển khai trên toàn miền Nam Kế hoạch này Mỹ coi là "quốc sách", dự định dồn 10 triệu dân vào 16000 ấp chiến lược
Trang 34trong tổng số 17000 ấp trên toàn miền Nam, ở những vùng chúng nắm được quyền kiểm soát thì chúng dùng sức mạnh của bộ máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét dồn dân lập "ấp chiến lược ", ở những vùng mà chúng không kiểm soát được, chúng dùng quân đội đánh phá bao vây, cô lập, buộc dân phải chạy vào vùng chúng kiểm soát Chúng còn tiến hành các cuộc hành quân càn quét dài ngày, dùng xe rải bom đạn chà xát nhiều lần, đánh cao từng khu vực, chia thành từng lò để khống chế, biến những "ấp chiến lược" thành điểm tựa phòng thủ chống cộng
Âm mưu của Mỹ thật hiểm độc và biện pháp tiến hành thật dã man Bấy giờ MácNamara được đảm nhận vai trò chủ đạo ở miền Nam Việt Nam Ông bị thu hút vào sự thách thức của loại chiến tranh lật đổ chủ nghĩa cộng sản nói chung và đặc biệt là vấn đề Việt Nam Ông bị lôi cuốn vào nhiệm vụ vạch ra kế hoạch phản ứng của Mỹ, vì chính quyền mới xem Việt Nam là một trong những vấn đề đối ngoại khó khăn nhất mà họ phải đương đầu Cho nên MácNamara rút ra kết luận tự nhiên rằng: "Thực chất của vấn đề Việt Nam là vấn đề quân sự và đã đặt nó vào trong phạm vi trách nhiệm của ông" Điều này khiến cho rất nhiều người gọi cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh của MácNamara
Tháng 4 năm 1961, Kennơđi chỉ thị thành lập một lực lượng đặc nhiệm hỗn hợp về Việt Nam do Ginbatơrích đứng đầu và MácNamara chỉ huy Mục tiêu của Mỹ về nguyên tắc hoạt động "để ngăn chặn sự thống trị của chủ nghĩa cộng sản ở miền Nam Việt Nam, tạo ra cho đất nước này một nền dân chủ luôn luôn tăng tiến và có thể tồn tại được" Ngoài ra còn có 400 người thuộc lực lượng đặc biệt và 100 người cố vấn quân sự khác của Mỹ đã được đưa sang Việt Nam Tuy nhiên, việc tăng cường lực lượng của Mỹ ở Việt Nam lần này không được công bố công khai, vì thực tế đã vi phạm Hiệp định Giơnevơ năm1954, và đây cũng là lần tăng cường lớn nhất kể từ năm 1954
Trang 35Đến tháng 5 năm 1961, trước những khó khăn mới của tình hình và để
có quyết định cuối cùng về vấn đề Việt Nam, Kennơđi cử Giônxơn sang Sài Gòn tìm hiểu thực tế để giúp Kennơđi có quyết định chính xác Giônxơn đã miêu tả Việt Nam và Thái Lan là khu vực lộn xộn bậc nhất Châu Á, và nói rằng chúng "nguy ngập" đối với Mỹ Giônxơn lập luận Mỹ chỉ có hai chính sách để lựa chọn: "Giúp đỡ các nước này ở mức độ tốt nhất với khả năng của chúng ta hoặc là chịu đầu hàng ở khu vực này, rút tuyến phòng thủ của chúng
ta về XanPhranxcô với quan niệm nước Mỹ pháo đài" {7,102}
Vai trò của Giônxơn trong việc vạch kế hoạch về Đông Dương chỉ là thứ yếu Trong báo cáo, ông đã đề nghị: Nếu chúng ta quyết định ủng hộ Việt Nam thì cần thiết phải có 50 triệu đô la viện trợ quân sự và kinh tế Song thực
tế ông không biết chính quyền Mỹ đã yêu cầu Quốc hội phê chuẩn một khoản tiền viện trợ cho Việt Nam lớn hơn con số của Giônxơn gần 6 lần trong năm năm bắt đầu từ tháng 2 năm 1961
Ngày 5 tháng 10 năm 1961, trong bản báo cáo "đánh giá tình hình quốc gia" đã chỉ rõ 80% đến 90% của 17000 Việt cộng ở miền Nam Việt Nam đã được tuyển lựa ngay ở địa phương chứ không phải thâm nhập từ bên ngoài vào Lầu Năm góc cũng đưa ra đánh giá cụ thể hơn là 4000 quân Mỹ để đánh bại Việt cộng, trong khi cần có 128000 quân để đối phó với khả năng can thiệp của Trung Quốc hay Bắc Việt Nam vào cuộc chiến tranh
Trước những đánh giá và đề nghị có tính xung đột này, Kennơđi đã cử Mác Xoen Taylo đến Sài Gòn Mục đích chuyến công du của Taylo là bàn với Diệm và các quan chức Mỹ ở Sài Gòn các cách thức để Mỹ có thể ủng hộ được tốt hơn chính phủ Nam Việt Nam Trong việc đối phó với mối đe doạ nền độc lập của Nam Việt Nam, tại cuộc họp thứ hai và là cuộc họp cuối cùng với Diệm trước khi về nước, Taylo giao cho Diêm một bản liệt kê và những
đề nghị thuộc ba lĩnh vực chủ yếu:
Trang 361 Chính quyền Diệm phải thực hiện cải cách, phải có những thể thức mới để mở rộng những cơ sở của chính quyền và để tiếp thu ý kiến đóng góp của Mỹ
2 Viện trợ của Mỹ về cố vấn chống nổi dậy, ngân quỹ và trang bị
3 Việc đưa ra sử dụng cái gọi là lực lượng đặc nhiệm chống lụt ở Nam Việt Nam [7,106]
Đó là đơn vị gồm khoảng 8000 người Nhưng đến ngày 5 tháng 11 các
cơ quan tình báo ở Oasinthơn đã đưa ra bản đánh giá tình hình dự báo quốc gia, báo động bằng bất kỳ sự tăng cường nào của lính Mỹ vào Nam Việt Nam cũng có khả năng bị lực lượng từ Bắc Việt Nam thâm nhập vào làm cho cân bằng dù Mỹ có đe doạ ném bom Bắc Việt Nam cũng không thể ngăn cản sự chi viện của Hà Nội cho Việt Cộng, còn Mátxcơva và Bắc Kinh thì sẽ phản ứng mạnh mẽ đối với cuộc tấn công thực sự của Mỹ vào Bắc Việt Nam Thế nhưng bộ trưởng MácNamara báo động cho Tổng thống biết rằng lực lượng đặc biệt 8000 mà tướng Taylo đề nghị có thể sẽ không hoàn thành đủ mục tiêu trên MácNanmara nghĩ con số tối đa phải là 6 sư đoàn hay 205000 người
Với những bằng chứng rõ ràng đó, hoàn toàn chắc chắn là Tổng thống Kennơđi không muốn đưa quân Mỹ vào Nam Việt Nam Những yêu cầu mà MácNanmara về việc không đưa các đơn vị chiến đấu mặt đất vào Nam Việt Nam đã rất phù hợp với suy nghĩ của Kennơđi Đây cũng là điều hai vị bộ trưởng đưa ra một chính sách: đưa vào Nam Việt Nam các đơn vị nhỏ của lực lượng đặc biệt Mỹ, chủ yếu làm nhiệm vụ lên giây cót tinh thần cho Nam Việt Nam Tuy vậy, Tổng thống cùng những người cộng sự của ông gần như chắc chắn nhận thấy việc quyết định đưa ra một số lớn cố vấn quân sự và chi viện như vậy sang Việt Nam thì sớm muộn sẽ dẫn đến sự tham gia trực tiếp của
Mỹ vào cuộc chiến tranh
Trang 37Từ giữa năm 1962, mục tiêu được tuyên bố thường xuyên của chính quyền Kennơđi ở Việt Nam là huấn luyện cho người Việt Nam tự bảo vệ họ
Vì vậy mà trong năm1962, lực lượng quân Mỹ ở Nam Việt Nam tăng lên
11000 người trong khi trước đó chỉ là 2600 người Ngoài các cố vấn quân sự,
Mỹ đã cung cấp phi công và nhân viên kỹ thuật để giúp đỡ lực lượng không quân Nam Việt Nam Người Mỹ bắt đầu tham gia vào các cuộc ném bom ở khu vực như là nơi tập trung của việt cộng, cũng như việc yểm trợ gần và vận chuyển các lực lượng Nam Việt Nam bằng máy bay
Sự kiện ngày 5 tháng 2 năm 1962 về việc chiếc trực thăng của Mỹ bị đối phương bắn rơi, Kennơđi đã né tránh thận trọng về câu hỏi chung của sự dính líu mà Mỹ đang dấn sâu ở Việt Nam Kennơđi nói Mỹ đã chi viện cho Nam Việt Nam về kinh tế để duy trì nền độc lập của nó Đây là kiểu phát biểu
mơ hồ một cách có cân nhắc về chính sách của Mỹ với mục đích: làm sao để
an lòng dân chúng Mỹ đồng thời cảnh cáo về quyết tâm của Mỹ, mặt khác cổ
vũ chính quyền Sài Gòn Nhưng trước nguy cơ của sự dính líu vào Đông Dương ngày càng rõ ràng trong con mắt và suy nghĩ của nhân dân cũng như Quốc hội Mỹ, loại phát biểu mơ hồ này dễ dẫn đến sự nghi ngờ nghiêm trọng
về sự đáng tin cậy của Chính phủ Mỹ
Ngày 11 tháng 4 năm 1962, sau khi hai lính Mỹ bị giết trong một trận phục kích của quân giải phóng, các nhà báo đã hỏi Tổng thống về kế hoạch đối phó Ông trả lời rằng Mỹ không thể từ bỏ Việt Nam nơi mà Mỹ đang cố gắng giữ để cho nó khỏi rơi vào sự thống trị của cộng sản Đến cuối năm
1962, sự cải thiện tạm thời về tình hình quân sự của chính quyền Sài Gòn do
sự viện trợ ồ ạt ngày càng tăng của Mỹ tạo ra, đã bị phá huỷ do ảnh hưởng tai hại của gia đình Diệm trong giới quan lại và quân đội Nam Việt Nam Kennơđi còn chỉ ró rằng: Đánh bại một cuộc chiến tranh du kích thật là khó, cần phải có một tỉ lệ 10 hoạch 11 lính chính phủ đối với một người du kích và
Trang 38địa hình Việt Nam là vấn đề khó khăn Từ đó ông đi đến kết luận: Chúng ta không thấy đoạn cuối của đoạn đường hầm, nhưng tôi nghĩ rằng, nó không phải là đen tối so với năm trước mà có phần sáng sủa hơn
Chúng ta biết rằng, trước lúc về Mỹ, Giônxơn đã đề nhị với Kennơđi tăng thêm viện trợ và tăng thêm lực lượng chiến đấu Lúc đó Bộ trưởng ngoại giao cũng như Cục tình báo Trung ương tìm mọi cách thúc ép Tổng thống tăng cường viện trợ cho Diệm, nhưng Diệm lại không muốn Mỹ đưa quân chiến đấu vào miền Nam Mặc dù vậy Giônxơn vẫn tìm mọi cách thúc ép Tổng thống đưa ra quyết định đó
Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam ngày càng mở ra mạnh
mẽ Sự kết hợp ba mũi nhọn đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận có hiệu quả tốt đã đẩy chính quyền Mỹ- Diệm lung lay đến tận gốc Giờ tận số cho chính quyền Diệm gần kề khi cuộc khủng hoảng Phật giáo nổ ra năm 1963 Cuộc tấn công của chính quyền Diệm đánh vào các chùa lớn đã đánh dấu sự cắt đứt vĩnh viễn mối quan hệ của Diệm với nhân dân Nam Việt Nam và với
cả Chính phủ Mỹ Mặc dù Oasinhtơn không hiểu biết toàn bộ sự thật, song chính sách của Mỹ đối với Nam Việt Nam đã đi đến chỗ không có lối thoát
Ngày 24- 8, chỉ sau ba ngày, tin tức về vụ bạo lực này đã bay tới Oasinhtơn Một vài quan chức Mỹ coi đây là cơ hội để loại bỏ chính quyền Diệm Hành động này gây nhiều tranh cãi trong chính quyền Kennơđi lúc bấy giờ Harbinh đề nghị "chúng ta không nên tìm cách luôn thay ngựa, mà chúng
ta nên có hành động thuyết phục làm cho ngựa thay đổi bước đi và hành động của mình! Tuy nhiên sự việc đã diễn ra đúng như giới quan chức hiếu chiến
Mỹ mong đợi Mỹ thấy Diệm và chính phủ của ông không còn đủ sức thực hiện ý đồ của mình nếu như Mỹ không đưa lực lượng trực tiếp vào tiến hành chiến tranh mà quân Việt Nam Cộng hoà không làm được trong tình thế thất bại trước phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam Diệm vừa bị Mỹ có
Trang 39những thúc ép cải tiến kịp thời mà trước tiên là thay đổi, mở rộng cơ cấu chính quyền, Diệm phải chấp nhận để Mỹ đưa lực lượng quân đội vào chiến đấu trực tiếp tại chiến trường miền Nam Chính phủ Mỹ còn đòi Diệm loại Ngô Đình Nhu ra khỏi Chính phủ nếu không sẽ cắt viện trợ Nhưng Diệm đã không thực hiện những đề nghị của Mỹ, cuối cùng Mỹ tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Diệm Tháng 11 năm 1963, Mỹ đã điều khiển cuộc đảo chính, cuộc đảo chính thành công đã kết thúc cuộc đời làm tay sai cho Mỹ của anh
em Diệm- Nhu
Sau cái chết của Diệm và Nhu, Kennơđi luôn bị ám ảnh, bàng hoàng Chính Kennơdi cho rằng "sau hơn hai mươi năm cống hiến, lẽ ra cuộc đời Diệm không phải đến nỗi kết thúc như vậy"[14,9] Điều này chứng tỏ cái chết của Diệm và Nhu đã tác động rất lớn đến Kennơđi, nhưng đây không phải là điều chú ý hàng đầu, điều quan trọng là Mỹ đang đứng trước một khoảng không chính trị ở Nam Việt Nam và không có cơ sở để tiếp tục bất cứ một tiến trình nào thích hợp với các mục tiêu của Mỹ
Như vậy, cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 không phải là giải pháp chính trị có quy mô, mức độ lớn để thay đổi, cứu vãn tình hình miền Nam Đó chỉ là biện pháp "thay ngựa giữ dòng" của chính quyền Mỹ mà thôi
Mà điều này thì thể hiện sự lúng túng, bế tắc của Mỹ đối với chính sách về Việt Nam Tại cuộc họp báo ngày 14 tháng 11, Tổng thống đã hỏi một cách cường điệu rằng : Phải chăng chúng ta đã bất lực ở miền Nam Việt Nam? Tổng thống lại tự trả lời câu hỏi của mình: Tất nhiên vấn đề quan trọng nhất
là an ninh quốc gia của chúng ta, chúng tôi không muốn có quân Mỹ ở đó Ý kiên cuối cùng của Kennơđi vẫn là người Việt Nam phải tiến hành cuộc chiến, Mỹ không thể làm việc thay họ
Cuộc chiến tranh diễn ra đã nằm ngoài dự kiến, bởi cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân miền Nam ngày càng quyết liệt và quy mô không
Trang 40ngừng mở rộng Năm 1963, sau khi Diệm bị giết trong cuộc đảo chính thì tình hình chính trị ở miền Nam ngày càng bất ổn, Mỹ đã nhiều lần thay đổi tay sai nhưng đều không thể cứu vãn được tình thế Trong kỳ họp báo của Hội đồng an ninh quốc gia Pônkéttenbức đã đưa ra đề nghị đầu tiên, đó là Mỹ nên rút khỏi Việt Nam trước khi tình hình chính trị và quân sự phát triển xấu đến mức buộc điều đó phải xảy ra Thế nhưng phó Tổng thống Giônxơn lại cho việc rút lui sẽ là một thảm hoạ lớn cho Mỹ
Trước tình hình phát triển của cách mạng miền Nam, trước những ý kiến trái ngược nhau trong giới cầm quyền Mỹ, Kennơđi khó đưa ra một quyết định trọn vẹn cả đôi đường Trong ba tháng cuối đời làm Tổng thống, Kennơđi đã rất tập trung vào vấn đề việt Nam hơn bất kỳ thời gian nào khác trong quá trình cầm quyền của mình Tại một cuộc phỏng vấn, Kennơđi đã cho biết Mỹ không có dự dịnh cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam Kennơđi cũng đẫ khẳng định lại Học thuyết Đômino và tuyên bố nếu cộng sản tràn qua Nam Việt Nam, thế giới sẽ coi chủ nghĩa cộng sản là làn sóng của tương lai Nhưng Kennơđi lại không hoàn toàn dấn thân vào công thức của Rớt - tức là
Mỹ sẽ ở lại Việt Nam cho đến khi cuộc chiến tranh đã giành được thắng lợi Kennơđi đã cắt giảm chính sách của mình thành một công thức đơn giản: "Cái
gì giúp cho viếc giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh thì chúng ta ủng hộ, cái gì cản trở cố gắng chiến tranh thì chúng ta phản đối: [7,132]
Vậy là sau 9 năm tập trung một cách mù quáng vào việc duy trì Diệm nắm quyền hành, thì việc Mỹ bị lôi cuốn vào việc lật đổ Diệm là một thay đổi bất ngờ, nó biểu lộ sự nghèo nàn và bất lực trong chính sách của Mỹ Chính quyền Kennơđi đã thất bại không tìm ra giải pháp cho vấn đề Việt Nam, có lẽ
ở đây không có câu trả lời cho người ngoài cuộc Bản thân sự thất bại không phải là một thảm hoạ, khi không thể thực hiện điều không thể làm nổi, đặc biệt trong trường hợp nó làm cho người ta hiểu biết nhiều hơn về những gì có