1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh và ẩn dụ trong thơ nguyễn bính

60 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 603,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và những người bình thơ cũng như những nhà nghiên cứu sau này khi đi tìm hiểu về Nguyễn Bính cũng đã cùng gặp nhau ở những luận điểm: Nguyễn Bính là nhà thơ chân quê, thi sĩ nhà quê, thi

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

NGUYỄN THÙY LINH

So sánh và ẩn dụ trong thơ Nguyễn Bính

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

Vậy là đã hơn 45 năm kể từ ngày Nguyễn Bính tạ từ nhân thế để vĩnh viễn

đi vào cõi hư ảo Đất mẹ mở ra đón nhà thơ vào lòng nhưng ông vẫn mãi mãi sống với giậu mồng tơi, bến nước, con đò, với hương đồng gió nội, với cuộc sống làng quê mà người suốt đời nặng duyên nặng nợ Qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, những bài thơ của Nguyễn Bính vẫn neo đậu vững vàng trong lòng người đọc Điều ấy chính là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định tài

năng của nhà thơ

Cùng với Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính là một trong ba đỉnh cao của Thơ mới, sừng sững như Tam Đảo, Ba Vì, tạo nên thế chân kiềng vững vàng cho một thời đại rực rỡ nhất của thi ca Vị trí của Nguyễn Bính trong phong

Trang 3

trào Thơ mới nói riêng và nền thi ca Việt Nam nói chung đã được xác định Nhưng nghiên cứu về Nguyễn Bính và nghệ thuật thơ của ông vẫn là một nguồn mạch cần được tiếp tục khơi dòng

Từ những năm trước cách mạng, nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét Nguyễn Bính mang một hồn thơ “quê mùa”, Nguyễn Bính cũng tự nhận mình là

“thi sĩ của thương yêu” Và những người bình thơ cũng như những nhà nghiên cứu sau này khi đi tìm hiểu về Nguyễn Bính cũng đã cùng gặp nhau ở những luận điểm: Nguyễn Bính là nhà thơ chân quê, thi sĩ nhà quê, thi sĩ của đồng quê, của hồn quê, tình quê, là thi sĩ của yêu thương…Những kết luận đó phần lớn được các nhà nghiên cứu rút ra từ thế giới nghệ thuật và đề tài mà Nguyễn Bính hướng tới trong thơ mà ít chú ý đến phần ngôn ngữ thơ Sự thiên lệch ấy phải chăng là một thiếu sót của chúng ta khi nghiên cứu về thơ ông?

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy trong thơ Nguyễn Bính sử dụng rất nhiều những biện pháp tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng, trong đó nổi bật nhất là biện pháp so sánh và ẩn dụ tu từ Và đối tượng được liên tưởng đến trong hai phép tu từ ấy bao giờ cũng là chuẩn mực của đời sống nông thôn Việt Nam Như vậy, nếu giải mã được cơ chế cấu tạo của những biện pháp tu từ này trong thơ Nguyễn Bính, chúng ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp chân quê từ góc độ tư duy

nghệ thuật của nhà thơ Với đề tài “So sánh và ẩn dụ trong thơ Nguyễn Bính”

người viết hi vọng sẽ đóng góp một cái nhìn mới trong việc tìm hiểu vẻ đẹp thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ

Hơn thế nữa, xuất phát từ thực tiễn giáo dục, là một người đang theo học ngành sư phạm, chúng tôi nhận thấy cách tiếp cận tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ

là một quy trình bắt buộc Nhưng có một thực tế đã thành lối mòn xưa nay là cách tiếp cận nặng về nội dung văn bản, xem nhẹ nghệ thuật ngôn từ Vậy nên

Trang 4

rèn luyện cho học sinh hình thành thói quen phân tích, đánh giá tác phẩm từ góc nhìn ngôn ngữ là việc làm hết sức có ý nghĩa đối với một giáo viên giảng dạy bộ môn ngữ văn

Với những lí do trên cùng với niềm thiết tha của kẻ hậu sinh muốn tìm

hiểu về một trong những đỉnh cao của thơ ca, tôi đã quyết định chọn đề tài “So

sánh và ẩn dụ trong thơ Nguyễn Bính” làm đề tài luận văn cuối khóa của mình

1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc tìm hiểu về các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ từ lâu đã là một

đề tài nghiên cứu hấp dẫn đối với các nhà ngôn ngữ học Trên thế giới, người ta

đã nghiên cứu về các biện pháp tu từ từ rất sớm Từ những năm trước Công nguyên, nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp là Arixtốt đã đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu các biện pháp tu từ trong thi ca Trong cuốn

Thi học nổi tiếng của mình, Arixtốt đã gọi tên khả năng kết hợp ngôn ngữ theo

quan hệ liên tưởng theo tiếng La Tinh là Figura (ngữ hình), nghĩa là hình thức bóng bẩy Arixtốt cũng tổng kết những Figura chủ yếu, có tính phổ dụng là: So sánh (similis), ẩn dụ (metaphoria), hoán dụ (metonymia), khoa trương (hyperbole)…

Ở Việt Nam, so sánh và ẩn dụ là những phương thức tu từ được nghiên cứu trong nhiều thế kỉ và từ nhiều góc độ khác nhau Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc… đã nghiên cứu so sánh và ẩn dụ dưới tư cách là hiện tượng của ngôn ngữ văn chương Gần đây, trên thế giới bắt đầu xuất hiện một quan niệm mới nghiên cứu mối quan hệ giữa

ẩn dụ và tư duy Tiếp thu những phát triển mới này của ngôn ngữ học hiện đại,

Trang 5

trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về ẩn dụ dưới

góc nhìn tri nhận Đó là các công trình như: Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết

đại cương đến tư duy thực tiễn Tiếng Việt của Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) của Trần Văn Cơ, Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của Nguyễn Đức Tồn …

Bên cạnh đó việc nghiên cứu các phương thức tu từ gắn với sáng tác của một tác giả nào đó cũng là công việc thu hút không ít các nhà nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn viết về vấn đề này

Nhà thơ Nguyễn Bính là người đã biết tìm cho mình một lối đi riêng, thơ ông với rất nhiều chất mộng, chất lãng mạn nhưng lại không giống với các nhà Thơ mới khác Chính cái nét rất riêng ấy mà thơ Nguyễn Bính cứ vương vấn mãi trong lòng người đọc, thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu

Từ những năm trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Bính đã là một trong

số ít nhà thơ được giới phê bình chú ý đến Nhà phê bình Hoài Thanh, Hoài

Chân trong Thi nhân Việt Nam đã lần đầu tiên gọi tên hồn thơ Nguyễn Bính là

hồn thơ “quê mùa” Đồng thời Hoài Thanh cũng khẳng định sức sống mãnh liệt

của hồn thơ ấy trong cái xã hội Âu hóa đảo điên lúc bấy giờ “Người nhà quê

Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường” [13, tr.135]

Từ năm 1975 cho đến nay, điều kiện xã hội phát triển nên tính chuyên nghiệp trong vấn đề nghiên cứu văn học được nâng lên Qua một độ lùi nhất định của thời gian nên người ta có cái nhìn đúng đắn và sáng suốt hơn với văn chương thời kì trước Và lúc này, các nhà nghiên cứu chú ý hơn đến những tác giả đã khẳng định được tài năng và giá trị của mình, Nguyễn Bính và thơ ông được quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện

Trang 6

Thời gian đầu các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính thường xuất

hiện dưới dạng các bài báo như: Nguyễn Bính – nhà thơ kháng chiến (Thái Bạch), Nguyễn Bính – một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư (Vũ Bằng), Một số

đặc điểm nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính (Hồng Diệu) Khối tình lỡ của người chân quê (Nguyễn Đăng Điệp), Nguyễn Bính – Nhà thơ hiện đại (Trần Mạnh

Hảo), Nguyễn Bính trong nền thơ Việt Nam (Vũ Quần Phương)…

Càng về sau cái tên Nguyễn Bính càng được nhắc nhiều trong những công

trình nghiên cứu đồ sộ cũng như nhiều chuyên luận lớn nhỏ khác như: Thơ và lời

bình (Vũ Quần Phương, 1992), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca (Hà

Minh Đức, 1993), Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh, 2001)… Ba đỉnh cao Thơ

mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử (Chu Văn Sơn) là công trình

nghiên cứu viết về ba đại diện tiêu biểu của phong trào Thơ mới là Xuân Diệu, Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử Trong cuốn sách này, Nguyễn Bính được đánh giá

là nhà thơ “quen nhất”, là “thi sĩ của thương yêu”, người khởi xướng “dòng thơ quê”

Các bài viết, chuyên luận và công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính cũng

được sưu tầm, biên soạn thành những cuốn sách quy mô đồ sộ như: Nguyễn Bính

– Thi sĩ của thương yêu (Hoài Việt sưu tầm và biên soạn), Nguyễn Bính – Thơ và đời (Hoàng xuân sưu tầm và biên soạn) Đặc biệt cuốn sách Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm (Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương tuyển chọn) đã giới thiệu

những công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính ngay từ lúc Nguyễn Bính mới xuất hiện cho đến khi ông qua đời

Mặc dù đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính cùng ngôn ngữ và nghệ thuật thơ của ông nhưng tất cả đều thống nhất: Nguyễn Bính là nhà thơ “chân quê” nhà thơ của “hồn quê”, “tình quê”…Trong một thời

Trang 7

gian dài, thơ Nguyễn Bính được nghiên cứu và xem xét ở nhiều góc độ khác nhau từ nội dung đến nghệ thuật, từ tư tưởng đến phong cách, từ giọng điệu đến kết cấu Tuy thế, chưa có nhà nghiên cứu nào nghiên cứu một cách toàn diện và tập trung về ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính Tuy đã có một số tác giả đề cập đến nhưng chừng ấy dường như chưa nói hết được những giá trị của thơ Nguyễn

Bính đặc biệt là về mặt nghệ thuật Hi vọng rằng nghiên cứu về “So sánh và ẩn

dụ trong thơ Nguyễn Bính” của chúng tôi sẽ góp một phần nhỏ trong việc tìm

hiểu những giá trị còn ẩn giấu trong thơ của một thi sĩ “chân quê, chân tài”

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: So sánh và ẩn dụ tu từ trong thơ Nguyễn Bính + Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát phần thơ Nguyễn

Bính trước 1945 được in trong cuốn Nguyễn Bính toàn tập, 2008, Nguyễn Bính

Hồng Cầu (Sưu tầm và biên soạn), Nxb Văn học, Hà Nội

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện để tài này chúng tôi sử dụng rất nhiều phương pháp, trong đó

ba phương pháp sau được chúng tôi đặc biệt coi trọng:

- Phương pháp thống kê, phân loại

Tiến hành khảo sát, thống kê và phân loại so sánh và ẩn dụ tu từ trong thơ Nguyễn Bính Phương pháp này chúng tôi sử dụng ở chương Hai

- Phương pháp phân tích miêu tả

Tiến hành phân tích, miêu tả để xử lí những dữ liệu đã thu thập được Phương pháp này chúng tôi sử dụng ở chương Hai và chương Ba

- Phương pháp liên hội so sánh

Trang 8

Tiến hành thao tác so sánh để thấy được nét độc đáo khác biệt của từng đối tượng Phương pháp này được chúng tôi sử dụng rải rác trong toàn bài

Chương Một: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương Hai: Khảo sát các biện pháp tu từ so sánh và ẩn dụ trong thơ Nguyễn Bính

Chương Ba: Vai trò của biện pháp so sánh và ẩn dụ tu từ trong thơ Nguyễn Bính

Trang 9

Đã có rất nhiều tác giả đưa ra khái niệm cho phép so sánh tu từ

Nhóm tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa định nghĩa: “So sánh tu từ (so sánh hình ảnh) là sự đối chiếu hai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình tượng đặc điểm của một trong hai đối tượng đó.” [1, tr.145]

Tác giả Cù Đình Tú quan niệm: “So sánh tu từ là sự đối chiếu hai sự vật (về tính chất, trạng thái, sự việc) A và B cùng có một dấu hiệu chung nào đấy giống nhau A là sự vật chưa biết, nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A So sánh tu từ còn được gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh

Trang 10

không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tương đồng nào đó về nhận thức hay tâm lí.” [9, tr.84]

Đinh Trọng Lạc lại cho rằng: “So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan, không đồng nhất với nhau hoàn toàn, mà chỉ có một nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng.” [8, tr.262]

Các nhà nghiên cứu Lê bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “So sánh là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có quan hệ tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm , thuộc tính của đối tượng này thông qua đặc điểm, thuộc tính của đối tượng kia.” [6, tr.230]

Điểm qua những định nghĩa của các nhà nghiên cứu về so sánh, ta thấy: tuy có sự diễn đạt khác nhau, nhưng về cơ bản các tác giả đã tương đối thống nhất khái niệm về so sánh tu từ So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu các đối tượng khác loại có cùng nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả một cách có hình ảnh và biểu cảm đặc điểm của một đối tượng

1.1.1.2 Cơ chế cấu tạo

Ở dạng hoàn chỉnh, so sánh tu từ có cấu trúc như sau:Cái được so sánh -

cơ sở so sánh - từ thể hiện quan hệ so sánh - cái dùng để so sánh

Qua cấu trúc trên ta có thể thấy, so sánh tu từ ở dạng hoàn chỉnh có 4 yếu tố: + Cái được so sánh (A)

Trang 11

như như như như như

Anh như táo rụng sân đình

Em như gái dở đi rình của chua

Ví dụ:

Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử

Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích thủa xưa

(Nguyễn Tuân)

Ví dụ:

Cho tới chừ đây tới chừ đây

Tôi mơ qua cửa khám bao ngày

Trang 12

Tôi thu tất cả trong im lặng

Như cánh chim buồn nhớ gió mây

Tiếng hát trong như nước ngọc tuyền

Êm như hơi gió thoảng cung tiên Cao như thông vút, buồn như liễu

Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên

Ví dụ:

Cổ tay em trắng như ngà Đôi mắt em sắc như là dao cau

(Ca dao) Trong cấu trúc so sánh tu từ, cơ sở so sánh có thể được ẩn đi, được ngầm hiểu chứ không thể hiện trên bề mặt văn bản

Ví dụ:

Miệng cười (Ø) như thể hoa ngâu

Trang 13

Chiếc khăn đội đầu (Ø) như thể hoa sen

Từ so sánh là từ biểu thị quan hệ so sánh Theo thống kê của tác giả Bùi

Trọng Ngoãn trong bài viết “Bàn thêm về phép so sánh tu từ” đăng trong tạp chí

Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5(40) thì có khoảng hơn 20 từ được sử dụng với vai trò là từ so sánh Đó là: như, như là, tựa, tựa thể, tợ, giống, giống như, tày, ngang, hơn, bằng, thua, nhường, kém, khác nào, khác chi, chẳng khác, na ná Ngoài ra còn có thêm những từ so sánh như: tỉ như, là…

Ví dụ:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

(Trần Đăng Khoa)

Áo chàng đỏ tựa ráng pha

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

(Đoàn Thị Điểm)

d/ Cái dùng để so sánh

Cái dùng để so sánh(Vế B) là cái đã biết, cái được dùng để làm sáng tỏ A

và khiến A thêm hình ảnh, cụ thể, hấp dẫn Tương tự như vế A, vế B cũng có thể

là một từ, một ngữ hoặc một hoặc một chuỗi cấu trúc chủ vị

Trang 14

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương

(Chế Lan Viên)

Ví dụ:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

(Chế Lan Viên) Một điều đặc biệt là trật tự các yếu tố trong phép so sánh tu từ có thể thay đổi Cái dùng để so sánh có thể được chuyển lên trước cái được so sánh

Trang 15

1.1.1.3 Các dạng thức so sánh tu từ

Các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại so sánh tu từ Tác giả Cù Đình Tú chia ra làm 3 loại:

- Loại A - tss- B (hoặc là Như B - A, hay A//B)

- B bao nhiêu A bấy nhiêu

- A là B

Tác giả Đinh Trọng Lạc chia so sánh tu từ thành các kiểu cấu tạo:

- So sánh chìm (so sánh vắng cơ sở so sánh)

- So sánh đối chọi (tức so sánh sử dụng chỗ ngắt giọng)

Gái thương chồng,/ đương đông buổi chợ,

Trai thương vợ,/ nắng quái chiều hôm (Ca dao)

Mỗi tác giả có một cách chia khác nhau và mỗi người có cái lí riêng của mình cho từng cách chia đó Nhưng để rõ ràng và đơn giản hơn, chúng tôi chia thành 4 kiểu loại như sau:

a/ A như (tựa, tựa thể, như là, như thể,giống như, tày…) B

Ví dụ:

Ta như lá nõn như hoa nụ

Mới biết tình yêu buổi bắt đầu (Nguyễn Bính)

Ví dụ: Tuấn kiệt như sao buổi sớm

Nhân tài như lá mùa thu

(Nguyễn Trãi) Cũng có khi người ta đảo ngược trật tự

Ví dụ:

Trang 16

Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng

B Hồn tôi vang vọng cả hai miền

(Tế Hanh)

b/ Kiểu A là B

Ví dụ:

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Trang 17

Ví dụ:

Qua cầu ngả nón trông cầu

Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu

Cù Đình Tú quan niệm: “Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở mối quan hệ liên tưởng về những nét tương đồng giữa hai đối tượng” [14,tr.279]

Đinh Trọng Lạc lại cho rằng “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra), giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A” [7, tr.52]

Đào Thản giải thích cụ thể hơn trong khái niệm về ẩn dụ khi đặt ẩn dụ trong mối quan hệ với so sánh: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần

so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh.” [9, tr.78]

Trang 18

Qua các định nghĩa trên, ta thấy rằng mỗi nhà nghiên cứu trong quá trình

đi tìm khái niệm cho ẩn dụ mỗi người lại có một cách diễn đạt khác nhau Nhưng tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Ẩn dụ là dùng tên gọi này

để biểu hiện sự vật khác dựa trên sự liên tưởng đồng nhất hóa những thuộc tính nào đó giữa chúng

1.1.2.2 Cơ chế cấu tạo

Cơ sở của ẩn dụ chính là so sánh So sánh bao giờ cũng hiển ngôn trên bề mặt văn bản những thành phần trong cấu trúc của mình bao gồm cái được so sánh, từ so sánh và cái dùng để so sánh Ẩn dụ cũng là so sánh nhưng không hiển ngôn, nghĩa là so với so sánh thông thường, ẩn dụ ẩn đi từ so sánh và cái được so sánh, trên bề mặt văn bản chỉ còn lại cái dùng để so sánh Chính vì thế

mà ẩn dụ còn được gọi là so sánh ngầm, để giải mã được ẩn dụ người đọc vẫn thường dùng thao tác so sánh

Có thể đã có một quá trình chuyển hóa từ so sánh sang ẩn dụ Ban đầu dựa trên những điểm giống nhau, người ta tạo nên sự so sánh giữa các sự vật

Ví dụ:

Anh như thuyền đi Em là bến đợi

Trang 19

Hình ảnh thuyền luôn cơ động ngược xuôi giống người con trai trong xã hội cũ có quyền lấy năm thê bảy thiếp, cũng như chiếc thuyền đi hết bến này đến bến khác Còn “bến” với đặc điểm: cố định, thụ động chờ đợi được so sánh với người con gái: chỉ tấm lòng chung thuỷ son sắt của người con gái

Sau một thời gian hình ảnh thuyền quen thuộc gắn với hình ảnh người con trai, bến là người con gái cho nên có thể lược đi cái được so sánh và từ so sánh

mà người đọc, người nghe vẫn hiểu

Ví dụ:

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

(Ca dao) Tương tự như thế, các hình ảnh như tằm - dâu, thuyền - bến, bướm - hoa, trầu - cau… như đã được mặc định để nói về hình ảnh người con trai và người con gái tạo nên những ẩn dụ Trong ẩn dụ, những suy nghĩ, tình cảm được thể hiện gián tiếp Hay nói cách khác, quy luật tạo nghĩa của ẩn dụ có thể được hiểu như là lấy xa nói gần, lấy ít nói nhiều, lấy vòng nói thẳng…để biểu đạt điều muốn nói

Như vậy, quá trình chuyển hóa từ so sánh sang ẩn dụ dựa trên nguyên tắc

ẩn đi cái được so sánh nhưng vẫn đảm bảo người đọc, người nghe thông qua cái

so sánh nhận ra cái được so sánh một cách dễ dàng Để làm được điều đó người

ta thường dựa vào văn cảnh, vào tính logic và đặc biệt là dựa vào thói quen thẩm

1.1.2.3 Các kiểu dạng ẩn dụ tu từ

Có rất nhiều quan điểm trong việc phân chia các kiểu loại của ẩn dụ tu từ:

Trang 20

Theo Cù Đình Tú, trên lý thuyết, nếu như có bao nhiêu khả năng tương đồng thì có bấy nhiêu khả năng cấu tạo ẩn dụ tu từ Có thể nêu một số khả năng tương đồng được dùng làm cơ sở để tạo ra các ẩn dụ tu từ:

“Bóng đêm và chế độ thực dân phong kiến” có tính chất như nhau (tăm

tối), bóng đêm biểu thị chế độ thực dân phong kiến

Thay mặt cho tất cả các tổ chức ấy chỉ có một mình anh ủy viên thường

trực trẻ tuổi Con sông nhỏ hứng đủ trăm dòng suối trút xuống

Trang 21

“Hứng đủ trăm dòng” và nhận giải quyết mọi việc có hành động (tiếp nhận) giống nhau, do đó dùng hành động hứng đủ trăm dòng biểu thị nội dung:

"nhận giải quyết mọi việc"

+ Tương đồng về cơ cấu

Ví dụ:

Thầy quen nhẫn nại như một người đan rổ: tay bắt từng nan một, uốn nắn

cho khéo, vào khuôn vào khổ Nhiều nan bị gãy nhưng rổ vẫn thành rổ

Rổ có nhiều nan có cơ cấu tương tự lớp có nhiều trò, rổ biểu thị lớp học trò (Xem [14, tr.279-281])

Đinh Trọng Lạc chia ẩn dụ thành ba kiểu nhóm:

+ Ẩn dụ chân thực: phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự tương đồng + Ẩn dụ bổ sung (Hay ẩn dụ chuyển đổi cảm giác)

Ẩn dụ chân thực: là những ẩn dụ được xây dựng từ sự tương đồng giữa

các đối tượng trong thực tế

Ví dụ:

Tằm ơi say đắm nơi đâu

Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn

(Ca dao)

Ví dụ:

Trang 22

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

(Ca dao)

- Ẩn dụ bổ sung (hay ẩn dụ chuyển đổi cảm giác)

Là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác khi nhận thức và diễn đạt bằng ngôn ngữ

Ví dụ:

Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui

như nối lại chiêm bao đứt quãng

(Nguyễn Tuân )

Ví dụ:

Buổi sáng, mọi người đổ ra đường Ai cũng muốn ngẩng lên cho thấy mùi

hồi chín chảy qua mặt Rừng hồi ngào ngạt, xanh thẫm trên các quả đồi quanh

làng

(Tô Hoài )

- Ẩn dụ tượng trưng: là những ẩn dụ có tính chất tượng trưng, mang ý

nghĩa biểu tượng

Ví dụ:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Trang 23

Đất nước Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài hàng thế kỉ bỗng dưng

bừng lên buổi bình minh của thời đại

(Lê Duẩn)

1.2 Nguyễn Bính- một đời người, một đời thơ

1.2.1 Cuộc đời Nguyễn Bính

Nhà thơ Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Ông xuất thân trong một gia đình nho giáo, cha ông là ông đồ nho Nguyễn Đạo Bình, tính tình điềm đạm, hiền lành, trọng chữ nghĩa hơn của cải vật chất Mẹ là Bùi Thị Miện, xinh đẹp, đôn hậu nhưng bạc mệnh, bà mất khi tuổi mới 24 Nguyễn Bính vốn sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo lại mồ côi mẹ rừ nhỏ nên tuổi thơ ông đã sớm chịu nhiều vất vả Cuộc đời ông chưa một lần được cắp sách đến trường, chỉ học ở nhà với cha và cậu

Nguyễn Bính được sinh ra ở xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh xã Đồng Đội (nay thuộc xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Nhưng suốt cả tuổi

Trang 24

thơ ông gắn bó với thôn Vân quê mẹ Cái làng quê nhỏ bé thuộc vùng chiêm trũng đồng bằng sông Hồng với phong cảnh hữu tình ấy chính là nơi đã nuôi dưỡng nên hồn thơ “chân quê” của Nguyễn Bính

Thôn Vân có biếc có hồng Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều

Đê cao có đất thả diều Trời cao lăm lắm có nhiều chim bay Quả lành trĩu nặng từng cây

Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen Hiu hiu gió quạt giăng đèn…

Trang 25

“máu giang hồ” Với ông đi là để đổi chỗ, đi để tìm cảm hứng mới và mở mang kiến thức

Sống là sống để mà di Con tàu bạn hữu chuyến xe nhân tình

(Nửa đêm nghe tiếng còi tầu) Những “ngày tháng lưu niên” ấy, trên mỗi chặng đường Nguyễn Bính đều

để lại dấu ấn của mình bằng những bài thơ Nhà thơ đi nhiều nhưng không có mảnh đất nào giữ chân ông được lâu khi bệnh giang hồ lại nổi lên trong con người nghệ sĩ

Năm 1943 Nguyễn Bính vào Nam Bộ Cách mạng Tháng Tám nổ ra, nhà thơ hăng hái tham gia vào cách mạng Suốt thời kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn Bính hoạt động ở Nam Bộ, ông viết nhiều tác phẩm kịp thời ca ngợi cuộc kháng chiến và sự nghiệp xây dựng của dân tộc ta Sau đó nhà thơ còn được giao giữ nhiều chức vụ trọng yếu như phụ trách hội văn nghệ cứu quốc tỉnh Rạch Giá, cán bộ ở ban văn nghệ Phòng tuyên huấn Quân khu Tám

Tháng 11 năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, công tác ở Hội nhà văn

Việt Nam, có thời ông còn làm chủ bút ở tuần báo Trăm hoa

Thế rồi vào một ngày cuối năm 1966, Nguyễn Bính đột ngột ra đi về cõi

hư vô để lại bao niềm tiếc nuối khôn nguôi cho người ở lại Ông ra đi giữa độ xuân đang về, ngày cuối cùng của một năm cũng chính là ngày cuối cùng của một đời người tài hoa

Giờ đây chín vạn bông trời nở Riêng có tình ta khép lại thôi

Đúng vào lúc muôn ngàn hoa xuân bừng nở thì một đời người khép lại với một khối tình thơ

Trang 26

Với cống hiến lớn lao cho văn chương, năm 2000, Nguyễn Bính được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

1.2.2 Hành trình một đời thơ

Nguyễn Bính bước chân vào con đường thi ca từ rất sớm, 13 tuổi người đã bén duyên thơ Suốt 35 năm “mắc duyên vào bút mực”, với một niềm đam mê sáng tạo thường trực và bất tận, Nguyễn Bính đã để lại cho đời những bài thơ giản dị và thân quen Khi các bạn thơ nhanh chóng tiếp thu những tư tưởng mới

mẻ của Tây phương, Nguyễn Bính vẫn trung thành với những gì mộc mạc của hồn thơ dân tộc Thơ ông thấm đẫm hồn quê, cảnh quê và tình quê Tất cả làm nên một Nguyễn Bính với hồn thơ chân quê đúng nghĩa

Người ta thường nói những uẩn ức tuổi thơ sẽ để lại những ám ảnh theo ta suốt cả cuộc đời Có lẽ tuổi thơ sớm gắn bó với cảnh sắc quê hương và những sinh hoạt văn hóa làng quê đã nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ của nhà thơ Vì thế trong thơ Nguyễn Bính luôn xuất hiện dày đặc những hình ảnh điển hình của quê hương Việt Nam, nông thôn vừa là chủ đề chính, vừa như một ám ảnh trong thơ Nguyễn Bính “Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lí, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công việc làm vất vả sương nắng Bởi đấy là cốt lõi của cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính Quê hương

là tất cả và cũng là nơi in đậm dấu vết cuộc đời mình.” [3, tr.18]

Viết về nông thôn nhưng những bài thơ quê “sáng như lụa” của Nguyễn Bính lại hướng tới cái phần thơ mộng và bình dị của những làng quê tồn tại không ít những vất vả đắng cay Những hình ảnh bình dị và thân thuộc như dậu mồng tơi, con đò, khung cửi, như lũy tre xanh, như cánh đồng thẳng cánh cò bay, như ao cá vườn nhà sum suê hoa trái lại đi vào thơ Nguyễn Bính làm nên những bức tranh quê rất đỗi thanh bình, đánh thức “người nhà quê” trong mỗi

Trang 27

chúng ta Có thể nói “tâm hồn Nguyễn Bính là một tâm hồn đằm thắm, bắt rễ từ những hoa đồng cỏ nội, những ao muống vạt cần, những mồ hôi nước mắt, những lam lũ thường nhật của quê hương gắn bó suốt đời mình dù có lúc ông phải lênh đênh khắp xứ người [ 3, tr.38]

Không chỉ miêu tả cảnh quê, Nguyễn Bính còn viết về những sinh hoạt văn hóa làng quê quen thuộc như những đêm hát hội, những hội chèo thâu đêm

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”

(Mưa xuân) Quê hương hiện lên trong thơ Nguyễn Bính vừa lạ mà vừa quen, vừa quen lại vừa lạ Không dùng câu chữ cầu kì, thơ Nguyễn Bính cho ta cái thân quen như những câu ca dao dân ca Tuy quê hương luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà văn nhà thơ nhưng chưa có nhà thơ nào gắn bó mật thiết với đề tài làng quê như Nguyễn Bính

Không chỉ là một nhà thơ chân quê, Nguyễn Bính còn tự nhận mình là “thi

sĩ của thương yêu” Đọc thơ Nguyễn Bính ta luôn cảm nhận được cái “Tình” thấm đượm trong đó Đó là cái tình của những chàng trai cô gái bén duyên nhau

và cùng trao lời hò hẹn, cùng chắp mối lương duyên Lại có cái tình dở dang của những tình cảm chưa một lần thổ lộ nên mãi mãi nuối tiếc và luyến lưu Ông nói

hộ trái tim trai gái đang yêu, hò hẹn, chia lìa Và cũng ẩn sâu trong những vần thơ là cái tình của một người con xa quê trong những năm “giang hồ một chuyến” gửi nhớ đến quê hương, gia đình Đặc biệt mỗi độ xuân về, thời khắc ai

ai cũng khao khát được quây quần sum họp bên gia đình lại đánh thức nỗi cô

đơn, nỗi sầu xa xứ trong lòng người con xa quê Xuân tha hương, Xuân vẫn tha

hương, Xuân lại tha hương là những bài thơ chứa chất những tâm sự ấy của nhà

Trang 28

thơ Người đọc dễ dàng cảm nhận được cái tha thiết chân tình trong mỗi bài thơ bởi nó được viết ra tự nhiên như những lời tâm sự thủ thỉ của chính tác giả

Tuy chiếm vị trí không lớn nhưng những bài thơ ủng hộ cách mạng sáng tác trong khoảng thời gian Nguyễn Bính tham gia kháng chiến đã để lại một dấu

ấn đặc biệt trong đời thơ của ông Từ một nhà thơ lãng mạn, Nguyễn Bính nhanh chóng trở thành nhà thơ kháng chiến nhẹ nhàng như một bước du ngoạn “Sau những câu thơ xao xuyến, nôn nao như xé nát lòng, như buồn đến chảy nước mắt, chảy cả máu trong tim, như nỗi buồn vô vọng của kẻ thất tình triền miên là những câu, những bài…vẫn là thơ tình, một thứ tình yêu mới: vẫn duyên dáng, vẫn ngọt ngào, vẫn đắm say nhưng đó là cái đắm say của một con người đã biết

và đang đi đến đích, cái đích phải trả giá: sẵn sàng chịu gian khổ, dám hi sinh để cứu nước, cứu nòi.” [3, tr.99]

Với sự nghiệp sáng tác đồ sộ cùng phong cách nghệ thuật độc đáo như thế, Nguyễn Bính xứng đáng là một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ Mới

Chương Hai: KHẢO SÁT CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH

VÀ ẨN DỤ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH

2.1 So sánh tu từ

2.1.1 Khảo sát so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính

So sánh tu từ là biện pháp nghệ thuật được các nhà văn, nhà thơ sử dụng một cách phổ biến trong các sáng tác của mình Nhà thơ Nguyễn Bính cũng không phải là ngoại lệ, so sánh nghệ thuật được ông sử dụng với tần số rất cao trong những bài thơ của mình Qua khảo sát người viết đã thống kê được tần số Nguyễn Bính sử dụng so sánh tu từ trong bảng dưới đây

Bảng thống kê tần số xuất hiện so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính

Trang 29

Thơ Nguyễn Bính

Số lượng bài trong tập

Số bài sử dụng so sánh

Người con gái ở lầu hoa

Mười hai bến nước

sánh nhưng đậm đặc nhất là ở tập Lỡ bước sang ngang và Mười hai bến nước Đặc biệt trong một số bài thơ của Nguyễn Bính như bài Tình tôi, Hai lòng… so

sánh được sử dụng hầu như xuyên suốt toàn bộ bài thơ

Trang 30

Lòng tôi rối những tơ đàn, Cao vời những ước đầy tràn những mơ

Lòng cô chẳng có dây tơ, Ước sao đến thấp mà mơ đến nghèo!

Hồn tôi giếng ngọt trong veo, Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh

Hồn cô cát bụi kinh thành,

Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe

(Tình tôi)

Trong số 95 lần sử dụng biện pháp so sánh tu từ, các dạng thức so sánh nghệ thuật được Nguyễn Bính vận dụng khá linh hoạt

Bảng thống kê các dạng so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính

Các dạng so sánh tu từ

Số bài sử dụng/tổng số bài

Trong bốn dạng thức so sánh chúng tôi đã nêu ra ở chương Một, Nguyễn

Bính sử dụng ba dạng thức trong sánh là A như B, A là B và A//B Còn dạng so

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN