1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mỹ với cuộc chiến tranh đông dương lần thứ nhất 1945 1954

80 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 614,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không dừng lại ở đó việc Mỹ tăng cường xây dựng các khối quân sự ở các khu vực trên thế giới để uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa, khống chế các khu vực trước nguy cơ của chủ nghĩa cộng

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình quốc tế diễn ra hết sức phức tạp, nổi lên là mối quan hệ đối đầu căng thẳng của hai siêu cường Xô - Mỹ, đứng đầu hai phe Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa Mối quan hệ đó được biểu hiện bằng "trật tự lưỡng cực Ianta" kéo dài hơn bốn thập kỷ với cuộc chiến tranh lạnh căng thẳng Do ảnh hưởng của chiến tranh lạnh đã làm bùng phát những cuộc chiến tranh nóng cục bộ ở nhiều khu vực trên thế giới Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 1945-1954, giữa Pháp với nhân dân Đông Dương cũng cũng nằm trong bối cảnh chung đó

Từ lâu, Mỹ đã nhòm ngó đến Đông Dương, song ở Đông Dương Mỹ là người đến sau Khi Mỹ quan tâm nhiều đến Đông Dương thì Pháp đã đặt xong ách thống trị ở khu vực này Chiến tranh thế giới hai kết thúc, Mỹ có điều kiện quan tâm đến Đông Dương nhiều hơn, Mỹ tìm cách thay thế Pháp nhưng vẫn không được Chiến tranh lạnh bùng nổ giữa Mỹ với Liên Xô, tác động rất lớn đến chính sách của Mỹ đối với khu vực này, Mỹ xem Đông Dương là "khu vực then chốt" để ngăn chặn cộng sản tràn xuống Đông Nam

Á Đồng thời viện vào cớ này Mỹ từng bước can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương của Pháp nhằm mưu đồ gạt Pháp độc chiếm lấy Đông Dương

Từ năm 1945 đến 1950 Mỹ thực hiện chính sách ủng hộ Pháp tái chiếm Đông Dương và công nhận các chính quyền quốc gia, mục đích của Mỹ là lôi kéo Pháp vào Liên minh chống cộng, thiết lập chính phủ bù nhìn, để dập tắt ngọn lửa cách mạng ở Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Từ năm 1950 trở đi, đặc biệt là những năm 1953-1954, do Trung quốc

và Liên Xô giúp đỡ cách mạng Đông Dương chống Pháp, Mỹ đã công khai can thiệp vào cuộc chiến tranh này Chính vì vậy, làm cho cuộc chiến tranh ở Đông Dương diễn ra hết sức quyết liệt, đỉnh cao là trận quyết chiến ở Điện Biên Phủ giữa Pháp với nhân dân Đông Dương Mặc dù Mỹ đã hậu thuẫn

Trang 2

mạnh mẽ cho Pháp, nhưng cuối cùng phải chịu thất bại Trong tình thế buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, Mỹ ra sức phá hoại Hội nghị Giơ-ne-vơ, thực hiện chính sách gạt Pháp độc chiếm lấy Đông Dương

Cuộc chiến tranh Đông Dương đã lùi xa cách đây 50 năm, nhưng những vấn đề liên quan thì vẫn thu hút mọi người quan tâm, đặc biệt trong những ngày này chúng ta đang kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ

Cho đến nay có rất nhiều học giả viết về cuộc chiến tranh này dưới những quan điểm khác nhau, song nhìn nhận cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất dưới góc độ chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến đó, còn rất hạn chế Bởi vậy, tiếp cận chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất dưới góc độ này cho phép chúng ta trả lời nhiều vấn đề xung quanh nó, như: Tại sao Mỹ ủng hộ Pháp tiến hành chiến tranh? Tại sao Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến? Mục đích can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là gì? Nguyên nhân nào làm cho chiến tranh diễn ra ác liệt vào những năm 1953-1954? Xem xét những chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất trong không khí chiến tranh lạnh, sẽ cho chúng ta nhìn nhận khách quan hơn về những câu hỏi đó, đồng thời hiểu hơn những thủ đoạn của Mỹ trong chiến lược toàn cầu

Mặt khác, việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ có ý nghĩa khoa học,

mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nhân dịp kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ- một chiến thắng làm "chấn động địa cầu" của quân và dân Việt Nam đánh bại thực dân Pháp xâm lược, làm rung chuyển chiến lược toàn cầu của Mỹ

Xuất phát từ bộ môn lịch sử: "nhìn về quá khứ tìm hiểu hiện tại dự đoán tương lai", nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin kiến thức lịch

sử, đưa lại cái nhìn logic về quá trình can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất

Trang 3

Vì những lý do trên mà tôi quyết định chọn đề tài "Mỹ với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 1945 -1954" làm khoá luận tốt nghiệp của mình Lựa chọn đề tài này tôi không tham vọng tìm được cái mới, chỉ nhằm mục đích củng cố lại tri thức đã học, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nắm được quy trình thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học

2 Lịch sử vấn đề:

Chiến tranh thế giới hai vừa lụi tàn, hậu qủa của nó chưa khắc phục hết, người ta lại chứng kiến một cuộc chiến tranh mới xuất hiện - cuộc chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Xô-Mỹ Trong bối cảnh đó cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, cũng chịu ảnh hưởng từ Chiến tranh lạnh

Mặc dù từ trước tới nay đã có nhiều sách báo, tạp chí, viết về cuộc chiến tranh giữa thực dân Pháp với nhân dân Đông Dương, về sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh này Song chưa có một công trình chuyên khảo nào đề cập về những chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất có hệ thống và cụ thể Tất cả những công trình đó mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, hoặc cung cấp những thông tin cần thiết có liên quan Trong số các công trình đó chẳng hạn có một số cuốn:

1 Cuốn sách "Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh" do Lê Khương Thuỳ biên soạn - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003 Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống về những chính sách của Mỹ đối với các nước Đông Nam Á kể từ sau chiến tranh thế giới hai Tuy nhiên cuốn sách tập trung đi sâu phân tích những chính sách của Mỹ đối với

sự ra đời và hoạt động của ASEAN từ 1967 đến 1995, còn trước đó chỉ giới thiệu qua về mối quan hệ giữa Mỹ và Đông Dương trước khi tổ chức này ra đời

2 Cuốn sách "Chiến tranh lạnh và di sản của nó" của tác giả Trương Tiểu Minh do Hoàng Hương, Tú Linh dịch -Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

2002 Đây là cuốn sách tập trung trình bày một số vấn đề quan trọng trong

Trang 4

thời kỳ chiến tranh lạnh như: Nguồn gốc của chiến tranh, xung đột Đông-Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh: Sự kết thúc của chiến tranh lạnh và bài học rút

ra từ chiến tranh lạnh Tuy nhiên cuốn sách chỉ đưa ra nhận định đánh giá về những vấn đề có liên quan đến Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa; mối qua hệ giữa các nước lớn về vị trí vai trò của Phong trào không liên kết, về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Chứ chưa đi sâu phân tích cụ thể những chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất

3 Cuốn sách "Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu" của nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1996, do Lê Quang Lâm dịch, cũng đã nêu khá đầy đủ về những chiến lược toàn cầu của Mỹ và sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu đó trong những thời điểm lịch sử cụ thể Tuy nhiên, tác giả mới chỉ trình bày một cách tổng quát, chứ không đi sâu vào phân tích các chính sách của Mỹ trong một giai đoạn hay một nước nhất định

4 Cuốn "Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Nichxon" do Vũ Bách Hợp dịch - Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội,1986 Đây là cuốn sách trình bày khá đầy đủ về những chính sách của sáu đời Tổng thống Mỹ liên quan đến cuộc chiến tranh Đông Dương Mặc dù cuốn sách không đi sâu vào một giai đoạn hay một Tổng thống Mỹ cụ thể, nhưng nó đã giúp chúng ta

về mặt tư liệu tham khảo để tiếp cận những chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất

5 Cuốn sách "Chính sách đối ngoại của Mỹ" của tác giả xep, - Nhà xuất bản Sự thật, 1961, đã trình bày một cách có hệ thống quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Mỹ, trên cơ sở đó tác giả phân tích những chính sách đối ngoại của Mỹ Tuy nhiên cuốn sách chỉ trình bày ở dạng khái quát nói lên bản chất xâm lược, hiếu chiến, chống Liên Xô, chống lại phong trào giải phóng dân tộc, chứ không đề cập một vấn đề cụ thể có liên quan đến cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất Tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo

Trang 5

N.I-nô-dem-Tóm lại, trên cơ sở thừa hưởng những công trình đã nghiên cứu, cùng với nguồn tài liệu thu thập được, chúng tôi cố gắng bổ sung những phần thiếu hoặc chưa nghiên cứu để hoàn thành đề tài "Mỹ với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 1945 -1954"

Tuy nhiên, do đề tài khó, chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu mà nó chỉ được đề cập trên một số sách, báo, tạp chí mang tính chất tản mạn không có hệ thống; Mặt khác với bản thân là một sinh viên, trình

độ và kinh nghiệm còn hạn chế, tiếp cận tài liệu chưa nhiều, cho nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo và những người cùng quan tâm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Từ lịch sử vấn đề trên, chúng tôi xác định đối tượng của Luận văn là

"Mỹ với cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 1945 - 1954"

Về phạm vi nghiên cứu có nhiều quan điểm để tiếp cận vấn đề này, song trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận những chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến tranh ở Đông Dương lần thứ nhất trong bầu không khí chiến tranh lạnh

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp logic và phương pháp lịch sử Một mặt xử lý thông tin để thấy rõ những chính sách của Mỹ đối với chiến tranh Đông Dương Mặt khác, từ những chính sách đó của Mỹ để tìm hiểu rút ra những kết luận Do yêu cầu của đề tài chúng tôi còn

sử dụng phương pháp sưu tầm, giải thích

5 Bố cục đề tài:

Ngoài phần Dẫn luận, Kết luận nội dung luận văn chia làm 4 chương:

Chương 1: Đông Dương trong chiến lược của Mỹ

Chương 2: Chính sách của Mỹ đối với Đông Dương từ 1945 đến 1950

Trang 6

Chương 3: Chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến tranh Đông Dương từ

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

ĐÔNG DƯƠNG TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ

1.1 Quan hệ Mỹ với Đông Dương trong lịch sử

1.1.1 Địa- kinh tế của Đông Dương

Đông Dương bao gồm ba nước Việt nam, Lào, Campuchia, nằm trên một Bán đảo mà từ khi người Pháp sang xâm lược gọi là Bán đảo Đông Dương, trên bờ Biển Đông thuộc khu vực Đông Nam Á Đông Dương gồm ba nước có diện tích khoảng 7500.000 km2 với dân số khoảng 93 tiệu người (vào thập niên 90 thế kỉ XX)

Bán đảo Đông Dương có nhiều rừng với các loại gỗ quý, có những đồng bằng phì nhiêu bên các lưu vực các con sông lớn như: Sông Mê Kông, sông Hồng hằng năm cho năng suất lúa gạo cao, Bán đảo Đông Dương còn có

bờ biển dài và thềm lục địa rộng lớn

Đông Dương nằm trong khu vực Đông Nam Á có vị trí chiến lược rất quan trọng, vừa tiếp giáp với Thái Bình Dương vừa nối liền với lục địa châu

Á, là cửa ngõ đi vào vùng Trung Á và Vân Nam - Trung Quốc, nơi có rất nhiều tiềm năng về kinh tế và vị trí chiến lược quân sự Đông Dương án ngữ một phần quan trọng các tuyến đường giao thông biển chạy dài từ Đông Bắc

Á xuống Đông Nam Á, chạy từ Tây Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương,

Trang 7

kiểm soát việc vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông đến Đông Bắc Á Ngay từ thế kỉ XVI, XVII, XVIII nhiều thương thuyền và các hạm đội của Trung Quốc, Nga, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Pháp đã từng ra vào trú chân ở một

số hải cảng Việt nam

Đông Dương là một phần của khu vực Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện tự nhiên thuận lợi và có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng Cùng với các nước Đông Nam Á, Đông Dương cung cấp cho thị trường thế giới những nguyên liệu quan trọng như thiếc, cao

su, gỗ Từ lâu, Mỹ đã chú ý đến Đông Dương vì ở đây có nhiều nguyên liệu chiến lược cần thiết cho nghành công nghiệp quốc phòng, nhất là thiếc, ăngtimoan, vônphram , vốn là những kim loại mà Mỹ đang thiếu

Do vị trí địa lí và tiềm năng kinh tế quan trọng như vậy Từ lâu, Đông Dương đã trở thành nơi mà các thế lực thực dân, đế quốc nhòm ngó và tìm cách để nhảy vào thôn tính

Vào những năm 50 của thế kỉ XIX, Thực dân pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, đến năm 1883 thì chiếm xong toàn bộ Việt Nam Sau đó Pháp bắt đầu chinh phục xứ Lào và Campuchia Tháng 10 năm 1887 Pháp lập ra được Đông Dương thuộc Pháp và đến tháng 4 năm 1889 Pháp thiết lập nên Liên bang Đông Dương

Đối với Mỹ, từ lâu Mỹ đã xem Đông Dương là khu vực có nguồn tài nguyên phong phú, vùng có ý nghĩa quan trọng về mặt địa lí chiến lược Từ đầu thế kỉ XIX Mỹ đã tiến hành buôn bán với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Inđônêxia, Malaysia, Philippin và Nam kì Việt Nam Đến giữa thế kỉ XIX, sau khi hoàn thành việc lấn chiếm lục địa châu Mỹ, thì Mỹ bắt đầu tiến tới bờ Tây Thái Bình Dương Để biện minh cho mưu đồ bành trướng của mình, cũng như giải thích việc Mỹ trở thành cường quốc ở châu Á, Washington đưa ra thuyết "định mệnh địa lí" Vào cuối thế kỉ XIX bằng cách

đó, tháng 4 năm 1898 Mỹ tuyên chiến với Tây Ban Nha và đã chiếm đoạt

Trang 8

Cuba, Puerto rico và Philippin, vốn là những thuộc địa quan trọng của Tây Ban Nha Philippin trở thành vị trí thôn tính đầu tiên của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á và giúp cho Mỹ tiến sát tới Trung Quốc- đang là đối tượng phân chia của các nước thực dân châu Âu và tiến sát vào Đông Dương đòi buôn bán ở đây với Pháp

Để đòi quyền ngang hàng với các cường quốc khác và tránh nguy cơ bị loại ra khỏi "khu lợi ích" do đến sau, chính quyền Mỹ nêu ra chính sách "mở cửa", thực chất của chính sách này là Mỹ mong muốn các nước đế quốc mở cửa khu vực ảnh hưởng để Mỹ có thể len chân vào thị trường rộng lớn của Trung Quốc và thị trường ở Đông Dương Hay nói cách khác, đó là việc giành lấy quyền lợi của kẻ đến sau Chính từ tình thế của kẻ đến sau, nên cũng chẳng đáng ngạc nhiên khi Mỹ đưa ra chiêu bài "tự do", "phi thực dân hoá" để

"mở cửa" các nước khác, nhất là gạt ảnh hưởng của các nước thực dân châu

Âu, tăng cường thế lực của Mỹ ở Đông Nam Á Tuy nhiên, do thế lực của Mỹ

có hạn, hơn nữa các nước thực dân vẫn còn mạnh, nên cơ hội chỉ thực sự đến với Mỹ khi chiến tranh thế giới hai xảy ra

1.1.2 Những hoạt động của người Mỹ ở Đông Dương trước năm

1945

Chủ nghĩa tư bản Mỹ ra đời muộn, Mỹ cũng trở thành nước đế quốc muộn hơn so với các nước khác ở châu Âu Dĩ nhiên, các thị trường béo bở trên thế giới đã bị các đế quốc châu Âu chia hết Cho nên, Mỹ đã tìm cách giành giật lại thị trường từ ngay những kẻ đi trước So với người Pháp thì người Mỹ đặt chân đến Đông Dương muộn hơn nhiều, nhưng ngay từ năm

1819, tức là chỉ 36 năm sau khi nước Mỹ được độc lập thì người ta đã thấy những chiến thuyền Mỹ có mặt ở sông Đồng Nai Năm 1832 thuyền buôn Mỹ lại xuất hiện ở vùng biển Trung Bộ bỏ neo ở Vũng Lâm (Phú Yên); Năm 1836 chiến thuyền Mỹ lại xuất hiện và bỏ neo ở vịnh Sơn Trà cửa biển Đà Nẵng Những thuyền buôn, chiến thuyền này được giải thích là đến Đông Dương để

Trang 9

tìm cách quan hệ buôn bán, song thực chất cũng giống như thực dân Pháp, đấy là những hành động dò xét dọn đường cho việc xâm nhập vào Đông Dương Điều này được người Mỹ gọi là "thương mại đi trước cờ Mỹ theo sau" Lần hồi với các hoạt động thương mại, người Mỹ đến Việt Nam ngày một nhiều hơn, nhưng do ở Đông Dương Pháp đã thiết lập vững chắc chính quyền thuộc địa, vả lại Pháp chưa phải đã suy yếu đến mức dễ dàng chịu nhả mồi như Tây Ban Nha nhả Philippin cho Mỹ, nên Mỹ đành phải tạm theo thế: hoạt động thương mại thông thường để chờ thời cơ, thực hiện chính sách cổ truyền của Mỹ cho "thương mại đi trước cờ Mỹ đến sau"

Trong thời kì Đông Dương thuộc Pháp với chính sách kinh tế của mình, Pháp đã bóc lột sức lao động và vơ vét tài nguyên thiên nhiên ở Đông Dương, thì những hoạt động thương mại của Mỹ cũng không kém phần tích cực, tỉ trọng buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa Mỹ và Đông Dương vẫn diễn

ra Những hoạt động thương mại đó dần dần bành trướng ở Đông Dương

Từ 1925-1929 buôn bán trao đổi kinh tế ở Đông Dương của Mỹ chiếm 2,6% trong tổng số các nước buôn bán ở đây, đến năm 1930-1934 là 2,3% và đến năm 1935-1939 đã tăng lên 6,6% trong tổng số hàng của người Mỹ mua

từ Đông Dương, riêng cao su đã chiếm 94%, thiếc 3% Ngược lại những hàng của Mỹ nhập vào Đông Dương gồm các loại nguyên liệu như sản phẩm dầu lửa, nhựa, kim khí hoặc thành phẩm như máy móc, xe hơi

Mặc dầu thị trường Đông Dương còn bị Pháp độc chiếm và điều khiển nhưng hoạt động thương mại giữa Đông Dương và Mỹ vẫn diễn ra, và mức độ buôn bán còn hạn hữu Nhưng những hoạt động thương mại đó, nó chứng tỏ

từ lâu người Mỹ đã quan tâm đến Đông Dương và khu vực Đông Nam Á Chính những hoạt động này của các nhà kinh tế Mỹ làm tiền đề cho sự xâm nhập của Mỹ vào khu vực này về sau

Chiến tranh thế giới hai bùng nổ, sự quan tâm của người Mỹ ngày càng tăng với tính chất là một khu vực đầy tiềm năng kinh tế, coi Đông Dương là

Trang 10

một địa bàn quan trọng về nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp quân sự của Mỹ Tầm quan trọng kinh tế của Đông Dương, sau này đã khiến Tổng thống Mỹ Aixenhao đã nói về mục đích của Mỹ trong việc tranh chiếm thị trường và nguồn nguyên liệu ở Việt Nam và Đông Dương như sau: các bạn chắc chưa biết tại sao chúng ta chú trọng nhiều như vậy đến vùng xa xôi đó của Đông Nam Á Tại sao ư? hãy giả dụ chúng ta mất Đông Dương Nếu điều đó xảy ra thì thiếc và những nguyên liệu quý giá đối với chúng ta sẽ không về tay chúng ta nữa Vậy khi Mỹ thông qua một chương trình viện trợ

400 triệu đô la cho cuộc chiến tranh này không phải là một chương trình cho không Như vậy là chúng ta đã chọn biện pháp ít tốn kém nhất để ngăn chặn một tai hoạ ghê gớm với nước Mỹ đối với khả năng của chúng ta sẽ chiếm các thứ cần thiết trong kho tài nguyên ở lãnh thổ Đông Dương và Đông Nam

Á

1.2 Đông Dương trong chiến lược chính trị quân sự của Mỹ

1.2.1 Đông Dương - vị trí trong chiến lược của Mỹ

Sau chiến tranh thế giới thứ hai sự thay đổi lớn trong môi trường chính trị thế giới đã có tác động lớn đối với Đông Nam Á nói chung và Đông Dương nói riêng Các nước lớn trước đây nắm vai trò chủ đạo trong thế giới

tư bản như Anh, Pháp, Hà Lan có nhiều thuộc địa, thì sau chiến thế giới hai

do hậu quả nặng nề của cuộc chiến, đã suy yếu trầm trọng đối với bản thân và

ở các thuộc địa Trong khi đó lại xuất hiện hai siêu cường mạnh, chi phối đến đời sống kinh tế, chính trị ở các khu vực và trên thế giới đó là Mỹ và Liên Xô Hai nước này đóng vai trò chủ đạo lớn, gắn với hai hệ tư tưởng đối lập nhau, mỗi hệ tư tưởng lại muốn gây ảnh hưởng của mình ở các nước, các khu vực

Do đó, sau chiến tranh thế giới hai cả Mỹ và Liên Xô đều xác định các vị trí trọng điểm để thực hiện các chính sách của họ

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô hoàn thành cuộc chiến tranh

vệ quốc vĩ đại, giúp đỡ một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời ở Đông Âu,

Trang 11

ở châu Á - Thái Bình Dương, chủ nghĩa xã hội đã vượt qua khuôn khổ của một nước và trở thành một hệ thống thế giới, từ châu Âu đến châu Á Hệ thống Xã hội chủ nghĩa đó đã tích cực giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc

ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở những nước có Đảng Cộng sản lãnh đạo Điều đó có nghĩa là Chủ nghĩa tư bản đã không ngăn cản nổi đà phát triển của Chủ nghĩa xã hội.Trong bối cảnh đó, các nước tư bản chủ nghĩa, đứng đầu là Mỹ tìm cách ngăn chặn Chủ nghĩa xã hội phát triển ở các châu lục và trên thế giới Dựa vào thực lực mạnh về kinh tế, tài chính, quân sự của

Mỹ, sau chiến tranh thế giới hai, Mỹ cho ra đời "Chủ nghĩa Truman" với

"chiến lược ngăn chặn" để chặn đứng sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản Một trong những biện pháp mà Mỹ thực hiện là sử dụng thực lực và sức mạnh quân sự và kinh tế để mở rộng ảnh hưởng của Mỹ, thiết lập nên các căn cứ quân sự ở các khu vực, thực hiện chiến lược lập vành đai bao vây Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

Để thực hiện chiến lược ngăn chặn cộng sản, Mỹ đã xác định những vị trí trọng điểm, ở những khu vực có nguy cơ cộng sản lan tràn Do tình hình ở châu Âu, một loạt các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu ra đời, lực lượng cộng sản có khả năng giành được thắng lợi trong chính phủ các nước ở Tây Âu như Pháp, Italia, Bỉ và ở các nước Nam Âu như Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ Cho nên

Mỹ xác định vị trí cần thiết để thực hiện "chiến lược ngăn chặn" trọng điểm là

ở châu Âu Sau châu Âu, châu Á cũng được Mỹ coi trọng Ở châu Á, cùng với Trung Đông, châu Á - Thái Bình Dương cũng được Mỹ liệt kê vào khu vực cần ngăn chặn cộng sản Vị trí Đông Dương trở nên quan trọng đối với Mỹ sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 và cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ Tháng 6 năm 1950 Trong cuốn "Sự thật sức mạnh" của giáo sư người Mỹ, Kip - Phơ trắng trợn viết "ngày mai chiến trường là cả thế giới, cho nên vấn đề đặt ra hiện nay là phải chiếm lấy cho được các vị trí

Trang 12

chiến lược ở khắp thế giới và huấn luyện đội quân của ta đủ sức giữ vững các

vị trí đó" [5,32]

Xác định vị trí chiến lược, đồng thời Mỹ nhanh chóng thực hiện các

chính sách để chiếm giữ và xây dựng lực lượng trực tiếp hoặc gián tiếp để

thực thi chiến lược toàn cầu của Mỹ, mục đích là ngăn chặn và đẩy lùi chủ

nghĩa cộng sản Từ 1945 trở đi tuỳ theo mức độ và tính chất ảnh hưởng của

chủ nghĩa cộng sản, Mỹ đã đầu tư vũ khí và lực lượng quân đội để xây dựng

các căn cứ quân sự lớn Mỹ đã ra sức xúc tiến việc mở rộng hệ thống căn cứ

quân sự từ Đông Thái Bình Dương sang đến Tây Âu Tính đến đầu tháng

2-1955, Bộ quốc phòng Mỹ đã công khai tuyên bố: Mỹ có khoảng 950 căn cứ

quân sự ở nước ngoài với khoảng 137 nghìn quân chiếm đóng Không dừng

lại ở đó việc Mỹ tăng cường xây dựng các khối quân sự ở các khu vực trên

thế giới để uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa, khống chế các khu vực trước

nguy cơ của chủ nghĩa cộng sản như khối NATO ở châu Âu, ANZUS ở Nam

Thái Bình Dương, CENTO ở Trung Đông, SEATO ở Đông Nam Á

Ở Châu Á, để thắt chặt vòng vây Liên Xô và Trung Quốc, Mỹ chủ

trương thành lập một hệ thống vành đai kéo từ Nhật Bản, Nam Triều Tiên,

Đài Loan, Philippin Vì vậy, trong vành đai bao vây chiến lược đó, Mỹ xem

Đông Dương là vị trí quan trọng Ngoại trưởng Đa-Let nói rằng: "Quyền lợi

của Mỹ ở Viễn Đông về phương diện chiến lược gắn liền với cái thường gọi là

chuỗi cù lao ven biển Chuỗi cù lao này có hai căn cứ trên lục địa Triều Tiên

ở phía Bắc và Đông Dương ở phía Nam Giữa hai căn cứ đó là các đảo Nhật

Bản, Kyu Kyu, Ô-ki-na-oa (Okinawa) Đài Loan, Phi Luật Tân và Tân Tây

Lan".[5,33]

Như vậy, trong số các vị trí chiến lược của Mỹ thì Đông Dương cũng

được Mỹ coi là một tuyến đầu trong các tuyến ngăn chặn bao vây chủ nghĩa

cộng sản Do đó, Đông Dương trở thành tâm điểm chú ý của Mỹ, vị trí này

được Mỹ đưa vào chiến lược cần thôn tính, đặt dưới ảnh hưởng của Mỹ

Trang 13

Nằm trong vành đai bao vây các nước Xã hội chủ nghĩa , Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng được Mỹ xem là một trong những mặt trận chính nếu như chiến tranh lớn có thể xảy ra đối với lực lượng của chủ nghĩa cộng sản Sau này tờ báo "Cách mạng quốc gia" của Diệm đã nói :

"Nói riêng về địa khu Á Đông, nếu một trận địa chiến phải xảy ra, nó sẽ bùng nổ ở ba mặt trận lớn:

1- Mặt trận Đông Bắc Á, gồm Hàn Quốc và Nhật Bản, nhìn sang Mãn Châu - Trung Quốc

2- Mặt trận miền Trung Đông Á gồm Đài Loan và các đảo duyên hải, nhìn sang Hoa Nam

3- Mặt trận Đông Nam Á gồm Đông Dương, Thái Lan nhòm sang Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hoa Nam Philippin là căn cứ hậu tuyến nhòm sang Hoa Nam, ứng cứu cho cả hai địa khu Đài Loan và Đông Nam Á Mỗi khi nói tới Đông Nam Á là chúng ta đều tưởng tượng vai trò Việt Nam trong đó

Như vậy, theo tờ báo của Diệm thì Mỹ đã xem trọng vị trí của Đông Dương trong đó có Việt Nam, Mỹ đã xếp Đông Dương trong tuyến phòng thủ

ở châu Á - Thái Bình Duơng Ngoại trưởng Mỹ từng nhấn mạnh: Nam Triều Tiên, Đài Loan và Nam Đông Dương hết sức quan trọng theo quan điểm của

Mỹ, nếu một trong những vị trí ấy mà mất cả thì cả vùng Tây Thái Bình Dương bị một lỗ hổng nguy hiểm Còn với tổng thống Aixenhao cũng nhấn mạnh: Việt Nam ở miền Đông Nam châu Á, ngay ở trung tâm điểm con đường chung quanh trái đất, nếu Việt Nam bị thôn tính thì khu vực Đông Nam

Á bị đe doạ Vì vậy, Việt Nam cần được trợ giúp cả về kinh tế lẫn quân sự việc mở mang Đông Nam Á là quan trọng

1.2.2 Yếu tố tác động đến thái độ của Mỹ coi trọng vị trí Đông Dương trong chiến lược

Trong quá trình hoạch định chiến lược, từ năm 1950 trở về trước, khu vực Mỹ phải bận tâm nhiều hơn không phải là châu Á, mà là châu Âu, nơi

Trang 14

đang phải đối đầu với nguy cơ cộng sản thắng thế Một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ra đời, ở Pháp, Italia, Bỉ Đảng Cộng sản tham gia chính phủ, ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp quần chúng đấu tranh vũ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo phát triển mạnh mẽ Vì vậy, Mỹ quan tâm nhiều hơn ở châu Âu, còn

ở châu Á, Trung Quốc, Triều Tiên, Đông Dương Mỹ xác định chỉ là khu vực biên duyên chiến lược, Mỹ chưa có một sự quan tâm đầy đủ Do nguyên nhân này mà trước năm 1950, chính sách ở Đông Dương của Mỹ là biểu hiện ngầm cho Pháp khôi phục thống trị thực dân đối với khu vực này Nhưng không phải vì thế mà Mỹ ít quan tâm đối với vị trí Đông Dương, đó chỉ là một cách thức chờ dịp khi có điều kiện Mỹ sẽ nhảy vào thôn tính khu vực này

Từ năm 1950 trở đi do tình hình chính trị thế giới và khu vực châu Á thay đổi, cho nên Mỹ càng coi trọng nhiều hơn đến vị trí của Đông Dương

Đó là những yếu tố trực tiếp tác động tới chính sách của Mỹ đối với Đông Dương, vị trí của Đông Dương ngày càng trở nên quan trọng đối với Mỹ, khi

"nguy cơ" chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, có cơ sở để giành được thắng lợi ở các quốc gia phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh, một khi Mỹ không ra tay ngăn chặn nó

Một là, năm 1949 Đảng cộng sản Trung Quốc lật đổ chính quyền Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch được Mỹ ủng hộ nhiều năm, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân Sau khi nước Trung Hoa mới ra đời, thực hiện chính sách "ngả hẳn về một bên" với Liên Xô và phe Xã hội chủ nghĩa Tháng

2 năm 1950 Trung Quốc- Liên Xô kí hiệp ước "Đồng minh hữu hảo tương trợ lẫn nhau", đồng thời sau khi ra đời nước Cộng hoà Trung Hoa đã tiến hành ủng hộ giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam Tháng

1 năm 1950 cả phía Việt Nam và Trung Quốc đều thiết lập quan hệ ngoại giao

và công nhận lẫn nhau, sau đó Liên Xô cũng cũng thiết lập ngoại giao và công nhận Việt Nam dân chủ cộng hoà Từ đây, đánh dấu mối quan hệ khăng khít giữa Liên Xô, Trung Quốc với Việt Nam Các nước Xã hội chủ nghĩa này đã

Trang 15

tạo điều kiện để giúp đỡ, viện trợ cho nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân dân Đông Dương nói chung chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Những viện trợ của Trung Quốc cho Đông Dương bao gồm viện trợ vật tư quân sự và thậm chí cả phái đoàn cố vấn quân sự Sự ra đời của nước Trung Hoa mới và

sự viện trợ của Trung Quốc cho cuộc chiến chống Pháp của nhân dân Đông Dương, được sự ủng hộ tích cực của phe Xã hội chủ nghĩa đã tác động rất lớn đối với chính sách của Mỹ ở Đông Dương

Hai là chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào tháng 6 năm 1950, diễn ra hết sức ác liệt, với sự tham gia của quân đội Trung Quốc uy hiếp mạnh mẽ không chỉ đối với Nam Triều Tiên mà còn đối với cả Mỹ Cuộc chiến này bùng nổ và diễn biến của nó càng khiến cho Mỹ tin rằng tập đoàn Xô - Trung đang sử dụng những thủ đoạn bao gồm cả tiến công quân sự để mở rộng thế lực của họ, tạo nên sự uy hiếp đối với Mỹ và toàn bộ Phương Tây Tình hình

đó làm cho Mỹ sợ sẽ xảy ra ở Đông Dương tương tự như ở Triều Tiên

Như vậy, sự ra đời của nước Trung Hoa mới, Xô - Trung kết thành đồng minh quân sự và nước Trung Hoa tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Đông Dương đã tác động mạnh mẽ tới Chính phủ

Mỹ Mỹ buộc phải xem xét lại vị trí chiến lược của Đông Dương, coi đây là chiến tuyến quan trọng để chống lại cái gọi là "sự bành trướng của Chủ nghĩa cộng sản" Ngay sau khi nước Trung Hoa mới ra đời, một văn kiện quan trọng của Uỷ ban an ninh Quốc gia Mỹ chỉ ra rằng: "An ninh ở Đông Nam Á đối với Mỹ là cực kì quan trọng, nếu rơi vào tay cộng sản thì ảnh hưởng của nó sẽ mang tính thế giới"[22,127] Còn phòng kế hoạch chính sách Chính phủ Mỹ với sự chỉ đạo của Kennan đã tuyên bố vào cuối năm 1949 rằng: mặc dù bản thân Đông Nam Á chỉ có ý nghĩa chiến lược thứ yếu, nhưng nó đã trở thành

"bộ phận cấu thành quan trọng trên tuyến ngăn chặn" trong toàn bộ chính sách châu Á của Mỹ, bởi vì sau sự thất bại ở Trung Quốc đã gây cho Mỹ lo sợ sẽ mất tiếp ở khu vực Đông Dương và sẽ có thể xảy ra xáo động chính trị ở các

Trang 16

khu vực khác trên thế giới Sự xác lập chính quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1949 và ủng hộ cuộc chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam

đã khiến chính phủ Mỹ quan tâm sâu sắc đến vị trí Đông Dương, chính phủ

Mỹ đã đưa "bán đảo Đông Dương bao gồm cả Việt Nam là chiến tuyến quan trọng chống lại "sự bành trướng của Chủ nghĩa cộng sản thế giới dưới sự lãnh đạo của Liên Xô", bởi vì sự "sa lầy"của nó sẽ nảy sinh ảnh hưởng không tốt trên thế giới" [22,127] Chiến tranh triều Tiên bùng nổ làm cho Mỹ lo sợ và tin rằng Liên Xô sẽ không ngần ngại dùng vũ lực để mở rộng ảnh hưởng của

họ, địa vị chiến lược của Đông Dương ngày càng quan trọng Chính phủ Mỹ

có cơ sở để lo lắng lại xảy ra ở Việt Nam một sự kiện giống như Trung Quốc xuất quân sang Triều Tiên buộc Pháp phải rút khỏi Đông Dương và khu vực này rơi vào tay cộng sản Chính vì vậy, từ năm 1950 trở đi Đông Dương trở thành vị trí đặc biệt của Mỹ và Mỹ ngày càng bận tâm hơn đối với cuộc chiến của Pháp ở khu vực này Cũng chính từ năm 1950 Mỹ đã làm tất cả những gì

có thể để giữ được vị trí này nằm ngoài vòng kiểm soát của cộng sản Tầm quan trọng của Đông Dương đã khiến Mỹ xem khu vực này là một trong số các "con bài Đôminô" và thuyết Đôminô được Mỹ áp dụng ở đây để giữ vững Đông Nam Á khỏi nguy cơ cộng sản

1.2.3 Đông Dương - vị trí của một quân bài trong "học thuyết Đôminô" của Mĩ

Nhằm ngăn ngừa sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản, từ chính sách

"ngăn chặn" được công bố chính thức vào năm 1947, đến năm 1950, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ lại bí mật đưa ra chính sách "đẩy lùi" chủ nghĩa cộng sản Năm 1947, "học thuyết Đôminô" xuất hiện đầu tiên dưới hình thức học thuyết Truman về Hy Lạp Tháng 2 năm 1947 Ngoại trưởng Macsan lập luận rằng nếu Hy lạp mất thì Thổ Nhĩ Kỳ có thể mất theo và sự " thống trị của Liên Xô có thể do đó mà mở rộng ra toàn Trung Đông và châu Á" Cũng theo cách thức như vậy, các chiến lược gia Mỹ lại tìm thấy mối liên quan giữa học

Trang 17

thuyết Đôminô với việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á.Thực

tế "Học thuyết Đôminô" (cho rằng sự sụp đổ của Đông Dương sẽ kéo theo sự sụp dổ lần lượt các nước Đông Nam Á khác) đã được nhắc đến nhiều nhất ở Đông Nam Á và khái niệm đó được các nhà cầm quyền Mỹ nói đến bao gồm cảc hai mặt chiến lược và kinh tế Đầu năm 1950, nhằm hối thúc Mỹ viện trợ khẩn cấp cho quân đội Pháp ở Đông Dương, Bộ ngoại giao Pháp đã đưa ra lập luận "do kết quả của tình hình mới đây (ở Trung Quốc) mà triển vọng ít ra thì Cộng sản Trung Quốc cũng sẽ tăng cường viện trợ quân sự cho Hồ Chí Minh, nên tình hình của Pháp đã trở nên cực kì nghiêm trọng đòi hỏi phải có một chương trình giúp đỡ dài hạn mà chỉ có Mỹ mới có thể cung cấp được Nếu không rất có khả năng Pháp có thể bị buộc phải (xem xét) chấm dứt các sự tổn thất của mình và rút lui khỏi Đông Dương"[23,393]

Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đã xem xét và đi đến kết luận: "phải thi hành mọi biện pháp có thể được để ngăn chặn sự phát triển sau này của Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á lúc đó sự cân bằng lực lượng ở Đông Nam Á

sẽ ở trong tình thế cực kì nguy hiểm" Không những vậy, tháng 4 năm 1950

Bộ tham mưu liên quân Mỹ lập luận rằng ''việc mất Đông Dương chắc chắn đưa đến việc mất các quốc gia Đông Nam Á lục địa" và với việc đó, Nga sẽ kiểm soát "tiềm lực chiến tranh của châu Á ảnh hưởng đến cán cân lực lượng" Không những các nguồn cung cấp chính của một số nguyên liệu chiến lược sẽ bị mất mà còn mất cả đường giao thông nữa Chính vì coi trọng vị trí của Đông Dương có liên quan đến quyền lợi của Mỹ, cho nên tháng 6 năm

1952, Washingtơn chính thức nói rằng, việc mất Đông Dương "sẽ có những hậu quả tâm lí, chính trị, kinh tế trọng yếu việc mất bất kì một nước riêng lẻ nào sẽ đưa đến một sự khuất phục tương đối nhanh chóng của một sự liên kết với Chủ nghĩa cộng sản của các nước còn lại của nhóm đó Hơn nữa một sự liên kết với chủ nghĩa cộng sản phần còn lại của Đông Nam Á, Ấn Độ và lâu dài hơn, cả Trung Đông chắc chắn sẽ diễn ra tiếp theo Một sự liên kết rộng

Trang 18

lớn như vậy, sẽ nguy hại cho sự ổn định và an ninh của châu Âu" Nó sẽ "làm cho địa vị của Mỹ trên dãy đảo ngoài khơi Thái Bình Dương trở nên bấp bênh

và sẽ gây nguy hại nghiêm trọng cho lợi ích an ninh căn bản của Mỹ ở viễn Đông" "Nguồn cao su và thiếc chính của thế giới cùng nơi sản xuất dầu và các hàng chiến lược quan trọng khác "sẽ bị mất ở Malaysia và Inđônêsia Việc xuất cảng gạo của Mianma và Thái Lan sẽ gây khó khăn cho Malaysia, Nhật Bản và Ấn Độ Cuối cùng sẽ có "những sức ép chính trị và kinh tế như vậy ở Nhật Bản làm cho khó có thể giữ cho Nhật Bản cuối cùng không đi với cộng sản"[19,98]

Rõ ràng ở đây, các nhân tố của học thuyết Đôminô, bao gồm cả nguyên liệu căn cứ quân sự lẫn cam kết của Mỹ bảo vệ khu vực ảnh hưởng của mình

đã được giới lãnh đạo Mỹ gắn kết với nhau hết sức chặt chẽ Với cách lập luận như vậy, Đông Dương đã có một tầm vóc vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Sở dĩ như thế là vì Đông Dương đã được các nhà chiến lược đặt vào một mức độ ưu tiên cao hơn rất nhiều so với

vị trí mà nó từng có trước đây trong tính toán chiến lược của Mỹ Éo le đây cũng là cơ sở lí luận "khả dĩ" nhất để giải thích cho sự can thiệp sâu hơn của

Mỹ vào khu vực này khi mà Mỹ đang hướng những ưu tiên chính và mối quan tâm chủ yếu vào châu Âu và Trung Đông chứ không phải châu Á

Có thể nói, trong khi giúp đỡ Pháp ở Đông Dương, các nhà lãnh đạo Washington vẫn sẵn sàng cho sự can thiệp sâu hơn khi họ thấy cần thiết để ủng hộ "con bài Đôminô" hàng đầu là Đông Dương Chính từ cách nhìn nhận khái niệm Đôminô và những ưu tiên chiến lược được các chiến lược gia Mỹ đưa ra tranh luận liên tục vào đầu những năm 50 của thế kỉ XX nhằm tìm kiếm một chiến lược toà cầu mới mà vấn đề Đông Dương gắn liền với nhiều vấn đề quốc tế khác Với sự xét đoán theo thuyết Đôminô, Mỹ đã từng bước

can thiệp vào Đông Dương

Trang 19

hệ quốc tế giữa các nước trên thế giới Đặc điểm nổi bật nhất và quan trọng nhất của sự thay đổi cục diện thế giới, đó là sự xuất hiện của hai siêu cường, hai cực đối lập nhau, trong đó một cực là phe Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, và một cực khác là phe Tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu

Mỹ bước ra khỏi cuộc chiến tranh với sức mạnh tăng lên vượt bậc Là nước tham chiến sau cùng, đất nước không bị chiến tranh tàn phá, nên có cơ hội tập trung phát triển kinh tế và khoa học kĩ thuật Sau chiến tranh Mỹ chiếm khoảng 1/2 tổng sản lượng công nghiệp và trên 70% trữ lượng vàng của thế giới tư bản Điều này góp phần quyết định vào việc thực hiện tham vọng bành trướng của Mỹ, như Z.Breznski đã nói: "cơ sở cho những tham vọng bành trướng địa - chính trị của Mỹ là công nghiệp hoá nhanh chóng nề

Trang 20

kinh tế đất nước"[17, 12] Trong khi đó các địch thủ nguy hiểm của Mỹ như Đức, Ý, Nhật bị bại trận và kiệt quệ còn các nước như Anh, Pháp tuy thắng trận nhưng lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nên yếu đi và bị phụ thuộc vào

Mỹ về tài chính Do đó ưu thế lớn thuộc về Mỹ trong thế giới tư bản chủ nghĩa Mỹ trở thành cường quốc và trở thành chủ nợ lớn nhất trên thế giới Đặc biệt Mỹ có quân đội đứng hàng đầu thế giới về hải quân, không quân và trang thiết bị hiện đại, nhất là Mỹ độc quyền về vũ khí nguyên tử Về chính trị, phạm vi ảnh hưởng của Mỹ được mở rộng Nhờ những ưu thế này mà Mỹ hoạch định chiến lược mới làm bá chủ thế giới Song Mỹ đã vấp phải một trở ngại lớn đó là ảnh hưởng của Liên Xô ngày càng tăng trên thế giới Việc các nước Đông Âu được Liên Xô giải phóng lần lượt trở thành các nước xã hội chủ nghĩa và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở khắp các châu lục được Liên Xô hậu thuẫn, tạo nên trở ngại thực sự đối với mưu đồ của Mỹ Trong bối cảnh đó, Mỹ cho rằng cần phải ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô, và Mỹ dùng ảnh hưởng sức mạnh và tài chính để lôi kéo các nước phương Tây, đặc biệt là Anh và Pháp, gây cuộc chiến tranh Lạnh chống lại Liên Xô và phe Xã hội chủ nghĩa

Trong bối cảnh như vậy, Đông Dương cũng không nằm ngoài chiến lược của Mỹ Sau chiến tranh thế giới hai, Mỹ từng bước can thiệp vào Đông Dương Mục đích là gây ảnh hưởng của Mỹ ở Đông Dương, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản xuống Đông Nam Á, gạt Pháp khỏi khu vực này độc chiếm lấy Đông Dương biến thành thuộc địa của mình Quá trình dính líu và can thiệp của Mỹ vào Đông Dương nó diễn ra theo cấp độ ảnh hưởng của chiến tranh lạnh, từ chỗ Mỹ phản đối Pháp ở Đông Dương, quan hệ với "Việt Minh" (1945) đến tuyên bố công nhận Pháp ở Đông Dương (1946 - 1950) và can thiệp mạnh vào chiến tranh Đông Dương (1950 - 1954)

2 2 Chính sách của Mỹ đối với Pháp và lực lượng quốc gia

2.2.1 Mỹ công nhận Pháp ở Đông Dương

Trang 21

Trong những năm chiến tranh thế giới hai, Tổng thống Rudơven nêu lên quan điểm của ông đối với vai trò của Pháp cũng như các nước Phương Tây là muốn trao trả độc lập cho các nước bị áp bức Riêng đối với Đông Dương, Rudơven muốn thiết lập chế độ "uỷ trị" chống lại việc Pháp quay trở lại thống trị Mặt khác, thái độ của Mỹ đối với lực lượng Việt Minh ngày càng tốt đẹp, quan hệ giữa Mỹ với Việt Minh ngày càng nảy nở, lính Mỹ của phái đoàn OSS từng nhảy dù xuống Bắc Việt Nam mang theo vũ khí điện đài liên lạc Có thể giải thích lập trường "chống thực dân" và quan hệ với Việt Minh của Mỹ, cho thấy ý đồ của Mỹ đối với Đông Dương là muốn phá thế độc quyền của Pháp, để mở đường cho Mỹ xâm nhập vào Đông Dương cũng như

ở Đông Nam Á

Thế nhưng, đến năm 1945 khi tân Tổng thống Truman lên cầm quyền thì đã có những thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ đối với Pháp ở Đông Dương Mỹ đã thực hiện chính sách mở đường cho Pháp trở lại Đông Dương

Trong cuộc gặp vào năm 1945 giữa tân Tổng thống Truman với Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô thoả thuận về tương lai của Ba Lan một quan chức cấp cao của Mỹ nói rằng: Mỹ không có quyền ra lệnh cho Pháp và cũng chẳng

có quyền cướp đi lãnh thổ của Pháp Chúng ta chỉ có thể dùng ảnh hưởng của mình để cải thiện chính phủ Đông Dương và tình hình ở đó, chứ không thể can thiệp vào đây Trớ trêu hơn sau vài tuần tại Hội nghị Liên Hợp Quốc ở San fransisco, ngoại trưởng Mỹ Stetinius nói với ngoại trưởng Pháp Bi-đôn là

"Mỹ chưa từng đặt vấn đề nghi ngờ chủ quyền của pháp ở Đông Dương mặc

dù một số giới ở Mỹ có chỉ trích chính sách trước đây của Pháp đối với khu vực này" [6,177] Rõ ràng, Ngoại trưởng Mỹ đã bỏ qua những cố gắng mà Tổng thống Rudơven theo đuổi trong vấn đề Đông Dương, không những thế ông còn xem Rudơven chỉ là một trong những giới chính trị ở Mỹ Ngoại trưởng Mỹ công khai thừa nhận những quyền lợi của Pháp ở Đông Dương

Trang 22

Tại Hội nghị Posdam tháng 7 năm 1945 trong khi trao đổi với Stalin, Tổng thống Truman đề cập rất ít về vấn đề Đông Dương Càng ngày Mỹ càng bộc lộ rõ thái độ buông lỏng Pháp ở Đông Dương, Mỹ không phản đối gay gắt sự có mặt cuả Pháp ở Đông Dương như dưới thời Rudơven nữa, sau chiến tranh thế giới hai Mỹ tỏ ra công khai thừa nhận sự có mặt của Pháp ở Đông Dương Trong tập tài liệu mật của lầu Năm Góc đăng trên tờ "New york tim" khẳng định trong một bức điện gửi sứ quán Mỹ tại Washington ngoại trưởng Macsan khẳng định :"Mỹ công nhận hoàn toàn chủ quyền của Pháp đối với Đông Dương và không làm gì để có thể gây cảm giác là Mỹ đang làm tổn thương vị trí đó của Pháp"[6,178]

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, sự kiện này làm bất ngờ đối với các nước lớn Mặc dù Mỹ cử phái đoàn do thiếu

tá Patti cầm đầu đến Hà Nội, nhưng phái đoàn này không phải đến với tư cách

là để đại diện của chính phủ Mỹ công nhận chính quyền non trẻ của Việt Nam

mà chỉ là đến để khảo sát tình hình Cũng trong thời gian này (tháng 9.1945), Pháp ra sức chạy đua giành giật lại Đông Dương, ngày 23 tháng 9 năm 1945 Pháp núp sau quân đội Anh tiến hành đảo chính lật đổ chính phủ Sài gòn Chiến tranh bắt đầu nổ ra ở miền nam Trước sự kiện này thái độ của Mỹ rất lập lờ, mặc dù không chống lại việc tái thiết lập sự kiểm soát của Pháp ở Đông Dương, Chính phủ Mỹ cũng không có ý định giúp Pháp tái thiết lập sự kiểm soát ở Đông Dương bằng vũ lực Ngày 15 tháng 1 năm 1946, Bộ ngoại giao Mỹ nhắc nhở Bộ chiến tranh là "Việc dùng tàu chiến và sân bay mang cờ

Mỹ vận chuyển quân đội, vũ khí và phương tiện chiến tranh đến hay đi khỏi Đông Dương đều không phù hợp với chính sách của Mỹ" Tuy nhiên, hành động của Tổng thống Truman chuẩn y việc chuyển nhượng của Anh cho Pháp

sử dụng hơn 80 xe Jeep và xe tải của Mỹ mà Anh có theo chương trình cho vay và cho thuê cũng là một hành động quân sự gián tiếp của Mỹ can dự vào cuộc chiến tranh Đông Dương

Trang 23

Tháng 10, tháng11 năm 1946 những cuộc xung đột quân sự nghiêm trọng giữa Pháp và Việt Minh không ngừng tăng lên đỉnh điểm là việc hải quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng ngày 23 tháng 11 năm 1946 Sự kiện này làm cho tình hình thêm căng thẳng và chắc chắn chiến tranh sẽ xảy ra Quân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, trong khi đó Việt Minh tìm cách ngăn cản Pháp bằng chướng ngại vật trên đường phố Hà Nội và cuộc chiến tranh nổ ra ngày

19 tháng 12 năm 1946 khi Pháp ấn định ngày của "tối hậu thư" đòi Việt Minh giải tán lực lượng dân quân ở Hà Nội Trước tình hình đó Mỹ dường như không đồng tình với biện pháp quay trở lại Đông Dương bằng vũ lực Bởi Mỹ hiểu hơn ai hết một sự can thiệp bằng vũ lực không phải là giải pháp tối ưu, khi mà cuộc chiến tranh thế giới hai tàn khốc mới tan khói, ám ảnh về hậu quả của nó vẫn còn đó Do đó, người Mỹ cho rằng Pháp tái chiếm Đông Dương bằng vũ lực không phải là một chính sách khôn ngoan Mỹ từ chối các nỗ lực quân sự của Pháp, chỉ chấp nhận sự quay lại của Pháp bằng con đường hoà bình Đầu tháng 1 năm 1947, Bộ trưởng ngoại giao Mỹ đồng ý bán vũ khí cho Pháp trừ trường hợp vũ khí này được dùng ở Đông Dương

Có thể nói thái độ lúc này của Mỹ là đứng trung lập không chấp nhận chính quyền non trẻ của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng không giúp Pháp đánh chiếm Đông Dương bằng vũ lực Nhưng việc Mỹ tỏ ra đứng trung lập trong một trận đấu không cân sức giữa một chính quyền non trẻ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với một đội quân Viễn chinh Pháp có tiếng trong lịch sử thì điều đó có nghĩa là Mỹ đứng về phía kẻ mạnh (Pháp) Khi quân đội đồng minh Anh, Tưởng rút khỏi Đông Dương thì Mỹ công khai thừa nhận Pháp kiểm soát toàn bộ Đông Dương

Chiến tranh thế giới hai kết thúc thì cũng là lúc thái độ của Mỹ thay đổi, nhất là khi Truman lên cầm quyền Từ chỗ phản đối Pháp quay trở lại nắm quyền ở Đông Dương đến chổ ủng hộ hoàn toàn Pháp tái chiếm Đông Dương Tại sao Mỹ lại lật lọng như vậy? Dưới thời Rudơven ở khu vực châu

Trang 24

Á-Thái Bình Dương là Mỹ phải đánh bại được phát xít Nhật, để thiết lập ảnh hưởng của mình khu vực này Do đó, để giải phóng Đông Dương khỏi Nhật,

Mỹ lợi dụng lực lượng tại chỗ, Mỹ thấy rõ ở Đông Dương Việt Minh là đồng minh quan trọng giúp Mỹ thực hiện nhiệm vụ này Trong lúc đó, Mỹ tỏ ra coi thường thực dân Pháp Mỹ xem việc Pháp đầu hàng Đức một cách nhanh chóng trên đất nước mình là sự đầu hàng hèn nhát không đáng để cho Mỹ

"tính toán" huống gì Mỹ coi trọng đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương

Tình hình thay đổi nhanh chóng, chiến tranh thế giới hai kết thúc phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á phát triển mạnh như ở Inđônêxia, lực lượng Việt Minh ở Đông Dương chớp thời cơ giành độc lập (Việt Nam ngày 2 tháng 9 năm 1945, Lào tháng 10 năm 1945) Khi Pháp có dã tâm quay trở lại Đông Dương, nhân dân Đông Dương đã thể hiện thái độ kiên quyết chống lại Pháp Điều này khiến Mỹ thay đổi thái độ của mình, Mỹ quay sang nhân nhượng với Pháp và ủng hộ Pháp trong cuộc tái xâm lược Đông Dương

Một nguyên nhân khác để Mỹ thay đổi ý kiến của mình đó là sự hồi phục nhanh chóng của Liên Xô sau vết thương chiến tranh vệ quốc, không những thế dưới sự giúp đỡ của Liên Xô lần lượt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ra đời, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo trong phong trào đấu tranh ở các nước trên thế giới, điều đó có nghĩa là chủ nghĩa cộng sản đang phát triển với quy mô rộng Để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản phát triển, Mỹ không thể "đơn phương độc mã" thực hiện, mà Mỹ cần phải lôi kéo các nước cùng tham gia, đặc biệt là đối với Pháp

Như vậy, việc Mỹ ủng hộ Pháp tái chiếm Đông Dương vì Mỹ thấy nhân dân Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản quyết tâm chống Pháp, đặc biệt do tình hình thế giới thay đổi Liên Xô hồi phục nhanh chóng các nước ở Đông Âu đi theo con đường của Liên Xô, nguy cơ cộng sản giành được thắng lợi ở châu Âu Do đó, Mỹ cần có sự ủng hộ của Pháp trong việc tập hợp lực lượng ở Châu Âu chống lại Liên Xô, chống lại nguy cơ cộng sản

Trang 25

lan tràn Nhưng không phải vì thế mà Mỹ dốc lòng ủng hộ Pháp, sự ủng hộ của Mỹ là có giới hạn để khỏi mang tiếng là người "phản đối" chủ nghĩa thực dân Một mặt Mỹ ủng hộ Pháp cầm chừng; Mặt khác Mỹ kêu gọi Pháp trao trả "độc lập" cho người Việt Nam, ở đây được hiểu là những người không cộng sản, chống lại cộng sản Mỹ khẳng định quan điểm chủ nghĩa thực dân

đã lỗi thời nên thay thế bằng một loại hình thực dân mới chắc thắng hơn Một thực tế khác Mỹ không thể nhắm mắt làm ngơ được là Hồ Chí Minh có quan

hệ trực tiếp với Cộng sản, và Mỹ không muốn nhìn thấy có một "điều khiển từ xa" từ điện Kremli chĩa vào các nước có phong trào giải phóng dân tộc đang lên cao Vì vậy, Mỹ xích lại gần với Pháp tỏ ra là người "hoà hảo", nhân nhượng Pháp và cùng Pháp giải quyết vấn đề Đông Dương

2.2.2 Mỹ công nhận chính quyền Bảo Đại

Tình hình thế giới và trên bán đảo Đông Dương sau chiến tranh thế giới

đã không cho phép Mỹ khư khư ôm quan điểm "phản đối" chủ nghĩa thực dân Vì thế trong chính sách của Mỹ đối với Pháp có phần mềm dẻo hơn, bằng việc thừa nhận sự có mặt trở lại của Pháp ở Đông Dương, nhưng là thừa nhận có giới hạn, Mỹ luôn quan tâm đến các hoạt động của Pháp ở Đông Dương Khi cuộc chiến tranh Đông Dương bùng nổ và ngày càng lan rộng,

Mỹ lo ngại giải pháp quân sự của Pháp để khuất phục những người cộng sản

ở Đông Dương Quan điểm của Mỹ là muốn người Pháp có một giải pháp chính trị cho người Việt Nam (không phải là Cộng sản), chứ không phải là bằng giải pháp chiến tranh Mỹ lo sợ cuộc xung đột này sẽ có thể biến thành cuộc xung đột giữa hai phe, một khi những người cộng sản tức giận Vì vậy, các quan chức Mỹ tích cực hoạt động để thuyết phục và gây áp lực với Pháp

để sớm trao trả ''độc lập" cho Việt Nam, thậm chí Mỹ còn hứa hẹn viện trợ cho Việt Nam Nhưng không phải bất kì một lực lượng nào ở Việt Nam Mỹ cũng thực hiện, với Mỹ chính phủ đó không phải là chính phủ bù nhìn của Pháp, Mỹ sẽ viện trợ tài chính cho chính phủ phi cộng sản ở Đông Dương với

Trang 26

diều kiện "dựa trên sự hợp tác của những người thực sự theo đường lối dân tộc chủ nghĩa ở đất nước này"

Khi chiến tranh Đông Dương ngày càng lan rộng, Mỹ lo ngại việc Pháp không muốn giành quyền chính trị cho "người Việt" ở Đông Dương sẽ làm tăng khả năng biến xung đột giữa Pháp và Việt Minh thành cuộc xung đột của hai phe Do đó các nhà Ngoại giao Mỹ tăng cường thuyết phục và gây sức ép

để Pháp sớm trao trả "độc lập" cho Việt Nam Cho nên, Mỹ cũng xúc tiến tìm giải pháp chính trị đối với Đông Dương Chuyến thăm Đông Dương mùa thu năm 1947 của cựu Đại sứ Mỹ Wiliam Bullitt gặp toàn quyền Bollaert ở Hà Nôị, khuyên Pháp sớm trao trả độc lập cho Việt Nam Nhưng trao trả cho ai? Bullitt thấy Bảo Đại là con bài có khả năng đưa lại kết quả mong muốn cho giải pháp chính trị Ngay sau đó Bullitt tìm cách để gặp Bảo Đại, rồi về Pháp gặp các quan chức cao cấp của Pháp Để xúc tiến cho một chính phủ mới, Bullitt viết trên tạp chí Life ''kêu gọi tạo điều kiện cho những người dân tộc không cộng sản chuẩn bị các tổ chức chính trị, kinh tế, quân sự để có thể kiểm soát đất nước"[6,181]

Đầu năm 1949 mặc dù Mỹ không ép Pháp thực hiện giải pháp Bảo Đại, nhưng chính phủ Mỹ vẫn xếp Bảo Đại vào một trong những giải pháp mà Mỹ

có thể chấp nhận được Lúc này yêu cầu của Mỹ là "muốn Bảo Đại và Pháp phải có tiếng nói chung hay bất kì một lực lượng dân tộc chủ nghĩa thực sự để

có cơ hội giành được đại đa số người Việt; vào thời điểm này Mỹ không thể ủng hộ một chính phủ bản địa vì chính phủ này vẫn chưa thành côngtrong việc đáp ứng tiếng gọi của người Việt và có lẽ cuối cùng chỉ trở thành một chính phủ tay sai tách khỏi nhân dân và chỉ tồn tại nhờ vào sự hiện diện của quân đội Pháp"[6,182] Mục đích của Mỹ là muốn thiết lập một chính phủ thuộc về dân tộc chủ nghĩa, chứ không phải là một chính phủ bù nhìn thân Pháp, nếu thành công Mỹ sẽ viện trợ cho chính phủ này Hiệp ước Elide giữa Pháp và Bảo Đại tháng 3 năm 1949 mở ra một triển vọng mới, Mỹ đồng ý với

Trang 27

khả năng của hiệp ước nhưng không lộ rõ ý đồ một cách trực tiếp "Bộ ngoại giao chỉ tuyên bố đơn giản là chính phủ Mỹ hy vọng thoả thuận tháng 3 năm

1949 giữa Tổng thống Pháp và Bảo Đại là cơ sở cho những tiến bộ trong việc đáp ứng những nguyện vọng của nhân dân "Việt Nam" Không phải nghiễm nhiên mà Mỹ hoan nghênh hiệp ước này, với tài phân tích của các nhà ngoại giao, Mỹ đã nhìn thấy những điểm phù hợp để có thể khai thác Hiệp định chỉ

rõ đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng và trao quyền tự trị một phần cho Việt Nam; Pháp vẫn có quyền kiểm soát hoàn toàn trong thời gian chuyển giao quyền lực, bản hiệp ước cũng khẳng định lại nền độc lập của Việt Nam

Hai tháng sau khi hiệp ước Elide được kí kết, Mỹ tiến hành "thử nghiệm Bảo Đại", một bức điện gửi cho lãnh sự Mỹ ở Sài gòn nhấn mạnh" vào thời điểm thích hợp và trong một điều kiện thích hợp, Bộ ngoại giao sẵn sàng công nhận chính phủ Bảo Đại và sẵn sàng cung cấp viện trợ vũ khí và kinh tế đáp ứng yêu cầu của chính phủ này" Thời điểm thích hợp và trong điều kiện thích hợp chống lại cộng sản Khi mà ở Trung Quốc tình hình không

có lợi cho Tưởng Giới Thạch, cuộc nội chiến đang bước vào giai đoạn cuối, những người cộng sản Trung Quốc đang làm chủ được lãnh thổ đẩy Tưởng vào thế rút lui hoàn toàn Chính điều này đã thúc đẩy đường lối ngoại giao của Mỹ, tháng 6 năm1949, Bảo Đại trở thành Quốc trưởng, ngay lập tức Washinhton vội vã gửi tới một "điện văn chúc mừng", bước đi đầu tiên công nhận về mặt pháp lí

Thực hiện Hiệp định Elide, ngày 30 tháng 12 năm 1949 Pháp kí hơn chục hiệp định để chuyển giao việc thực hiện quản lí đối nội cho "quốc gia Việt Nam" của Bảo Đại, có nghĩa là Pháp đã đồng ý cho chính phủ ở Sài gòn

có quyền tự trị trên một số vấn đề thứ yếu Trước động thái này của Pháp và

Mỹ, chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tìm cho mình một đường lối mới để lấy lại thế cân bằng, bằng việc ra lời kêu gọi các nước công nhận về mặt ngoại giao Đáp lời kêu gọi, tháng 1 năm 1950 Trung Quốc nước đầu tiên

Trang 28

công nhận chính phủ Hồ Chí Minh, tiếp đó là Liên Xô và một loạt các nước cộng sản ở Đông Âu công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chỉ trong vài tháng

Đứng trước tình hình như vậy, chính phủ Mỹ "đứng ngồi không yên'', xúc tiến việc xem xét để công nhận chính phủ Bảo Đại Chỉ sau ba ngày Quốc hội Pháp thông qua Hiệp định Elide (29.1.1950), thì ngày 2 tháng 2 năm 1950 Ngoại trưởng Achison trình lên Tổng thống Truman quyết định công nhận quốc gia Việt Nam của Bảo Đại Điều kiện để công nhận Achison đã dưa ra bốn lí do: "khuyến khích phát triển tinh thần dân tộc dưới sự lãnh đạo của lực lượng không cộng sản ở các nước Đông Nam Á; thành lập các chính phủ phi cộng sản ở đây; ủng hộ Pháp vì Pháp là đồng minh của NATO, đối phó với chiến lược của chủ nghĩa cộng sản là thống trị châu Á thông qua "cái lốt" dân tộc chủ nghĩa"[6,183] Rõ ràng, cả bốn lí do này để công nhận Bảo Đại của

Mỹ "sặc mùi" ý thức hệ Một ngày sau, ngày 3 tháng 2 năm 1950 Truman phê chuẩn đề nghị của ngoại trưởng Achison công nhận chính quyền Bảo Đại

Để cho quyết định của mình có trọng lượng, Mỹ cố gắng thuyết phục một vài chính phủ châu Á đi đầu trong việc công nhận Việt Nam quốc gia và các Vương quốc Lào và vương quốc Campuchia Nhưng trong khi các chính phủ này còn đang do dự thì Mỹ và Anh nhanh chóng công nhận các quốc gia liên kết ở Đông Dương Để tỏ tinh thần đoàn kết với Mỹ, Anh vì một số quyền lợi của mình, nên trong tháng 2 năm 1950 Thái Lan đã công nhận các quốc gia liên kết

Như thế từ năm 1947, Pháp và Mỹ đều muốn dùng con bài Bảo Đại, để chống lại chính phủ Việt nam Dân củ Cộng hoà và nhân dân Đông Dương, với Mỹ có cái nhìn sâu hơn dùng Bảo Đại để thiết lập nên một Quốc gia theo hướng dân tộc chủ nghĩa, làm cơ sử để Mỹ thực hiện mục tiêu loại trừ cộng sản ở Đông Dương, và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản từ Trung Quốc xuống Đông Nam Á và Nam Á Đồng thời tạo lập cơ sở cho Mỹ gạt Pháp và nắm lấy

Trang 29

Đông Dương Nhưng trong nội bộ Pháp - Mỹ không thống nhất chung được lập trường cho chính phủ Bảo Đại: Pháp muốn sử dụng Bảo Đại để làm bù nhìn, Bảo Đại thấy ý đồ của Pháp muốn đặt Đông Dương dưới quyền "tự trị ", chứ không phải là quyền "độc lập" Vì vậy giữa Pháp và Bảo Đại đã xuất hiện

kẽ hở cho Mỹ nhúng tay vào Thấy Bảo Đại đòi Pháp trao trả "độc lập" rất phù hợp với quan diểm của mình, Mỹ thúc ép Pháp dùng Bảo Đại để trao trả

"độc lập", nhưng với Mỹ chỉ là một "độc lập giả hiệu", độc lập" như chính phủ của Lý Thừa Vãn ở Nam Triều Tiên Mục đích của Mỹ, rõ ràng dùng Bảo Đại để chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Mặt khác Mỹ cũng muốn dùng Bảo Đại để hạn chế và cuối cùng sẽ gạt Pháp khỏi Đông Dương

Như vậy, những năm 1948-1949 với học thuyết Truman triển khai và chiến lược toàn cầu ngăn chặn, Mỹ đặt trọng tâm của chiến lược là chây Âu

Để thực hiện yêu cầu cấp thiết là tập hợp đồng minh tiến tới xây dựng Liên minh chiến lược chống Liên Xô và sự lan tràn của cộng sản Lúc này vị trí của Pháp rất quan trọng, là một trong những mắt xích mẫu chốt để hình thành liên minh.Trong bối cảnh đó, Mỹ tìm cách tranh thủ Pháp nhằm khai thác vai trò của Pháp cho việc thành lập khối Liên minh chống cộng Không chỉ khai thác đối với bản thân nước Pháp mà Mỹ còn tranh thủ Pháp ở Đông Dương, Pháp đang cố gắng giành lại Đông Dương Mỹ hiểu rõ là Pháp dù có cố gắng đến mấy trong tình hình lúc này thì cũng khó có thể giành được một thắng lợi, nếu không có sự can thiệp của Mỹ Theo tính toán của Mỹ đối với Đông Dương

về lâu về dài Mỹ phải vạch cho được mục tiêu cơ bản để có thể "lái" Pháp thực hiện thay cho Mỹ trong trường hợp Mỹ gặp khó khăn trong việc can thiệp trực tiếp để ngăn chặn làn sóng "đỏ" tràn vào khu vực Đông Nam Á Để thực hiện năm 1948 Bộ ngoại giao Mỹ cho ra văn kiện: Thủ tiêu ở mức tối đa

có thể được ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị Vì vậy, việc "Pháp dùng quân sự đánh chiếm lại Đông Dương không phải là giải

Trang 30

pháp nên có", đồng thời văn kiện cũng đánh giá: Cụ Hồ Vhí Minh là người mạnh nhất, bất cứ giải pháp nào được đề nghị mà gạt cụ Hồ ra thì chỉ là một biện pháp mà kết quả không chắc chắn Chính vì vậy mà Mỹ đã do dự không dám ép Pháp quá mạnh hoặc dính líu quá sâu, chừng nào chưa tìm ra được một giải pháp hoặc Mỹ chưa sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm quân sự can thiệp Thực ra trong nội bộ Mỹ lúc này có nhiều ý kiến khác nhau về Đông Dương, nhưng đáng chú ý là hai ý kiến: thứ nhất lo ngại Trung Quốc sẽ thống trị Việt Nam; thứ hai là Pháp không nên rút khỏi Đông Dương và Mỹ cần tính đến khả năng can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Xuất phát từ lợi ích của Mỹ,

Mỹ muốn biến Đông Dương thành "bức tường sắt" để ngăn chặn cộng sản bằng hình thức nhà nước dân tộc chủ nghĩa, theo Mỹ nhà nước này nên trao cho Bảo Đại là thích hợp nhất

CHƯƠNG 3

CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN TRANH

ĐÔNG DƯƠNG TỪ 1950 ĐẾN 1954

3.1 Chính sách viện trợ của Mỹ vào Đông Dương (1950 - 1952)

3.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực

Tình hình thế giới và ở Đông Bắc Á vào đầu những năm 50 đã khiến

Mỹ lo sợ, một loạt các sự kiện diễn ra hoàn toàn đe doạ tới Mỹ và Phương Tây Ở châu Âu, Mỹ đang phải căng lên để giải quyết cuộc khủng hoảng Beclin lần thứ nhất những năm 1948 -1949 Cũng trong thời gian này, các

Trang 31

nước ở Đông Âu cơ bản hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu Lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh khi Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử vào năm 1949, phá vỡ thế độc quyền về bom nguyên tử của Mỹ Những sự kiện đó dần đưa lại thế cân bằng chiến lược giữa hai phe Ở châu Á - Thái Bình Dương, cộng sản ở Trung Quốc giành thắng lợi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời (10.1949), Đảng cộng sản Trung Quốc thực hiện chính sách ngoại giao "nhất biên đảo" ngả hẳn về phía một bên với Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa Sau đó là một loạt các hiệp ước được kí kết giữa Liên Xô và Trung Quốc như hiệp ước

"Đồng minh hữu hảo tương trợ Xô - Trung", "Hiệp định về việc Liên Xô cho nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vay tiền" Đồng thời Trung Quốc tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh chống Pháp cứu nước của nhân dân Việt Nam Tháng 1 năm 1950 Trung Quốc - Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lập ngoại giao công nhận lẫn nhau Cũng trong tháng 1.1950 Hồ Chí Minh bí mật sang thăm Trung Quốc sau khi hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, lại sang Liên Xô gặp chủ tịch Mao Trạch Đông Chuyến thăm này Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu đại diện cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị với lãnh đạo Trung Quốc "hy vọng Trung Quốc cung cấp viện trợ toàn diện cho cuộc chiến tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam, bao gồm cả vật tư quân sự và cử đoàn cố vấn

quân sự"[22,126] Ngay sau đó Trung Quốc đã tiến hành viện trợ một số

lượng vũ khí vật tư trang thiết bị quân sự, lương thực và cử đoàn cố vấn chính trị và quân sự đến Việt Nam Năm 1950 Tướng Trần Canh (phó tư lệnh quân khu Tây Nam, kiêm tư kệnh quân khu Vân Nam) cùng các chuyên gia của Trung Quốc có mặt ở Việt Nam với các loại quân trang vũ khí đã giúp quân đội nhân dân Việt Nam trong "Chiến dịch Biên giới'' quét sạch quân Pháp khai thông biên giới Việt -Trung tạo điều kiện cho Trung Quốc viện trợ cho Việt

Trang 32

Nam chống Pháp Với sự viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chống Pháp đã "đánh dấu cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân Đông Dương có sự ủng hộ của các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa" Cùng với sự kiện chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào tháng 6 năm 1950, khiến Mỹ càng tin rằng tập đoàn Xô - Trung "đang sử dụng thủ đoạn bao gồm cả tiến công quân sự để ra sức mở rộng thế lực của họ, tạo nên sự uy hiếp đối với Mỹ

và Phương Tây

Trước tình hình như vậy, chính phủ Mỹ càng nhận thức về vị trí của Đông Dương, coi Đông Dương là một chiến tuyến quan trọng để chống lại cái gọi là "sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản" Cho nên, vào đầu Năm 1950 Chính phủ Mỹ chính thức vứt bỏ chính sách "trung lập", bắt đầu công khai ủng hộ Pháp và chính quyền Bảo Đại Tháng 2 năm 1950 chính quyền Truman chính thức thừa nhận chính quyền Bảo Đại và viện trợ kinh tế tài chính cho chính phủ này Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ thì chính quyền Truman quyết định tăng viện trợ quân sự cho khu vực Đông Dương và tăng cường lực lượng quân sự tại Philippin Bắt đầu quá trình Mỹ tích cực giúp đỡ Pháp và chính quyền Bảo Đại về quân sự và kinh tế Đến đây thì cuộc chiến tranh ở Đông Dương đã thật sự nổi rõ tính chất đối kháng Đông - Tây, chiến tranh lạnh bao trùm khu vực này

Thực tế từ năm 1947 Mỹ đã thực hiện viện trợ cho Pháp theo kế hoạch Macsan, nghiễm nhiên Pháp đã dùng một phần viện trợ đó vào cuộc chiến tranh Đông Dương Theo báo chí Mỹ cho biết : Năm 1947 chính phủ Truman

đã cho Pháp vay 160 triệu đôla để mua xe và một số trang thiết bị liên quan cho chiến trường Đông Dương Trong một văn kiện của Bộ ngoại giao Mỹ gửi cho Hội đồng quốc gia cũng thừa nhận trong năm 1948 khoảng 100 nghìn quân Pháp với trang bị của Mỹ đang bị hao tổn ở Đông Dương Như vậy, mặc

dù Mỹ không trực tiếp viện trợ cho Pháp tiến hành cuộc chiến tranh Đông Dương, nhưng với những viện trợ của Mỹ, Pháp đã có một nguồn lực để có

Trang 33

thể tiến hành cuộc chiến trên cơ sở Mỹ ngầm cho Pháp khôi phục thống trị dưới hình thức thực dân ở khu vực này

Từ năm 1950 với tình hình khu vực Đông Bắc Á và thế giới đã khiến

Mỹ phải xem xét lại khu vực Đông Dương, Mỹ thông qua Pháp thổi cuộc chiến tranh thực dân thành cuộc xung đột quân sự của hai khối Đông - Tây

Có điều là Mỹ không trực tiếp đưa quân đổ bộ lên khu vực này như ở Triều Tiên, mà thông qua Pháp bằng chiêu bài viện trợ tài chính và vũ khí để Pháp thay Mỹ là nhiệm vụ ngăn ngừa và dập tắt ngọn lửa cộng sản đang ngày càng bén xuống Đông Nam Á Vì điều này mà làm cho Pháp phải nhiều phen lúng túng trên chiến trường Đông Dương

Để đạt được mục đích ngăn chặn làn sóng cộng sản từ Trung Quốc, Mỹ quyết tâm không cho cộng sản thắng lợi xuống Đông Nam Á, từ năm 1950 trở

đi, trong ngân sách Quốc phòng của Mỹ cho bên ngoài thì Đông Dương là khu vực Mỹ cân nhắc nhiều, Mỹ không nề hà rót đôla và vũ khí phương tiện chiến tranh cho Pháp và Bảo Đại

3.1.2 Mỹ viện trợ cho Pháp và Bảo Đại

Ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đến thời điểm 1950 thì Triều Tiên và Đông Dương nằm trong chính sách lớn của Mỹ Ở Đông Dương, ngay sau khi công nhận quốc gia Việt Nam (tháng 2 1950), Mỹ vội vã gửi một phái đoàn đến Sài gòn vào tháng 3 năm 1950 để tìm hiểu tình hình, ngay sau đó phái đoàn này đã đề nghị tăng viện trợ cho chính quyền Bảo Đại Để có tính thuyết phục phái đoàn này đã nhận định: "Chính phủ Bảo Đại đang đứng trước nguy cơ bị lật đổ từ bên trong, bị thâm nhập chính trị và bị xâm lược bằng quân sự từ bên ngoài" Rõ ràng, Mỹ thấy nguy cơ của cộng sản ở Đông Dương và từ Trung Quốc và Liên Xô đang đe doạ Nhận được kiến nghị này Tổng thống Mỹ chấp nhận 10 triệu đôla so với 15 triệu đôla mà Achison trình lên để viện trợ cho Đông Dương thông qua Pháp Một khoản tiền không phải

là lớn, nhưng cũng không phải là nhỏ đối với Pháp trong lúc đang sa lầy trên

Trang 34

chiến trường Đông Dương Viện trợ cho Pháp, Mỹ không quên kèm theo điều kiện áp đặt cho số tiền Achison tuyên bố với Pháp và các quốc gia liên kết là

"Mỹ không chấp nhận bất kì một cuộc đàm phán nào với những người cộng sản Việt Nam hay công nhận chính phủ Mao Trạch Đông ở Trung Quốc" Để bảo đảm cho nguồn cung cấp, trong cuộc đàm phán Pháp - Mỹ ở Washington, Achison hứa sẽ viện trợ với điều kiện là Pháp tăng tính độc lập cho các quốc gia liên kết và phần lớn viện trợ phải trực tiếp đến tay các quốc gia này

Trong chính sách của Mỹ, mặc dù bản thân Đông Nam Á nói chung và Đông Dương nói riêng chỉ có ý nghĩa chiến lược thứ yếu, nhưng nó đã trở thành " bộ phận cấu thành quan trọng trên tuyến ngăn chặn'' Do vậy, tháng 4 năm 1950, một văn kiện được Tổng thổng Truman thông qua mã số NSC 64 với tuyên bố "Mỹ viện trợ cho Đông Dương là tối cần thiết vì sự hiện diện của Trung Quốc ở biên giới Đông Dương và vì người Pháp không có khả năng địch với lực lượng của Hồ Chí Minh"[6,185], coi Đông Dương là "khu vực then chốt của Đông Nam Á" Mật lệnh NSC 64 còn gắn việc viện trợ cho Đông Dương với nhiệm vụ chống cộng sản ở Đông Nam Á vì thất bại của thế giới "tự do" ở đây sẽ làm nguy hại đến tương quan lực lượng của hai phe ở Đông Nam Á, và sự "sa lầy" của nó sẽ nảy sinh những "ảnh hưởng không tốt" trên thế giới Rõ ràng, văn kiện NSC 64 là lời tuyên bố của "Học thuyết Đôminô", đã gắn nỗ lực của Mỹ ở Đông Dương với điều mà người Mỹ cho là

sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản Cũng chímh từ những nội dung của văn kiện này, Mỹ đã để lộ ý đồ muốn trực tiếp nắm lấy chính quyền Bảo Đại

và quân nguỵ quân, thông qua ý muốn viện trợ thẳng cho Bảo Đại Chính vì vậy, những mâu thuẫn vốn có từ trước giữa Pháp Và Mỹ ngày càng công khai

và gay gắt

3.1.3 Mỹ tăng cường viện trợ khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ

Tháng 6 năm 1950 chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, càng làm cho Chính phủ Mỹ tin rằng Liên Xô sẽ không ngần ngại dùng vũ lực để mở rộng ảnh

Trang 35

hưởng, cho nên vị trí chiến lược của Đông Dương ngày càng quan trọng Chính phủ Mỹ có lí khi "lo lắng lại xảy ra ở Việt Nam một sự kiện giống như Trung Quốc xuất quân sang Triều Tiên, buộc Pháp phái rút khỏi Đông Dương

và khu vực này bị rơi vào tay cộng sản".[22,127] Tình hình Triều Tiên đã tác động mạnh mẽ chính sách của Mỹ ở Đông Dương Một trong sáu biện pháp

mà Chính phủ Mỹ thông qua hai ngày sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ trong đó có việc hạm đội 7 của Mỹ kéo đến đóng tại eo biển Đài Loan để bảo

vệ Đài Loan khỏi bị tấn công; các lực lượng quân Mỹ ở Philippin được tăng cường và Mỹ tăng viện trợ cho Đông Dương và cử phái đoàn quân sự đến đây Mỹ quyết định viện trợ 70 triệu đôla cho "các vùng xung quanh Trung Quốc" Trong tháng 7, tháng 8 năm 1950, hoạt động của giới chính trị quân sự

Mỹ ở Đông Dương diễn ra ngày thêm nhộn nhịp, Đại sứ Donald heath tại các quốc gia Liên kết Việt Nam, Lào, Campuchia đến nhận nhiệm vụ, cùng với phái đoàn quân sự được gửi tới để đánh giá tình hình, một trong những nhận định của người Mỹ đối với Đông Dương là xem " Đông Dương là hòn đá tảng trong việc phòng thủ Đông Nam Á Một thất bại ở đây sẽ không thể không đẩy cán cân Đông Nam Á lục địa nghiêng về cộng sản" Cũng trong tháng 8 thì chuyến tàu viện trợ vũ khí đầu tiên của Mỹ đến Đông Dương phái đoàn viện trợ quân sự MAAG bắt đầu hoạt động ở Sài gòn Như vậy năm 1950, Mỹ không còn do dự ủng hộ Pháp đối với cuộc chiến ở Đông Dương, tình hình cộng sản ở châu Á đã tạo lập cho Mỹ một vị trí ở Đông Dương, vị trí mà từ trước tới nay Mỹ đang nỗ lực để xâm nhập Dưới sự yếu kém của Pháp và quân đội Pháp liên tiếp thua trận trên bán đảo Đông Dương, và yêu cầu cấp bách đối phó với nguy cơ cộng sản từ Trung Quốc, nghiễm nhiên đã tạo thuận lợi cho người Mỹ thực hiện vai trò, sứ mệnh cao cả bảo vệ thế giới "tự do" khỏi vòng tay cộng sản ở Đông Dương và Đông Nam Á Vì vậy sau Triều Tiên, Đông Dương ngày càng trở nên quan trọng trong các tính toán chiến lược của Mỹ

Trang 36

Viện trợ cho Pháp là cái thế buộc Mỹ phải thực hiện vì "mục đích chung" của Mỹ và Pháp Việc Mỹ viện trợ cho nước Pháp để thiết lập liên minh chống cộng ở châu Âu là việc Mỹ không hề do dự mà thực tế từ sau chiến tranh thế giới hai, Mỹ đã viện trợ cho Pháp trong kế hoạch Macsan là minh chứng Thế nhưng, ở Đông Dương mặc dù cũng nằm trong cục diện chống cộng, nhưng Mỹ không mặn mà lắm cho sự viện trợ trực tiếp đến tay người Pháp Trong ý muốn của Mỹ, thì viện trợ trực tiếp cho các quốc gia Liên kết hơn là viện trợ thông qua người Pháp Sau một thời gian tìm cách khống chế và vận động Pháp thì mục đích của Mỹ viện trợ cho chính quyền các quốc gia Liên kết đạt được bước đầu Vào tháng 12 năm 1950, một hiệp định tay ba được kí kết ở Sài Gòn giữa Mỹ, Pháp và Việt Nam quốc gia Đây

là hiệp định đầu tiên giữa Mỹ và Quốc gia Việt Nam đánh dấu sự bắt đầu Mỹ chính thức dính líu trực tiếp vào Đông Dương Trong thời gian đầu này việc

Mỹ từ bỏ Đông Dương cũng chưa muộn và trong chính giới Mỹ lúc này cũng

đã có ý kiến một chuyên gia quân sự của Mỹ đã từng kiến nghị là "do chính sách của Pháp ở Đông Dương tỏ ra không hiệu quả, Pháp nên bỏ Đông Dương nếu như không đủ sức để giữ và người Mỹ phải củng cố tuyến phòng thủ thứ hai ở Thái Lan ở Malaysia, ở Campuchia, Philippin và Inđônêsia"[6,187] Ngoại trưởng Achison đã không ngần ngại bác bỏ các đề nghị xem xét lại chính sách của Washington đối với Việt Nam và ông tuyên

bố "một khi đã đâm lao thì phải theo lao"

Thế nhưng, trong năm 1950 viện trợ của Mỹ cho chiến trường Đông Dương là không lớn Nguyên nhân không phải vì Mỹ không đủ tiềm lực kinh

tế tài chính, quân sự cho khu vực này, mà sự viện trợ của Mỹ chỉ cầm chừng ở mức độ nhất định so với các khu vực khác, bởi một phần nào đó do sự bất đồng giữa Pháp và Mỹ trong việc xác định vị trí của chính quyền Bảo Đại Lúc này Pháp đã bắt đầu nhận thức được dã tâm của Mỹ muốn từng bước loại

bỏ Pháp và xác lập chính quyền dân tộc chủ nghĩa của Bảo Đại, để tạo cơ sở

Trang 37

cho việc Mỹ xâm nhập sâu vào Đông Dương Mặc dù biết vậy, nhưng Pháp đang nằm trong thế "lực bất tòng tâm", chỉ có thể dùng "uy tín lâu năm" ở Đông Dương để cản bước chân của Mỹ Nguyên nhân thứ hai nữa là cũng trong năm này một sự kiện khác cũng xảy ra ở châu Á, đó là chiến tranh Triều Tiên bùng nổ khiến cho Mỹ phải lo nghĩ nhiều hơn bất kì nơi nào khác ở châu

Á Do tính cấp thiết của Triều Tiên, nên Mỹ giành ưu tiên số một cho Triều Tiên trong chiến lược của Mỹ Chính vì vậy, ở Đông Dương trong năm 1950 con số viện trợ của Mỹ cho Đông Dương chỉ đạt 10 triệu đôla nhưng nó được tính bao gồm cả 7 máy bay Đacôta, 40 máy bay chiến đấu Gruman hellcat và

3 tàu chở vũ khí hạng nhẹ Trong khi đó con số mà Mỹ quyết định viện trợ quân sự cho khu vực Viễn đông là 500 triệu đôla

Sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, không khí chống cộng lại được kích động sôi sục ở Mỹ, một tất yếu là Mỹ coi Trung Quốc là đối tượng chủ yếu ở châu Á, dẫn tới quan hệ thù địch giữa Mỹ với Trung Quốc trở nên ngày một căng thẳng Để tạo sự uy hiếp đối vở Trung Quốc và khẳng định quyền can thiệp của Mỹ ở Đông Dương, ngày 14 tháng 9 năm 1951 Tổng thống Truman tuyên bố "vị trí của Pháp ở Đông Dương cũng giống như vị trí của Liên hợp quốc (Mĩ) ở Triều Tiên"[15] Đồng thời Bộ quốc phòng và Bộ ngoại giao Mỹ cũng ra tuyên bố nhấn mạnh: Bảo vệ Đông Dương một cách thắng lợi là điều kiện thiết thân cho việc bảo vệ Đông Nam Á Cho nên sang năm

1951 Mỹ tăng viện trợ cho Đông Dương gấp ba lần đạt 30,5 triệu đôla Mỹ nhiều lần tái khẳng định vị trí của Đông Dương có chăng chỉ đứng sau vị trí Triều Tiên về tầm quan trọng ở châu Á cho viện trợ quân sự nước ngoài của

Mỹ Mỹ luôn xem Đông Dương là một bộ phận của cuộc chiến đấu chống "sự xâm lược" của cộng sản trên toàn thế giới và Mỹ cũng hứa sẽ tăng viện trợ cho Pháp và các quốc gia Liên kết theo cấp độ quyết liệt của cuộc chiến Nhưng cũng cần phải thấy rằng, bên cạnh những cái đầu nóng của phái hiếu chiến luôn đưa ra những tuyên bố cứng rắn, thì trong chính giới Mỹ cũng có

Trang 38

những nhà quan sát thực tế hơn, nhất là khi tài chính quốc phòng Mỹ đang ngày càng tăng lên và cần thiết hơn cho những khu vực trọng yếu trong chiến tranh Lạnh.Vì vậy trong quan chức nhà Trắng đã có một số người nhiều lần khẳng định "Mỹ sẽ không can thiệp vào Đông Dương một khi Trung Quốc không can thiệp" Theo quan điểm của Mỹ có lẽ họ hiểu "sự can thiệp" này là việc đưa quân Mỹ vào Đông Dương, trên thực tế bản thân viện trợ của Mỹ cho Pháp và Bảo Đại cũng đã là một cấp độ can thiệp của Mỹ

Tuy nhiên, lúc này trong chính sách ngoại giao của Mỹ và Trung quốc đang ở thế ngoại giao "chờ đợi" cả Mỹ và Trung Quốc đều không có một hoạt động quân sự nào quyết liệt ở Đông Dương Bởi vì cả hai đang còn lún sâu vào cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ và Trung không muốn xuất hiện mặt trận thứ hai Đông Dương, mà chỉ dừng lại ở mức độ viện trợ cho chiến tranh Đông Dương một cách cầm chừng Do đó, trong suy nghĩ của Mỹ cũng không quyết tâm lắm trong việc bảo vệ khu vực này khỏi sự tấn cộng của chủ nghĩa cộng sản các nhà hoạch định chính sách Mỹ thống nhất trong bản ghi nhớ 48/5, là ''Mỹ không có khả năng quân sự để chặn đứng thắng lợi của những người cộng sản nếu như Trung Quốc tham gia vào cuộc chiến" Còn với Hội đồng tham mưu trưởng tháng 8 1951 thì có cái nhìn thực tế tình hình ở Đông Dương và châu Á , vì vậy mà phản đối bất cứ tuyên bố nào của Mỹ đưa quân vào Đông Dương

Như vậy, mặc dù giới hiếu chiến Mỹ nhiều lần tuyên bố bảo vệ bằng được Đông Dương, thế nhưng một khi Trung Quốc tham gia vào cuộc chiến thì Mỹ dường như sẵn sàng để mất Đông Dương Xét về mặt chính trị khả năng Washington thừa nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ Đông Dương khỏi sự "xâm lược của cộng sản", nhưng về quân sự thì Mỹ thấy không có khả năng thực hiện được nhiệm vụ này Điều này cho thấy Đông Dương đóng vai trò phụ so với Triều Tiên trong chiến lược của Mỹ và Mỹ chỉ đánh giá tình hình Việt Nam qua lăng kính chính sách của mình đối với Trung Quốc

Trang 39

Diễn biến chiến tranh Triều Tiên rõ ràng tác động đến thái độ của Mỹ đối với Đông Dương Sang năm 1952, một bước chuyển từ chiến tranh Tổng lực sang đàm phán ở Triều Tiên, sau khi thấy việc lao vào cuộc chiến tranh ở Triều Tiên có nguy cơ Liên Xô cũng mạo hiểm sẽ tham gia vào, khiến cho Mỹ

sợ một cuộc xung đột Xô - Mỹ trực tiếp Do đó, sau khi chiến tuyến được đẩy lùi về vĩ tuyến 38, Chính quyền Truman đã từ bỏ mục tiêu dùng vũ lực để thống nhất Triều Tiên chuyển sang theo đuổi mục tiêu có hạn chế là duy trì từ hiện trạng trước chiến tranh và thăm dò thông qua con đường ngoại giao để giải quyết vấn đề Bởi vậy, tình hình dịu đi ở Triều Tiên cho phép chính quyền Truman chú ý hơn vào Đông Dương Hơn nữa, Mỹ sợ cuộc chiến tranh Triều Tiên là tiền lệ cho việc Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào Đông Dương và sẽ kéo Mỹ vào một cuộc xung đột khác Mặt khác, các vấn đề ở châu Âu đòi hỏi

Mỹ phải mua chuộc sự ủng hộ của Pháp Tất cả những yếu tố này đã khiến cho Mỹ viện trợ cho Đông Dương tăng một cách đột biến vào năm 1952 từ 30,5 triệu lên 525 triệu đôla mức viện trợ tăng gấp 15 lần so với trước Chính phủ Mỹ đã gánh vác 1/3 chi phí cho chiến tranh Đông Dương

Năm 1952 nỗi lo sợ Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương biểu hiện rõ trong chính sách của Mỹ Người Mỹ bàn nhiều hơn khả năng Trung Quốc điều quân vào Đông Dương và Mỹ phải có biện pháp để đáp ứng thách thức này Cũng chính từ đây, trong chính giới Mỹ

đa số xuất hiện tư tưởng giành Đông Dương cho bằng được, người Mỹ đã tính đến khả năng sử dụng quân sự để giành mục tiêu Chỉ thị NSC 142/2, được thông qua tháng 6 năm 1952 nhấn mạnh ''là sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương sẽ chỉ nhằm đáp ứng một sự can thiệp trực tiếp của Trung Quốc vào khu vực này"[6,140], trong ý nghĩ của người Mỹ lúc này, sẵn sàng chấp nhận can thiệp quân sự nếu như Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào Việt Nam, giống như từng đưa quân sang Triều Tiên Chỉ thị NSC 124/2 còn khẳng định

Mỹ có thể đơn phương thực hiện hành động nếu như là cần thiết Còn ở trong

Trang 40

chừng mực nào đấy thì Mỹ sẽ chỉ hậu thuẫn bằng không quân và hải quân nhưng với điều kiện là Pháp phải cam kết duy trì tham chiến bằng bộ binh Như vậy, Mỹ sẵn sàng chi tiền, súng đạn và bất kì thứ gì phục vụ cho cuộc chiến, còn với sinh mạng Mỹ không chấp nhận nếu thấy không thật cần thiết

Mặt khác, trong những năm 1951 đến 1953, tình hình của Pháp trên chiến trường Đông Dương ngày càng xấu hơn, quyết tâm chiến tranh của chính giới Pháp bắt đầu lung lay phân hoá Do đó, người Mỹ không hài lòng với cách Pháp tiến hành cuộc chiến, muốn tiến hành cuộc chiến theo cách thức của mình Mỹ đã nhiều lần gây sức ép với Pháp để điều hành cuộc chiến, những nỗ lực của Mỹ vẫn không đạt được, do Mỹ cần có sự ủng hộ của Pháp trong việc thành lập "cộng đồng phòng thủ chung Châu Âu"(CED) để che đậy cho kế hoạch tái vũ trang ở Đức, nhằm chống lại "nguy cơ" Xô Viết ở châu

Âu và để đẹp lòng người Pháp Mỹ đành phải nhượng bộ

Thật ra, những viện trợ của Mỹ cho Pháp đó là một sự đổi chác trong khuôn khổ của sự "phân công nhiệm vụ" Pháp đóng vai trò là "tiền đồ" của

Mỹ không chỉ tại Đông Dương mà còn là tại châu Âu, vào lúc mà quân đội

Mỹ đang mắc kẹt trong chiến tranh Triều Tiên

Cũng chính từ năm 1953 trở đi, cuộc chiến tranh trên chiến trường Đông Dương bước vào thời điểm quyết liệt Trước những thất bại nặng nề của Pháp, Mỹ rất lo sợ cuộc chiến sẽ kết thúc bằng thắng lợi của lực lượng cộng sản Vì vậy, bắt đầu từ đây Mỹ đẩy cao viện trợ cho Pháp và quân đội Việt Nam quốc gia, tập trung xây dựng lực lượng tiến hành cuộc chiến giành thế chủ động trên chiến trường tiến tới giành thắng lợi trên toàn cõi Đông Dương

3.2 Chính sách tăng cường can thiệp vào Đông Dương của Mỹ (1953- 1954)

3.2.1 Nguyên nhân Mỹ tăng cường can thiệp

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bạch Ngọc Anh, Trần thục Nga, Trần Bá Đệ, Nguyễn Xuân Minh (1987), Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Bạch Ngọc Anh, Trần thục Nga, Trần Bá Đệ, Nguyễn Xuân Minh
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1987
[2]. Phạm Giảng (1962), Lịch sử quan hệ quốc tế. Nxb Sử Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế
Tác giả: Phạm Giảng
Nhà XB: Nxb Sử Học
Năm: 1962
[3]. Phan Văn Hoàng, Dấu ấn Điện Biên Phủ trong hồi kí của một Tổng thống Mỹ. Tạp chí nghiên cứu Lịc sử. Số 3 năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn Điện Biên Phủ trong hồi kí của một Tổng thống Mỹ
[4]. Lê Kim (1994), Tướng Hăng ri với trận Điện Biên Phủ. Nxb. Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tướng Hăng ri với trận Điện Biên Phủ
Tác giả: Lê Kim
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1994
[5]. Nguyễn Anh Lân (1960), Đế quốc Mỹ đang biến miền Nam Việt Nam thành pháo đài xâm lƣợc ở Đông Nam Á. Nxb. Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đế quốc Mỹ đang biến miền Nam Việt Nam thành pháo đài xâm lƣợc ở Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Anh Lân
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1960
[6]. Lưu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch (2002), Pháp tái chiếm Đông Dương và Chiến tranh lạnh. Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp tái chiếm Đông Dương và Chiến tranh lạnh
Tác giả: Lưu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2002
[7]. Nguyễn Anh Thái (2002), Lịch sử thế giới hiện đại. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại
Tác giả: Nguyễn Anh Thái
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002
[9]. Đỗ Thiện, Đinh Kim Khánh (1974), Tiếng sấm Điện Biên Phủ. Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng sấm Điện Biên Phủ
Tác giả: Đỗ Thiện, Đinh Kim Khánh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1974
[10]. Lê Khương Thuỳ (2003), Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau Chiến tranh lạnh. Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau Chiến tranh lạnh
Tác giả: Lê Khương Thuỳ
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2003
[11]. Lê Bá Thuyên (1997), Hoa Kỳ cam kết và mở rộng. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Kỳ cam kết và mở rộng
Tác giả: Lê Bá Thuyên
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1997
[12]. Mạc Văn Trọng, Nguyến Văn Vinh, Hoàng Thế Dũng (1994), Điện Biên Phủ nhìn từ phía bên kia. Nxb. Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện Biên Phủ nhìn từ phía bên kia
Tác giả: Mạc Văn Trọng, Nguyến Văn Vinh, Hoàng Thế Dũng
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1994
[13]. Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (2002). Học viện quan hệ quốc tế. Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Tác giả: Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
[14]. Hãy cảnh giác! Cuộc đại chiến không có tiếng súng. Tổng cục II - Bộ quốc phòng (2004). Nxb Viện khoa học xã hội Thiên Tân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy cảnh giác! Cuộc đại chiến không có tiếng súng
Tác giả: Hãy cảnh giác! Cuộc đại chiến không có tiếng súng. Tổng cục II - Bộ quốc phòng
Nhà XB: Nxb Viện khoa học xã hội Thiên Tân
Năm: 2004
[15]. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975 . Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
[16]. Mấy vấn đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1985). Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Tác giả: Mấy vấn đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1985
[17]. Z.Brzezinski (1999), Bàn cờ lớn. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn cờ lớn
Tác giả: Z.Brzezinski
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
[18]. Lý Thực Cốc (1996), Mỹ thay đổi chiến lƣợc toàn cầu. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thay đổi chiến lƣợc toàn cầu
Tác giả: Lý Thực Cốc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[19]. Kolko Gbriel (1991), Giải phẫu cuộc chiến tranh Việt Nam. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu cuộc chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Kolko Gbriel
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1991
[20]. Ph-răng-xoa Gioay Ô (1981), Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Văn Chương dịch. Nxb. Thông tin lý luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Tác giả: Ph-răng-xoa Gioay Ô
Nhà XB: Nxb. Thông tin lý luận
Năm: 1981
[21]. N.I-nô-dem-xep, Chính sách đối ngoại của Mỹ (1961). Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Mỹ
Tác giả: N.I-nô-dem-xep, Chính sách đối ngoại của Mỹ
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1961

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w