Trong truyền thông, chúng ta có thể nhận biết chúng ta có thể nhận biết các loại “hàng rào cản trở” sau: - Hàng rào vật lý như tiếng ồn, nhiễu sóng điện từ trong các chương trình radio,
Trang 1Chương 1
LÝ THUYẾT TRUYỀN THÔNG VÀ CÔNG NGHỆ DẠY HỌC
1.1 Lý thuyết truyền thông
1.1.1 Khái niệm truyền thông
1.1.1.1 Khái niệm về truyền thông
Sự truyền thông (Communication có nguồn gốc từ chữ Latinh là “Communis” nghĩa là cái chung) là sự thiết lập cái chung giữa những người có liên quan trong quá trình thực hiện hay nói rõ hơn là tạo nên sự đồng cảm giữa người phát và người thu thông qua một hay nhiều thông điệp được truyền đi
Hình 1-1: Mối quan hệ giữa thông điệp và phương tiện, phương pháp
Nhiều mô hình truyền thông khác nhau đã được nghiên cứu và phát triển Có thể phân ra hai dạng chính:
1.1.1.2 Mô hình công nghệ sử dụng tính tương tự như sự truyền thông trong các
mạch điện tử hay các cơ cấu điều hành, giải thích quá trình truyền thông bằng các thuật ngữ như “đầu vào”, “đầu ra”,và “thông điệp”
1.1.1.3 Mô hình tâm lý khảo sát sự tương tác giữa người học và môi trường (Ai?
Nói gì?Với ai?Trong các điều kiện và hiệu quả ra sao?)
1.1.2 Các mô hình truyền thông
1.1.2.1 Mô hình công nghệ truyền thông
Một thông điệp được tạo ra từ một nguồn và được truyền đến người thu tại địa điểm nhận thông qua một số phương tiện Ngoài thông điệp chính, nhiều thông điệp ngoại lai cũng được truyền đi và được thu lại tại nơi nhận Người ta gọi chúng
là “nhiễu” trong hệ thống truyền thông Mục tiêu của sự truyền thông có hiệu quả
Thông điệp
Phươngpháp
Trang 2là đảm bảo cho “tỉ số tín hiệu trên tiếng ồn” đạt mức lớn nhất để cho người thu nhận được tín hiệu chính một cách tập trung không bị phân tán bởi “nhiễu”
- Nguồn tin: tạo ra thông điệp hay một dãy thông điệp
- Người phát: mã hoá thông điệp thành tín hiệu để có thể truyền đi trên kênh
thông tin
- Kênh:theo quan điểm kĩ thuật là phương tiện truyền tín hiệu đi xa
- Nhiễu: tất cả các thông điệp ngoại lai và nhiễu có thể chuyển thành tín hiệu và
được truyền đi trong kênh truyền thông
- Người thu: đóng vai trò quan trọng như người phát nhưng theo chiều ngược
lại Người thu giải mã thông điệp, nói cách khác người thu nhận tín hiệu từ người phát, giữ lại và chuyểnthành thông điệp để hiểu, thông thường có dạng giống như nguyên mẫu
- Nơi nhận: là nơi thông điệp được thu và giải mã
=>Mô hình công nghệ của sự truyền thông giống như kĩ thuật truyền tin trong điện thoại
1.1.2.2 Mô hình tâm lý của việc truyền thông
Mô hình tâm lí của sự truyền thông chú ý đến tính hiệu quả của thông điệp cả ở nguồn tin lẫn nơi nhận tin, trong đó người ta đặc biệt quan tâm đến hiệu quả ở nơi nhận Khi truyền đi một thông điệp, người ta cần biết cái gì đã xảy ra tại nơi nhận thông điệp đó Và chỉ có thể biết rằng thông điệp đã phát đi có một hiệu quả nào
đó thông qua các hành động hay cách ứng xử của người nhận Mô hình của Harold Lasswell, giáo sư trường Đại học YALE – Hoa Kì (1948) được coi như một ví dụ
về loại mô hình tâm lí của sự truyền thông.Mô hình này phân tích sự truyền thông qua năm câu hỏi cơ bản, mỗi câu hỏi là một yếu tố cấu thành của sự truyền thông
được
Thông điệp
Người phát
Tín hiệu
Nguồn
tin
Nơi nhận
Người thu
Nhiễu
Trang 3Bảng 1.1: Mô hình truyền thông Lasswell
- Ai: là nguồn tin do một hay nhiều người phát
- Nói gì: là thông điệp Nó là một khái niệm rất rộng có quan hệ với toàn bộ nội
dung đã được phát đi
- Với phương tiện gì: Vấn đề này có quan hệ với sự truyền thông điệp Yếu tố
này dẫn tới sự khảo sát phương tiện và ngôn ngữ bao gồm khái niệm “lập mã”
và giải mã phương tiện
- Cho ai: Đó là nơi nhận thông điệp, có thể có một hay nhiều người nhận
- Với tác động gì: Trình bày ảnh hưởng của phương tiện truyền thông tới người
nhận Đây là yếu tố tâm lí của sự truyền thông, nói lên tính hiệu quả của hệ thống truyền thông
1.1.2.3 Mô hình tâm lý của BERLO
Kỹ năng truyền thông
Mã hóa
Nhìn Nghe
Sờ Ngửi Nếm
Kỹ năng truyền thông
Thái độ Kiến thức Địa vị xã hội Trình độ văn hóa
1.2 Truyền thông dạy học
Qua ba mô hình truyền thông trên, chúng ta thấy quá trình dạy học có quan hệ chặt chẽ với quá trình truyền thông Trong tất cả các mô hình truyền thông, thông điệp từ nguồn phát được tiếp nhận tại nơi thu và được người thu hiểu, thể hiện ở sự
Câu hỏi Ai? Nói gì? Với phương
tiện gì? Cho ai?
Với tác động gì?
Yếu tố Người
phát
Thông điệp Phương tiện Người thu Tác động Phân
tích Kiểm tra Nội dung Phương tiện Người
nghe Hiệu quả
Trang 4thay đổi thái độ ứng xử của người nhận thông điệp Như vậy từ thầy giáo phát đi, hoc sinh thu nhận và học được một vài điều trong nội dung của thông điệp đó
1.2.1 Công việc dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình truyền thông bao gồm sự lựa chọn, sắp xếp
và phân phối thông tin trong một môi trường sư phạm thích hợp, sự tương tác giữa người học và các thông tin Trong bất kì tình huống dạy học nào cũng có một thông điệp được truyền đi Thông điệp đó thường là nội dung của chủ đề được dạy, cũng có thể là các câu hỏi về nội dung cho người học, các phản hồi của người dạy đến người học về nhận xét, đánh giá các câu trả lời hay các thông tin khác
Không phải tất cả các nội dung dạy học của giáo dục và đào tạo đều cần phải tiến hành công việc dạy học nhưng công việc dạy học là một phần cần thiết và
quan trọng của hệ thống giáo dục và đào tạo.Dạy học có nghiã là truyền thụ một nội dung, một quá trình, dạy định hướng các mục tiêu đã đuợc dự kiến và khảo nghiệm trước
Như vậy, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông tin hai chiều:
- Thầy giáo truyền các thông điệp khác nhau (các thông tin mà người học phải được học và hiểu hay phải thực hành đựơc một vài nhiệm vụ)
- Người học truyền đạt lại cho thầy giáo sự tiến bộ học tập (hay không tiến bộ), mức độnắm vững kỹ năng đã được thầy giáo dạy Những thông tin này được thầy giáo chấpnhận, xử lý và quyết định điều chỉnh hay tiếp tục thực hiện công việc dạy học củamình
- Thầy giáo phản hồi thông tin (uốn nắn, hướng dẫn, động viên… cho người học)
Quá trình dạy học được trình bày trên hình 1-3 từ thầy giáo hay hệ thống dạy học tớingưòi học có ba kênh truyền thông tương ứng:
Thông tin để học được truyền từ thầy giáo đến người học
Thông tin về sự tién bộ học tập từ người học truyền từ thầy giáo
Thông tin phản hồi từ thầy giáo đến người học
Trang 51.2.2 Mô hình truyền thông hai chiều
Mô hình truyền thông hai chiều Berlo được trình bày trong hình 1-4.Như vậy trong quá trình truyền thông hai chiều, dạy học có sự hoán đổi vai trò giữa người phát và người thu Khởi đầu thầy giáo là người phát, học sinh là người thu Trong quá trình ngược lại, học sinh lại là người phát và thầy giáo là người thu Sự hoán đổi vai trò này xảy ra liên tục cho đến lúc kết thúc quá trình dạy học
Người
phát
* Kĩ năng truyền thông
* Thái độ
* Kiến thức
* Hệ thống văn hoá xã hội
Người thông dịch
Giải
mã
* Kĩ năng truyền thông
* Thái độ
* Hệ thống văn hoá xã hội
Thông điệp truyền
Thông điệp đáp
“Nơi nhận / Học sinh”
“Nguồn / Thầy giáo”
Hình 1-4: Mô hình truyền thông dạy học
Hình 1.3: Quá trình dạy học – ba dạng kênh truyền thông
về sự tiến bộ học tập
THẦY GIÁO
HỌC SINH
b Các thông tin
a Các thông tin để học
c Các thông tin phản hồi
Trang 61.2.2.1 Người phát: Theo mô hình Berlo, chúng ta có thể trình bày bốn yếu tố liên
quan đến người phát:
* Kỹ năng truyền thông:
Có năm kĩ năng truyền thông chính trong truyền thông Kỹ năng nói và kỹ năng viết liên quan đến quá trình lập mã Kỹ năng đọc và kỹ năng nghe liên quan đến quá trình giải mã.Kỹ năng thứ 5 liên quan đến cả quá trình lập mã và giải mã,
đó là kỹ năng khái niệm hoá (Conceptualizetion Skill).Ngoài ra còn có các kĩ năng khác như vẽ, làm điệu bộ, tuỳ từng hoàn cảnh có thể ảnh hưởng đến quá trình truyền thông
*Thái độ:
Thái độ là yếu tố thứ 2 có ảnh hưởng đến quá trình truyền thông theo 3 cách:
Thái độ đối với bản thân mối người (vui, buồn, giận dữ…) Điều này gây áp lực mạnh lên tất cả các sự phức tạp có liên quan đến cá tính từng người
Thái độ đối với thông điệp Nếu người gửi không thuyết phục được người thu
về giá trị của vấn đề mà mình phát ra sẽ khó thánh công trong một cuộc truyền thông có hiệu quả
Thái độ đối với người nhận Thái độ của người nhận với người phát là yếu tố rất quan trọng Có thiện cảm hay ác cảm đối với người nhận sẽ ảnh hưởng đến kết quả của việc truyền đạt thông điệp
* Trình độ kiến thức:
Người phát không thể truyền thông được nếu họ không nắm vững vấn đề Ngoài những nội dung chính của thông điệp, người phát phải có kiến thức về các vấn đề khác có liên quan để có thể bằng cách giải thích vài điều phụ mà làm sáng tỏ chủ
đề của thông điệp
* Hệ thống văn hoá xã hội:
Mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng của vi trí mà anh ta có trong hệ thống văn hoá xã hội anh ta đang sống Tất cả những giá trị văn hoá, tiêu chuẩn cuộc sống, địa vị trong một giai cấp xã hội là các yếu tố có ảnh hưởng đến cách ứng xử của người
Trang 7phát trong quá trình truyền thông Tuỳ theo vị trí văn hoá xã hội, mỗi người có phong cách truyền thông khác nhau Hệ thống văn hoá xã hội xác định sự lựa chọn ngôn ngữ mà người ta dùng, ý nghiã của từ ngữ đã cho và mục tiêu của sự truyền thông…
1.2.2.2 Thông điệp
Trong quá trình truyền thông, người phát chuyển ý nghĩa, khái niệm, tin tức, cảm xúc, tạo nên nội dung của thông điệp.Thuật ngữ “mà” có thể định nghiã như một số ký hiệu được cấu tạo để truyền một ý nghĩa Muốn truyền thông có hiệu quả, người phát phải dùng những “mã” mà người thu biết Một mã là một mối quan hệ được cấu trúc theo quy ước của một cộng đồng dân cư trong xã hội tạo nên để có thể truyền thong một điều gì Ví dụ: Ngôn ngữ của một dân tộc là một
“mã” truyền thông của dân tộc đó
1.2.2.3 Kênh
Theo thuật ngữ, một cách đại cương, chúng ta có thể định nghĩa “kênh” như là một hệ thống qua đó các thông điệp được truyền đi từ người phát đến người thu Khi khảo sát một quá trình truyền thông, thuật ngữ “kênh” có hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: Kênh được xem xét trong quan hệ với các phương tiện được dùng để truyền thông
Nghĩa thứ hai: Kênh được xem xét trong quan hệ với các giác quan của con người được gọi là “kênh cảm giác”
- Kênh được coi như một phương tiện:Các thiết bị dùng trong truyền thông như
radio, telephon, tạp chí, phim, băng video là phương tiện
- Kênh cảm giác: Chúng ta có thể coi kênh như một kĩ năng của cảm giác qua đó
người nhận thu được thông điệp tốt nhất Người phát phải chọn kênh cảm giác nào
để kích thích người thu khi anh ta phát thông điệp Nói một cách khác, người phát muốn người thu dùng cảm giác gì (nghe, nhìn, sờ, nếm hay ngửi) để nhận thông điệp của mình
Trong quá trình dạy học, để truyền thông một thông điệp có hiệu quả, người phát phải cân nhắc khi thực hiện:
Trang 8+ Loại thông điệp nào sẽ được truyền bằng lời hỏi đáp trong lớp?
+ Loại thông điệp nào sẽ được truyền bằng hình?
+ Loại thông điệp nào sẽ được truyền bằng các giác quan khác?
Từ những cân nhắc đó, người phát phải lựa chọn loại phương tiện thích hợp để kích thích vào kênh cảm giác của người nhận Vấn đề lựa chọn phương tiện dạy học sẽ được trình bầy trong Phần II của cuốn sách này
1.2.2.4 Nhiễu
Để đơn giản hoá vấn đề “nhiễu” có thể định nghĩa vấn đề đó như “ một sự cản trở” hay “ hàng rào cản trở” quá trình truyền thông Trong truyền thông, chúng ta
có thể nhận biết chúng ta có thể nhận biết các loại “hàng rào cản trở” sau:
- Hàng rào vật lý như tiếng ồn, nhiễu sóng điện từ trong các chương trình radio,
TV, sự qúa sáng hay kém sáng trong lớp học…
- Hàng rào tâm lý có quan hệ đến sự biến đổi của các cơ quan của người phát hay
người thu như nghe, nhìn kém, đau đầu, các cơn đâu bất chợt tại một nùng nào đó trên cơ thể con người…
-Hàng rào ngữ nghĩa xảy ra khi người phát dùng những “mã” mà người thu không
thể hiểu được hay dùng những kí hiệu mà người thu có thể hiểu khác nghĩa
1.2.2.5 Người thu
Một trong những phần tử chủ chốt trong lý thuyết truyền thông là nhân vật nằm
ở cuối dây chuyền truyền thông: đó là người thu Khi chúng ta truyền thông điệp dưới dạng chữ viết thì người thu quan trọng nhất chính là người đọc và khi chúng
ta truyền thông đệp bằng lời nói thì đó là người nghe Phân tích các đặc tính của người thu, các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của quá trình truyền thông cũng giống như người phát
- Kỹ năng truyền thông: Nếu người thu không có kĩ năng đọc, nghe hay nhìn…anh
ta không thể nhận và giải mã thông điệp do người phát viết, nói hay biểu diễn
- Thái độ: Cách mà người thu giải mã một thông điệp được xác định bằng yếu tố
với bản thân, đối với người phát và đối với thông điệp
Trang 9- Trình độ kiến thức: Nếu người nhận không biết “mã” mà người phát truyền đi thì
anh ta không thể hiểu được thông điệp Nếu người nhận không có một kiến thức cơ bản nào có liên quan đến thông điệp, anh ta cũng không thể hiểu được thông điệp Bởi vậy khi lập thông điệp, người phát phải căn cứ trình độ kiến thức của người thu thì sự truyền thông mới đạt kết quả
- Hệ thống văn hoá xã hội: Phạm trù văn hoá xã hội không chỉ ảnh hưởng đến
việc tiếp thu các thông điệp mà còn là phương sách để các thông điệp được ghi nhớ Cũng giống như người phát, những giá trị văn hoá, những tiêu chuẩn cuộc sống và địa vị xã hội của người thu là các yếu tố ảnh hưởng đến cách tiếp thu và ghi nhớ thông điệp của người nhận
1.2.2.6 Phản hồi
Phản hồi là một sự tạo ra quá trình truyền thông mới theo chiều ngược lại Thông qua sự phản hồi có thể đánh giá mức độ thành côngvà nhận biết các điểm yếu của quá trình truyền thông Trong sự truyền thông giữa các cá nhân, phản hồi
là phản ứng của người thu để người phát điều chỉnh phương pháp và nội dung truyền thông cho phù hợp
Bởi vậy có thể nói truyền thông dạy học là một sự trao đổi thông điệp giữa hai hay nhiều người, đồng thời phát và nhận thông điệp của nhau.Trong một quá trình truyền thông có hiệu quả, cả người phát và người thu đều phái có kỹ năng lập mã
và giải mã các thông điệp
1.2.3 Vai trò của các giác quan trong quá trình truyền thông dạy học
Như mô hình truyền thông hai chiều dạy học, các giác quan thuộc kênh cảm giác đódng vai trò quan trọng trong kết quả của quá trình truyền thông
Trong dân gian ta có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”, để nói lên tác dụng khác nhau của các loại giác quan trong quá trình truyền thụ kiến thức Người ta đã tổng kết được mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông như sau:
1.2.3.1 Sự tiếp thu tri thức khi học đạt được:
Trang 101,5% qua sờ
83,0% qua nhìn
1.2.3.2 Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau khi học đạt được như sau:
20% qua những gì mà ta nghe được;
30% qua những gì mà ta nhìn được;
50% qua những gì mà ta nghe và nhìn được;
80% qua những gì mà ta nói được;
90% qua những gì mà ta nói và làm được
ở ấn Độ, tổng kết quá trình dạy học cũng dẫn đến kết luận:
tôi nghe - tôi quên
tôi nhìn - tôi nhớ
tôi làm - tôi hiểu
1.3 Công nghệ dạy học
1.3.1 Khái niệm chung về công nghệ dạy học
1.3.1.1 Sự phát triển của công nghệ dạy học
Công nghệ dạy học là một lĩnh vực nghiên cứu rất mới.Nó đã trải qua một quá trình phát triển rất dài và từng bước Nếu xem lại lịch sử phát triển của giáo dục thì công nghệ dạy học có nguồn gốc xa xưa kể từ khi con người phát minh ra giấy viết (2000 năm TCN tại Trung Quốc và năm 750 SCN tại Châu Âu), chữ viết và sau đó
là ngành in (nghề in khắc gỗ đã có ở Trung Quốc từ thế kỷ VI , ở Châu Âu là từ thế
kỷ XII nhưng nghề in thực sự phát triển sau khi Gutenbeg phát minh ra khuôn in chữ đúc bằng kim loại năm 1436) Công nghệ dạy học thực sự phát triển mạnh mẽ
từ những sự thử nghiệm giáo dục trên cơ sở thị giác của những năm 1920 Tiếp theo, nó đã dựa vào các lý thuyết về truyền thông vào dạy học, các trào lưu tâm lý học giáo dục của những năm 1920, cuối cùng nó áp dụng những khái niệm về sự quản lý và các hệ thống truyền thông cho các chức năng sư phạm của những 1960
1.3.1.2 Những lĩnh vực học tập
Ba phạm trù của mục tiêu học tập là:
Trang 11 Mục tiêu nhận thức là những gì mà học sinh có thể hiểu và làm được Bloom
(1956) và Krathwohl (1964) đã phân loại chi tiết các mục tiêu nhận thức như trình bày trong bảng:
Bảng 2-1: Phân loại chi tiết mục tiêu nhận thức
Tên loại Mô tả tóm tắt
Khă năng phán xét giá trị của tài liệu theo một mục tiêu đã cho
Mục tiêu tình cảm: là những gì mà học sinh phải suy nghĩ và phải được
chuẩn bị để thực hiện Bloom và Krathwohl cũng đã phân loại chi tiết mục tiêu tình cảm như trình bày bảng:
Bảng 2-2: Phân loại chi tiết các mục tiêu tình cảm
Tên loại Mô tả tóm tắt
Tiếp thụ Sự sốt sắng của học sinh tham dự vào các hiệ tượng hay sự kích
thích đặc biệt Trả lời Sự tham gia năng động Học sinh không chỉ tham dự mà còn phản
ứng sôi nổi Đánh
giá
Biểu thị sự thích thú, tin tưởng hay xác nhận với sự chú tâm vào các hành vi hay hiện tượng nào đó
Trang 12Tổ chức Mang giá trị khác nhau dùng vào một hệ thống có giá trị mạch lạc
Mục tiêu động cơ tâm lí: Các kỹ năng thực hành mà học sinh phải phát triển
khi học các bài thực hành, yêu cầu học sinh phải tiếp thụ, tự quyết định hành động
1.3.1.3 Công nghệ dạy học
Thuật ngữ “Công nghệ” đã được sử dụng từ lâu trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Ví dụ trong ngành chế tạo máy, công nghệ gia công một chi tiết máy bao gồm từ việc chọn một phương pháp chế tạo phôi đến việc lựa chọn quá trình gia công Từng bước gia công được cân nhắc cẩn thận về máy, đồ gá, dao cụ và các chế độ cắt gọt hợp lý cho đến các bước kiểm tra cuối cùng trước khi sản phẩm được nhập kho Như vậy công nghệ gia công là một quá trình được thiết kế một cách tỉ mỉ, được chia thành các nguyên công, từng bước nhỏ quy định và các quy tắc tiến hành công việc một cách chặt chẽ
Trong quá trình phát triển dạy học chương trình hoá, các nhà giáo dục đã đưa
ra một quá trình phân tích nhiệm vụ dạy học, chia chúng ra thành các nhiệm vụ chính và phụ, rồi lại chia các nhiệm vụ ra thành các bước nhỏ cần thiết để dẫn dắt người học đạt được các mục tiêu học tập đặc biệt Việc thực hiện quá trình dạy học như vậy cũng giống như một quá trình sản xuất công nghiệp đã nêu trên nên các nhà giáo dục đã dùng một thuật ngữ mới là “công nghệ dạy học”
Chúng ta có thể định nghĩa “công nghệ dạy học” là một sự sắp xếp các công việc dạy và học theo một hệ thống đặc biệt được thiết kế nhằm cung cấp kiến thức cho người học theo một kết quả đã được dự đoán trước, điều hành quá trình dạy học một cách có hiệu quả để đua người học đạt đến các mục tiêu học tập đặc biệt
1.3.1.4 Đặc điểm của công nghệ dạy học
Trang 13Công nghệ dạy học có những đặc điểm chủ yếu: Hệ thống hoá, tính phương tiện, tính khoa học và mục tiêu học tập
b) Tính phương tiện
Đặc điểm này tương ứng với việc sử dụng phương tiện truyền thông và đồ dùng dạy học Phương tiện truyền thông nghe nhìn được khởi đầu bằng việc lựa chọn, sản xuất và sử dụng thiết bị nghe nhìn, tiếp theo là việc gây tín nhiệm để sử dụng chúng Ngày nay, mặc dù có những định hướng mới trong công nghệ dạy học, dụng cụ và các phương tiện phổ thông vẫn là thành phần cơ bản của phương tiện dạy học Tuy nhiên các phương tiện ngày càng mở rộng do sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật mang lại thuận lợi cho việc thiết kế công nghệ dạy học
d) Tính khoa học
Galbraith (1967) định nghĩa “công nghệ” theo định nghĩa rộng là “sự áp dụng tri thức khoa học mọi tư liệu của tri thức khoa học vào việc giải quyết các hoạt động của thực tiễn” Công nghệ dạy học cũng vận dụng những tri thức khoa học vào thực tiễn Do đó đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của công nghệ là những
kỹ năng hình thành trên cơ sở của lý thuyết nhận thức và hoạt động nghiên cứu Giữa công nghệ dạy học và hoạt động nghiên cứu khoa học có mối quan hệ với nhau chặt chẽ
e) Mục tiêu học tập
Mục tiêu của công nghệ dạy học là tạo sự dễ dàng và caỉ thiện môi trường người học Để đạt được mục tiêu này, các nhà công nghệ phải tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Tạo sự dễ dàng cho việc thực hiện chương trình
Trang 14 Dự kiến những phương tiện đánh giá hay điều khiển học sinh, tổ chức giáo dục và đào tạo với tính chất là một hệ thống
Quan tâm đến những kết quả đo lường, quan sát được và tái tạo kiến thức
1.3.2 Cấu trúc của công nghệ dạy học
Đặc điểm tâm sinh lý, hoạt động nhận thức
1.3.2.3 Nội dung dạy học
Phản ánh những thành tưu văn hóa, khoa học kỹ thuật công nghệ phù hợp với
sự phát triển của kinh tế xã hội phải được phân nhỏ thành những đơn nguyên, học trình, học phần để thúc đẩy người học tích cực và khả năng tích lũy chúng khi học tiếp lên
1.3.2.4 Phương pháp dạy học
Người dạy là người thiết kế, tổ chức, giúp đỡ và tạo điều kiện cho người học.Người học là người thi công tích cực, chủ động chiếm lĩnh các mục tiêu học tập
e) Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
Việc kiểm tra kết quả sẽ khách quan, chính xác nếu sử dụng các máy kiểm tra, trong đó có sự tham gia tích cực của người dạy
1.3.3 Điều kiện xây dựng công nghệ dạy học
- Xác định rõ mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, thái độ) và mục tiêu này thực hiện được hai chức năng:
+ Chỉ đạo tổ chức quá trình dạy học
+ Chuẩn đo kết quả dạy học
- Quá trình dạy học phải được tổ chức thành một quy trình cụ thể, bao gồm các thao tác, hành động sắp xếp theo trình tự thời gian, có thể có sự hỗ trợ của những
Trang 15phương tiện kỹ thuật Quá trình này là sự kết hợp các yếu tố: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức nhằm vào mục tiêu dạy học
- Áp dụng chương trình modul hóa
- Quá trình kiểm tra đánh giá phải được tổ chức thành những quy trình bao gồm các yếu tố: chuẩn, tiêu chuẩn đánh giá, nội dung đánh giá, phương pháp và phương tiện đánh giá
Trang 16Chương 2
LÝ THUYẾT TRUYỀN THÔNG VÀ CÔNG NGHỆ DẠY HỌC
2.1 Khái quát chung về phương tiện dạy học
2.1.1 Khái niệm chung về phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên
sử dụng với tự cách là nhưng phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh
Đối với học sinh, phương tiện còn là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng
2.1.2 Vai trò của phương tiện dạy học
- Có thể cung cấp cho học sinh các kiến thức một cách chắc chắn và chính xác, như vậy nguồn tin họ thu nhận được trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn
- Làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể hơn Vì vậy tăng thêm khả năng của học sinh tiếpthu những sự vật, hiện tượng và các quá trình phức tạp mà bình thường học sinh khó nắm vững được
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà việc lĩnh hội kiến thức của học sinh lại nhanh hơn
- Giải phóng người thầy giáo một khối lượng lớn các công việc tay chân, do đó làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học
- Dễ dàng gây được cảm tình và sự chú ý của học sinh
- Bằng việc sử dụng phương tiện dạy học, giáo viên có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thụ kiến thức cũng như hình thành kĩ năng, kĩ xảo của học sinh
Dưới đây là bảng mô tả hiệu quả của các phương tiện dạy học:
Trang 17Hình 2-3: Hiệu quả sử dụng của các loại phương tiện dạy học
2.1.3 Phân loại phương tiện dạy học
2.1.3.1 Phân loại theo tính chất
a) Nhóm truyền tin
Đồ án, tham quan Thực hành cá nhân Thực hành
TV
Phim vòng màu
Phim hoạt động màu có tiếng
Phim hoạt động trắng câm
Hình chiếu qua đầu
Phim vòng Slide màu Slide đen trắng Đèn chiếu ảo Tranh có tầm sâu
Mô hình hoạt động
Mô hình bộ phận
Mô hình tĩnh Hình vẽ bảng Tranh Phấn màu
Bảng phấn trắng Lời
PHƯƠNG TIỆN TRỰC TIẾP HIỆU QUẢ NHẤT
PHƯƠNG TIỆN CHIẾU HIỆU QUẢ HƠN PHƯƠNG TIỆN KHÔNG CHIẾU
PHƯƠNG TIỆN KHÔNG CHIẾU PHƯƠNG TIỆN KÉM HIỆU QUẢ
Trang 18Cung cấp cho các giác quan của học sinh nguồn tin dưới dạngâm thanh hoặc hìnhảnh hoặc cả hai cùng một lúc, bao gồm:
Máy chiếu phản xạ
Máy chiếu qua đầu
Máy chiếu slide
Máy chiếu phim
Máy chiếu phim dương bản
Máy ghi âm
Máy quay đĩa
Máy thu thanh
sư phạm và khoa học kỹ thuật nhằm chuyển tải các thông điệp dạy học một cách thuận lợi và chính xác, bao gồm:
- Các tài liệu in
Những tài liệu chép tay, vở viết, các tài liệu in và vẽ
Sổ tay tra cứu, các tài liệu hướng dẫn
Sách giáo khoa, sách chuyện môn
Sách bài tập, chương trình môn học
- Phương tiện mang tính thính giác
Đĩa âm thanh
Băng âm thanh
- Phương tiện mang tính thị giác
Tranh tường, biểu bảng, bản đồ, đồ thị
Ảnh đen trắng và mầu
Slide
Phim câm
Phim vòng
Trang 19- Phương tiện mang tin nghe nhìn
Phim có tiếng
Slide có băng âm thanh kèm theo
Video
Phương tiện đa chức năng
- Phương tiện mang tin dùng cho sự hình thành khái niệm và tập dượt
Các vật liệu độc đáo( đồ vật, chế phẩm, bộ sưu tập…)
Mô hình( tĩnh và động)
Tranh lắp hoặc dán
Phương tiện và vật liệu thí nghiệm
Các máy luyện tập
Các phương tiện sản xuất
a) Loại chế tạo không phức tạp
Loại này có các tính chất sau:
Do giáo viên tự nghiên cứu phát triển
Cần ít thời gian chế tạo
Sản phẩm của mỗi thầy giáo làm ra chỉ thích hợp riêng với giáo viên đó khi dạy học
Giá thành chế tạo không quá cao
Có thể dễ dàng cải tiến
Tuổi thọ sử dụng thường ngắn
b) Loại chế tạo phức tạp
Loại này có tính chất sau:
Được nghiên cứu và phát triển bởi một nhóm người
Cần thời gian để chế tạo
Sản phẩm làm ra được dùng phổ biến, có tài liệu hướng dẫn cho cả giáo viên
và học sinh
Giá thành chế tạo tương đối cao
Trang 20 Thường là sản phẩm hoàn hảo( được đánh giá cẩn thận qua các hội đồng của các nhà giáo dục và kỹ thuật)
Tuổi thọ sử dụng thường dài
2.1.4 Yêu cầu đối với phương tiện dạy học
2.1.4.1 Tính khoa học sư phạm
- Phương tiện dạy học phải đảm bảo cho học sinh tiếp thu được các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp tương xứng với chương trình học, giúp cho giáo viên truyền đạt cho học sinh các kiến thức phức tạp, kĩ xảo tay nghề một cách thuận lợi, làm cho họ phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic
- Nội dung và cấu tạo của phương tiện dạy học phải đảm bảo các đặc trưng của việc dạy lý thuyết, thực hành và các nguyên lý sư phạm cơ bản
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy, thúc đẩy khả năng tiếp thu của học sinh
- Các phương tiện dạy học tập hợp thành bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung, bố cục và hình thức trong đó mỗi loại trong một bộ phải có vai trò và chỗ đứng riêng
- Phương tiện dạy học phải thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và các hình thái tổ chức dạy học tiên tiến
2.1.4.2 Tính nhân trắc học
- Phương tiện dạy học dùng để biểu diễn trước học sinh phải đủ lớn Các phương tiện dùng cho cá nhân không chiếm nhiều chỗ trong bàn học
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với tâm sinh lý của học sinh và giáo viên
- Mầu sắc của phương tiện phải hài hoà, nên gần giống như thật
- Phương tiện dạy học phải đảm bảo tất cả các yêu cầu của kỹ thuật an toàn và khi sử dụng không được gây độc hại hay nguy hiểm cho thầy và trò
Trang 21- Phương tiện dạy học phải bền chắc và chi phí bảo quản thấp
2.1.5 Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều Như trên đã trình bày, phương tiện dạy học không chỉ có chức năng minh hoạ cho bài giảng mà còn tác dụng thúc đẩy quá trình thu nhận kiến thức và hiểu sâu sắc nội dung của thông điệp cần truyền
Nếu không biết sử dụng phương tiện dạy học một cách khoa học, hợp lí theo một cách tiếp cận hệ thống, thậm chí lại lạm dụng quá nhiều phương tiện trong giờ giảng thì hiệu quả của nó không những không tăng mà còn làm cho học sinh khó hiểu, rối loạn, căng thẳng Bởi vậy các nhà sư phạm đã tổng kết ba nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học (gọi là nguyên tắc 3Đ) như sau: đúng lúc, đúng chỗ và
đủ cường độ
- Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng lúc
Sử dụng đúng lúc phương tiện dạy học có ý nghĩa là trình bày phương tiện vào lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn nhất được quan sát được, gợi nhớ trong trạng thái tâm sinh lý thuận lợi nhất( trước đó, giáo viên dẫn dắt, gợi
mở, nêu vấn đề chuẩn bị)
Phương tiện dạy học được nâng cao hiệu quả rất nhiều nếu nó xuất hiện đúng
Trang 22theo trình tự bài giảng, tránh trưng bày đồn loạt trên bàn, giá, tủ trong một tiết học cũng như biến lớp học thành một phòng trưng bày
Cùng một phương tiện dạy học cũng cần phân biệt thời điểm sử dụng của chúng Khi nào được đưa ra giới thiệu trong giờ giảng, trong buổi hướng dẫn ngoại khoá hay trưng bày trong giờ nghỉ, thậm chí có trường hợp phương tiện được trưng bày trong kí túc xá học sinh hay cho học sinh mượn mang về nhà
để quan sát kỹ hơn
- Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ
Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ tức là tìm vị trí để giới thiệu phương tịên trên lớp học hợp lý nhất, giúp học sinh có thể sử dụng nhiều giác quan nhất để tiếp xúc với phương tiện một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp
Vị trí trình bày phương tiện phải đảm bảo các yêu cầu chung cũng như riêng của nso về chiếu sáng,thông gió và các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt khác
Các phương tiện phải được giới thiệu ở những vị trí đảm bảo tuyệt đối an toàn cho giáo viên và học sinh và ngoài giờ dạy Đồng thời phải bố trí sao cho không làm ảnh hưởng tới quá trình làm việc, học tập của các lớp khác
Phải bố trí chỗ cất giấu phương tiện dạyhọc tại lớp sau khi dùng để không làm phân tán tư tưởng của học sinh khi tiếp tiục nghe giảng
- Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đủ cường độ
Nội dung và phương pháp dạy sao cho thích hợp, vừa với trình độ tiếp thu và lứa tuổi của học sinh
Từng loại phương tiện có mức độ sử dụng tại lớpkhác nhau Nếu kéo dài việc trình diễn phương tiện hoặc dùng lặp lại một loại phương tiện quá nhiều lần trong một buổi giảng, hiệu quả của chúng sẽ giảm sút Theo số liệu của các nhà sinh lí học, nếu như một dạng hoạt động được tiếp tục trên 15 phút thì khả năng làm việc sẽ giảm sút rất nhanh Nên sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 3 đến 4 lần trong một tuần và kéo dài không quá 20 – 25 phút trong buổi dạy
Trang 23* Kết luận sư phạm: khi chuẩn bị bài giảng, giáo viên phải lưu ý đến các vấn đề
2.1.6 Sử dụng phương tiện dạy học theo hướng tích cực hóa
Sự tiếp cận hệ thống khi thiết kế một công nghệ dạy học để qua đó mà lựa chọn phương tiện dạy học thường qua 4 giai đoạn
* Giai đoạn 1: Phân tích
a Xác định các mục tiêu sư phạm
Phân tích nội dung các vấn đề cần truyền thông - nội dung thông tin như trên
đã nêu, mỗi nôi dung đòi hỏi phải có các phương tiện thích hợp để truyền tải, ví dụ khi để một câu chuyện có thể trực tiếp để truyền lời nói hay kịch truyền thanh
Phân tích các mục tiêu cần truyền thông là các mục tiêu mà học sinh phải đạt
được sau khi kết thúc một quá trình day học
b Xác định các yếu tố con người và môi trường bao gồm các vấn đề sau:
Phân tích đặc tính của học sinh ( xem phần mô hình truyền thông hai chiều)
Phân tích đặc tính của thầy giáo ( xem phần mô hình truyền thông hai chiều)
Phân tích môi trường sư phạm, địa bàn dân cư Các vấn đề liên quan đến môi
trường sưphạm và bố trí lớp học
* Giai đoạn 2: Thiết kế
Giai đoạn này gồm có các bước:
Trang 24a.Chuẩn bị:
Lựa chọn các tài liệu sãn có
Chọn phương tiện kết hợp với nội dung và phương pháp giảng dạy
Soạn các tiêu chuẩn kĩ thuật của phương tiện
b Sản xuất mẫu
Sản xuất thử một mẫu hay một số lượng nhỏ để đưa ra thực hành sư phạm, tham khảo ý kiến chuyên gia, đúc rút kinh nghiệm
* Giai đoạn 3: Triển khai
Giai đoạn này gồm hai bước:
* Giai đoạn 4: Phổ biến
Giai đoạn này cũng gồm hai bước:
a Phổ biến
Soạn các tài liệu hướng dẫn
Phổ biến phương tiện dạy học đến các nơi sử dụng
b Hoàn thiện
Sau một thời gian sử dụng dài hay ngắn, tuỳ theo loại phương tiện, tiến hành các công việc hoàn thiện để tăng hiệu quả sử dụng của phương tiện
Hoàn thiện, bỏ bớt các phần thừa, bổ sung các phần còn thiếu
Lập tài liệu chính thức để sử dụng lâu dài
2.2 Phương tiện dạy học truyền thống
2.2.1 Các loại bảng trình bày trong dạy học
2.2.1.1 Bảng viết(bảng phấn, bảng phooc mica trắng)
Trang 25Thường có bề mặt bằng xi măng, nhựa, gỗ; có mầu đen, xanh hoặc trắng
Ưu điểm:
Người dạy chủ động vừa trình bày, vừa viết các ý kiến cần thiết lên bảng
Không tốn vật liệu như các loại bảng khác
Phù hợp để khái quát, minh hoạ một số điểm cụ thể
Nhược điểm:
Không lưu kiến thức được lâu
Không phù hợp khi cần triển khai lượng thông tin lớn
Khi làm việc với bảng người dạy khó quan sát người học
Yêu cầu sử dụng:
Quan sát bảng về diện tích, độ cao, kích thước qua đó dự kiến trình bày bảng trên lớp
Chữ viết, hình vẽ phải rõ ràng, đủ độ lớn để người học có thể quan sát được
Giữ lại dàn ý nội dung cơ bản trên bảng để hệ thống bài
2.2.1.2 Bảng giấy lật
Gồm nhiều tờ giấy (70 x 100cm) đục lỗ được vít trên một thanh đỡ ép vào bảng, có thể lật đi lật lại được
Ưu điểm:
Gọn nhẹ, di chuyển đễ dàng hơn bảng viết
Có thể lật đi lật lại nhiều lần để trình bày và viết thêm các vấn đề nếu thấy cần thiết
Có thể xé ra để treo riêng từng tờ nhằm cùng một lúc giới thiệu được toàn bộ các vấn đề đã được giảng
Trực quan hoá những điểm thảo luận chính trong bài thuyết trình
Trang 26 Mất thời gian chuẩn bị
Chỉ sử dụng được đối với các nhóm nhỏ
Yêu cầu sử dụng:
Kiểm tra bút trước khi bắt đầu
Viết rõ ràng, đủ lớn
Khi lật những tờ giấy đã viết tránh gây tiếng ồn
Đặt ở vị trí mà tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy được
2.2.1.3 Bảng ghim (bảng dính):
Cao 1,2 - 1,5m, rộng 0,8 - 1m, dùng để ghim, dính, kẹp hoặc dán lên đó các bản vẽ, các tờ thông tin, mẫu biểu, các thẻ giấy chứa đựng nội dung hoặc đã viết sẵn nội dung
Ưu điểm:
Mọi ý kiến được công khai ghim lên bảng giúp người học nhận thức trực tiếp
về nội dung vấn đề được trình bày hoặc thảo luận
Khuyến khích và động viên tích cực của người học, làm cho tiết giảng sinh động và hấp dẫn
Người dạy di chuyển, sắp xếp các ý kiến theo ý muốn để làm sáng tỏ nội dung
và nhận xét trong khi giảng
Giúp cho việc sơ đồ hoá bài giảng, chương trình học tập thuận lợi;Có thể tái
sử dụng
Rất thích hợp với nhóm nhỏ
Nhược điểm:
Tốn thời gian
Cần một số phụ kiện, vật liệu (giấy mầu, ghim, bút dạ, )
Cồng kềnh bất tiện khi vận chuyển;Không thích hợp với những bài thuyết trình trang trọng và chính thức
Do khuôn khổ có hạn nên các vấn đề viết để dính lên bảng cần hạn chế
Yêu cầu khi sử dụng:
Chuẩn bị thẻ mầu, ghim, bút và kiểm tra bút trước khi viết
Trang 27 Cần có tiêu đề trên bảng
Mỗi thẻ chỉ viết một ý kiến
Không viết quá ba hàng trên thẻ;Chữ in, viết to, tõ
Có thể chuẩn bị giấy khổ rộng để làm nền và dùng hồ để dán lại những gì đã trình bày
2.2.2 Mô hình, vật thật, module luyện tập
2.2.2.3 Mô hình
Là những mẫu vật được chế tạo phỏng theo các sự vật hiện tượng thật Mô hình phản ánh cấu trúc không gian của đối tượng nghiên cứu, dùng biểu diễn cấu tạo các chất, cấu tạo và vận hành của máy móc, các bộ phận trong cơ thể, các quy trình sản xuất, cụ thể hoá các tài liệu dạy học, phát triển khả năng quan sát của người học Công dụng:
Giúp cho người học quan sát cảm tính hình thành biểu tượng, hiểu bản chất đối tượng, hình thành khái niệm và luận chứng
Khắc phục được những hạn chế trong giảng dạy khi kích thước của vật quá lớn hoặc quá nhỏ, các vật không kiếm được do hạn chế về thời gian và khoảng cách
Yêu cầu sử dụng:
Nêu rõ mục đích quan sát, chỉ dẫn cách quan sát
Phù hợp với mục đích và thời gian giảng dạy
Trang 28- Yêu cầu sử dụng:
Hiểu rõ mục đích và nhiệm vụ học tập
Giới thiệu các chi tiết và công dụng của chúng trên môdul
Giới thiệu các phương tiện hỗ trợ
Giới thiệu phương pháp sử dụng và trình tự luyện tập
2.2.3.1 Tài liệu vẽ:
Sơđồ:
Là hình tượng dùng để tóm lược, so sánh, giải thích, tìm hiểu vấn đề thông qua các dữ kiện, ký hiệu Một vài sơ đồ thường gặp:
Sơ đồ ghi thời gian: trình bày giữ kiện theo thời gian
Sơ đồ hình cây: trình bày sựu phát triển, tăng trưởng thay đổi bắt đầu từ một nguồn
Trang 29 Sơ đồ tổ chức: dùng các hình chữ nhật, tròn, gạch kẻ và mũi tên trình bày sự liên hệ chức năng của các bộ phận trong một hệ thống tổ chức
Sơ đồ đề cương: như bảng chỉ dẫn, dàn bài
Sơ đồ bảng cột: để so sánh tương phản các đại lượng cùng loại
Biểu đồ hình tròn, hình quạt Góc độ của hình quạt được xác định bằng cách nhân 306( tức là 1% của hình tròn với số phần trăm của mỗi bộ phận)
Biểu đồ diện tích trong đó các tài liệu thống kê được biểu hiện bằng tranh vẽ hay dấu hiệu tượng trưng cho một số liệu nhất định Số lượng cũng có thể được tượng trưng bằng độ lớn diện tích của tranh
Đồ thị:
Là đường vẽ trên một hệ trục biểu hiện trực quan sự tăng giảm các giá trị trên
hệ toạ độ Ví dụ: đồ thị dòng điện xoay chiều hình sin,
Bản vẽ:
Tổng hợp các tại liệu như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, lược đồ.v.v một số bản
vẽ còn gắn thêm các vật mẫu như bông, chỉ, sợi Bản vẽ khổ lớn có thể thay thế cho hình vẽ trên bảng phấn khiến học sinh chú ý theo lời giảng và hình vẽ cùng lúc
Khi làm bản vẽ khổ lớn cần lưu ý:
Phải đủ lớn cho cả lớp, hay nhóm cùng trông thấy
Phải rõ ràng nghĩa là bố trí và kỹ thuật in hay vẽ phải truyền thông báo một cách trọn
Trang 30 vẹn, không kiểu cách
Phải đơn giản không quá nhiều chi tiết, đỡ nhầm lẫn
Phải thu hút được sự chú ý của học sinh
Nếu có màu thì màu phải được dùng đaúng kỹ thuật để đạt mục đích, không loè loẹt
2.2.3.2 Tranh ảnh:
Bao gồm những ảnh chụp và hình vẽ theo hiện thực để minh hoạ.Tranh ảnh để giảng dạy trong lớp học bao gồm các bản in của ảnh chụp, hoặc hình ảnh minh hoạ
in trong sách báo, tạp chí, ấn phẩm kỹ thuật mà giáo viên thu thập được
Tranh ảnh được chia làm hai loại:
Không chiếu dọi được
Chiếu dọi được gồm các loại phim chụp thu nhỏ để dùng cho các loại đèn chiếu
2.2.3.3 Tài liệu sao chụp, in, photo: Các phương pháp sao, in ,chụp chúng ta
không xét đến trong tài liệu này
2.2.4 Tài liệu phát tay
2.2.4.1 Khái niệm
Tài liệu phát tay là những tài liệu giảng dạy được phát cho học sinh trong quá trình dạy học để tham khảo và thực hiện những nhiệm vụ học tập
2.2.4.2 Vai trò của tài liệu phát tay trong giảng dạy:
• Giúp giáo viên sử dụng có hiệu quả thời gian giảng dạy ở trên lớp
• Giảm bớt thời gian ghi chép của học sinh
• Cổ vũ và khơi dậy niềm hứng thú
• Giúp học sinh nhớ lâu
• Làm cho quá trình học tập thêm phong phú
• Đảm bảo đề cập tới tất cả những điểm quan trọng của bài
2.2.4.3 Cần chuẩn bị tài liệu phát tay khi:
• Cần cập nhật thông tin mới không có trong sách giáo khoa
• Những thông tin trình bày phức tạp hoặc quá chi tiết
Trang 31• Hệ thống tóm tắt thông tin theo các chủ đề
• Không có sách giáo khoa hoặc nguồn tài liệu thích hợp
• Học sinh gặp khó khăn trong việc học hoặc thực hiện kỹ năng
2.2.4.4 Phân loại tài liệu phát tay:
Có các tài liệu phát tay chính sau đây:
Thông tin tờ rời:
Loại tài liệu phát tay này cung cấp cho học sinh nhng thông tin không dễ thấy
từ các nguồn khác Nó chứa đựng thông tin về các sự kiện, về khái niệm và nguyên lý.Nó cũng có thể là những bài viết, bãn vẽ, tranh ảnh và công thức Phiếu bài tập:
Nó giúp cho học sinh áp dụng kiến thức, quy trình cần thiết cho việc phát triển
kỹ năng Nó gồm: Những vấn đề cần giải quyết, câu hỏi cần trả lời, quan sát cần thực hiện, những tài liệu cần đọc hoặc những nhiệm vụ cần làm, kể cả các thông tin tham khảo
Phiếu mô tả công việc
Loại phiếu này đợc sử dụng trong các buổi học tại phòng thí nghiệm, xưởng thực hành hoặc trên hiện trường, nó hứơng dẫn cách làm một công việc hoàn chỉnh (công việc có một vài kỹ năng hay một dự án) Trên phiếu này mô tả:
Danh sách thiết bị, dụng cụ, vật tư cần thiết
Thông tin về an toàn, sơ đồ tranh ảnh…
Bản hướng dẫn thực hành
Loại phiếu này dùng để hướng dẫn từng bước thực hiện công việc Ví dụ: Cách
sử dụng công cụ, máy móc thiết bị và thông tin về an toàn (phiếu này cũng được điều chỉnh cho phù hợp với mọi vấn đề hoặc kỹ năng mới xuất hiện)
2.2.4.5 Kỹ thuật và quy trình chuẩn bị tài liệu phát tay
Trứớc hết chuẩn bị bản gốc của tài liệu phát tay Nên chuẩn bị bản gốc bằng cách:
Trang 32 Cắt dán: sao chụp các tài liệu gốc, cắt theo đúng kích cỡ cần thiết và lắp ráp
trên trang của bản gốc Làm một trang bìa và đánh số trang, có thể viết lời
giới thiệu
Tự viết: thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau và tập hợp chúng trên trang giấy
Sao chụp: máy phôtô có thể cho bạn đầy đủ những tài liệu nhân bản
Lưu giữ và bảo quản: sắp xếp tài liệu theo chương trình học để dễ tìm.Nên kiểm tra dữ liệu, tránh thông tin sai
2.3 Phương tiện kỹ thuật dạy học
2.3.1 Máy chiếu Overhead Projector và chế bản phim trong
2.3.1.1 Máy chiếu Overhead Projector (máy chiếu qua đầu)
Trang 33Khi máy làm việc, đèn halogen sinh ra nhiệt lượng tương đối lớn, quạt làm mát
7 sẽ hoạt động làm mát cho máy
Dùng que chỉ trên folie để hướng người coi chý ý về một chi tiết
Dùng bút chuyên dùng để viết và bổ xung
Trang 34 Che folie bằng tờ giấy đen và mở lộ từng phần, để phân tích từng ý khi giảng tới phsần đó
Ghép chồng nhiều tờ folie lên nhau, màu khác nhau, chiếu lần lượt hoặc cùng lúc để trình bày phân tích
Chiếu vật ba chiều để có bóng đen trên màn ảnh
Thiết bị kỹ thuật: máy tính, máy in, máy photo copy
Giấy màu xuyên sáng
b Chế tạo
Chế bản bằng thủ công: Thể hiện nội dung trên bản trong bằng bút, các dụng
cụ vẽ, phối màu bằng giấy màu xuyên sáng
Chế bản bằng máy tính:
Sử dụng phần mền chế bản, sử lý ảnh để tạo nội dung trình chiếu
In nội dung trực tiếp vào bản trong hoặc ra giấy bằng máy in (sử dụng máy photocopy ra bản trong)
Phối màu cho phim trong bằng các giấy màu xuyên sáng
Các phim sau khi chế bản cần được bảo quản nơi khô dáo, giữa hai phim cần đặt một tờ giấy mền nhằm tránh ẩm, hử hỏng nội dung trên phim
c Sửa chữa nội dung trên phim trong
- Dùng giấy ẩm hoặc vải mền thấm nước để xóa đi những vết mực có thể xóa được bằng nước
- Dùng bút xóa tẩy chuyên dụng để xóa những vết mực không xóa bằng nước mà không để lại vết xước trên phim trong
d Các nguyên tắc trình bày trên Folie
Trang 35Nhiều hình ảnh ,ít phần thuyết minh bằng chữ
Các bảng biểu sơ đồ và các hình vẽ thích ứng trường cảm giác hơn là chữ viết Một hình ảnh có tác dụng một ngàn từ Với folie điều nay có nghiã là: Nên dùng ít chữ mô tả, thay vào đó là các hình ảnh (các hình này tương tự như đối tượng thật, và các hình ảnh mang tính chất phát triển logic, ví dụ : các sơ đồ, các loại bảng biểu, các đường đồ thị, các dàn ý
Mật độ thông tin nên hạn chế trên mỗi folie
Nếu tất cả mọi thông tin đều được trình bày trên folie người dạy chỉ cần đọc to
nó trước lớp, điều này không có lợi vì người thầy cần phải thuyết minh, giải thích
và bổ sung thêm Do vậy sẽ kích thích được sự chú ý của học sinh Tính logic của nội dung và của hoạt động dậy học sẽ được đảm bảo Một nguyên do nữa là độ xa
và góc nhìn trong khi quan sát cũng như thời gian trình bày bị hạn chế Mật độ thông tin ít trên folie có lợi vì nó bắt buộc người dạy phải lấy dẫn chứng , chứng minh Đảm bảo viêc bổ xung bằng lời Những trường hợp đặc biệt thì theo công thức Faust sau đây:
Mỗi folie chỉ nên trình bày một mệnh đề ,một sự vật
Không nên có thông tin ngoài lề
Nhiều nhất viết trên mỗi folie 7 dòng
Hình thức và cấu trúc đảm bảo logic
Người quan sát nhận ra một cách nhanh chóng nội dung, nếu ngay từ phút đầu tiên nhìn nhận ra đươc cấu trúc logic của nó hoặc của một sự thống nhất khi dùng các hình tượng để trình bày
Nhận ra một cách nhanh chóng các đề mục (hoặc các chữ số các gạch dưới các chữ cái được ghi to)
Việc tạo khối (vi dụ: khoảng cách lên trên hoặc xuống dưới, việc lùi dòng ,sử dụng ngạch ngang, hoặc đánh dấu tương tự)
Sử dụng mầu khác nhau (ví dụ: các phần chính nên trình bày cùng mầu)
e Kỹ thuật trình bày Folie
Kỹ thuật chồng folie
Trang 36 Chồng hình
Hình hoặc các mô tả đầy đủ trên folie đươc hoàn chỉnh từng bước thông qua việc chồng các folie đơn đã được chế bản sẵn folie cơ bản (1) chỉ cho thấy bộ phận chính của đối tượng nghiên cứu Các folie 2,3 tiếp theo bổ xung một cách chi tiết các bộ phận còn lại Tuy nhiên ít khi sử dụng đến folie thứ 3 để bổ xung vì qua
đó ánh sáng bị hạn chế, hình sẽ tối
Chồng màu
Trong trường hợp này người ta chồng lên Folie cơ bản 1folie khác có phần mặt cắt được tô mầu Ví dụ: ở hình 20 và hình 21, hình 20: Folien cơ bản cho thấy một bảng với số cập nhật folie thứ 2 chỉ có ô chữ nhật nằm ngang có mầu từ Film màu khi chồng folie thứ 2 lên folie thứ 1và chiếu thì có được hình ảnh cho trong hình 2.1 Thông qua việc chồng mầu để nhấn mạnh dòng, cột, hoặc các bộ phận cần thiết của đối tượng nghiên cứu
Phối hợp giữa kỹ thuật chồng và kỹ thuật lột tả
Đôi khi có thể phối hợp giữa kỹ thuật chồng với kỹ thuật lột tả.Hình ảnh đầu tiên khi chiếu (Phía trên bên trái) mô tả kế hoạch xây dựng thành phố đã lưu Folie (1+2) Folie 1 trình bày công trình xây dựng đã có không thể thay đổi ,Folie 2 mô
tả sự trang trí bằng các công viên ở phép chiếu thứ 2(bên phải phía trên) ngựời ta lược bỏ folie 2 Để có được bản thiết kế người ta cần folie 3 (trình bày các cây
Trang 37xanh cần trồng mới).Đặt chồng folie 3 lên Folie 1(1+3); khi chiếu có hình ảnh mới như hình dưới phía phải
Kỹ thuật xoay, folie xoay
Là phương án đơn giản thủ công của mô hình chức năng Mỗi folie chính cho thấy một miền phụ cận nó có một lỗ nhỏ ở tâm Qua tâm này người ta cắm trục xoay.Thêm nữa là chi tiết quay qua lỗ nhỏ ở tâm.Dùng nút bấm ghép folie chính và chi tiết quay qua lỗ nhỏ.Tuy nhiên sau khi ghép chi tiết quay vẫn có thể xoay được Thường chi tiết quay được làm bằng loại folie dày có hình vẽ là chi tiết có dạng
Trang 382.3.2.3 Phạm vi ứng dụng
Thay thế chức năng chiếu tài liệu của máy chiếu qua đầu
Có thể chiếu trực tiếp vào mẫu vật có kích thước nhỏ
Phù hợp với giờ dạy có sử dụng nhiều tranh ảnh, đồ thị minh họa
Tắt máy mỗi khi có thể
2.3.3 Máy chiếu Multimedia Projector
2.3.3.1 Công dụng:
Các tín hiệu hình ảnh đầu vào khác nhau (đầu video, đầu đĩa, tivi, máy chiếu vật thể, camera, máy tính) được máy chiếu đa phương tiện nhận dạng và xử lí.Các
Trang 39tín hiệu này được hệ thống đèn công suất lớn và hệ thống quang học phóng chiếu lên màn hình
2.3.3.2 Ngoại diện đặc trưng của máy chiếu đa phương tiện
Hệ thống đèn báo LED
TEM indicator: Báo hiệu khi nhiệt độ trong máy cao quá giới hạn cho
phép
LAM indicator: Báo hiệu tình trạng của bóng đèn
POWER indicator: Báo hiệu trạng thái hoạt động của máy chiếu
Các nút chức năng trên Control panel
STANBY/ON button: Chuyển đổi giữa hai chế độ power-on và standby
MENU button: Hiện hay ẩn menu điểu khiển trên màn hình
VOLUME button: Thay đổi âm lượng của âm thanh
ZOOM/FOCUS button: Chuyển đổi giữa hai chế độ ZOOM hoặc FOCUS
UP/DOWN buttons: Dùng để thay đổi giá trị của các tham số đã được lựa
chọn
SELECT button: Lựa chọn yếu tố điều chỉnh
MODE button: Lựa chọn nguồn tín hiệu
Bảng kết nối nguồn và tín hiệu
Power switch: Công tắc nguồn cho máy chiếu
AC socket: Kết nối với nguồn điện
COMPUTER IN 1 và 2 socket: Nơi cắm đường tín hiệu hình từ máy tính
AV in socket: Tín hiệu Audio và Video đưa vào
AV out socket: Tín hiệu Audio và Video lấy ra
MONITOR OUT socket: Đưa tín hiệu ra máy vi tính
RS-232 socket: Kết nối với cổng COM của máy tính
DC OUT socket: Cung cấp nguồn điện một chiều 12 V
Điều khiển từ xa và các bộ phận đáng chú ý khác trên máy chiếu
Trên điều khiển từ xa (remote control), ngoài các chức năng có trên bảng điểu khiển, còn có một số chức năng sau:
Trang 40 MOUSE buttons (right, left): Nhấn chuột phải và trái
POINTER control:Điều khiển vị trí của chuột trên màn chiếu
AUDIO mute: Chế độ câm loa
PICT mute: Tạm cắt tín hiệu chiếu
2.3.3.3 Phạm vi ứng dụng
Thay thế hoàn hảo cho các loại máy chiếu khác
Dùng cho dạy, học các nội dung cần minh hoạ nhiều đối tượng multimedia
Kết hợp với máy tính, dùng để thể hiện những nội dung trong thực tế khó hoặc không thể biểu diễn được
2.3.3.4 Một số chú ý khi sử dụng máy chiếu đa phương tiện
Kết nối toàn bộ các đường tín hiệu trong trạng thái không có điện
Tránh di chuyển máy khi đang ở chế độ Power on
Bật máy: Bật công tắc nguồn chính => nhấn nút power trên máy hoặc điều
khiển từ xa và chờ tới khi hình xuất hiện
Tắt máy: Không được phép rút dây nguồn cấp điện, không được phép tắt
công tắc nguồn để máy tắt Làm vậy quạt làm mát bên trong máy ngừng hoạt động trong khi nhiệt độ của bóng đèn còn rất cao có thể gây hỏng đèn và các
bộ phận khác của máy
Quy trình tắt máy: Nhấn nút Power trên bảng điều khiển hoặc điều khiển
từ xa => chờ đến khi quạt làm mát ngừng quay, lúc đó mơi cắt nguồn cho máy được
Khi dừng giảng trong thời gian dai nên chuyển vể chế độ standby
2.3.4 Máy quay Camera và video dạy học
2.3.4.1 Video
Kỹ thuật Video xuất hiện trong những năm 1970 và rất nhanh chóng trở thành một loại phương tiện nghe nhìn dạy học có hiệu quả, nó những đặc điểm cơ bản sau: