1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Công nghệ dạy học

58 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Công nghệ dạy học nhằm cung cấp những kiến thức lí luận về PPDH (hệ thống khái niệm, bản chất, phân loại các PPDH), các PPDH hiệu quả (các quan điểm và mô hình dạy học), các kỹ thuật triển khai dạy học hiệu quả (lập kế hoạch, thiết kế bài giảng, soạn giáo án, triển khai dạy học, kiểm tra đánh giá v.v.)

Trang 1

MỤC LỤC

1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học hiện đại 2

1.1 Một số vấn đề về Phương pháp dạy học 2

1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học 2

1.1.2 Vai trò, vị trí của phương pháp dạy học trong quá trình dạy học 3

1.1.3 Phân loại các phương pháp dạy học 4

1.1.4 Lựa chọn phương pháp dạy học 5

1.2 Bản chất của phương pháp dạy học hiện đại 6

1.2.1 Quan niệm dạy và học theo hướng tiếp cận thông tin 6

1.2.2 Phương pháp sư phạm tương tác và quan điểm lấy người học làm trung tâm 7

1.2.3 Dạy học tích cực 10

1.3 Một số phương pháp dạy học hiện đại 12

1.4 Mô hình giáo dục 16

1.5 Vai trò của người dạy, người học trong các phương pháp dạy học hiện đại 17

2 Công nghệ dạy học và phương tiện dạy học 17

2.1 Công nghệ thông tin và truyền thông 17

2.2 Phương tiện dạy học 18

2.3 Khái niệm và phân loại công nghệ dạy học 18

3 Sử dụng công nghệ trong trong dạy 22

3.1 Công nghệ với khoa học nhận thức 22

3.2 Công nghệ dạy học với đổi mới phương pháp dạy học 23

3.3 Lựa chọn công nghệ dạy học 24

3.4 Dạy học với công nghệ hiện đại 24

3.4.1 Đa phương tiện (Multimedia) 25

3.4.2 Giáo án điện tử 25

3.4.3 Khai thác một số phần mềm cơ bản 28

3.4.4 Khai thác thông tin trên internet 41

3.5 Đào tạo trực tuyến 51

Trang 2

BÀI GIẢNG MÔN HỌC CÔNG NGHỆ DẠY HỌC

- Các vấn đề về PPDH: Cung cấp những kiến thức lí luận về PPDH (hệ thống

khái niệm, bản chất, phân loại các PPDH), các PPDH hiệu quả (các quan điểm và mô hình dạy học), các kỹ thuật triển khai dạy học hiệu quả (lập kế hoạch, thiết kế bài giảng, soạn giáo án, triển khai dạy học, kiểm tra đánh giá v.v.)

- Công nghệ dạy học: Quan điểm về tích hợp công nghệ trong dạy học, một số

ứng dụng cụ thể trong dạy học

 Trong chuyên đề này chúng ta quan tâm chủ yếu đến Công nghệ dạy học

Tuy nhiên, CNDH thường gắn chặt với các PPDH dạy học nên chúng ta cũng sẽ tìm hiểu một số vấn đề về PPDH trước khi xem xét về CNDH

1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học hiện đại

1.1 Một số vấn đề về Phương pháp dạy học

1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học

Có nhiều cách trình bày khác nhau về khái niệm phương pháp dạy học, mỗi cách trình bày nhấn mạnh một vài khía cạnh và phản ánh sự phát triển nhận thức của các nhà khoa học, các nhà sư phạm về bản chất của khái niệm

Có ý kiến cho rằng phương pháp dạy học chỉ là phương tiện, thủ thuật của người thầy, người thầy là người chỉ đạo, truyền đạt kiến thức, còn trò tiếp thu kiến

thức; phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò, trong sự phối hợp

thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt nghĩa vụ dạy học Như vậy

cách trình bày này chỉ nói lên được sự tương tác giữa thầy và trò

Ý kiến khác cho rằng, phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động

có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn

Ngoài ra còn có nhiều cách nói khác nhau về phương pháp dạy học, chẳng hạn:

 Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (Iu

K Babanxki, 1983)

Trang 3

 Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của học sinh

và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy(I.D Dverev, 1980) Hoạt động học tập của học sinh tuân theo các qui định của quá trình lĩnh hội và các điều kiện dạy học Vì vậy, căn cứ vào các đặc điểm của hoạt động học tập, mục đích và nội dung dạy học của giáo viên xác định phương pháp dạy học nhằm tổ chức, điều khiển quá trình học tập của học sinh theo hướng tích cực Quy trình này luôn luôn được điều chỉnh nhờ những mối liên hệ phản hồi của học sinh, thể hiện ở kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục

Phương pháp dạy học luôn phải phù hợp với nội dung dạy học mới mang lại hiệu quả cao:

Nếu coi mục đích dạy học là nhằm dẫn dắt học sinh đạt tới một trình độ nhận thức xác định, thì việc xây dựng nội dung dạy học, ta sẽ dự kiến trước một trình độ lĩnh hội của học sinh để từ đó xác định những nội dung dạy học, nhằm giúp học sinh đạt tới trình độ dự kiến Kết quả của quá trình dạy học phụ thuộc rất lớn vào phương pháp dẫn dắt người học, nếu như đạt tới trình độ lĩnh hội dự kiến thì điều đó chứng tỏ rằng nội dung, phương pháp dạy học là hiệu nghiệm (Lý luận dạy học, tr.16, NXBGD HN-2002)

1.1.2 Vai trò, vị trí của phương pháp dạy học trong quá trình dạy học

PPDH giữ vai trò then chốt trong quá trình dạy học, tạo nên sự liên kết giữa mục đích, nội dung, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, đảm bảo tính hệ thống, toàn vẹn

của quá trình hoạt động đặc thù này Nếu mục tiêu đảm bảo sự thành công, nội dung đảm

bảo tính khoa học, thì phương pháp tạo nên hiệu quả của quá trình dạy học

Sơ đồ vị trí của PPDH trong quá trình dạy học

NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP PHƯƠNG TIỆN

Hình thức TC, ĐG MỤC TIÊU

Trang 4

1.1.3 Phân loại các phương pháp dạy học

Việc phân loại các phương pháp dạy học chỉ mang tính chất tương đối nhằm giúp cho người dạy, người học nhận diện được bản chất, ưu nhược điểm của từng phương pháp để thuận tiện trong việc triển khai Sau đây là một số quan điểm phân loại phương pháp dạy học:

 Một số cách phân loại phương pháp dạy học truyền thống

 Phân loại theo hình thức hoạt động của các chủ thể trong quá trình dạy học:

- Theo hình thức hoạt động của người dạy có: Phương pháp thông báo, giải

thích, diễn giảng, thuyết trình, kể chuyện, làm mẫu

- Theo hình thức hoạt động của người học có: Phương pháp luyện tập, thực

hành, bắt chước, tự học, tự nghiên cứu

 Phân loại theo con đường tiếp nhận tri thức:

Phương pháp dùng lời: Con đường tiếp nhận tri thức là ngôn ngữ nói hoặc viết

Ví dụ: kể chuyện, giải thích, diễn giảng, trò chuyện gợi mở, độc giảng

Phương pháp trực quan: Tri thức đến với người học thông qua các giáo cụ trực

quan, sự vật, hiện tượng có thể quan sát được Ví dụ: minh hoạ, trình diễn, làm mẫu

Phương pháp thực hành: Thông qua các hoạt động, hành động, thao tác

người học chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Ví dụ: luyện tập, thực hành, thực nghiệm, thí nghiệm, trò chơi

 Phân loại theo hướng tiếp cận:

- Phương pháp truyền thống, cổ điển/Phương pháp hiện đại;

- Phương pháp giáo điều, một chiều, tái tạo/ Phương pháp khám phá, phát huy sáng tạo, tích cực của người học;

- Phương pháp thụ động/Phương pháp tích cực;

- Phương pháp Algorit hoá/ Phương pháp Heuristic

 Phân loại theo đặc điểm hoạt động nhận thức của người học:

Xuất phát từ quan điểm cho rằng mục đích việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học là nhằm thiết kế và triển khai việc dạy học có hiệu quả, tức đạt được mục

tiêu dạy học, M.N Skatkin, I.Ja Lener đã chọn đặc điểm hoạt động nhận thức của người học làm tiêu chí phân loại phương pháp Quan điểm này cũng phù hợp với

việc đề ra các mục tiêu dạy học theo các lĩnh vực hoạt động của người học (J Dave): Nhận thức (Cognitive) - Tâm vận (Pshycomotor) - Tình cảm (Affective), theo bậc

thang nhận thức của B.J Bloom (1954), theo triết lý dạy học theo mục tiêu: kiến thức -

kỹ năng - thái độ và dạy học lấy người học làm trung tâm hiện nay (Chất lượng là sự

trùng khớp với mục tiêu!)

Trang 5

B.J Bloom chia hoạt động nhận thức ra làm 6 cấp độ: Biết (Nhớ) - Hiểu - Vận dụng - Phân tích - Tổng hợp - Đánh giá Như vậy ứng với mỗi mục tiêu dạy học (người học sẽ phải đạt tới cấp độ nào của thang bậc nhận thức?) sẽ có một nhóm phương pháp dạy học thích hợp

o Phương pháp thuyết trình-minh hoạ (thông báo thông tin-thu nhận)

Phương pháp này hướng đến mục tiêu làm cho người học Biết (ghi nhớ), phù hợp với nội dung dạy học sự kiện, khái niệm

o Phương pháp tái tạo (lặp lại, thao tác theo mẫu cho sẵn)

Phương pháp này nhắm đến mục tiêu làm cho người học Hiểu (bước đầu vận dụng), phù hợp với nội dung dạy học qui trình, quá trình

o Phương pháp nêu vấn đề-tình huống

Phương pháp này nhắm đến mục tiêu giúp người học Vận dụng được các kỹ năng để giải quyết những vấn đề của nội dung, phù hợp với dạy học các nguyên lý, nguyên tắc

o Phương pháp khám phá sáng tạo

Phương pháp này nhắm đến mục tiêu giúp người học Phân tích được các vấn

đề của nội dung đặt ra, phù hợp với dạy học sáng tạo

o Phương pháp tự nghiên cứu (làm việc độc lập)

Phương pháp này nhắm đến mục tiêu giúp người học Phân tích, Tổng hợp và Đánh giá, đưa ra quan điểm, ý kiến riêng về những vấn đề của nội dung dạy học 1.1.4 Lựa chọn phương pháp dạy học

Do phương pháp tạo nên hiệu quả của quá trình dạy học nên vấn đề lựa chọn phương pháp luôn được đặt lên hàng đầu trong khi thiết kế, xây dựng ý đồ triển khai

một bài giảng cụ thể Trên thực tế không tồn tại một phương pháp tuyệt hảo cũng như

không có một phương pháp tồi tệ Mỗi phương pháp đều có những mặt ưu và nhược

riêng Do đó người dạy phải biết chọn lựa để phát huy những điểm mạnh và hạn chế những nhược điểm của từng phương pháp trong quá trình dạy học Một phương pháp dạy học được coi là hợp lý và hiệu quả khi phương pháp này đạt được các tiêu chí:

- Nhắm đến mục tiêu dạy học rõ ràng: Tạo ra khả năng cao nhất để thực hiện

mục tiêu, nhiệm vụ dạy học, phát triển nhận thức, kỹ năng, thái độ của người học

- Tương thích: Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể, đặc thù của từng môn học, bài học, vấn đề cụ thể; từng giai đoạn cụ thể trong tiến trình giờ học (Một số tác giả

đặc biệt lưu tâm đến việc cần phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau tại những thời điểm khác nhau trong giờ học căn cứ vào mức độ tập trung chú ý của người học

Ví dụ: khủng hoảng chú ý ở người học sẽ xảy ra ở phút 14-18, sau đó tình trạng này sẽ lặp lại lần thứ hai sau khoảng 11-14 phút, lần ba sau khoảng 9-11 phút, lần cuối sau khoảng 8-9 phút )

Trang 6

- Khả thi: Phù hợp với năng lực, trình độ, sở thích, hứng thú, kinh nghiệm của

cả người dạy lẫn người học, phù hợp các điều kiện dạy học

1.2 Bản chất của phương pháp dạy học hiện đại

Ngày nay, người ta thường nói về các phương pháp dạy học hiện đại Trong dạy

học hiện đại, thầy là người đạo diễn, tổ chức các hoạt động của trò (bao gồm cả tổ

chức quản lý lớp học) để khám phá ra vấn đề, ứng dụng lý thuyết đã học vào cuộc

sống Các phương pháp dạy học hiện đại hướng tới đích: Hình thành và phát triển

nhân cách người lao động có tri thức, tự chủ, năng động, sáng tạo và hợp tác Trong

dạy học hiện đại, tự đánh giá của người học được coi trọng Thông qua quá trình tham gia tích cực vào các hoạt động học: qua kiểm tra, thảo luận và trao đổi với thầy và bạn, học thầy và học bạn, người học sẽ lĩnh hội được kiến thức một cách chính xác, sâu rộng và biết được mức độ phát triển của bản thân

Những nguyên tắc chủ yếu của quá trình dạy học hiện đại (Dạy học hiện đại – Nguyễn Thành Hưng- NXB ĐHQG Hà Nội):

 Tương tác: Nhà giáo và hoạt động dạy học của họ phải phát động được và tổ

chức được các dạng tương tác khác nhau giữa người học và nội dung dạy học, giữa người học với nhau và với giáo viên, giữa các hình thức học tập và giao tiếp, hạn chế càng nhiều càng tốt tính chất một chiều trong quan hệ dạy và học, phát huy tối đa các

cơ hội hoạt động của người học

 Tham gia: Hoạt động dạy học phải có tác dụng động viên, khuyến khích người

học trao đổi, chia sẽ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, sao cho nỗ lực của mỗi người đều góp phần vào mục tiêu và kết quả học tập chung, và việc đạt được kết quả chung cũng

là bảo đảm cho mỗi người thành công trong học tập; trí tuệ chung, tình cảm chung, ý chí chung được vun đắp từ sự tham gia của mỗi người và chính chúng trở thành chỗ dựa, sức mạnh gấp bội của mỗi người

 Tính vấn đề của dạy học: Tình huống dạy học do nhà giáo tổ chức phải có giá

trị đối với người học, phải có liên hệ với kinh nghiệm và giá trị cá nhân của họ, từ đó thúc đẩy họ hoạt động trí tuệ và thực hành; các yếu tố trong tình huống dạy học không được vô tình, trung tính đối với người học, trở thành nhàm chán, nhạt nhẽo, làm suy giảm tính tích cực của họ

Như vậy, bản chất của các phương pháp dạy học hiện đại là tăng tính chủ động,

khả năng tự học, tự giác, tính tích cực, tương tác, khả năng sáng tạo của người học 1.2.1 Quan niệm dạy và học theo hướng tiếp cận thông tin

Có nhiều cách quan niệm về việc dạy và học:

(1) Dạy học bao gồm toàn bộ các thao tác có mục

đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu

biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại hoặc cộng

đồng đã đạt được vào bên trong một con người

(1) Hoạt động học tập là hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để hướng tới mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động

Trang 7

(2) Dạy học là một hoạt động đặc trưng của

người dạy nhằm tổ chức, điều khiển và tạo ra

nhiều cơ hội cho quá trình học một cách thuận lợi

và đạt được mục đích

(2) Hoạt động học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của người thầy

Quan điểm dạy và học theo hướng tiếp cận thông tin

Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong

1.2.2 Phương pháp sư phạm tương tác và quan điểm lấy người học làm trung tâm

Quan điểm dạy học này thể hiện ở một số nét chính sau:

 Quan tâm 3 tác nhân chính: người học, người dạy và môi trường (Theo Denommé

& M Roy, 2000, trong "Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác“):

o Người học là người đi học chứ không phải người được dạy (tính tự nguyện và

chủ động),

o Nhiệm vụ của người dạy là giúp đỡ người học, phục vụ người học để làm nảy

sinh tri thức ở người học,

o Môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh và bên trong người học là tác nhân

quan trọng ảnh hưởng đến việc dạy và học Môi trường là nơi chứa thông tin

 3 yếu tố quan trọng nhất: mục tiêu (MT), nội dung (ND) và phương pháp (PP)

 Mối liên hệ giữa 3 yếu tố (Theo Nguyễn Ngọc Quang, 1998)

Theo quan niệm trên:

+ Người học là TRUNG TÂM của quá trình dạy học

+ Sự vận động của nhân tố người học là quan trọng nhất để làm cho hoạt động HỌC thật sự được diễn ra và nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và học

+ Việc phát huy tính CHỦ ĐỘNG của người học là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quá trình dạy và học ở đại học

Trang 8

So sánh quan niệm dạy học lấy người học làm trung tâm với dạy học truyền thống (lấy GV làm trung tâm)

Lấy GV làm trung tâm Lấy HS làm trung tâm

Mục tiêu

 Chăm lo trước hết đến việc thực hiện

nhiệm vụ của GV là truyền đạt cho hết

những kiến thức đã quy định trong

Nội dung

 Chú trọng trước hết đến hệ thống kiến

thức lí thuyết, sự phát triển tuần tự của các

khái niệm, định luật, học thuyết khoa học

 Chương trình học tập được thiết kế chủ

yếu theo logic nội dung khoa học của các

môn học

 Chú trọng thêm các kĩ năng thực hành vận dụng các kiến thức lí thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề thực tiễn

 Chương trình giảng dạy phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình

hành động của cộng đồng; “từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo”

Phương pháp

 Phương pháp chủ yếu là thuyết trình giảng

giải, thày nói trò ghi

 HS tiếp thu thụ động, cố hiểu và nhớ

những điều GV đã giảng, trả lời những

câu hỏi GV nêu ra về những vấn đề đã

 Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh

 GV thực hiện giờ học phân hóa theo trình

độ và năng lực của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi em

Trang 9

Hình thức tổ chức

 Bài lên lớp được tiến hành chủ yếu trong

phòng học mà bàn GV và bảng đen là

điểm thu hút chú ý của mọi HS

 HS thường ngồi theo bàn dài, bố trí thành

dãy cố định, hướng lên bảng đen

 Nhiều bài học được tiến hành trong phòng thí nghiệm, ngoài trời, tại Viện bảo tàng hay cơ sở sản xuất

 Bàn ghế có thể bố trí thay đổi linh hoạt cho phù hợp với hoạt động học tập trong tiết học, theo yêu cầu sư phạm của từng phần trong tiết học

Đánh giá

 GV là người độc quyền đánh giá kết

quả học tập của HS

 Chú ý tới khả năng ghi nhớ và tái

hiện các thông tin GV đã cung cấp

 HS tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học tập,

 Chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu trước khi bước vào một phần mới của chương trình, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại

kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của HS trước những vấn đề của đời sống, gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tình huống thực tế

9 Dạy học dựa trên những phản ứng đáp lại,

tái tạo theo mẫu

10 Cảnh huống tách biệt, không thực tế

1 Phát triển là mục đích

2 Kích thích đa giác quan

3 Hướng phát triển đa chiều

4 Đa phương tiện, đa năng

Trang 10

1.2.3 Dạy học tích cực

Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang thực hiện các

phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả, coi trọng vai trò của học sinh, học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học hoặc cố gắng cải cách vượt ra khỏi các phương

pháp dạy học truyền thống, lấy người thầy là trung tâm của quá trình dạy học

Trong phương pháp dạy học tích cực, 5 định hướng đan xen trong quá trình dạy

học của nhà giáo dục Mỹ Robert J Marzano nêu ra là:

 Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học

 Thu nhận và tổng hợp kiến thức

 Mở rộng và tinh lọc kiến thức

 Sử dụng kiến thức có hiệu quả

 Hình thành thói quen tư duy tích cực

Thế nào là tính tích cực học tập?

Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng sẽ tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức,

kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…

Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:

Bắt chước: Cố gắng làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…

Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về

một số vấn đề…

Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

Phương pháp dạy học tích cực:

Phương pháp dạy học tích cực được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương

pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

"Tích cực" trong Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực

Trang 11

Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Nếu học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc giáo viên hăng hái áp dụng Phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"

Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Từ thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và trong nước, một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc cần thiết phải

chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên

Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt" Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Cách dạy này đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thực hiện "dạy học phân hóa" quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó

Trên thực tế, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động tự biến đổi mình về kiến thức, kĩ năng, thái

độ, hoàn thiện nhân cách Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế

Trang 12

Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy học

sinh làm trung tâm không chỉ là một phương pháp dạy học cụ thể mà là một tư tưởng,

quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học

Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

1.3 Một số phương pháp dạy học hiện đại

(1) Phương pháp vấn đáp

Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học

sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người

ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã

biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem

là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học

- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó,

giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn

- Vấn đáp tìm tòi: giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để

hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy

(2) Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh Vì vậy,

Trang 13

tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:

- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

+ Tạo tình huống có vấn đề;

+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;

+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết

- Giải quyết vấn đề đặt ra

+ Đề xuất cách giải quyết;

+ Lập kế hoạch giải quyết;

+ Thực hiện kế hoạch giải quyết

- Kết luận:

+ Thảo luận kết quả và đánh giá;

+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;

+ Phát biểu kết luận;

+ Đề xuất vấn đề mới

Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

Giải quyết vấn đề

Kết luận, đánh giá

Trang 14

3 GV + HS HS HS HS GV + HS

Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời

và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh

+ Phân công trong nhóm

+ Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm + Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

- Tổng kết trước lớp

+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

+ Thảo luận chung

+ Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói

ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ

Trang 15

đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên,

vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động.Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới

(4) Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào

đó trong một tình huống giả định

Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:

- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị – xã hội

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

Cách tiến hành có thể như sau:

- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định

rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai

- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

- Các nhóm lên đóng vai

- Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai

- Lớp thảo luận, nhận xét: Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp ? Chưa phù hợp ở điểm nào ? Vì sao ?

- Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống

(5) Phương pháp động não

Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó

Trang 16

Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận

Cách tiến hành:

- Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

- Phân loại ý kiến

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý

Bài tập: Tìm hiểu phương pháp Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học 1.4 Mô hình giáo dục

Phân loại các mô hình giáo dục theo cách tiếp cận thông tin:

Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ cơ bản

Truyền thống Người dạy Thụ động Bảng/TV/Radio

Thông tin Người học Chủ động PC

Tri thức Nhóm Thích nghi PC + mạng

“Hội nghị Paris về GDĐH trong thế kỷ 21” ,UNESCO tổ chức 10/1998

Khi mô hình giáo dục thay đổi, nhiều yếu tố giáo dục thay đổi theo:

- Yếu tố thời gian sẽ không còn ràng buộc chặt chẽ: xuất hiện khả năng giáo dục không

đồng bộ;

- Yếu tố không gian sẽ không còn ảnh hưởng lớn: xuất hiện khả năng học viên tham

gia học tập mà không cần đi đến trường đại học;

- Giá thành toàn bộ của giáo dục giảm nhiều: vì xuất hiện các lớp ảo có quy mô lớn

mà không cần trường lớp kiểu thông thường;

- Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục nữa: học viên

phải học cách truy tìm thông tin họ cần, đánh giá và xử lý thông tin để biến thành tri thức qua giao tiếp;

- Mối quan hệ người dạy- người học theo chiều dọc sẽ được thay thế bởi quan hệ theo

chiều ngang, người dạy trở thành người thúc đẩy, chuyên gia hướng dẫn hay đồng nghiệp, người học phải thật sự chủ động và thích nghi Nhóm trở nên rất quan trọng vì

là môi trường để đối thoại, tư vấn, hợp tác

Trang 17

- Thị trường giáo dục sẽ được toàn cầu hoá vì không còn bị ràng buộc về không thời

gian Ngôn ngữ trở thành một yếu tố thúc ép mạnh

- Việc đánh giá không còn dựa nhiều vào kết quả thi cử như trước, mà dựa nhiều hơn

vào quá trình tiêu hoá tri thức để trở thành lành nghề, biểu hiện ở năng lực tiến hành nghiên cứu, thích nghi, giao tiếp, hợp tác

- Sự khác biệt giữa các loại hình giáo dục sẽ ít quan trọng hơn trước và giáo dục

thường xuyên sẽ trở thành quan trọng nhất

Trong các mô hình đã nêu, mô hình "tri thức" là mô hình giáo dục hiện đại nhất, hình thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của CNTT và TT mới Ở bước ngặc đi vào nền văn minh trí tuệ hiện nay, CNTT và TT mới đang tạo ra những thay đổi mang mầm mống của một cuộc cách mạng giáo dục thực sự, ở đó những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về mối quan hệ "không gian-thời gian-trật tự thang bậc"

sẽ bị phá vỡ

1.5 Vai trò của người dạy, người học trong các phương pháp dạy học hiện đại Người dạy: là người giúp đỡ người học, phục vụ người học để làm nảy sinh tri

thức ở người học

 Phải có kiến thức sâu rộng

 Phải trải nghiệm, có khả năng sư phạm tốt

 Có khả năng năm bắt vấn đề, tổng hợp vấn đề

 Biết ứng dụng công nghệ dạy học

 Phải thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn và nghiên cứu khoa học

Người học: là người đi học chứ không phải người được dạy

 Phải có ý thức phấn đấu, muốn hiểu biết

 Tự giác (chủ động), kiên trì, chịu khó

 Học thường xuyên, liên tục

2 Công nghệ dạy học và phương tiện dạy học

2.1 Công nghệ thông tin và truyền thông

Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý và xử lý thông tin

CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính

phủ 49/CP, ký ngày 04/08/1993: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp

khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính

và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên

Trang 18

thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và

đã và đang tạo ra một cuộc cách mạng thực sự về giáo dục

2.2 Phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những đối tượng để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học, là phương tiện nhận thức của người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học Phương tiện dạy học có thể phân thành 2 nhóm: Phương triện truyền thống và phương tiện hiện đại Các phương tiện dạy học quan trong nhất gồm các phương tiện nghe nhìn, lưu trữ, đó là sản phẩm của nền khoa học kỷ thuật tiên tiến Một số phương tiện dạy học hiện đại chủ yếu được dùng trong dạy học: Máy chiếu, máy tính, phần mềm máy tính, hệ thống âm thanh, bảng thông minh,…

2.3 Khái niệm và phân loại công nghệ dạy học

Khái niệm Có nhiều cách nói về công nghệ dạy học:

Về thuật ngữ:

CNDH = Công nghệ + Quá trình dạy học

Nó bao gồm các cách tổ chức các hoạt động dạy học để đạt được các mục tiêu dạy học cũng như các vật liệu và thiết bị được sử dụng trong quá trình dạy học

Theo Yapi A., 1997:

Công nghệ dạy học là một quá trình tích hợp phức tạp trong đó các vấn đề liên quan với mọi khía cạnh của việc học được khái niệm hoá, phân tích, xây dựng và quyết định thông qua sự tương tác giữa con người, kỹ thuật, ý tưởng và các nguồn lực giữa một khung cảnh tổ chức nào đó

(3) Ta có thể xem xét khởi đầu của ngành Công nghệ dạy học từ thời Hy Lạp cổ đại

Thuật ngữ "Technology"(công nghệ) trong tiếng Anh có nguồn gốc từ chữ

"Technologia" trong tiếng Hy lạp Từ này trong tiếng Hy lạp có nghĩa là cách xử lý/thủ

Trang 19

thuật hoặc kỹ năng xử lý có hệ thống Do vậy, có thể hiểu, bất cứ những phương pháp,

kỹ năng, thủ thuật, chiến lược hay bí quyết nào được sắp xếp một cách khoa học, có hệ thống, được dưa vào sử dụng mà đem lại hiệu quả cho việc giảng dạy thì được gọi là Công nghệ dạy học

Có thể quan niệm công nghệ dạy học như một sản phẩm (product) và như là một quá trình (process)

- Với quan niệm như một sản phẩm, công nghệ dạy học bao gồm các quy trình, sự

thực hành và vật liệu để dạy học Sản phẩm phải bao gồm sản phẩm không - thực thể (non-physical) (học tập chương trình hoá, học tập cá thể hoá, kỹ năng dạy học …) và sản phẩm thực thể (physical) (máy ghi âm, máy video, máy vi tính, máy chiếu, )

- Với quan niệm như một quá trình, công nghệ dạy học bao gồm các chức năng

liên quan với việc quản lý các tổ chức và nguồn nhân lực, việc nghiên cứu, đảm bảo hậu cần, sử dụng và thiết lập các hệ thống

 Như vậy công nghệ dạy học được cấu thành từ:

o Các quy trình, vật liệu để dạy học

o Các chức năng liên quan đến việc quản lý, cách tổ chức, nguồn nhân lực

o Phương pháp dạy học

 Nói dạy học theo một công nghệ dạy học là nói đến quá trình tổ chức dạy học được thiết kế tỉ mỉ, được chia thành các nguyên công và các qui tắc tiến hành công việc dạy học một cách chặt chẽ Các nguyên công này bao gồm: Tổ chức môi trường dạy/học; Phương pháp dạy; Phương pháp học; Phương tiện dạy học Các giai đoạn hình thành và phát triển khái niệm Công nghệ dạy học ở thế kỷ XX

Cơ sở của Công nghệ dạy học bắt nguồn từ các ý tưởng của người Hy lạp cổ đại Tuy vậy, thực chất lịch sử của ngành CNDH hiện đại lại chủ yếu rơi vào thế kỷ XX, dựa trên 3 nền tảng hiện đại:

- Thiết kế giảng dạy (Instructional design),

- Phương tiện truyền thông trong dạy học (Instructional Media)

- Công nghệ máy tính trong dạy học (Instructional Computing)

Các thời kỳ của công nghệ dạy học:

a Ðầu thế kỷ XX- 1950

- Về thiết kế bài giảng: quan niệm của Thorndike (1874 - 1949) về quá trình học ở

đầu thế kỷ XX (dựa theo tâm lý học ứng xử/hành vi: kích thích, phản ứng, thưởng/sửa lặp đi lặp lại) được ứng dụng vào PPDH, phát triển những kỹ năng, nhằm đạt mục tiêu đề ra hay kết quả mong muốn Thời thế chiến thứ 2 có phương pháp tiếp cận hệ thống được dùng để huấn luyên ở trường quân sự,

Phương tiện dạy học (phát triển song song với thiết kế bài học ở TK XX): Dạy học

cổ truyền chỉ dựa vào lời nói và chữ viết, sau này có thêm các đồ dùng học tập khác

Trang 20

Năm 1905, trung tâm Media đầu tiên ở Mỹ sưu tầm đồ dùng dạy học bao gồm các đồ vật, mô hình, bản đồ Ðầu thế kỷ XX, ở Hoa kỳ bắt đầu có dạy học bằng hình ảnh (visual), rồi vào thập niên 1920 và 1930 có âm thanh (audio) Về sau, nhiều phim ảnh được đưa vào lớp học (phim kịch, phim khoa học và lịch sử) Ðến đầu những năm 40,

có trung tâm giáo dục theo chương trình dạy học nghe nhìn ở Mỹ (năm 1943) Năm

1946, kế họach dạy học nghe nhìn được thực hiện ở trường ÐH Indiana - Hoa kỳ Trong thê chiến thứ 2, có nhiều phim huấn luyện được dùng trong giáo dục quân sự

Từ đầu thập kỷ 40 đến thập kỷ 50, nhiều phương tiện công nghệ trình bày thông tin (chữ viết, âm thanh, hình ảnh,.) như đèn chiếu (phương tiện nghe nhìn), phim ảnh ngày được sử dụng rộng rãi trong giáo dục và đào tạo ở khắp châu Âu, Mỹ Từ đó đã mở ra nhiều tranh luận xung quanh bản chất, đối tượng, khái niệm, thuật ngữ CNGD, dự báo

xu hướng công nghệ hóa giáo dục CNGD được hiểu là ứng dụng các thành tựu kỹ thuật vào quá trình dạy học

Giai đoạn này chưa có sự phát triển của máy tính

b Giai đoạn 1950-1960

Thiết kế bài giảng: phát triển mạnh hơn về tâm lý hành vi (Behaviorism của Skinner),

dựa trên phản xạ có điều kiện Ngoài ra còn xuất hiện lý thuyết mục tiêu (objectives) của Bloom (1956), tâm lý nhận thức của Gagné (60), thiết kế bài giảng theo nguyên tắc, đặt ra mục tiêu giảng dạy, thiết kế giảng dạy sao cho đạt mục tiêu, đánh giá đo lường được, tối

ưu hoá việc học Phương pháp tiếp cận hệ thống phát triển mạnh

Phương tiện dạy học: Truyền hình ở thập kỷ 50, ngày càng có nhiều kênh đài phục

vụ học tập (khám phá, lịch sử,.) Hiện nay thì video thịnh hành hơn Ban đầu, tư tưởng này tập trung vào việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật, về sau vào mục đích dạy học, kết hợp khoa học nghe nhìn với lý thuyết học tập, đánh dấu bước ngoặt ra đờicủa công nghệ dạy học hiện đại Từ đó xuất hiện máy dạy học, tư tưởng dạy học chương trình hóa của Skinner được hưởng ứng rộng rãi

Sự ra đời của máy tính

c Giai đoạn 1960-1980

Về thiết kế bài giảng: Ðến cuối những năm 60, bắt đầu nảy sinh cách tiếp cận công

nghệ đối với việc thiết kế quá trình dạy học nói chung, nghĩa là công nghệ của chính

sự thiết kế quá trình dạy học Dạy học chương trình hóa là con đẻ đầu tiên của cách tiêp cận này Quan điểm này được áp dụng triệt để vào dạy học vào những năm 60

Về phương tiện truyền thông trong dạy học: có nhiều thay đổi, phát triển mạnh mẽ

hơn, sử dụng nhiều dạng Media khác nhau Các chuyên gia về Media trở thành quan trọng trong trường học, họ quan tâm tìm kiếm các dạnh Media mới, xem lại bản chất của khoa học nghe nhìn và Media Media trở thành một phần quan trọng của Công nghệ dạy học, gắn liền với quá trình thiết kế bài giảng, giao tiếp

Trang 21

Về công nghệ máy tính trong dạy học: thập niên 70 xuất hiện chips -thế hệ thứ 4,

cuối thập niên 70 phát triển qui mô lớn Năm 1976 máy tính cá nhân Apple đầu tiên ra đời, phát triển nhanh ứng dụng công nghệ máy tính vào dạy học

B.P Skinner (1968) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ công nghệ giảng dạy (technology of teaching) tạo ra sự phát triển máy dạy học có sự hỗ trợ bằng máy tính

và những thiết bi điện tử trong lớp học để giải quyết tình trạng thiếu giáo viên vào những năm 1970 nhưng đã thất bại sau thời gian không lâu

d Giai đoạn 1980-1990

Về thiết kế dạy học: Vẫn còn nghiên cứu nhằm vạch ra các nguyên tắc, các biện

pháp tối ưu hóa qúa trình đào tạo bằng cách phân tích từng nhân tố nâng cao hiệu quả đào tạo, các phương tiện đánh giá Cách tiếp cận này ngày nay được phổ biến rộng rãi

ở tòan bộ công tác của trường học hoặc của bất kỳ khâu thiết kế đào tạo nào Một số nhà khoa học giáo dục đã muốn phát triển giáo dục bằng cách qui trình hóa, khách quan hóa quá trình dạy học, làm cho nó đạt hiệu quả tối ưu cho nhiều người

Về phương tiện truyền thông trong dạy học: có thêm nhiều dạng thông tin mới,

hình ảnh tĩnh, động, hoạt hình trở nên phổ biên hơn, băng đĩa nhạc, video

Công nghệ máy tính: Máy tính có nhiều khả năng hơn, nhiều phân mềm, công cụ

vi tính ra đời: văn bản word, excel, cơ sở dữ liệu Năm 1981 ứng dụng vào mục đích dạy các phương tiện chuyên môn chương trình hóa lớp học theo đĩa; Số lượng máy tính cá nhân phát triển nhanh

e Giai đọan từ sau 1990

Về thiết kế dạy học: phương pháp giao tiếp, hợp tác, học theo tình huống, giải

quyết vấn đề và các lý thuyết khác về quá trình học tập, đặc biệt nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo, lấy người học làm trung tâm (trò tự xây dựng kiến thưc cho mình trong bối cảnh xã hội) được quan tâm đặc biệt trong quá trình thiết kế, tích hợp mọi phương tiện kỹ thuật và nhiều ngành khoa học khác và công tác đánh giá

Về phương tiện dạy học: Media kỹ thuật số phát triển nhanh, tích hợp vào máy tính,

Multimedia, đồ hoạ, hình ảnh âm thanh CD, video đều được số hoá

Công nghệ máy tính: Ngày nay CNTT phát triển mạnh mẽ ảnh hưởng lớn đến dạy

học Sự phát triển của các phần mềm dạy học và phần mềm dạy học thông minh, học trong môi trương tương tác đa phương tiện có sự hỗ trợ của máy tính ngày càng phát triển mạnh mẽ Vai trò của Internet, www, mạng, học từ xa

Phân loại công nghệ dạy học

Có nhiều cách phân loại Ở đây chúng ta có thể phân thành 2 loại:

+ Công nghệ cổ điển Sử dụng các phương tiện: Bảng-Phấn, Phim, Video, Ti vi,

Overhead

+ Công nghệ hiện đại Sử dụng CNTT và truyền thông mới: Máy tính, Projector,

mạng, Smart board, Mobile phone, …

Trang 22

3 Sử dụng công nghệ trong trong dạy

3.1 Công nghệ với khoa học nhận thức

 Công nghệ với sư phạm

 Học là một quá trình nhận thức

 Công nghệ tác động đến hoạt động nhận thức:

+ Tăng khả năng thu nhận tri thức

Tỷ lệ trung bình về vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức như sau:

+ Tăng khả năng ghi nhớ:

Tỷ lệ tri thức còn lưu lại trong trí nhớ sau khi thu nhận bằng từng giác quan, bằng

sự kết hợp các giác quan hoặc qua việc tự trình bày hoặc qua việc thao tác thực hiện, như sau:

Sự tổng kết này được phản ánh trong câu ngạn ngữ của Việt Nam: “trăm nghe

không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”, hoặc câu ngạn ngữ của Ấn Độ:

“nghe thì quên, nhìn thì nhớ, làm thì hiểu”

 Phải có ý thức tìm hiểu và cập nhật thường xuyên

Trang 23

 Công nghệ với nhà giáo

 Công nghệ không thể thay thế nhà giáo

 Công nghệ có thể giúp nhà giáo thực hiện tốt hơn công việc của mình

3.2 Công nghệ dạy học với đổi mới phương pháp dạy học

Công nghệ Thông Tin và Truyền Thông đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi thế giới nói chung và đặc biệt cho giáo dục Công nghệ Thông Tin và Truyền Thông đã trở thành hạ tầng và động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và giáo dục Công nghệ Thông Tin và Truyền Thông đang làm nên một cuộc đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục, tạo ra Công nghệ giáo dục (Educational Technology) với nhiều thành tựu rực rỡ bao gồm:

Công nghệ dạy học làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và phương pháp

học với nhiều hình thức phong phú Mối giao lưu giữa máy và người đã trở thành

tương tác hai chiều với nhiều phương tiện truyền thông (multimedia) là âm thanh, tiếng nói, hình ảnh, phim… mà đỉnh cao là học trên mạng Internet (e-learning) Nhờ

có công nghệ mới mà giáo dục đã có thể thực hiện những tiêu chí mới: học mọi nơi (anywhere), học mọi lúc (anytime), học mọi thứ (on anythings), học một cách mở và mềm dẻo suốt đời (open and flexible lifelong learning)… nhờ tổ chức việc học trên mạng Internet (e-learning)

Như vậy về bản chất, quá trình Dạy và Học là quá trình Thông Tin và Truyền Thông Thông tin là nội dung bài giảng và tri thức cần truyền đạt Quá trình trao đổi thông tin (truyền thông) là quá trình trao đổi giữa thầy và trò, giữa người học với các nguồn tư liệu học tập

Đổi mới phương pháp dạy và học là một trong những mục tiêu lớn được ngành giáo dục và đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và là một mục tiêu chính đã được Nghị quyết TW2, khoá VIII chỉ ra rất rõ ràng và cụ thể:

"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một

chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiến tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất

là thanh niên"

Công nghệ Thông Tin và Truyền Thông với công nghệ multimedia, Internet, đĩa

CD, đặc biệt là e-learning, m- learning, u- learning đang làm thay đổi cách thức dạy

và học Từ chỗ thầy dạy suông, trò học thụ động theo kiểu công nghệ chép lấy chép để bài giảng trên lớp phổ biến như hiện nay, công việc dạy và học đã thay đổi với phương châm mới:

 Học tập mềm dẻo, suốt đời thay cho học để thi cử trong một đoạn cuộc đời

Trang 24

 Học để nâng cao chất lượng cuộc sống, để nâng cao trí tuệ hơn là vì học để thi

cử lấy bằng cấp

 Tích cực hoá quá trình dạy và học qua các việc làm cụ thể của giáo viên thay

vì lí luận nhiều Tính tích cực hoá trong quá trình học tập sẽ làm cho quá trình học hứng thú, hưng phấn hơn, hiệu quả hơn, hiểu bài nhanh hơn, nhớ bài lâu hơn Công nghệ Thông Tin và Truyền Thông làm được điều đó vì: sử dụng các loại phương tiện nghe và nhìn trong multimedia, tạo ra các tình huống học tập khác nhau, tạo ra các nguồn tài nguyên phong phú trên mạng

 Vận dụng linh hoạt việc áp dụng Công nghệ Thông Tin và Truyền Thông vào từng hoàn cảnh, không áp dụng một cách máy móc, cứng nhắc Giáo viên tâm đắc với phần mềm nào thì quá trình giảng dạy mới đạt hiệu quả Mọi sự áp đặt

từ cấp trên đưa xuống sẽ trở nên vô nghĩa Phương pháp giảng dạy tốt là do giáo viên trực tiếp đứng lớp quyết định, không phải ai đó ở các viện nghiên cứu sáng tác ra để áp đặt cho họ

 Giáo viên tự xây dựng công cụ giảng dạy nhờ hợp tác của chuyên gia Công nghệ Thông Tin và Truyền Thông

3.3 Lựa chọn công nghệ dạy học

Như đã nói ở trên, có nhiều công nghệ dạy học, không có công nghệ dạy học nào

là tốt nhất Công nghệ dạy học liên quan đến phương pháp dạy học và nội dung dạy học Vì vậy, chung ta không thể nói rằng cần lựa chọn một phương pháp dạy học nào

đó hay một công nghệ dạy học nào đó để áp dụng cho mọi giáo viên, mọi môn học, bài học Tuy nhiên, khi lựa chọn công nghệ dạy học, có thể dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:

 Phải xuất phát từ nhiệm vụ giảng dạy, dựa vào những nguồn lực sẵn có của cơ

sở giáo dục, vào chuyên môn và sở trường của giáo viên, năng lực của học sinh

 Cần xem xét tác động của các giải pháp công nghệ có đáp ứng được các nguyên tắc sư phạm cơ bản ( theo G Petty, 1993) hay không:

o Khuyến khích sự tiếp xúc giữa học sinh và giáo viên;

o Phát triển quan hệ tương hỗ và sự cộng tác giữa học sinh với nhau;

o Sử dụng các kỹ thuật học tập tích cực;

o Cung cấp các phản hồi một cách nhanh chóng;

o Đảm bảo tốt về thời gian đối với các công việc;

o Truyền đạt được những kỳ vọng cao;

o Tôn trọng các tài năng và các phong cách học tập khác nhau

3.4 Dạy học với công nghệ hiện đại

Công nghệ hiện đại: Sử dụng máy tính, máy chiếu Projector, các thiết bị CNTT khác và các phương tiện truyền thông

Trang 25

Việc sử dụng công nghệ dạy học hiện đại sẽ làm cho bài giảng sinh động vì:

 Thuận lợi trong việc sử dụng Multimedia

 Có thể mô tả được các hoạt động, quy trình một cách cụ thể

Để sử dụng tốt công nghệ hiện đại cần:

 Khắc phục tâm lý ngại sử dụng máy tính

 Biết sử dụng một số phần mềm cơ bản

 Biết ứng dụng đa phương tiện

 Biết khai thác Internet

3.4.1 Đa phương tiện (Multimedia)

Trong những năm gần đây, chúng ta nghe nói nhiều đến từ multimedia Vậy multimedia là gì?

Từ lâu thuật ngữ media (phương tiện truyền thông) dùng để chỉ các thực thể như là chiếc máy truyền thanh, máy truyền hình, nghĩa là không phải nói đến một vật mang thông tin đơn thuần, mà là một hệ thống tương đối phức tạp, có cơ cấu, có đối tượng nhắm tới Loại truyền thông trực tiếp, từ miệng người này đến tai người kia, không sử dụng thành phần (media) trung gian Không khí truyền các chấn động âm thanh không phải là một media, mà chỉ là một vật mang vật lý làm công việc tải thông tin

Nếu dùng một máy cassette audio để ghi lời của người nói, nội dung trong cassette không thể đến người nghe bằng cách truy xuất trực tiếp, phải nhờ đến một hệ thống vật lý khác, chẳng hạn máy đọc cassette Nếu để rời, cassette này chỉ được xem

là một vật mang Nếu gộp cùng máy đọc cassette, thì đấy là một hệ thống truyền thông, một media

Media có mục đích là phát, truyền thông tin, không đòi hỏi chỉ bằng cách nghe

và nhìn Một tờ giấy in chữ nổi cho người mù, đòi hỏi sự sờ mó Một tấm carte postale

có nhạc và mùi hương, đòi hỏi cùng lúc sự nhìn, nghe và ngửi Bằng chừng ấy, chúng

ta có thể nói đến một sự truyền thông đa phương tiện

Như vậy, từ multimedia xuất hiện kèm với nhiều danh từ chung khác: centre de ressource multimedia (trung tâm tài nguyên đa phương tiện), post de formation multimedia (trạm đào tạo đa phương tiện), multimedia training (huấn luyện bằng đa phương tiện), multimedia personal computer (máy tính cá nhân với đa phương tiện), digital multimedia system (hệ thống đa phương tiện dạng số)…

Ở đây, chúng ta quan tâm đến khái niệm thông tin multimdeia - Thông tin được

truyền đạt bằng các hệ thống truyền đa phương tiện Thông tin multimedia có các dạng

thể hiện: Text, Graphics, Animation (hoạt hình), Image, Video, Audio

3.4.2 Giáo án điện tử

Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức nào từ ngành giáo dục về giáo án điện

tử Nhiều người quan niệm rằng “giáo án điện tử” là giáo án được biên soạn trên máy

Trang 26

tính bằng một phần mềm chuyên dụng nào đó, sau đó nhờ thiết bị máy chiếu (projector) kết nối với máy tính, để xuất nội dung giáo án ra màn ảnh lớn để giảng dạy cho học sinh

Hiểu một cách cụ thể hơn, bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp

mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá, do giáo viên

điều khiển thông qua môi trường multimedia nhờ máy vi tính Bài giảng điện tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào vở mà đó là toàn bộ hoạt động

dạy và học, tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng

đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp

Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất

trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài

giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là

hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử

Tuy nhiên, nhiều khi người ta hay đồng nhất cách gọi giáo án điện tử với bài

giảng điện tử

Yêu cầu khi xây dựng bài giảng điện tử:

– Tính đa phương tiện (multimedia)

– Tính tương tác giữa thầy và trò

– Trình bày nội dung với lý thuyết cô đọng, minh hoạ sinh động

– Cần thể hiện một số câu hỏi, với mục đích :

• Giới thiệu một chủ đề mới

• Kiểm tra đánh giá người học có hiểu nội dung vừa trình bày không ?

• Liên kết một chủ đề đã dạy trước với chủ đề hiện tại hay kế tiếp

• Câu hỏi cần được thiết kế sử dụng tính đa phương tiện nhằm kích thích người học vận động trí não để tìm câu trả lời Phần giải đáp cũng được thiết kế sẵn trong bài giảng điện tử

Quy trình thiết kế bài giảng điện tử:

Bước 1 Lựa chọn chủ đề dạy học thích hợp

Chúng ta nên sử dụng bài giảng điện tử trong các trường hợp sau đây :

- Dạy học các khái niệm, hiện tượng khoa học trừu tượng trong đó học sinh khó hình dung

Trang 27

- Khi cần giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nào đó, thông qua hoàn thành số lượng lớn các bài tập

- Xây dựng các phần mềm dạy học thí nghiệm ảo hỗ trợ thực hiện các thí nghiệm trong điều kiện không thể thực hiện thí nghiệm đó

o Có khung thời gian rõ ràng

- Lựa chọn nội dung

o Mục tiêu của hoạt động

o Thông tin của hoạt động

o Phương pháp dạy – học

o Phản hồi, đo lường đánh giá kết quả

Bước 3: Chuyển thể kịch bản sư phạm thành bài trình diễn điện tử

- Hình dung việc thể hiện các thành tố trên màn hình, cách thể hiện thông tin, thể hiện hiệu ứng phản hồi trong từng pha dạy học, thứ tự của các pha dạy học

- Mô tả các pha dạy học theo trật tự tuyến tính hoá

- Lựa chọn phần mềm thể hiện

Bước 4 Kiểm thử

Kiểm tra lại toàn bộ chương trình, thử lại các tương tác cùng hiệu ứng

Sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy

Chiến lược phát triển nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 2000–2010 đã nhấn mạnh: các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) sẽ trở thành thiết bị dạy học chủ đạo trong nhà trường Thực hiện theo định hướng của chiến lược này, sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy là một hướng đi đúng Tuy nhiên, sử dụng giáo án điện tử như thế nào

là một vấn đề không đơn giản Việc sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy cần lưu ý một số điểm sau:

Trang 28

– Cần xác định mục tiêu bài học và cách tổ chức hoạt động dạy học một cách cụ thể, trên cơ sở đó sử dụng có hiệu quả các phần mềm tiện ích để thiết kế giáo án, đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm, tính thẩm mĩ

– Giáo án soạn xong nên được kiểm tra chuyên môn, chiếu thử để chỉnh sửa các lỗi kỹ thuật trước khi sử dụng trên lớp Trong quá trình sử dụng cần thường xuyên nghiên cứu bổ sung, chỉnh lý cho phù hợp với thực tế

– Nên có các phòng học đa phương tiện để giúp người dạy khai thác tốt các tiện ích của giáo án điện tử đã soạn

3.4.3 Khai thác một số phần mềm cơ bản

3.4.3.1 Một số tính năng nâng cao của MicroSoft Word

Trong mục này chúng ta sẽ tìm hiểu một số tính năng nâng cao của Microsoft Word mà nhiều người chưa biết hoặc chưa thành thạo mặc dù đã sử dụng Microsoft Word tương đối nhiều

a) Tính năng trộn thư (Mailing merge)

Tính năng này cho phép chúng ta trộn nội dung của hai văn bản để tạo ra một văn bản mới mà nội dung của nó được lấy từ hai văn bản cho trước Chẳng hạn, bạn muốn soạn thảo giấy mời để gửi cho nhiều người theo mẫu như sau:

Học viện Quản lý giáo dục Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Địa điểm: Hội trường Nhà A3 - Học viện Quản lý giáo dục

Rất hân hạnh được đón tiếp quý vị

Hà nội, ngày 10 tháng 9 năm 2010

Giám đốc

Trang 29

Ta thấy rằng các thông tin về tên người được mời, chức vụ, đơn vị trên mỗi tờ giấy mời là khác nhau Do đó, nhiều người in ra mẫu giấy mời rồi điền các thông tin trên bằng tay vào hoặc sao chép mẫu giấy mời thành nhiều bản rồi điền các thông tin trên vào từng bản đó Cách làm này có thể chấp nhận được nếu số lượng người được mời

ít, trong trường hợp, số người được mời lớn, cách làm đó rất mất thời gian Khi đó, ta

có thể sử dụng tính năng Mailing merge của Microsoft Word để công việc được đơn giản hơn Cách làm như sau:

Bước 1 Tạo bảng một danh sách gồm các cột tương ứng với các mục thông tin cần điền trên tờ giấy mời ( gọi là tệp dữ liệu nguồn - Data Source ):

Bước 5 Chèn từng thông tin vào bản mẫu (giấy mời)

o Đưa trỏ chuột đến vị trí cần điền thông tin trong mẫu (giấy mời) và chọn cột tương ứng trong tệp dữ liệu nguồn (danh sách):

o Nhấp chuột tại (Insert Merge Fields) làm xuất hiện bảng

o Chọn tên cột chứa thông tin cần lấy

Ngày đăng: 13/05/2021, 01:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đặng Thành Hƣng. Dạy học hiện đại. NXB ĐHQGHN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
[2]. Jean-Marc Denomme, Madeleine Roy. Tiến tới một sư phạm tương tác. NXB Thanh niên, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một sư phạm tương tác
Nhà XB: NXB Thanh niên
[3]. Trần Xuân Giáp. Phương tiện dạy học. NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[4]. Tập bài giảng “Phương pháp và công nghệ dạy học”, Khoa Sƣ phạm- ĐHQGHN, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và công nghệ dạy học
[5]. D. Lamont Jhonson Cleborne. Technology in Education. The Haworth Press Inc, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technology in Education
[6]. Som Naidu. Learning and Teaching with Technology: Principles and Practice. Kogan Page, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Learning and Teaching with Technology: Principles and Practice
[7] Lâm Quang Thiệp. Việc dạy và học ở đại học và vai trò của nhà giáo đại học trong thời đại thông tin. Giáo dục học Đại học, ĐHQGHN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc dạy và học ở đại học và vai trò của nhà giáo đại học trong thời đại thông tin
[8] Lâm Quang Thiệp. Về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học ở các trường đại học nước ta trong thời kỳ mới. Tạp chí Giáo dục, số 120, 6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học ở các trường đại học nước ta trong thời kỳ mới
[9] "Nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006- 2020” số 14/2005/NQ-CP của Chinh phủ ban hành ngày 2/11/05.[10]. Các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020
(1) Phương pháp-công nghệ dạy học và các kỹ thuật triển khai: http://www.teach-nology.com Link
(2) Mô hình, phương pháp-công nghệ dạy học: http://www.intime.uni.edu (3) Tích hợp công nghệ trong dạy học Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN