1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội xâm phạm sở hữu trong quốc triều hình luật trong sự so sánh với bộ luật hình sự việt nam năm 1999

75 519 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn đối với nhóm tội này trong sự so sánh đánh giá giữa pháp luật hình sự phong kiến, một bộ lu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN THỊ HỒNG HIÊN

C¸C TéI X¢M PH¹M Së H÷U TRONG QUèC TRIÒU H×NH LUËT TRONG Sù SO S¸NH VíI Bé LUËT H×NH Sù VIÖT NAM N¡M 1999

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG VĂN HÙNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các ví dụ, trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

NGƯỜI CAM ĐOAN

ĐOÀN THỊ HỒNG HIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƯƠNG ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 8

1.1 Các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 8

1.1.1 Bối cảnh ra đời Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 8

1.1.2 Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 12

1.1.3 Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 14

1.2 Các quy đinh về tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật 18

1.2.1 Bối cảnh ra đời Quốc trình hình luật 18

1.2.2 Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Quốc triều hình luật 20

1.2.3 Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu theo Quốc triều hình luật 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Chương 2: SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƯƠNG ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 32

Trang 4

2.1 Chính sách hình sự 32

2.1.1 Nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc quân chủ chuyên chế 32

2.1.2 Nguyên tắc pháp chế 34

2.1.3 Nguyên tắc nhân đạo 37

2.2 So sánh về kỹ thuật lập pháp 40

2.3 So sánh về nội dung 47

2.3.1 Tội phạm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999 và Quốc triều hình luật 47

3.1.2 Hình phạt và các biện pháp khác áp dụng đối với tội phạm 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các văn bản pháp luật cổ Việt Nam thực sự là những kho báu chứa đựng những giá trị văn minh của đất nước và con người Việt Nam Một trong những bộ luật quan trọng thuộc pháp luật cổ Việt Nam là Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức Những kho báu đã và đang được khai thác

từ các góc độ khác nhau và phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau Quốc triều hình luật được coi là bộ luật quan trọng nhất, chính thống nhất của triều Lê và trong lịch sử pháp luật Việt Nam, nó được đánh giá là

“một thành tựu có giá trị đặc biệt” [33, tr.17], “không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó, mà còn đối với cả Bộ luật được biên soạn vào đầu thế kỷ thứ XIX: Hoàng Việt luật lê” [33, tr.17]

Việc nghiên cứu bộ luật có giá trị như vậy sẽ là đóng góp đáng kể cho việc khai thác và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các truyền thống pháp luật của nhà nước Việt Nam cổ xưa Cao hơn nữa đây còn là việc làm thiết thực để hưởng ứng việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng là

“Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nên văn

hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu

đó vẫn chưa nhiều và cũng chưa đánh giá được hết các giá trị tiềm ẩn trong các bộ luật cổ xưa Đặc biệt là hiện nay, chưa hề có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nào theo hướng nghiên cứu sự kế thừa và phát huy của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành từ Quốc triều hình luật theo từng các nhóm tội phạm cụ thể Việc nghiên cứu chuyên sâu như vậy có ý nghĩa quan trọng nhằm rút ra được các kết luận mang ý nghĩa bài học lịch sử nhằm tiếp thu những tinh túy, tư tưởng tiến bộ của luật cũ và loại bỏ những tồn tại mà luật

cũ đã mắc phải; đồng thời thấy được giá trị văn hóa dân tộc ta, truyền thống pháp luật của nhà nước Việt Nam cổ xưa của chúng ta

Trang 7

Trong các nhóm tội phạm cụ thể, nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu được coi là nhóm tội phổ biến và có số lượng cá nhân phạm tội nhiều nhất không chỉ trong xã hội phong kiến mà còn xã hội nước ta hiện nay Số vụ án

về các tội xâm phạm sở hữu được khởi tố, điều tra hàng năm luôn đứng đầu trong số các nhóm tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 Tình hình các tội xâm phạm sở hữu hàng năm có xu hướng tăng, nhất là cướp, cướp giật, trộm cắp Đối tượng thực hiện loại tội phạm này rất đa dạng Ngoài đối tượng tại chỗ, không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định thì thời gian gần đây còn xuất hiện nhiều đối tượng từ các địa phương khác liên kết gây án và đặc biệt tội phạm xảy ra trong học sinh, sinh viên, đối tượng phạm tội là người dân tộc thiểu số Trong vài năm gần đây đã xảy ra hàng loạt các vụ lừa đảo hoặc lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các vụ vỡ

nợ với số tiền lên tới hàng trăm tỷ đồng, liên quan đến nhiều thành phần, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến tình hình an ninh, kinh tế và trật tự an toàn

xã hội trên địa bàn nhiều tỉnh, thành trong thời gian dài

Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận trong Quốc triều hình luật về các tội xâm phạm sở hữu là một nhu cầu thực tế để

chúng tôi lực chọn đề tài "Các tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật trong sự so sánh với Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999" làm luận văn

thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu,

so sánh và rút ra được các bài học lịch sử từ Quốc triều hình luật vào trong bộ luật hình sự hình sự Việt Nam hiện hành, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc tạp chí chuyên ngành bàn về các tội cụ thể liên quan đến tội phạm xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào

Trang 8

nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về các tội phạm xâm phạm sở hữu của Quốc triều hình luật trong sự so sánh với Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

Trong lĩnh vực nghiên cứu, ở mức độ khái quát, nhóm tội xâm phạm sở

hữu được đề cập trong các nghiên cứu khoa học như: Pháp luật hình sự phong

kiến Việt Nam Những đặc điểm cơ bản và vấn đề lĩnh hội một số giá trị pháp luật truyền thống Luận văn thạc sỹ luật học, 2012, tác giả: Vũ Thị Quỳnh; Những giá trị đương đại của Quốc triều hình luật, Luận văn thạc sỹ luật,

2008, tác giả Lương Văn Tuấn; Bộ luật Hồng Đức Nội dung cơ bản và giá trị

đương đại, Luận văn thạc sỹ, 2014, tác giả Đặng Thị Hải Hằng

Bên cạnh đó, về giáo trình, sách chuyên khảo có các công trình sau:

Quốc triều hình luật, lịch sử hình thành, nội dung và giá trị do Tiến sĩ Lê Thị

Sơn làm chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004; Giá trị lịch sử và tính

đương đại của một bộ luật: Kỷ niệm 425 năm ra đời của Quốc triều hình luật,

tác giả Bùi Xuân Đính, năm 2008

Ngoài ra, một số tác giả cũng được công bố những bài báo khoa học có

đề cập đến các khía cạnh khái quát hoặc cụ thể của nhóm tội xâm phạm sở

hữu như: Khái niệm tội phạm So sánh giữa Quốc triều hình luật và Bộ luật

hình sự hiện nay, Nguyễn Ngọc Hòa, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm

2005; Tội trộm cắp tài sản trong Quốc triều hình luật, TS.Hoàng Văn Hùng, tạp chí Luật học, số 05 năm 2006; Luật hình sự Việt Nam thế kỷ XV, TS Lê

Cảm, tạp chí Dân chủ và pháp luật Bộ tư pháp, số 8 năm 1999

Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu đó vẫn chưa nhiều và cũng chưa đánh giá được hết các giá trị tiềm ẩn trong các bộ luật cổ xưa Đặc biệt là chưa có những kết quả nghiên cứu cụ thể đối với từng nhóm tội cụ thể như nhóm tội xâm phạm sở hữu hoặc các nhóm tội khác Những nghiên cứu trên mới là những nghiên cứu chung hoặc nghiên cứu chỉ một tội cụ thể trong một

Trang 9

nhóm tội chứ chưa nghiên cứu một cách độc lập đầy đủ và toàn diện, có hệ thống cho từng nhóm tội Tình hình các tội xâm phạm sở hữu hàng năm có xu hướng tăng, nhất là cướp, cướp giật, trộm cắp các quy định hiện hành của

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 còn thể hiện những bất cập gây khó khăn khi giải quyết vụ án đối với các cơ quan tiến hành tố tụng Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn đối với nhóm tội này trong sự so sánh đánh giá giữa pháp luật hình sự phong kiến, một bộ luật được coi là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của các triều đại và Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành không chỉ đóng góp đáng kể cho việc khai thác và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, truyền thống pháp luật của nhà nước Việt Nam cổ xưa mà còn có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu hiện nay thông qua việc rút ra các bài học lịch sử

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

ra được những kết luận mang ý nghĩa bài học lịch sử cho việc xây dựng pháp luật hình sự hiện hành đối với nhóm tội này nói riêng và các nhóm tội khác nói chung; đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 10

- Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển trong các quy định liên quan đến nhóm tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay và đưa ra những nhận xét, đánh giá;

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong

đó làm rõ khái niệm, đặc điểm của nhóm tội này trong pháp luật hình sự thời

Lê, sự khác biệt cơ bản so với pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành;

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hình sự thời Lê trong Quốc triều hình luật, rút ra được những kết luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn khi xây dựng và hoàn thiện các quy định về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, tìm ra những mặt đạt được và những hạn chế tồn tại;

- Đưa ra một số kết luận mang ý nghĩa lịch sử góp phần bổ sung, hoàn thiện quy định về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam

và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, không làm oan người vô tội

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của nhóm tội xâm phạm sở hữu được quy định từ pháp luật hình sự thời Lê, Quốc triều hình luật đến Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, các vấn đề pháp lý liên quan đến nhóm tội này, kinh nghiệm lịch sử được rút ra từ Quốc triều hình luật để xây dựng pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay ở các góc độ lý luận cũng như xây dựng pháp luật hình sự nước nhà trong giai đoạn 2010-2020 theo đường lối chính sách xây dựng

và phát triển quốc gia của Đảng và Nhà nước

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các yêu cầu của đề tài, Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 11

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin

về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước

và pháp luật, quan điểm của Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách Hình sự, về cải cách tư pháp trong các Nghị quyết Đại hội Đảng, các Nghị Quyết về cải cách tư pháp của Bộ chính trị…

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

(i) Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp lịch sử được sử dụng theo chiều dọc của các chương khi nghiên cứu, so sánh những vấn đề lý luận liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu trong hai bộ luật;

(ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp bình luận, phương pháp đối chiếu cũng được sử dụng tại Chương 1 và chương 2 khi tìm hiểu về quy định của Quốc triều hình luật và Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội xâm phạm sở hữu;

(iii) Phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn giải, phương pháp dự báo được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu định hướng và rút ra các bài học lịch sử về các tội xâm phạm sở hữu đối với Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

5 Những điểm mới đóng góp của luận văn

- Đề tài là công trình chuyên khảo có hệ thống ở mức độ luận văn thạc

sĩ luật học, nghiên cứu làm rõ những bài học kinh nghiệm mang tính lịch sử

về việc xây dựng các quy định liên quan đến nhóm tội xâm phạm sở hữu trong mối tương quan phát huy những di sản văn hóa dân tộc, các truyền thống pháp luật của nhà nước Việt Nam cổ xưa

- Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập,

Trang 12

đồng thời cung cấp cho các học giả khác những kiến thức chuyên sâu hơn khi

so sánh các bộ luật liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trên thực tế

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 2 chương:

- Chương 1 Các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình

sự Việt Nam năm 1999 và các quy định tương ứng trong Quốc triều hình luật;

- Chương 2 So sánh các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Bộ

luật hình sự Việt Nam năm 1999 và các quy định tương ứng trong Quốc triều hình luật

Trong quá trình thực hiện bản luận văn này, em đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình của thầy giáo Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng và các thầy cô giáo giảng

dạy lớp cao học luật hình sự và tố tụng hình sự K19 Khoa luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, nhưng do thời gian và khả năng có hạn; nên bản luận văn này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô

và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trang 13

Chương 1

CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƯƠNG

ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

1.1 Các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

1.1.1 Bối cảnh ra đời Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 là bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Trong suốt giai đoạn thi hành thực tế 15 năm (1985-1999), bộ luật đã khẳng định được vai trò đặc biệt tích cực trong đấu tranh quyết liệt phòng chống tội phạm ở nước ta suốt thời kỳ lịch sử lâu dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đường xã hội chủ nghĩa, xây dựng

và bảo vệ chính quyền nhân dân với hai cuộc kháng chiến lâu dài chống đế quốc xâm lược và đấu tranh chống các lực lượng thù địch trong nước, xây dựng cuộc sống mới

Sự ra đời của BLHS năm 1985 cũng đánh dấu bước phát triển cao của pháp luật hình sự nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung Từ những văn bản có tính tản mạn, riêng lẻ về từng vấn đề, từng lĩnh vực cụ thể

mà tất cả đều là dưới luật, cao nhất chỉ có 5 pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành vào những năm 1967-1970 và những năm đầu của thập kỷ

80, BLHS năm 1985 là văn bản pháp luật Việt Nam đầu tiên được thể hiện dưới hình thức Bộ luật là hình thức lập pháp cao của thế giới nói chung

Tuy nhiên, do được xây dựng và ban hành trong bối cảnh tình hình kinh

tế, xã hội trong nước cũng như tình hình quốc tế có nhiều điểm khác cơ bản so với giai đoạn hiện nay, mặc dù đã qua bốn lần sửa đổi bổ sung, nhiều quy định

Trang 14

của Bộ luật hình sự đã trở nên bất cập, không đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới Đồng thời, kết quả tổng kết thi hành pháp luật hình sự cũng cho thấy, một số quy định của BLHS năm 1985 phản ánh điều kiện, hoàn cảnh lúc bấy giờ đã bộc lộ những bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới

Bộ luật hình sự của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2000

đã ra đời nhằm thay thế, khắc phục những hạn chế của BLHS năm 1985

Nhìn chung, so với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã được sửa đổi một cách toàn diện, thể hiện chính sách hình sự mới của Nhà nước ta đối với tội phạm nói chung và nhóm tội xâm phạm sở hữu nói riêng So sánh hai

bộ luật, có thể rút ra một số điểm mới giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm

1985 như sau:

Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã nhập hai chương IV và VI của Bộ luật

hình sự năm 1985 vào thành một chương (chương XIV) với 13 tội danh Việc quy định các tội xâm phạm sở hữu XHCN và sở hữu riêng của công dân vào một chương tội phạm với những khung hình phạt giống nhau phù hợp với chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và các hình thức

sở hữu của nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tham nhũng một số tội phạm được chuyển sang chương khác, đó là Tội tham ô tài sản XHCN (Điều 133 BLHS) và Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 156 BLHS) được chuyển sang chương XXI (các tội phạm về chức vụ, các Điều 278 và Điều

280 BLHS) Các tội xâm phạm sở hữu còn lại về cơ bản được quy định giống như các tội phạm qui định tại chương IV và VI Bộ luật hình sự 1985,

Trang 15

tuy nhiên Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 137a, BLHS 1985) được gộp vào với các Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139, BLHS 1999) và Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142, BLHS 1999) Ngược lại, có một số tội phạm được tách ra quy định thành hai tội phạm, đó là: Tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 131

và 154 BLHS 1985) được quy định thành hai tội ở hai điều luật khác nhau, Tội cướp giật tài sản (Điều 136, BLHS 1999) và Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137, BLHS 1999)

Thứ hai, về hình phạt, điểm khác biệt so với Bộ luật hình sự năm 1985

là việc định lượng tài sản bị xâm hại để phân biệt tội phạm với vi phạm, mức tối thiểu được quy định giá trị tài sản bị thiệt hại là 500.000 đồng (sau này nâng lên 2.000.000 đồng) sẽ bị truy cứu TNHS Ngoài ra có thể truy cứu TNHS đối với người chiếm đoạt tài sản giá trị dưới 500.000 đồng trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án mà còn vi phạm Mức tối thiểu tài sản bị thiệt hại này không quy định đối với các Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản vì những tội phạm này ngoài việc xâm hại đến sở hữu còn xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác Riêng đối với các tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì thiệt hại

từ 50.000.000 đồng trở lên mới bị truy cứu TNHS

Thứ ba, là đa số các tội xâm phạm sở hữu được quy định thành bốn

khung hình phạt thay vì có ba khung như trong quy định của BLHS năm 1985

và mức thiệt hại về tài sản là căn cứ để phân chia thành các khung hình phạt Thông thường, thiệt hại về tài sản được chia thành các mức sau đây để quy định khung hình phạt: từ 500.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; từ

Trang 16

50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; từ 20.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng và từ 500.000.000 đồng trở lên

Thứ tư, đối với hình phạt tử hình chỉ còn được giữ lại ở hai tội: tội cướp

tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, so với BLHS 1985 đã xóa bỏ loại hình phạt này ở hai tội phạm đó là: tội trộm cắp tài sản và tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản Hình phạt chung thân còn được quy định ở hai tội phạm: tội cướp giật và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Thứ năm, hình phạt tiền được quy định đa số với các tội xâm phạm sở

hữu, phạt tiền là hình phạt chính được quy định trong chế tài lựa chọn đối với tội sử dụng trái phép tài sản (điều 142) Các tội chiếm đoạt, tội hủy hoại hoặc

cố ý làm hư hỏng tài sản, phạt tiền được quy định là hình phạt bổ sung Mức phạt tiền được quy định tùy theo tính chất của từng tội phạm cụ thể với mức tối thiểu là 5.000.000 đồng và cao nhất là 100.000.000 đồng

Việc quy định của BLHS 1999 về các tội xâm phạm sở hữu thể hiện chính sách hình sự nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay trong việc trừng trị các hành vi xâm hại tới sở hữu XHCN và sở hữu, bảo vệ nghiêm ngặt tài sản XHCN, tài sản công dân, trừng trị kết hợp với khoan hồng, lấy việc giáo dục cải tạo người phạm tội là mục đích chính, chủ yếu, lâu dài Những điểm khác biệt so với BLHS năm 1985 trong chính sách hình

sự đối với các tội xâm phạm sở hữu phản ánh sự đổi mới, phát triển của xã hội ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay: từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng XHCN, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền của công dân, do dân,

vì dân và đang trên đà hội nhập khu vực và quốc tế Việc quy định tội xâm phạm sở hữu vào một chương trong BLHS đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng

Trang 17

giữa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế hiện nay Tuy nhiên, vai trò chủ đạo của sở hữu XHCN trong cơ chế thị trường vẫn được đề cao và được phản ánh trong BLHS bằng việc quy định hành vi xâm hại sở hữu XHCN là tình tiết tăng nặng TNHS tại điều 48 Nguyên tắc nhân đạo XHCN, bản chất ưu việt của chế độ ta trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm được thể hiện thông qua việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội phạm và người phạm tội Ngoài việc quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng khi phạm tội hoặc khi xét xử thì có hai tội xâm phạm sở hữu được loại bỏ hình phạt tử hình (tội trộm cắp tài sản và tội cố ý hoặc làm

hư hỏng tài sản) [8, tr.26]

BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã sửa đổi bổ sung một số điều trong nhóm tội xâm phạm sở hữu như sau: Loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 – cùng với 7 tội danh khác cũng được loại bỏ án tử hình); Nâng mức định lượng về giá trị tiền chiếm đoạt ở 5 trong 13 tội danh được quy định trong nhóm tội xâm phạm sở hữu Cụ thể nâng mức định lượng từ 500.000 đồng lên 2.000.000 đồng đối với các tội danh: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139); Trộm cắp tài sản (điều 138); Công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 136); Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác (điều 143); riêng tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140) tăng mức định lượng từ 1.000.000 đồng lên 4.000.000 đồng

1.1.2 Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Nhìn chung, khái niệm của các nhà

Trang 18

nghiên cứu đưa ra có thể khác nhau về câu từ nhưng quan điểm thì tương đối giống nhau Một số khái niệm điển hình:

Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội

cho rằng: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại

hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” [31, tr.5]

Quan điểm của giáo trình luật hình sự Việt Nam của khoa luật – Trường

Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của

người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền

sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân” [1, tr.217]

Một quan niệm khác cũng tương đồng với hai quan điểm trên là quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế, Thạc sỹ Luật học - Tòa án nhân dân tối cao

trong cuốn Bình luận bộ luật hình sự - phần các tội phạm: “Các tội xâm phạm sở

hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân” [19, tr.4]

Từ các khái niệm được đưa ra trên, tác giả có thể rút ra được một số nội dung chung mà các quan niệm đã dựa vào để xây dựng lên khái niệm khoa học của mình, cụ thể:

Thứ nhất, các tội xâm phạm sở hữu trước hết là hành vi nguy hiểm cho

xã hội của cá nhân nhằm gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể đến các quan hệ tài sản và các quan hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ

Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm đến quan hệ sở hữu của

người khác phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hành vi được thực hiện một cách có lỗi (lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý)

Thứ ba, một đặc điểm khác mà các khái niệm trên chưa đề cập đến là

Trang 19

tính được quy định trong văn bản luật hình sự của nhóm tội xâm phạm sở hữu Việc nhà làm luật quy định chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự mới là tội phạm là nhằm gạt bỏ việc áp dụng nguyên tắc tương tự Chỉ có Bộ luật hình sự mới được quy định tội phạm, ngoài Bộ luật hình sự, không có văn bản nào được coi là văn bản chính thống

để quy định về tội phạm

Như vậy, các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định bởi luật hình sự, được thực hiện do lỗi cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về quan hệ sở hữu về tài sản của người khác

1.1.3 Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về nhóm tội xâm phạm sở hữu theo BLHS năm 1999, luận văn rút ra một số đặc điểm nổi bật về nhóm tội này như sau:

 Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 được

quy định rất rõ ràng

Các tội xâm phạm sở hữu có khách thể là quan hệ sở hữu về tài sản, đó

là hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại gây thiệt hại đến các quyền về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản được pháp luật bảo vệ Như vậy, chỉ cấu thành các tội xâm phạm sở hữu khi có hành vi đã hoặc sẽ gây ra thiệt hiện hại cho quan hệ sở hữu về tài sản

Thông thường, khách thể loại và khách thể trực tiếp của tội phạm khác nhau nhưng ở các tội xâm phạm sở hữu thì quyền sở hữu về tài sản vừa là khách thể loại đồng thời cũng là khách thể trực tiếp của tội phạm

Trong một số trường hợp cá biệt, một số tội xâm phạm sở hữu ngoài

Trang 20

quan hệ sở hữu, hành vi phạm tội còn xâm hại tới quan hệ nhân thân như: Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134)

Đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu trước tiên là tài sản – với những đặc điểm riêng so với tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm khác [1, tr.220] Những đặc điểm đó bao gồm:

Tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị sử dụng: tiền luôn luôn có thể

là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu; giấy trị giá được bằng tiền có thể là phương tiện phạm tội giúp người phạm tội có thể xâm phạm sở hữu Trong một số trường hợp, giấy tờ này có thể là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu; quyền về tài sản nói chung không thể là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Nhưng những giấy tờ thể hiện quyền

về tài sản như hóa đơn lĩnh hàng… có thể là đối tượng của nhóm tội này trong những trường hợp nhất định

Tài sản không có giá trị hoặc giá trị sử dụng sẽ không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu như: sinh vật dưới biển, trên sông, thú trong rừng… Nếu có hành vi xâm hại đến những tài sản trên thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu TNHS về các nhóm tội phạm khác

Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu phải có chủ sở hữu

cụ thể Vật khi không còn là tài sản vì đã bị chủ tài sản hủy bỏ cũng sẽ không còn là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Ví dụ: Gia súc đã bị chôn do mắc bệnh

Tài sản về nguyên tắc, chỉ là đối tượng của những hành vi phạm tội do người không phải là chủ sở hữu thực hiện

 Trong mặt khách quan của nhóm tội xâm phạm sở hữu, một số tội có cấu thành hình thức và một số tội có cấu thành vật chất

Trang 21

Hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu gây ra chủ yếu là thiệt hại về tài sản Có thể nói, thiệt hại về tài sản là thước đo để đánh giá tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong một số tội, giá trị tài sản bị thiệt hại là căn cứ bắt buộc để phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm (tội phạm có cấu thành vật chất) Tuy nhiên, ở một số tội khác, mặc dù hành

vi vi phạm đã gây ra thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu nhưng đó không phải

là dấu hiệu bắt buộc để làm căn cứ truy cứu TNHS cho người thực hiện hành

vi (tội phạm có cấu thành hình thức)

Đối với các tội xâm phạm sở hữu có cấu thành hình thức thì mặt khách quan chỉ yêu cầu bắt buộc đối với dấu hiệu hành vi Ví dụ: điều 133 BLHS quy

định về tội cướp tài sản Theo đó, chủ thể phạm tội chỉ cần có hành vi “vũ lực, đe

doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” [21] thì

đã đủ yếu tố về mặt khách quan để truy cứu TNHS về tội cướp tài sản

Các tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có cấu thành hình thức bao gồm các tội phạm cụ thể được quy định tại điều 133, điều 134, điều 135 BLHS

Đối với các tội xâm phạm sở hữu có cấu thành vật chất thì ngoài dấu hiệu hành vi, mặt khách quan yêu cầu bắt buộc đối với cả hậu quả gây ra từ hành vi đó Ví dụ như tại điều 138 BLHS quy định về tội trộm cắp tài sản Theo đó, hành vi nguy hiểm cho xã hội đối với tội danh này là “hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản” [19, tr.118] mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên thì chủ thể thực hiện hành vi đó mới có thể bị truy cứu TNHS về tội trộm cắp tài sản

Các tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có cấu thành vật chất bao gồm: các tội phạm cụ thể được quy định tại điều 136, điều 137, điều 138, điều

139, điều 140, điều 141, điều 142, điều 143, điều 144, điều 145 BLHS

 Chủ thể của hầu hết các tội xâm phạm sở hữu là chủ thể thường

Trang 22

Những người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của nhiều tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu

Trong các tội xâm phạm sở hữu có một tội đòi hỏi chủ thể ngoài những dấu hiệu của chủ thể thường phải có thêm đặc điểm đặc biệt khác (chủ thể đặc biệt) Đó là đặc điểm có trách nhiệm liên quan đến tài sản của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

 Lỗi (mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu) chủ yếu là lỗi cố ý

Đa số các tội xâm phạm sở hữu là các tội được thực hiện do cố ý Trong

số 13 tội quy định trong chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999, thì có tới 11 tội được thực hiện do cố ý, đó là các tội: Cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; chiếm giữ trái phép tài sản; sử dụng trái phép tài sản và huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Chỉ có hai tội được thực hiện do vô ý, đó là các tội: thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Đặc điểm nổi bật của các tội xâm phạm sở hữu là có tính chất chiếm đoạt Chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 8 tội có tính chất chiếm đoạt bao gồm: Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tội cưỡng đoạt tài sản; Tội cướp giật tài sản; Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; Tội trộm cắp tài sản; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản Các tội còn lại không nhất thiết cần có tính chất chiếm đoạt

 Về hình phạt đối với các nhóm tội xâm phạm sở hữu

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định trong tất cả các tội đều nhẹ hơn hình phạt trong các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và nặng hơn hình phạt trong các tội xâm phạm tài sản của công dân quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 Hình phạt bổ sung được quy định ngay trong cùng một điều luật

Trang 23

Theo đó, BLHS hiện hành quy định nhóm tội xâm phạm sở hữu chỉ còn lưu hành hình phạt tử hình đối với tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS); hình phạt

tù chung thân đối với 7 tội danh tại các điều 133, điều 134, điều 136, điều 137, điều 138, điều 139 và điều 143 BLHS; hình phạt của các tội danh còn lại đều là hình phạt tù có thời hạn, mức tù có thời hạn cao nhất là 20 năm tù giam

So sánh nhóm tội xâm phạm sở hữu với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XI BLHS) thì hình phạt tử hình còn áp dụng với 7 trong tổng số 14 tội danh xâm phạm an ninh quốc gia; hình phạt chung thân áp dụng với 10 trong 14 tội danh xâm phạm an ninh quốc gia

So sánh nhóm tội xâm phạm sở hữu với nhóm tội xâm phạm tính mạng, sứa khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Chương XII BLHS) cho thấy nhóm tội được quy định tại chương XII BLHS cũng còn áp dụng hình phạt tử hình đối với 2 tội danh và hình phạt tù chung thân đối với 6 tội danh

Như vậy, có thể rút ra kết luận là xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội thì nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất nguy hiểm cho xã hội ít hơn so với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia và nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

1.2 Các quy đinh về tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật

1.2.1 Bối cảnh ra đời Quốc trình hình luật

Sự phát triển cao độ của chế độ phong kiến tập quyền thời Lê sơ đã

đề ra nhiều yêu cầu một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự

xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, để bảo vệ và bênh vực nền chuyên chính của giai cấp phong kiến Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Quốc Triều

Trang 24

Hình Luật (tức Bộ luật Hồng Đức) đã ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển sang giai đoạn mới của chế độ phong kiến Việt Nam Quốc triều hình luật là bộ luật được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài đánh giá rất cao về phương diện trong lịch sử phong kiến Việt Nam Quốc triều hình luật đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từ thời Lê Thái Tổ đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành

Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lê Lợi đã cùng các đại thần biên soạn một số luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất của thôn xã Những loại hình phạt, những lễ ân giảm trong Quốc triều hình luật (49 điều thuộc chương Danh lệ), phần lớn đều được quy định chặt chẽ trong năm Thuận Thiên (1428-1433) và được thực hiện suốt trong thời Lê sơ Tuy vậy,

do đây mới chỉ là bước đầu xây dựng nên pháp luật thời Thái Tổ còn có nhiều thiếu sót, nhất là về phương diện tư hữu tài sản Những thiếu sót ấy sẽ được các triều vua sau bổ sung thêm

Trong thời Thái Tông (1434-1442), một số nguyên tắc xét xử các vụ kiện cáo về một số điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hành động giao thiệp với người nước ngoài được xây dựng thêm

Đến năm 1449, Nhân Tông (1442-1459) ban hành 14 điều luật khẳng định về bảo vệ quyền tư hữu ruộng đất, quy định nguyên tắc xét xử những hành động xâm phạm đến quyền tư hữu ruộng đất Theo nhà sử học Phan Huy

Chú thì “từ đó về sau các vụ tranh kiện về phân chia tài sản trong dân gian mới

có tiêu chuẩn” (Hình luật chí trong Lịch triều hiến chương loại chí)

Sang thời Thánh Tông (1460-1497), triều đình liên tiếp ban bố nhiều điều lệ về kế thừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ty trật tự về đạo đức phong kiến, về việc trấn áp mọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống

trị của giai cấp phong kiến Hai bộ luật Hồng Đức Thiện Chính Thư và Thiên

Trang 25

Nam Dư Hạ Tập còn ghi chép lại nhiều điều luật ban bố về thi hành trong thời

Thánh Tông, theo thứ tự từng năm Riêng trong bộ luật Thiên Nam Dư Hạ Tập, còn ghi lại 40 điều luật thi hành trong năm Quang Thuận (1460-1469) và 61 điều trong năm Hồng Đức (1470-1497)

Năm 1483, vua Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê Sơ, tập hợp lại, xây dựng thành một bộ pháp điển hoàn chỉnh Đó là Quốc triều hình luật, mà người ta thường gọi là Bộ Luật Hồng Đức, để đề cao vai trò xây dựng của vua

Lê Thánh Tông Thực ra bộ luật đó không phải là do vua Lê Thánh Tông sáng tạo ra, cũng không phải được xây dựng riêng trong những năm Hồng Đức (1470-1497), mà là sản phẩm của một thời kỳ phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, trong cả thời Lê Sơ Công lao của triều vua Lê Thánh Tông là đã san định các luật lệ của những triều vua trước để hoàn thành bước xây dựng bộ pháp điển ấy

Quốc triều hình luật, sau khi được xây dựng đã trở thành pháp luật của thời Lê Sơ và của các triều đại sau cho đến thế kỷ XVIII Các triều đại phong kiến thời Lê Trung Hưng (1533-1789) sau này vẫn lấy Quốc triều hình luật làm quy tắc mẫu mực, chỉ sửa đổi, bổ sung thêm một số điều khoản phụ cho thích hợp với hoàn cảnh xã hội đương thời

Quốc triều hình luật là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch

sử Nhà nước phong kiến Việt Nam Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời,

có những điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp lý hiện đại

1.2.2 Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Quốc triều hình luật

Nhóm tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật được quy định chủ yếu tại chương Đạo tặc, thuộc quyển 4 bao gồm 54 điều từ điều 411 đến

Trang 26

điều 464 Trong số những điều luật này, không có điều luật định nghĩa về khái niệm tội phạm xâm phạm sở hữu Qua các điều luật cụ thể có thể khái quát quan niệm của nhà làm luật về tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật như sau:

Quốc triều hình luật không có điều luật khẳng định dấu hiệu nội dung của tội xâm phạm sở hữu Nhưng các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong bộ luật thể hiện, tội phạm xâm phạm sở hữu là hành vi lấy tài sản của người khác, xâm phạm trước hết đến quyền sở hữu tài sản của nhà vua và hoàng cung, xâm phạm trật tự kỷ cương, đạo đức xã hội theo quan điểm nho giáo…

Đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội ở một mức độ khác nhau Quốc triều hình luật không phân biệt mức độ của tính nguy hiểm của tội phạm hiện đại chỉ là vi phạm đạo đức hoặc vi phạm hành chính, kỷ luật…Theo Quốc triều hình luật, tất cả các hành vi nói trên đều bị coi là tội phạm, không phụ thuộc vào mức độ của tính nguy hiểm Như vậy, khái niệm tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật rộng hơn nhiều so với khái niệm tội phạm này trong luật hình sự hiện đại Theo đó, tất cả những hành vi bị xử lý và phải chịu trách nhiệm đều bị coi là tội phạm Nhiều hành vi mà theo luật hiện đại chỉ có thể là vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật khác đã được quy định trong

Quốc triều hình luật là tội phạm Ví dụ: Điều 440 quy định:“ Con cháu còn ít

tuổi cùng ở với bậc tôn trưởng, mà đưa người về ăn trộm của nhà thì xử hơn tội

ăn trộm thường một bậc…”; điều 457 quy định: “Các con còn ở nhà với cha

mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm, ăn cướp thì chả bị xử tội đồ…” Trong

luật hình sự hiện đại, chỉ hành vi của con người và hành vi đó phải có mức nguy hiểm đáng kể nhất định mới bị coi là tội phạm và phải chịu TNHS Những hành

vi khác không bị coi là tội phạm mà chỉ là hành vi vi phạm pháp luật khác hoặc

là hành vi vi phạm đạo đức

Trang 27

1.2.3 Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu theo Quốc triều hình luật

Các tội xâm phạm sở hữu được quy định sau các tội xâm phạm an ninh

quốc gia, tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người như các tội mưu làm phản, tội mưu đại nghịch, tội phản nước theo giặc, tội giết người, tội làm người bị thương, tội hiếp dâm Như vậy, theo cách sắp xếp này tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của nhóm tội xâm phạm sở hữu chỉ thấp hơn các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người

Do nhóm tội xâm phạm sở hữu được quy định trong Quốc triều hình luật đơn thuần chỉ là hành vi lấy tài sản của người khác, nên số tội danh thuộc nhóm này trong Quốc triều hình luật không đa dạng, cụ thể như pháp luật hình sự hiện đại Tội danh chủ yếu được quy định trong Quốc triều hình luật là tội trộm cắp tài sản (29 điều): tội lấy trộm ấn, xe, kiệu, đồ ngự dụng của vua (điều 430), tội lấy trộm những đồ thờ trong lăng, miếu (điều 431), tội lấy trộm những đồ cúng thần, phật (điều 432), tội lấy trộm những đồ trong cung (điều 434), tội lột lấy quần áo, đồ vật của trẻ em, người điên, người say (điều 345), tội lấy trộm đồ vật của sứ thần ngoại quốc (điều 438), tội đào và lấy trộm đồ vật nơi mồ mả (điều 442), tội lấy trộm trâu, ngựa, thuyền bè (điều 444), tội bắt trộm cá tại đầm ao (điều 445), tôi bắt trộm gà, lợn, lấy trộm lúa (điều 446) và tội lấy trộm văn tự cầm cố (điều 448) ; tội cướp tài sản cũng được Quốc triều hình luật quy định tương đối rõ ràng, cụ thể qua 8 điều: điều 426, điều 428, điều

451, điều 452, điều 454, điều 456, điều 457 Ví dụ điều 454 quy định:

Những kẻ cùng mưu với nhau đi ăn cướp nhưng khi đi thì lại không đi, người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu ở nhà cùng lấy phần chia thì cũng xử tội như là có đi ăn cướp; nếu không lấy phần chia thì xử lưu đi châu gần Trước kia vẫn từng đi ăn cướp mà khi

ấy không đi, dù không lấy phần cũng xử tội như đi ăn cướp

Trang 28

Rất nhiều tội danh còn lại, dù xét về khía cạnh khoa học luật hình sự hiện đại thì hành vi có thể cấu thành tội danh khác: tham ô, công nhiên chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản…nhưng luật hình sự phong kiến đều đồng nhất các tội này thành tội trộm cắp tài sản

Ngoài ra, nằm rải rác trong một số chương khác như chương Trá ngụy, chương Tạp luật… Quốc triều hình luật cũng có quy định liên quan đến tội xâm phạm sở hữu: điều 551 (chương Trá Ngụy), điều 606 (chương tạp luật)…

Một số đặc điểm cơ bản có thể rút ra đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật như sau:

Thứ nhất, tuy không ghi nhận bất kỳ một điều luật cụ thể nào về việc bảo

đảm quyền sở hữu tài sản nhưng trong từng quy định cụ thể, Quốc triều hình luật

đã thể hiện sự bảo vệ rất nghiêm ngặt các quyền này Nhóm tội xâm phạm sở hữu trong bộ luật này được các nhà làm luật lúc bấy giờ đánh giá và sắp xếp tính chất và mức độ nguy hiểm chỉ thấp hơn các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người Những hình phạt của người có hành vi thuộc nhóm tội này rất hà khắc, nặng nề như đồ hình, lưu hình, thậm chí là tử hình: thắt cổ, chém, chém bêu đầu, lăng trì

Thứ hai, không chỉ với nhóm tội xâm phạm sở hữu nói riêng, mà đối

với tất cả các nhóm tội nói chung được quy định, đặc điểm nổi bật của Quốc triều hình luật đó là các nhà làm luật đã mô tả nhiều hành vi liên quan với nhau trong cùng một điều luật Khi quy định một hành vi cụ thể, nhà làm luật đã dự liệu xem hành vi đó xảy ra có thể liên quan đến trách nhiệm của người khác không Nếu có thì sẽ quy định luôn hành vi phạm tội đó trong cùng điều luật Mặc dù không xâm hại cùng một khách thể nhưng những hành vi này lại có mối quan hệ mật thiết với nhau và nó giúp cho công tác xét xử thuận tiện

Trang 29

Thứ ba, Quốc triều hình luật ghi nhận vấn đề lỗi đối với nhóm tội xâm

phạm sở hữu Tuy nhiên “Quốc triều hình luật không đặt vấn đề phân biệt

giữa trường hợp có lỗi và phải chịu TNHS với trường hợp không có lỗi và không phải chịu TNHS” [25, tr.216] Theo đó, Quốc triều hình luật chỉ đặt vấn

đề phân biệt giữa trường hợp cố ý và trường hợp vô ý để xác định mức độ TNHS trong áp dụng cũng như trong việc quy định hình phạt khác nhau ở một

số tội phạm cụ thể

Điều 47 Quốc triều hình luật quy định chung về vấn đề này như sau: Những người phạm tội, tuy tên gọi tội giống nhau, nhưng phải phân biệt sự phạm tội vì lầm lỡ hay cố ý, phải xét tội nặng nhẹ mà thêm bớt, không nên

câu nệ để hợp với ý nghĩa việc xét xử hình án: “Tha người lầm lỡ không kể tội

nặng, bắt tội người cố ý không kể tội nhẹ” [33, tr.57] Từ nguyên tắc chung

này, trong các chương quy định về tội phạm cụ thể của Quốc triều hình luật, các hình phạt khác nhau đã được quy định cho trường hợp cố ý và trường hợp lẫm lỡ ở một số tội phạm

Tuy nhiên, trong Quốc triều hình luật, các điều luật liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu lại không quy định trường hợp vô ý lấy nhầm Đối chiếu các điều luật về tội xâm phạm sở hữu trong bộ luật, cho thấy mọi hành vi xâm phạm tài sản của người khác dù với lỗi cố ý hay vô ý đều coi là các tội xâm phạm sở hữu tài sản (thường là tội trộm cắp tài sản)

Thứ tư, đặc điểm về hình phạt:

Hệ thống hình phạt đối với các loại tội phạm nói chung hay với nhóm tội xâm phạm sở hữu nói riêng của Quốc triều hình luật hay được chia làm 2 loại là ngũ hình (hình phạt chính) và các hình phạt khác ngoài ngũ hình (hình phạt bổ sung) trong đó các hình phạt thuộc về ngũ hình giữ vai trò chủ đạo Việc phân chia như vậy đã thể hiện rõ quan điểm của các nhà làm luật thời bấy giờ trong

Trang 30

việc đánh giá tính nghiêm khắc của từng loại hình phạt cũng như vai trò của các hình phạt trong việc duy trì trật tự xã hội có lợi cho nhà nước phong kiến Trên

cơ sở đó, quan xử án sẽ áp dụng các hình phạt này đối với tội phạm tương ứng Đây chính là một giá trị đặc sắc của Quốc triều hình luật [25, tr.223]

 Hình phạt chính (Ngũ hình) trong Quốc triều hình luật

- Xuy (phạt roi) có năm bậc, từ 10 đến 50 roi gồm: 10 roi, 20 roi, 30 roi, 40 roi, 50 roi Phạm nhân sẽ bị đánh bằng roi mây nhỏ vào mông, mục đích áp dụng hình phạt này nhằm làm cho họ cảm thấy đau đớn, xấu hổ, từ đó

từ bỏ ý định phạm tội lại Xuy có thể là hình phạt được áp dụng độc lập (ví dụ: điều 570, điều 572, điều 573, điều 640…) nhưng cũng có thể là hình phạt áp dụng kèm theo phạt tiền, biếm (ví dụ điều 295, điều 374, điều 375, điều 376…) hoặc lưu, đồ (xem điều 1 phần III, IV) Xuy áp dụng cho cả người phạm tội là nam hoặc nữ nhưng thường áp dụng cho nữ giới

- Trượng (đánh bằng gậy) có 5 bậc (từ 60 đến 100 trượng) gồm: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng Trượng có thể là hình phạt được áp dụng độc lập (ví dụ điều 574, điều 640…) Nhưng cũng có thể là hình phạt áp dụng kèm theo các tội lưu, tội đồ và tội biếm (Ví dụ: điều 351, điều 356…) Trong Quốc triều hình luật, trượng chỉ áp dụng đối với nam giới phạm tội, còn nữ giới phạm tội thì được thay bằng xuy

- Đồ (khổ sai) là hình phạt được quy định áp dụng kèm theo xuy, trượng hoặc thích chữ, đeo xiềng Đồ có 3 bậc tùy theo công việc nặng nhọc

mà phạm nhân phải làm, mỗi bậc đều phân biệt công việc đối với nam nữ: bậc thứ nhất là dịch đinh và dịch phụ (nam nữ phải làm việc nặng nhọc) Trong trường hợp này, nam giới phạm tội thì đánh 80 trượng, nữ phạm tội đánh 50 roi; bậc thứ hai là tượng phường binh (lính quét dọn chuồng voi) và suy thất tùy (đàn bà làm đầy tớ trong nhà nấu cơm) Trường hợp này, nam giới phạm

Trang 31

tội thì bị đánh 80 trượng, nữ giới phạm tội thì bị đánh 50 roi, thích vào cổ hai chữ và đều phải làm như công việc như trên; bậc thứ ba là chủng điền binh (làm lính đồn điền) và thung thất tỳ (đàn bà làm đầy tớ giã gạo) Trường hợp này, nam giới phạm tội bị đánh thêm 80 trượng, thích vào cỗ 4 chữ, đeo xiềng, đầy vào làm việc ở Diễn Châu để khai thác đồn điền; nữ giới phạm tội bị đánh

50 roi khắc vào cổ 4 chữ, làm đầy tớ giã gạo (sở dĩ có hình phạt làm đầy tớ giã gạo vì thời đó nhà nước thu thuế bằng thóc)

- Lưu (Đi đày) là hình phạt được quy định áp dụng kèm theo xuy, trượng, thích chữ hoặc đeo xiềng (tùy theo từng bậc) Lưu có 3 bậc tùy theo tội mà tăng giảm: châu gần - nam giới phạm tội bị đánh 90 trượng, thích vào mặt 6 chữ, bắt đeo xiềng, đày đi làm ở các nơi Nghệ An, Hà Hoa Nữ giới bị đánh 50 roi, thích vào mặt 6 chữ, không phải đeo xiềng, bắt phải làm việc; châu ngoài - đánh 90 trượng, thích vào mặt 8 chữ, bắt đeo xiềng hai vòng, đày đi làm việc ở hai xứ Bố Chính (Quảng Bình ngày nay); châu

xa - đánh 100 trượng, thích vào mặt 10 chữ, bắt đeo xiềng 3 vòng, đày đi làm việc ở Cao Bằng

- Tử (Tội chết) là hình phạt được quy định áp dụng độc lập (ví dụ: các Điều 420, Điều 421, Điều 424… Quốc triều hình luật) Theo Quốc triều hình luật, tử hình có 3 bậc tùy theo mức nặng, nhẹ: thắt cổ (giảo), chém (trảm); chém bêu đầu (trảm kiểu); lăng trì (róc thịt cho chết dần)

 Các hình phạt ngoài ngũ hình (hình phạt bổ sung) trong Quốc triều hình luật

Các hình phạt ngoài ngũ hình bao gồm biếm tước, phạt tiền, thích chữ, đeo xiềng và tịch thu tài sản trong đó biếm tước và phạt tiền được quy định vừa có thể áp dụng độc lập vừa có thể áp dụng kèm theo hình phạt khác Bao gồm: Phạt tiền được quy định vừa có thể áp dụng độc lập (ví dụ: điều 81, điều

82, điều 88… vừa có thể áp dụng kém theo hình phạt khác (ví dụ điều 359,

Trang 32

điều 365 ); biếm tước vừa có thể áp dụng độc lập vừa có thể áp dụng kèm

theo hình phạt khác thuộc ngũ hình Ví dụ, điều 511 quy định: “Con cháu

kiện nhau với ông bà, cha mẹ, ông bà ngoại, cùng là vợ kiện ông bà, cha mẹ chồng đều phải biếm một tư; nếu lí lẽ trái thì xử thêm tội một bậc” [33]

Trường hợp này, biếm được quy định áp dụng độc lập Tuy nhiên cũng có trường hợp biếm được quy định áp dụng kèm theo hình phạt khác Ví dụ điều

62 Quốc triều hình luật quy định: “Những quan phụng sắc ban đêm khóa các

cửa hoàng thành cung điện và trong nội cấm khi đóng cửa rồi phải dâng lại chìa khóa, nếu không dâng hay để chậm xử tội biếm và trượng…” [33]; Tịch

thu tài sản là hình phạt được quy định áp dụng kèm theo hình phạt khác thuộc ngũ hình Trong Quốc triều hình luật, tịch thu tài sản có thể là tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội Trong những trường hợp phạm tội nặng, người phạm tội bị tịch thu toàn bộ tài sản, sung công quỹ nhà nước

Ví dụ điều 426 quy định: “Những kẻ ăn cướp ban đêm cầm khí giới giết người

lấy của thủ phạm bị tội chém, tái phạm bị tội giảo, ngoài sự đến tang vật ăn cướp, điền sản phải sung công” [33]; Thích chữ là hình phạt được áp dụng

kèm theo hình phạt khác thuộc ngũ hình Có thể thích chữ vào mặt hay vào cổ phạm nhân; đeo xiềng là hình phạt được áp dụng kèm theo hình phạt khác thuộc ngũ hình, được áp dụng kèm theo lưu đồ

Như đã đề cập ở các mục trên, mức độ nguy hiểm của nhóm tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật chỉ xếp sau nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia và nhóm tội xâm phạm tính mạng con người Chính vì thế, chính sách hình sự cho nhóm tội này rất nghiêm khắc và đặc điểm của hình phạt áp dụng cho trong nhóm tội này rất hà khắc dã man Ví dụ như hình phạt đối với người phạm tội xâm phạm sở hữu tài sản của nhà vua luôn là tử hình

Ví dụ điều 430 Quốc triều hình luật quy định:

Trang 33

“Lấy trộm ấn của vua và những đồ ngự dụng xe kiệu của nhà vua, thì

xử chém; điển sản tịch thu sung công” [33]

Đối với các hành vi xâm phạm sở hữu khác, luật sẽ quy định những mức hình phạt khác nhau căn cứ vào chủ thể phạm tội, nhân thân người phạm tội, hoặc hoàn cảnh phạm tội… Việc quy định này đã hạn chế được sự lạm quyền, tùy tiện tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội của quan xử án

Việc quyết định hình phạt trong Quốc triều hình luật không chỉ được căn cứ vào hành vi khách quan của tội phạm mà còn căn cứ vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của người phạm tội

Nguyên tắc nổi bật trong quyết định hình phạt của Quốc triều hình luật

là nguyên tắc chiếu cố theo địa vị xã hội Đó là quy định tại Điều 3 Quốc triều hình luật quy định tám hạng người được nghị xét giảm tội (bát nghị), gồm: Nghị thân: là họ tôn thất từ hàng đản miếu (họ hàng nhà vua trong 5 thế hệ) trở lên, họ hoàng thái hậu từ hàng phải để tang ti ma (hạng để tang 3 tháng),

họ hoàng thái hậu từ tiểu công (hạng để tang 5 tháng trở lên); nghị cố: là những người cố cựu (chỉ những người cũ, đã theo giúp vua lâu ngày hoặc những người giúp vua từ triều trước); nghị hiền: là những người có đức hạnh lớn; nghị năng: là những người có tài năng lớn; nghị công: là những người có công huân lớn; nghị quý: là những quan viên có chức từ tam phẩm trở lên, những quan viên tản chức (chức quan nhàn tản, như chức học quan, hàn lâm)

có tước từ nhị phẩm trở lên; nghị cần: là những người cần cù, chăm chỉ; nghị tân: là con cháu các triều vua trước

Nội dung nghị giảm được quy định cụ thể ở các điều 4, 5, 8 và 10 Theo

đó, những người thuộc diện Bát nghị, trừ trường hợp phạm tội thập ác, còn nếu phạm vào tội tử thì các quan nghị án phải khai rõ tội trạng và hình phạt nên xử thế nào, làm thành bản tấu dâng lên vua quyết định, nếu phạm tội lưu trở xuống

Trang 34

thì được giảm một bậc, những người thuộc nghị thân được miễn tội đánh roi, đánh trượng, thích chữ vào mặt (riêng họ hoàng hậu thì phải dùng tiền để chuộc) Nếu người phạm tội mà được hưởng nhiều bậc nghị giảm thì chỉ được giảm theo bậc nhiều nhất chứ không được giảm cả

Pháp luật hình sự phong kiến nói chung và nhà Lê nói riêng đều bảo vệ tầng lớp địa chủ phong kiến, quý tộc, đối với các giai cấp dưới khi phạm tội thường bị chế tài hình sự nặng hơn tầng lớp trên Điều đó chứng tỏ rằng, dù có nhiều điểm tiến bộ so với các bộ luật trước đó, Quốc triều hình luật vẫn thể hiện sâu sắc bản chất của pháp luật phong kiến – pháp luật phong kiến được tạo ra trước tiên để bảo

vệ quyền lợi của vua, của hoàng tộc và của giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến

Ngoài ra, việc quyết định hình phạt trong Quốc triều hình luật còn được xem xét đến các yếu tố khác như độ tuổi của người phạm tội (điều 16 Quốc triều hình luật), hiệu lực của bộ luật (điều 17 Quốc triều hình luật), giới tính của người phạm tội (điều 680 Quốc triều hình luật)…

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1 Bộ luật hình sự của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 đã sửa đổi một cách toàn diện, thể hiện chính sách hình sự mới của Nhà nước ta đối với tội phạm nói chung và nhóm tội xâm phạm sở hữu nói riêng so với BLHS năm 1985 Điểm nổi bật nhất về mặt hình thức của BLHS năm 1999 so với BLHS năm 1985 là BLHS năm 1999 đã nhập hai chương IV và VI của Bộ luật hình sự năm 1985

và thành một chương (chương XIV) – Các tội xâm phạm sở hữu Việc quy định các tội xâm phạm sở hữu XHCN và sở hữu riêng của công dân vào một chương với những khung hình phạt giống nhau phù hợp với chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu của nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay

2 Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân Chương XIV BLHS về các tội xâm phạm sở hữu đã quy định rất rõ ràng quan hệ xã hội được bảo vệ trước tiên trong chương này là quan

hệ sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu hợp pháp; các hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu hầu hết được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý nhằm gây thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu và thiệt hại về tài sản đó trong nhiều tội danh là thước đo để đánh giá người có hành

vi vi phạm đã có thể bị truy cứu TNHS về tội danh đó hay chưa

3 Quốc triều hình luật ra đời trong triều đại nhà Hậu Lê (sơ kỳ) – thời

kỳ đất nước ta đạt đến đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có những điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp

Trang 36

lý hiện đại Quốc triều hình luật gồm 722 điều luật, chia làm 6 quyển, trong đó quy định về hình sự, dân sự, đất đai, hôn nhân, gia đình; về tố tụng và cả về những quy định luật hành chính (một số quy định về tội phạm công chức và quân nhân); về hội hôn và điền sản Pháp luật hình sự Việt Nam thời nhà Lê là

một bộ luật tầm cỡ trong nền pháp luật cổ phương Đông

4 Nhóm tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật được quy

định chủ yếu trong chương Đạo tặc; ngoài ra còn được thể hiện trong các quy định chung thuộc chương Danh Lệ và một số tội danh thuộc chương Trá ngụy, chương Tạp luật Do nhóm tội xâm phạm sở hữu được quy định trong Quốc triều hình luật đơn thuần chỉ là hành vi lấy tài sản của người khác, nên số tội danh thuộc nhóm này trong Quốc triều hình luật không đa dạng, cụ thể như pháp luật hình sự hiện đại Tất cả các tội danh có xu hướng bị đồng nhất thành

tội trộm cắp tài sản

5 Trong Quốc triều hình luật, dù không có quy định ghi nhận đảm

bảo quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu nhưng thông qua các tội danh cụ thể được quy định trong nhóm tội xâm phạm sở hữu cho thấy nhà làm luật lúc bấy giờ đã đánh giá và sắp xếp tính chất và mức độ nguy hiểm của nhóm tội này chỉ thấp hơn các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người và những

hình phạt của người có hành vi thuộc nhóm tội này rất hà khắc, nặng nề

6 Điểm nổi bật của Quốc triều hình luật là luật thể hiện bản chất của

pháp luật phong kiến – được xây dựng và áp dụng trước tiên nhằm bảo vệ quyền lợi của vua chúa, các bậc hoàng thân quốc thích, giai cấp địa chủ phong kiến (trường hợp thuộc bát nghị) Ngoài ra không thể phủ nhận các chính sách nhân đạo của Quốc triều hình luật cũng được quy định rất cụ thể: độ tuổi được

giảm nhẹ TNHS trong Quốc triều hình luật

Trang 37

Chương 2

SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƯƠNG ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

2.1 Chính sách hình sự

Nghiên cứu nhóm tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật và nhóm tội này trong Bộ luật hình sự năm 1999, có thể rút ra được một số điểm chung và điểm khác biệt về chính sách hình sự của mỗi bộ luật thể hiện qua các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Cụ thể như sau:

2.1.1 Nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc quân chủ chuyên chế

Khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 quy định: "Mọi người

phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội."

Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong nhóm tội xâm phạm sở hữu như sau:

Luật hình sự tôn trọng và bảo vệ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của mọi công dân Việt Nam Mọi hành vi xâm phạm

quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt về tài sản của công dân thuộc bất kỳ dân tộc nào, địa vị xã hội nào, giới tính, tín ngưỡng nào, độ tuổi nào đều bị nghiêm trị theo pháp luật hình sự Việt Nam Như vậy, mọi công dân Việt Nam đều được Luật hình sự bảo vệ lợi ích chính đáng của mình như nhau, điều đó thể hiện tính dân chủ và bình đẳng xã hội chủ nghĩa

Mọi công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, địa vị xã hội, giới tính đều được Luật hình sự Việt Nam đối xử công bằng như

nhau, không miễn trừ cho ai, cho ai được hưởng quyền ưu đãi ngoại lệ

Ngày đăng: 29/02/2016, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Cảm (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam – phần các tội phạm, Nxb. ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam – phần các tội phạm
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb. ĐHQG Hà Nội
Năm: 2003
2. Lê Cảm và Cao Thị Oanh (2006), “Phân hóa trách nhiệm hình sự - một số vấn đề lý luận cơ bản”, Tạp chí Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa trách nhiệm hình sự - một số vấn đề lý luận cơ bản”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Lê Cảm và Cao Thị Oanh
Năm: 2006
3. Nguyễn Ngọc Chí (2000), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, Luận án tiến sỹ luật học,Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2000
4. Lê Đăng Danh và Phạm Tài Tuệ (2014), “Cần sửa đổi, bổ sung một số vấn đề trong nhóm tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 1999”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần sửa đổi, bổ sung một số vấn đề trong nhóm tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 1999"”, Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Đăng Danh và Phạm Tài Tuệ
Năm: 2014
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQTW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQTW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
8. Đỗ Đức Hồng Hà (2010), “Những nội dung cơ bản của luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự”, Tạp chí Luật học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản của luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Năm: 2010
9. Hải. Đỗ Ngọc Hải (2007), “Những tư tưởng trong Bộ Quốc triều hình luật sống mãi với thời gian”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng trong Bộ Quốc triều hình luật sống mãi với thời gian”, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Hải. Đỗ Ngọc Hải
Năm: 2007
10. Nguyễn Quốc Hoàn (2008), Quốc triều hình luật những giá trị về lập pháp – Quốc triều hình luật lịch sử hình thành, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật những giá trị về lập pháp – Quốc triều hình luật lịch sử hình thành
Tác giả: Nguyễn Quốc Hoàn
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
11. Hội đồng thẩm phán TANDTC (1986), Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29 tháng 11 năm 1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29 tháng 11 năm 1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS
Tác giả: Hội đồng thẩm phán TANDTC
Năm: 1986
12. Hoàng Văn Hùng (2006), “Tội trộm cắp tài sản trong Bộ Quốc triều hình luật”, Tạp chí Luật học, (05) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội trộm cắp tài sản trong Bộ Quốc triều hình luật”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Hoàng Văn Hùng
Năm: 2006
13. Vũ Văn Mẫu (1975), Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, NXB Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Nhà XB: NXB Sài Gòn
Năm: 1975
18. Vũ Thị Phụng (2008), Những bộ luật cổ Việt Nam và một số giá trị đương đại, tham luận tại hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ III – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bộ luật cổ Việt Nam và một số giá trị đương đại, tham luận tại hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ III – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức
Tác giả: Vũ Thị Phụng
Năm: 2008
19. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học bộ luật hình sự 1999 phần các tội phạm, tập 2, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học bộ luật hình sự 1999 phần các tội phạm
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
20. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự của nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1985
21. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự của nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
22. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
23. Nguyễn Quang Quýnh (1973), Hình luật tổng quát, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình luật tổng quát
Tác giả: Nguyễn Quang Quýnh
Nhà XB: NXB Lửa Thiêng
Năm: 1973
24. Hồ Sỹ Sơn (2009), Nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Hồ Sỹ Sơn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w