Là một nhà thơ ẩn dật, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo ra trong thơ mình một thế giới thiên nhiên u tịch nhưng cũng hết sức sống động khỏe khoắn và ấm tình người.. Hệ thống hình ảnh ẩn dật tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
-
PHẠM THỊ NGỌC LOAN
TÌM HIỂU HỆ THỐNG HÌNH ẢNH
MANG Ý NGHĨA ẨN DẬT TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN ĐÌNH PHỨC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn tới TS Nguyễn Đình Phức – người
đã giúp tôi thực hiện luận văn này với tất cả lòng nhiệt tình và sự chu đáo
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong những năm học tại trường Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình tôi, bạn bè – những người đã không ngừng động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
đề tài này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 10 năm 2012
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 01
2 Lịch sử vấn đề 02
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 06
4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 06
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn 07
6 Bố cục của Luận văn 08
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ TRIẾT LÝ ẨN DẬT TRONG THƠ CA 1 1Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm
09
1.1.1 Vài nét về cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm 09
1.1.2 Sự nghiệp văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm 11
1.2 Thơ ca Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình văn học dân tộc 12
1.3 Triết lí ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 15
CHƯƠNG 2
HÌNH ẢNH TỰ NHIÊN MANG Ý NGHĨA ẨN DẬT TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM 2.1 Hình ảnh mây 29
2.2 Hình ảnh hoa cúc, hoa mai 40
Trang 42.3 Hình ảnh tùng, trúc 58
2.3.1 Hình ảnh tùng 59
2.3.2 Hình ảnh trúc 62
2.4 Hình ảnh thanh phong, minh nguyệt 65
CHƯƠNG 3 HÌNH ẢNH SỰ VẬT VÀ CON NGƯỜI MANG Ý NGHĨA ẨN DẬT TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM 3.1 Hình ảnh sự vật mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 3.1.1 Chùm hình ảnh cửa gỗ (sài môn, sài phi, hoành môn,…) 71
3.1.2 Chùm hình ảnh đường mòn (Tam kính, u kính,…) 76
3.1.3 Cầm, kỳ, thi, tửu 3.1.3.1 Cầm (đàn) 79
3.1.3.2 Kỳ (cờ) 81
3.1.3.3 Thi (thơ) 83
3.1.3.4 Tửu (rượu) 84
3.2 Hình ảnh con người mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
91
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 104
Trang 5DẪN NHẬP
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong dòng chảy của văn học Trung đại Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là “cây đại thụ tỏa bóng gần suốt cả thế kỷ XVI” Có thể nói, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ có những đóng góp quý báu cho lịch sử văn hóa, văn học dân tộc bằng một
sự nghiệp văn chương to lớn, đầy ắp tư tưởng cao thâm và tình cảm sâu sắc, mà còn là một tấm gương sáng ngàn đời về phẩm chất thanh cao của một bậc hiền triết cho hậu thế chung soi
Là một nhà thơ ẩn dật, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo ra trong thơ mình một thế giới thiên nhiên u tịch nhưng cũng hết sức sống động khỏe khoắn và ấm tình người Thế giới thơ ẩn dật ấy được tạo thành với sự góp công không nhỏ của hệ thống hình ảnh
Hệ thống hình ảnh ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm khá phong phú, từ những hình ảnh thiên nhiên như bạch vân, nhàn vân, hoa cúc, hoa mai, trúc, tùng bách, thanh phong, minh nguyệt, cao sơn lưu thủy đến những hình ảnh là sản phẩm văn hóa của con người như sài môn, sài phi, cầm, kỳ, thi, họa, tửu,… Thậm chí đó còn là hệ thống hàng loạt tên ẩn sĩ nổi tiếng từng xuất hiện trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam Những hình ảnh này có nguồn gốc từ đâu? Chúng đóng vai trò ra sao trong việc hình thành thế giới nghệ thuật thơ ẩn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đây là vấn đề trước nay chưa từng có ai, cũng như chưa từng có bất cứ công trình nào đi sâu vào tìm hiểu
và nghiên cứu
Hiểu được tính cấp thiết cũng như giá trị khoa học một khi vấn đề khoa học nêu
trên được triển khai nghiên cứu, cho nên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài TÌM HIỂU HỆ THỐNG HÌNH ẢNH MANG Ý NGHĨA ẨN DẬT TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 62 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác phẩm của ông đã trở thành mối quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu từ nhiều thập niên trước của thế kỷ XX Bằng chứng là đã có nhiều công trình lớn, giàu ý nghĩa khoa học về Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ văn của ông đã được công bố
Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung giới thiệu lịch sử vấn đề liên quan đến hai tập thơ
Bạch vân am thi tập, Bạch vân quốc ngữ thi và nhất là lịch sử vấn đề liên quan đến nội
dung ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
2.1 Vấn đề sưu tầm, chỉnh lý và giới thiệu hai tập thơ Bạch Vân Am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi
Bạch Vân Am thi tập do học giả đầu đời Nguyễn là Trần Công Hiến biên tập Bạch Vân Am thi văn tập do Lê Dư biên tập
Việt Nam văn học sử yếu (1943) của Dương Quảng Hàm do Nha học chính
Đông Pháp xuất bản Ở sách này tác giả có nói về cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
giới thiệu về Bạch Vân quốc ngữ thi tập
Tuyết Giang phu tử do Chu Thiên biên tập năm 1945, sách do Nxb Đại La xuất
bản Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu một cách công phu và khá tỉ mỉ mọi mặt về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bao gồm: hoàn cảnh xã hội thời Lê - Mạc, thân thế và sự nghiệp của Trạng Trình, giới thiệu nội dung và nghệ thuật trong những sáng tác của ông,…
Lê Trọng Khánh – Lê Anh Trà đã đề cập một cách sâu sắc đến nhiều vấn đề cốt yếu trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng một cái nhìn toàn diện
trong Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ triết lí, sách do Nxb Văn hóa xuất bản vào năm
1957
Năm 1958, Lệ Thần Trần Trọng Kim viết tác phẩm Việt thi, Nxb Tân Việt, đã
tóm tắt tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm và trích 11 bài thơ Nôm của ông
Trang 7Năm 1975, trên Tạp chí Văn học số 2, tác giả Bùi Duy Tân có bài Tìm hiểu về những năm ra hoạt động và về ở ẩn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bài viết đưa ra những dự
đoán khá hợp lý về quá trình hoạt động của Nguyễn Bỉnh Khiêm nơi triều chính và những mốc thời gian ông về ở ẩn, dựa trên cứ liệu chủ yếu là các bài thơ của Trạng Trình để lại
Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do Đinh Gia Khánh chủ biên và giới thiệu (1983)
Có thể nói, đây là cuốn sách tập hợp khá nhiều tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bao gồm 161 bài thơ viết bằng chữ Nôm, 68 bài thơ viết bằng chữ Hán
Năm 1986, nhân dịp kỉ niệm 400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1585 – 1985), các nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã viết hàng loạt bài nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều mặt, nhiều phương diện
Năm 1989, Nxb Giáo dục xuất bản cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập 1 Bạch Vân quốc ngữ thi do Bùi Văn Nguyên phiên âm – chú thích – giới thiệu Trong
có thống kê 177 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả Nguyễn Khuê trong công trình Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân Am thi tập (1997), Nxb TP HCM đã đi vào nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử, thân thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đồng thời, tác giả cũng chú ý nghiên cứu Bạch Vân Am thi tập ở
phương diện tư tưởng, tình cảm, cũng như có những đánh giá sơ lược về hình thức nghệ thuật của tập thơ chữ Hán này
Năm 1991, nhân kỉ niệm 500 năm ngày sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1991) , các nhà khoa học lại có dịp hội thảo về Trạng Trình Đây cũng là dịp các nhà khoa học tìm hiểu, đánh giá về vai trò, vị trí Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà Mạc theo quan điểm mới
Năm 2000, Tổng tập văn học Việt Nam do Nxb Khoa học xã hội xuất bản, gồm
42 tập, trong đó tập 5 dành giới thiệu các tác giả và tác phẩm văn học của hai thế kỉ XVI – XVII, có in 90 bài thơ Nôm và 83 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 8Gần đây, trong cuốn Nguyễn Bỉnh Khiêm – về tác gia và tác phẩm do hai tác giả
Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu, đã tập hợp một cách khá đầy đủ các bài viết của một số nhà nghiên cứu về tác giả cũng như tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
2.2 Thực tế nghiên cứu mảng thơ ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong chuyên luận Nhân cách một bậc cao sĩ,các tác giả Trường Lưu - Phạm
Vũ Dũng - Băng Thanh đã đánh giá lại quãng đời ẩn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, so sánh cuộc đời ẩn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm với một số danh nho ẩn dật khác Và đặc biệt, các tác giả lại coi quãng đời ẩn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm là quãng đời có giá trị, ông quan tâm đến cuộc sống thường nhật của người dân, thói đời và những biến động của lòng người Cuối cùng các tác giả đi đến một kết luận: “Quãng đời ở ẩn của
ông lại chính là quãng đời ông sống nhiều nhất, thể hiện cái chí của mình đạt hơn cả” [62 ,tr.139]
Bùi Duy Tân trong Thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng: “Nhàn cũng
là sống thoả thích trong cảnh trí non xanh, nước biếc, bạn bày với trăng trong, gió mát, với ông già lão thực, trẻ thơ hồn toàn, ấm áp tình người trong hương đồng gió nội, mây
sớm, trăng khuya…Nhàn trong Bạch Vân Am thi tập đậm màu sắc triết lí và có nhiều tính chất tiêu biểu cho chữ nhàn của nho sĩ ẩn dật thời trung đại nước ta.” [ 62,tr.414] Còn trong Nguyễn Bỉnh Khiêm và tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi, Bùi Duy Tân còn viết: “Rõ ràng, niềm yêu mến thiết tha đối với thiên nhiên đất nước, Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã viết được những lời thơ mĩ lệ, tươi mát, hồn hậu Và nhà thơ lại thường đem hạnh phúc của con người được sống ẩn cư đối lập với quan trường, danh lợi, với “nguy
cơ của giàu sang”[62,tr.331]…Lòng yêu đời bắt nguồn từ một tâm hồn trong sạch, một khí tiết thanh cao và một cuộc sống tinh thần phong phú Nhưng nhà thơ không chỉ mê say cảnh sắc tươi đẹp và không khí yên tĩnh ở nông thôn với tình cảm của người trí thức ẩn dật [62,tr.332]
Trang 9Phạm Luận trong Thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đặt câu hỏi: “Vậy chữ
nhàn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có nội dung gì?” và tác giả đã tự trả lời: “Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống nhàn là sống có hạnh phúc Hạnh phúc do trị được cái bệnh của bản thân, cái bệnh cố hữu ham công danh của người nho sĩ, như sau này Lãn Ông nói:
Công danh đại bệnh thâm nan liệu [62,tr.361]
Trong Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự của Nguyễn Huệ Chi viết: “Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là một hình
thức biểu hiện của ung dung tự tại, của một phong thái sống cởi mở, hồ hởi với tạo vật, biết gắn mình với thiên nhiên, sống thuận theo qui luật của tự nhiên, hiểu được đến cội nguồn cái đẹp chân chất của sự sống, cái đẹp hồn nhiên của chuyển vần, thay đổi, luôn luôn diễn ra xung quanh mình:
Sen, mùa trước đổi, mùa sau mọc, Triều, cửa này ròng, cửa khác cường
(Thơ Nôm, bài 98)
“Nhàn” theo phương thức này cũng là một phương pháp khai phóng nội tâm, vì khi đem cái “tôi” đối diện với thiên nhiên cũng có nghĩa là tìm một con đường thoát ra khỏi tình trạng phong bế của cái “tôi””…[62,tr.391]
Lê Trọng Khánh – Lê Anh Trà trong Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ triết lý đã
cho rằng chữ “nhàn” là chủ đề chính trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, các tác giả đã tiến hành so sánh một số câu thơ tiêu biểu trong thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, để cuối cùng đi đến kết luận: khẳng định cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nội dung phức tạp hơn
Đinh Gia Khánh trong Nguyễn Bỉnh Khiêm và “tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi” đã nhận xét: “Lòng vô sự tức là không để cho danh lợi làm vẩn đục tấm
lòng thản nhiên và trong sáng, “thân nhàn” tức là có phẩm chất cao khiết Nhàn là
Trang 10nhàn tâm, chứ không phải là không làm gì cả Nhàn là không bon chen danh lợi, chứ không phải là trốn tránh trách nhiệm với đời…”[62;tr278]
Điểm qua tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những thập niên gần đây, chúng ta thấy rằng khía cạnh thế giới hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được nhắc đến một cách gián tiếp và chưa có ai đi vào khảo sát hệ thống hình ảnh ấy
Nhận ra được điều đó, nên ở đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu hệ thống hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Trên cơ sở đó,
cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn khá toàn diện về hệ thống hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như tiến hành xác định lại vị trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình thơ Trung đại Việt Nam, nhằm xác định rõ hơn tầm vóc của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Do số lượng tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm rất phong phú mà phạm vi luận văn có hạn, nên ở đây chúng tôi chỉ chọn đi sâu vào khảo sát hệ thống hình ảnh mang ý
nghĩa ẩn dật trong tập thơ chữ Hán Bạch Vân Am thi tập và tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi Về nguồn tài liệu trích dẫn hai tập thơ này, chúng tôi sử dụng tài liệu in trong bộ Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do Đinh Gia Khánh chủ biên (Nxb Văn học, Hà
Nội, 1997)
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp thống kê: tuy luận văn không trình bày toàn bộ vấn đề theo phương pháp này, nhưng trong một chừng mực nhất định, chúng tôi sẽ có sự xem xét, lựa chọn và thống kê hệ thống các hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dật thể hiện qua hai tập
thơ: Bạch Vân quốc ngữ thi và Bạch Vân Am thi tập
Trang 11- Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là phương pháp quan trọng và rất cần thiết đối với bất cứ công trình nghiên cứu về văn chương nào Phương pháp này sẽ giúp ích cho người viết có điều kiện khảo sát văn bản và tổng hợp thành một số vấn đề
có ý nghĩa phục vụ cho việc giải quyết sáng tỏ đề tài khoa học này Người viết sẽ phân tích những yếu tố thi học ở khía cạnh hình ảnh được tác giả sử dụng trong hai tập thơ nói trên, trên cơ sở đó đưa ra những kết luận khoa học mang tính thuyết phục
- Phương pháp lịch sử: Để hiểu rõ và chính xác hơn về con người cũng như nội dung thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng ta cốt yếu phải tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa ba nhân tố: tác giả, bối cảnh xã hội và tác phẩm
- Phương pháp so sánh: trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp này để tiến hành so sánh đối chiếu một số hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm với những hình ảnh ẩn dật trong thơ của Đào Uyên Minh, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Nguyễn Trãi,…
Tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu nghiên cứu sử dụng để hoàn thành luận văn bao gồm: những văn bản thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm xuất bản trong những tuyển tập thơ của những nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm; những chuyên luận, những công trình sưu tầm, nghiên cứu, những bài viết trên tạp chí, những trang báo điện tử; những luận văn, luận án của những người đi trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học
Trên sơ sở kế thừa những thành quả của những người đi trước về các vấn đề liên quan đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, luận văn hy vọng sẽ có những đóng góp trong các vấn
đề sau:
- Cung cấp được một cái nhìn khá đầy đủ và sâu sắc về hệ thống hình
ảnh mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 12- Trên cơ sở đó, góp phần vào việc tôn vinh vị thế văn học sử của Trạng
Trình – thi nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần dẫn luận, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương với những nội dung chủ yếu như sau:
Chương 1: Nêu vài nét chính về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng thơ văn ẩn dật trước Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Trung Quốc và Việt Nam
Chương 2: Tìm hiểu những hình ảnh tiêu biểu mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có nguồn gốc từ thiên nhiên như hình ảnh mây, hình ảnh hoa mai, hoa cúc, hình ảnh tùng, hình ảnh trúc, hình ảnh thanh phong minh nguyệt Những hình ảnh này có nguồn gốc từ đâu; chúng có ý nghĩa như thế nào trong thơ văn trước Nguyễn Bỉnh Khiêm; khi xuất hiện trong thơ ông, chúng mang ý nghĩa như thế nào… Chương 3: Tìm hiểu những hình ảnh tiêu biểu mang ý nghĩa ẩn dật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có nguồn gốc là hình ảnh sự vật như hình ảnh sài môn, tam kính,
u kính, cầm, kì, thi, tửu,… và con người như Đào Uyên minh,…
Trang 13CHƯƠNG 1 NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ TRIẾT LÝ ẨN DẬT TRONG THƠ CA
1.1 VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
1.1.1 Vài nét về cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), tên húy là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, thuộc ngoại ô thành phố Hải Phòng)
Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân trong một gia đình có truyền thống nho học Cha ông là Văn Định, hiệu là Định Sơn tiên sinh, đạo hiệu Cù Xuyên tiên sinh, từng đỗ Hương cống dưới triều Lê sơ, do sức học rộng lại có đạo đức tốt, ông được sung chức Thái học sinh (tức học sinh trường Quốc tử giám), sau ra làm quan, về già, sau khi mất được phong tặng hàm Thái bảo, tước Nghiêm quận công Mẹ ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư bộ Hộ là Nhữ Văn Lan, người An Tử Hạ, thuộc huyện Tiên Minh, bà không những nổi tiếng sắc sảo, thông minh, giỏi văn chương, thông làu kinh
sử, mà còn tinh thông tướng số, ngay thuở cực thịnh của Lê sơ dưới triều Hồng Đức, bà
đã bấm quẻ biết vận nhà Lê sẽ suy sau 40 năm nữa Bà kết duyên cùng với Văn Định công khá muộn, tương truyền khi ấy bà đã gần tuổi 30, lại kém ông Văn Định đến gần
10 tuổi, nhưng do bà xem tướng số, biết mình kết duyên cùng ông sẽ sinh con quý tử nên mới chịu kết duyên cùng ông Sau bà được phong tước Từ Thục phu nhân
Thuở nhỏ, Nguyễn Bỉnh Khiêm được sự dạy dỗ hết sức chu đáo của gia đình Khoảng năm ông mười lăm, mười sáu tuổi, được cha gửi sang học nhà danh nho Dương Đức Nhan Sau đó ông theo học quan Bảng nhãn Thượng thư Lương Đắc Bằng
ở Thanh Hóa, một người nổi tiếng về tài đức Có lẽ đây là người thầy có ảnh hưởng lớn đến Nguyễn Bỉnh Khiêm và để lại dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời của ông Tương truyền, Lương Đắc Bằng nhân khi đi sứ sang Trung Quốc, gặp người cùng họ, người này vốn dòng dõi của Lương Nhữ Hốt (một trí thức Đại Việt, sau đầu hàng nhà Minh,
Trang 14khi làm quan ở Trung Quốc, được phong tước Lăng Lăng vương), tặng cho bộ sách
Thái ất thần kinh, ông đem về để tâm nghiên cứu nên rất tinh lý số, sau chính ông là
người đã truyền lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm
Vốn là người thông minh, lại có điều kiện học tập, nên sức đọc của Nguyễn Bỉnh Khiêm rất rộng, ông không chỉ đọc rộng, bao quát hết kinh điển của tam giáo cửu
lưu, mà còn tinh thông kinh Dịch, đặc biệt có sở trường ở khoa bói theo sách Thái ất,
phàm những chuyện như nắng mưa, họa phúc, sự hưng vong của đất nước, ông thảy đều biết trước Đến khi trưởng thành, gặp cảnh loạn lạc, nhà Lê suy vong, Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua, mặc dù Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách cao đẹp, kiến thức uyên thâm nhưng ông quyết định không ra ứng thí làm quan mà ở quê dạy học, lấy đạo làm vui Đến năm 44 tuổi, dưới triều Mạc ông ra ứng thí và đỗ ngay Trạng nguyên (1535) Ông làm quan dưới triều Mạc Đăng Doanh, được phong chức Đông các hiệu thư Về sau lại thăng Tả thị lang bộ Hình kiêm Đông các đại học sĩ Nhưng cuộc đời làm quan với ông rất ngắn (chỉ vỏn vẹn 8 năm), vào năm 1542, Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định cáo quan về quê dạy học, sau khi dâng sớ xin chém 18 kẻ lộng thần không được vua nhà Mạc ân chuẩn Sau Mạc Phúc Hải gia phong cho ông tước Trình Tuyền hầu, người đời vì thế quen gọi ông là Trạng Trình
Sau khi về quê, ông mở quán Trung Tân, lập am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ và mở trường dạy học bên bờ sông Tuyết Hàn, nên học trò thường gọi ông là Tuyết Giang phu tử Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh,… Song qua một số sáng tác còn để lại, ta có thể nhận thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm không về ở ẩn hẳn, mà vẫn có đến mấy lần ra giúp nhà Mạc Cụ thể là năm 1554, Nguyễn Bỉnh Khiêm theo quân Mạc đi đánh anh em Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang; sau đó vào năm 1561, Nguyễn Bỉnh Khiêm về trí sĩ lần thứ hai và vào năm
1563 Nguyễn Bỉnh Khiêm lại về trí sĩ lần thứ ba Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn được sự trọng vọng của các vua chúa đương thời, mặc dù làm trọng thần cho triều Mạc, nhưng
Trang 15các chúa Trịnh và Nguyễn vẫn hết sức kính nể nhân cách và tài học của ông, trước những vấn đề lớn trọng yếu, vẫn sai người đến xin ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Mặc dù thời gian làm quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm rất ngắn, nhưng không vì thế mà ông quên đi trách nhiệm của mình với dân với nước, lúc nào Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đau đáu với nước với dân Năm 1585, Nguyễn Bỉnh Khiêm mất, thọ 95 tuổi, vua Mạc sai Mạc Kính Điển làm khâm sai, cùng các con về dự tế, truy phong ông
là Thượng thư bộ Lại, Thái phó Trình quốc công, lại ban cho ba nghìn quan tiền để lập đền thờ và cấp cho một trăm mẫu ruộng tự điền để thờ cúng Vua đích thân đề trước cửa đền thờ bảy chữ: “Mạc triều Trạng nguyên Tể tướng từ”
Dù hành hay tàng, xuất hay xử, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn có đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng, ổn định đất nước, chăm lo cuộc sống cho nhân dân với tinh thần “tiên ưu, hậu lạc”:
Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ, Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu
(Ngụ hứng, bài 3)
(Rút cục ai muốn tìm cái chỗ vui của ta, Cần biết rằng ta được vui sau thiên hạ vì biết lo trước thiên hạ)
Nguyễn Bỉnh Khiêm xứng đáng là nhà văn hóa lớn của dân tộc thế kỉ XVI và
cho đến tận ngày nay, thực tế hậu thế vẫn không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu và tôn vinh nhân cách lẫn tài năng của ông ở mọi khía cạnh
1.1.2 Sự nghiệp văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác cả ở mảng chữ Nôm và chữ Hán Riêng thơ chữ
Hán ông có đến cả nghìn bài, như trong lời tự đề tựa tập thơ Bạch Vân am thi tập của mình, ông viết:
“Tuy nhiên, cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự
Trang 16thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là Tập thơ am Bạch Vân.”
Ngoài thơ chữ Hán, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn một số bài văn chữ Hán, chủ yếu
là văn tế và một số bài tự viết tặng cho bạn bè Những tác phẩm này ngày nay chủ yếu
thấy thu trong Bạch Vân Am thi văn tập do Lê Dư biên tập
Ở mảng sáng tác thơ Nôm, tuy ông không lưu lại cho chúng ta bất kỳ một số liệu cụ thể nào, nhưng hiện nay theo các nhà nghiên cứu và sưu tầm, thơ nôm của ông hiện còn khoảng hơn 150 bài Ngoài ra, còn một số bài sấm kí cũng được viết bằng chữ Nôm, tương truyền là của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chỉ xét ở mảng thơ ca, có thể nói thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có đề tài rất rộng, bao quát nhiều vấn đề trong cuộc sống xã hội, từ những vấn đề trừu tượng đến những vấn đề cụ thể, từ những vấn đề to lớn, thuộc tầm vĩ mô đến những vấn đề nhỏ bé, vi mô… Song dù thế, thơ ông không chỉ đạt về “chất” ở số lượng, ở vẻ bề ngoài, phạm vi phản ánh mà còn có giá trị cao về nội dung tư tưởng, nghệ thuật, đúng như chuẩn mực
“Văn chất bân bân” mà Khổng Tử đã nêu ra Vũ Khâm Lân từng khen thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Văn chương của tiên sinh thường bộc lộ cái tấc dạ ưu thời mẫn thế, không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà ý vị, câu câu đều
có ngụ ý răn đời, ý nghĩa thanh cao mà siêu thoát” Còn Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì cho rằng: “Đọc qua thơ ông, dù nghìn năm sau còn tưởng như
trăng trong, gió mát.”
1.2 THƠ CA NGUYỄN BỈNH KHIÊM TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC DÂN TỘC
Vũ Khiêu trong Trí thức Việt Nam thời xưa nhận định rằng:
“Sử nước ta cho biết rằng bắt đầu từ đời Trần (thế kỉ XIII – XV) Hàn Thuyên là người đầu tiên làm thơ tiếng Việt theo luật Đường, kế đó xuất hiện Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, đều có tập thơ quốc âm, nhưng chúng ta nay không còn lại chút gì của những áng thơ Nôm mở đầu ấy Ngoài mấy bài thơ đáp nhau của Nguyễn Biểu và Trần Quý
Trang 17Khoáng cuối đời Trần, thì thơ đầu tiên bằng tiếng mẹ đẻ của ta, cổ nhất, chính xác nhất
còn lại cho văn học Việt Nam là 254 bài Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.”
Tiếp nối thành quả của văn học dân tộc từ các giai đoạn trước, đặc biệt là thơ ca của Nguyễn Trãi, có thể nói thơ ca Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những kế thừa và cách tân rõ ràng về nội dung, nghệ thuật Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm, trong đó, rất nhiều chỗ ông dùng câu thơ sáu chữ, một thành quả tiếp nối từ Nguyễn Trãi; trong thơ có nhiều từ ngữ giản dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân, nên trong sáng hơn, dễ hiểu hơn Chẳng hạn như:
Thèm, nỡ phụ canh cua rốc, Lạnh, đà quen đắp ổ rơm
(Thơ Nôm, bài 33) Hay những câu như:
Cá tôm tối chác bên kia bến, Củi đuốc ngày mua mé nọ đèo
(Thơ Nôm, bài 35)
Vếu váo câu thơ cũ rích
Khề khà chén rượu hăng xì
(Thơ Nôm, bài 84)
Về nội dung, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nước, ca ngợi cuộc sống của nhân dân, những câu thơ mang đậm tính triết lí, giáo huấn:
Gẫm đạo làm con, ở rất nan,
Ở cho trọn đạo mới là ngoan
(Thơ Nôm, bài 147) Hay những câu thơ lên án chiến tranh phi nghĩa như:
Vô cô dân cửu ly đồ độc, Bất sát thùy năng úy hễ tô
(Nhân dân vô tội gặp phải cảnh cay cực, độc ác từ lâu,
Trang 18Hỏi ai là kẻ nhân từ không ham giết người thỏa được lòng dân chờ cứu sống?)
(Cảm hứng thi)
Lạc lạc can qua mãn mục tiền, Nhân dân bôn thoán dục cầu tuyền
Điên liên huề bão ta vô địa,
Ái hộ căng binh bản hữu thiên
(Giáo và mộc tua tủa bày ra trước mắt, Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn
Khốn đốn dắt dìu nhau, thở than không có đất, Thương xót che chở cho, may thay còn có trời.)
(Cảm hứng thi, bài 4)
Và đặc biệt nhất là những dòng thơ mang đậm chất triết lí, giáo huấn:
Có thuở được thời, mèo đuổi chuột, Đến khi thất thế, kiến tha bò
(Thơ Nôm , bài 75) Lành dữ lòng người khôn biết, Dầu sủng nhục, chớ thờ ơ
(Thơ Nôm, bài 24)
Vũ Khiêu trong Trí thức Việt Nam thời xưa nhận xét rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm
là một nhà trí thức rực rỡ một thời và tiêu biểu cho nhiều thế hệ trí thức Việt Nam… Sau Nguyễn Trãi hơn 100 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những đóng góp gì vào quá trình phát triển của văn học Việt Nam và vị trí của ông như thế nào trong kho tàng văn học của dân tộc?
Trước hết phải thấy rằng, do suốt nhiều thế kỷ liên tục học chữ Hán và làm thơ bằng chữ Hán, các trí thức Việt Nam trước những khó khăn về ngôn từ và thể loại đã từng lẩn tránh trong việc sáng tácthơ văn bằng tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt
Trang 19Trước sự sáng tạo của Nguyễn Thuyên, sự quan tâm đặc biệt của Nguyễn Trãi, thành quả bước đầu của Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã suốt cuộc đời mình dành bao tâm huyết để làm thơ bằng tiếng Việt Không chỉ để nói với đồng bào mình những điều muốn nói, ông cũng như Nguyễn Trãi đã đem hết những nhiệt tình xây dựng nền văn học của dân tộc mà lòng yêu nước và óc tự cường
đã hằng ngày thôi thúc các ông
Với một di sản lớn lao mà ông để lại, thơ Nôm của ông đã đánh dấu một chặng đường quang vinh trong lịch sử văn học Việt Nam Thơ ông vừa mang những nét mộc mạc và rắn chắc của thơ Nguyễn Trãi, vừa tiếp thu truyền thống trau chuốt, nhuần nhuyễn của thơ Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn
Có lẽ từ lòng tự hào về tinh hoa và tiềm năng của dân tộc thể hiện trong thơ ca dân gian Việt Nam mà ông đã đưa vào thơ mình những lời thơ dân dã nhưng cũng rất đẹp của ca dao tục ngữ Việt
Thơ ông là nhật ký của ông, thơ ông không chỉ là phản ánh sâu sắc những diễn biến của cuộc đời ông mà con là sự thể hiện chân thành những suy tư, những xúc cảm, những thái độ của ông trước những diễn biến ấy Giá trị tư tưởng và nghệ thuật trong thơ ông mà chúng ta tìm hiểu cũng là giá trị được rút ra từ chiều sâu thầm kín của tâm hồn ông.” [28; tr.69]
Như vậy, thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã góp phần không nhỏ vào tiến trình phát triển của văn học dân tộc, góp phần tái hiện một giai đoạn lịch sử có khá
nhiều biến động, soi tỏ tâm hồn cho một con người “tiên ưu, hậu lạc” và mở rộng
hành trình kết nối trái tim đến với chúng ta
1.3 TRIẾT LÍ ẨN ẨN DẬT TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM:
Đào Uyên Minh được người đời sau tôn là “Cổ kim ẩn dật thi nhân chi tông” (nguồn gốc của thơ ẩn dật cổ kim), ngay cả Lỗ Tấn trong giai đoạn hiện đại cũng gọi Đào Uyên Minh là “Ông tổ của trường phái ẩn dật” Thực tế, trước giai đoạn Đào Uyên
Trang 20Minh, văn hoá ẩn dật đã xuất hiện từ rất lâu, tuy mức độ đậm nhạt hay phương thức ẩn dật có khác nhau
Nho giáo rất đề cao vai trò, trách nhiệm của kẻ sĩ trong xã hội Con người bị ràng buộc bởi Tam cương, Ngũ thường, người quân tử phải học hành, thi cử, làm quan
để giúp nước giúp dân Nhưng mặt khác Khổng Tử trong Luận ngữ cũng đề ra quan
niệm “Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” (Dùng thì tích cực hoạt động, giúp vua giúp nước, không dùng thì về ở ẩn, giữ lấy thiên lương cho chính bản thân mình) Khi người quân tử không thể hiện được tài năng, không được dùng thì họ chọn cuộc sống ẩn tàng nơi thôn dã, vui thú điền viên Còn triết lý của Đạo giáo đề xuất quan điểm “vô vi”, sống gần gũi, hòa mình vào thiên nhiên, sống tự do, tự tại, nên nó có cơ sở sâu xa cho thú nhàn dật của người xưa Minh chứng cho quan niệm ẩn dật đó là câu chuyện Hứa
Do, Sào Phủ đã từ chối ngôi vua mà vua Nghiêu nhường cho Những nhân vật như Bá
Di, Thúc Tề, Hứa Do, Sào Phủ… từ đó đã được xem như những kiểu mẫu của con người ẩn dật, họ là những người không tham công danh phú quí, từ chối mọi tước vị, quyết sống theo tiếng gọi của lòng mình, tìm về với người mẹ thiên nhiên mà sống một cuộc sống tự do, an nhiên
Từ những nhân vật kiểu mẫu như thế, văn hóa ẩn dật từng bước đi vào văn học
Mở đầu là tác phẩm Kinh thi với bài thơ Khảo bàn viết rằng:
Khảo bàn tại lục, Thạc nhân chi trục
Độc mỵ ngụ túc, Vĩnh thỉ phất cốc
(Khảo bàn)
(Nhà ở ẩn trên bờ cao phẳng,
Ý bàn hoàn của đấng đại hiền
Một mình tỉnh giấc nằm yên, Thề rằng mãi chẳng nói truyền ai hay.)
Trang 21(Dịch thơ: Tạ Quang Phát)
Sau Khảo bàn là một số tác phẩm như Vịnh hoài của Nguyễn Tịch, chùm thơ Vịnh sử
của Tả Tư,…cũng đề cập đến cách sống nhàn tản, tiêu dao
Hạo thiên thư bạch nhật, Linh cảnh diệu Thần Châu
Liệt trạch tử cung lý, Phi vũ nhược vân phù
Nga nga cao môn nội,
Ái ái giai vương hầu
Tự phi phan long khách,
Hà vi hốt lai du
Bị cát xuất xương hạp, Cao bộ truy Hứa Do
Chấn y thiên nhận cương, Trạc túc vạn lý lưu
Áo mỏng ra khỏi cửa, Thẳng bước theo Hứa Do
Phủi áo núi ngàn trượng,
Trang 22Rửa chân sông nước tỏ)
(Dịch thơ: Vũ Bội Hoàng) Cuộc sống nơi triều đình chật hẹp, hiểm hóc với: “Cung cấm san sát bày\ Nhà nhà như mây che\Nguy nga trong cửa lớn\Nhan nhản toàn công hầu\Ta bám rồng chẳng muốn\Lui tới ích gì đâu” khiến con người chán ngán, buồn tênh, nên đành “Áo mỏng ra khỏi cửa\Thẳng bước theo Hứa Do” mà sống cuộc sống nơi thiên nhiên mênh mông rộng lớn với ngày tháng nhàn rỗi, tiêu dao
Học tập quan niệm, thành quả của người đi trước, Đào Uyên Minh đã đưa những hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dật vào thơ văn của mình, đồng thời chính bản thân ông cũng là một ẩn sĩ nổi tiếng Ông sống vào thời Đông Tấn, làm quan Bành Trạch chỉ trong một thời gian ngắn Vì không chấp nhập cuộc sống khom lưng uốn gối, ông
bỏ mũ áo về quê sống cảnh thanh bần, vui thú điền viên Ông đã chọn cho mình một quan niệm sống đúng đắn, dù đôi lúc rất khó khăn, nhưng qua đó, càng làm nổi bật khí khái, phẩm chất thanh sạch, cao khiết của mình Chính vì thế, các văn nhân Trung Quốc lẫn Việt Nam đều hết sức ngưỡng vọng, ca ngợi, và xem ông như một hình mẫu
lý tưởng để “Đạp gót mong theo người ẩn dật”
Tiếp nối truyền thống, nét văn hóa ẩn dật của Trung Quốc, Việt Nam là một nước láng giềng, chịu ảnh hưởng nhiều mặt của Trung Quốc, nên cũng có những nét tương đồng về văn hóa, văn học
Trước hết là Bùi Tông Hoan, ông từng làm quan dưới triều Trần Anh Tông (1293 – 1314), thơ ông hiện chỉ còn lại 3 bài, nhưng thể hiện khá rõ quan niệm sống nhàn tản, hòa mình vào thiên nhiên, hoa lá cây cỏ của tác giả Có thể nói, thiên nhiên
luôn được chú ý và trải rộng trong những bài thơ của ông Tiêu biểu là bài Vũ hậu tân
Trang 23Thuỷ trướng phương trì nhất nhãn khai
Bất tảo đình nê hoà lạc diệp, Dục khuynh thế thạch hữu niêm đài
Nhàn trung cảnh thú hồn như hứa, Thuyết dữ bàng nhân mạc lãng sai
(Vũ hậu tân cư tức sự )
(Hửng nắng tan mưa mấy lượt rồi, Sớm nay ra ngõ đứng nhìn chơi
Đường cong cỏ mượt: đôi mày khép, Nước đẫy ao vuông: một mắt soi
Lá lẫn bùn lầy sân khó quét, Thềm trơn rêu mốc, đá toan dời
Hồn nhiên trong cảnh nhàn như vậy, Bác láng giềng xin chớ vội cười )
(Dịch thơ: Huệ Chi) Con người đứng giữa thiên nhiên bao la, với một tâm thế ung dung, nhàn nhã:
“Sớm nay ra ngõ đứng nhìn chơi”, “Hồn nhiên trong cảnh nhàn như vậy” để cảm nhận
vẻ đẹp, hơi thở của cuộc sống lúc bình minh Thật là một bài thơ đẹp, đẹp từ cảnh vật đến tâm trạng nhân vật trữ tình Trong thơ Bùi Tông Hoan, chúng ta đã thấy rất rõ phong thái của người nhàn, người ẩn dật Tác giả luôn trong trạng thái một mình đối
diện với thiên nhiên: “Phi y độc tự lập giang thiên” Nếu ở bài thơ Vũ hậu tân cư tức sự Bùi Tông Hoan ngắm nhìn cảnh đẹp thiên nhiên lúc bình minh, thì ở bài Giang thôn thu vọng ông lại đối diện với thiên nhiên lúc chiều tà “Chiều muộn ngắm trông ai có
thấy\Lúa vờn mây biếc ngập đồng xanh” Con người khi bắt gặp vẻ đẹp của thiên nhiên lưu luyến không muốn rời, cứ thế mải miết chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấy bất kể lúc sáng sớm còn mờ sương hay lúc chiều tà khói bay thấp thoáng Thế mới biết vẻ đẹp của thiên nhiên có sức cuốn hút thế nào với thi nhân
Trang 24Tiếp sau Bùi Tông Hoan là một Trần Quang Triều Trần Quang Triều (1286 – 1325) còn có tên là Nguyên Đạo và Nguyên Thụ, hiệu là Cúc Đường chủ nhân, còn có tên hiệu khác là Vô Sơn ông Trần Quang Triều là người có tài, có đức, lại thuộc con nhà dòng dõi, từng giữ nhiều trọng trách trong triều, nhưng tính ông không tham vinh hoa phú quý, nên quyết về am Bích Động sống cuộc sống ẩn dật Những trước tác của ông phần nhiều thể hiện quan niệm sống tự do, nhàn dật, những thú vui thanh nhã của người ẩn dật như uống rượu, ngâm thơ, ngắm trăng,…Tiêu biểu trong số thơ hiện còn
của ông có bài thơ Đề Gia Lâm tự được viết như sau:
Tâm hôi oa giác mộng,
Bộ lý đáo thiền đường
Xuân vãn hoa dung bạc, Lâm u thiền vận trường
Vũ thu thiên nhất bích, Trì tịnh nguyệt phân lương
Khách khứ tăng vô ngữ, Tùng hoa mãn địa hương
(Lòng danh lợi nguội lâu rồi Bước chân thanh thản dạo nơi cửa thiền Hoa xuân mỏng mảnh trước hiên
Tiếng ve rừng vắng vang miền lá xanh Tạnh mưa càng biếc thiên thanh
Ao trong trăng toả mát cảnh núi đồi Khách đi sư chẳng nói lời
Đất thơm ngát cả một trời hoa thông.)
(Dịch thơ: Nguyễn Duy) Trước thời thế suy vi, người quân tử thường ẩn mình, nguội lạnh với mọi việc của thế sự, họ bước chân xa lánh hồng trần, quay về thảnh thơi với cảnh thiền tịnh,
Trang 25tiếng chuông chùa, vui thú và hòa mình trong cảnh trí thiên nhiên: “Lòng danh lợi
nguội lâu rồi\Bước chân thanh thản dạo nơi cửa thiền”
Vẫn ở đời Trần, còn xuất hiện thêm một Trần Hiệu Khả với những dòng thơ tiêu biểu như:
Điềm nhiên một giấc vui tính trời, Tỉnh ra muôn việc đều quên tiệt
(Tức sự) Rồi một Chu Văn An, một Trần Nguyên Đán,… Chu Văn An sau khi dâng Sớ thất trảm không được vua nghe theo, ông đã cáo quan về quê dạy học, vui thú điền
viên Trần Nguyên Đán chán cảnh thời cuộc nhiễu nhương cuối đời Trần cũng quyết dứt áo từ quan, quay về ẩn dật trong lòng thiên nhiên Nhưng có lẽ phải đến Nguyễn Trãi, hình ảnh con người ẩn dật mới được khắc họa đậm nét Khi ở ẩn Côn Sơn, hình ảnh ẩn sĩ quy ẩn vui thú, hòa mình trong lòng thiên nhiên được Nguyễn Trãi khắc họa rất rõ trong thơ khi ông viết:
Láng giềng một khóm mây bạc, Khách khứa ba ngàn núi xanh
Hay như câu:
Núi láng giềng, chim bầu bạn,
Mây khách khứa, nguyệt anh em
“Có thể nói, phải đến Nguyễn Trãi, chữ nhàn mới được nhắc nhiều lần trong thơ
Trong tập Ức Trai quốc âm thi tập ông viết:
Sá lánh thân nhàn thuở việc rồi,
Cởi tục, trà thường pha nước tuyết…
Nguyễn Trãi tiêu biểu cho tầng lớp sĩ phu trong thời kì phong kiến thịnh trị, hăm
hở đem tài năng ra giúp nước Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, và có công trong việc xây dựng chế độ phong kiến tập quyền đời Lê Tuy ông cũng có lần sống ẩn dật vì mâu thuẫn với bọn gian thần, nhưng nói chung đời ông là một cuộc đời
Trang 26hoạt động Ông là một nhà nho thuần túy, với lí tưởng quân thân báo đáp Cái ẩn dật của ông chỉ là cái thế tạm thời, ông sống vui với thiên nhiên để di dưỡng tâm thần, đợi lúc được vời ra giúp nước lại “lăn xả” vào cuộc đời nhằm thực hiện đại chí “trí quân trạch dân”:
Ngồi thừ tháng lọn mấy ngày qua, Luống phụ triều đình luống phụ nhà
Giang sơn cách đường nghìn dặm,
Sự nghiệp buồn đêm trống ba
Nợ cũ trước nào báo bổ,
Ơn thầy, ơn chúa với ơn cha…
(Tự thán)” [62;tr.234]
Từ lâu, các nhà nghiên cứu của Việt Nam đều thống nhất quan niệm có ba loại nhà nho: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử Trong đó, kiểu nhà nho hành đạo là những nhà nho xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, học vỡ sách thánh hiền, thi cử làmquan, giúp nước giúp dân, phò xã tắc,… Họ thường thể hiện quan niệm “thi
dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo” trong sáng tác của mình Thứ hai là loại hình nhà nho ẩn dật, họ cũng là người học sách thánh hiền, cũng có hoài bão “trí quân trạch dân”, thi thố tài năng giúp vua giúp nước, nhưng gặp thời thế loạn lạc, vua tối, bề tôi lạm quyền,
xã hội rối ren,… Họ quyết lui về ẩn dật, sống nhàn nhã nơi thôn quê, vui thú điền viên
để giữ trọn khí tiết của mình Sáng tác của những nhà nho ẩn dật này thể hiện vẻ đẹp thanh tú của thiên nhiên, những thú vui thanh nhã như câu cá, trồng hoa, uống rượu, ngắm trăng, làm thơ, đánh cờ…, nhưng cao hơn cả là thông qua thiên nhiên để thể hiện tâm thái ung dung, đĩnh đạc của chính mình Loại hình nhà nho ẩn dật lại có thể phân tiếp thành hai loại, trong đó loại thứ nhất là trả ấn quan về ở ẩn, trường hợp này gọi là
ẩn do hoàn cảnh; thứ hai là chủ định không ra làm quan, chỉ muốn sống mai danh ẩn tích, vui thú với cảnh điền viên Loại hình nhà nho cuối cùng là nhà nho tài tử, xuất
Trang 27hiện vào giai đoạn nhất định của lịch sử, khi xã hội phong kiến đã bộc lộ ngày càng rõ
sự suy thoái, loạn lạc
Thế kỉ XV, XVI là những thế kỷ đầy biến động trong lịch sử xã hội Việt Nam, trong bối cảnh vua chúa đam mê tửu sắc, không chăm lo cho dân cho nước, loạn lạc xảy ra khắp nơi Kẻ sĩ chính trực thường tỏ ra bất mãn với thời cuộc, họ tìm về quê, xa lánh chồn phồn hoa, danh lợi bon chen, mọi giá trị đạo lí đều đảo lộn, con người trọng tiền của hơn trọng tình:
Thời nay nhân nghĩa tựa vàng mười,
Có của thì hơn hết mọi người
(Thơ Nôm, bài 13) Nói về lực lượng sáng tác của giai đoạn này, tác giả Bùi Duy Tân nhận xét:
“Lực lượng sáng tác thời này chủ yếu là ẩn sĩ, những người đã rút lui khỏi triều đường hoặc chưa từng ra làm quan, sống ẩn dật nơi thôn dã Họ là những người tuy không còn mong thực hiện lý tưởng tu, tề, trị, bình của kẻ sĩ nhưng giữ được tấm lòng trong
sạch ” [62;tr.613]
Còn nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương đã nhận xét về loại hình nhà nho ẩn dật như sau: “Không xuất chính, không nhận áo mũ của triều đình, không vướng bận nhiều với thân phận thần tử, lại thuộc loại người được triều đình miễn mọi thứ lao dịch, tô
thuế, người ẩn dật "cày lấy ruộng mà ăn, đào lấy giếng mà uống.” [82]
Đại diện tiêu biểu nhất cho nhà nho ẩn dật ở thế kỉ XVI là Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XX có câu viết rằng: “Nói
tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nói chí” Áp dụng quan niệm
“thi ngôn chí” này vào trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông tự cho rằng chí mình để ở
sự nhàn dật Tác giả vốn hanh thông trong đường công danh; chí ẩn dật ở ông không phải do bất đắc chí trên con đường hoạn lộ, mà do một quan điểm nhân sinh có gốc rễ
ở các tư tưởng của tam giáo, tất nhiên yếu tố mang tính quyết định vẫn là nguyên tắc
Trang 28“hành, tàng” mà Mạnh Tử đã nêu ra trong sách Mạnh Tử, ngoài ra còn do sự chiêm nghiệm có tính bao quát về thời thế của chính tác giả
Triết lý nhàn dật ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là dạng khá phổ biến của trí thức Nho sĩ vùng Đông Á sau giai đoạn Đường - Tống Nó có ý nghĩa khẳng định con người với tư cách cá nhân, con người lạc thú, dù lạc thú đó mang màu sắc thuần về giá trị tinh thần; con người có tự do, dù phạm vi thể hiện tự do là nơi ẩn dật, là không phiền lụy ai và làm điều lành cho mọi người Nhàn dật cốt để được tự tại Tự tại là một dạng triết lí tự
do cá nhân mà bậc cao sĩ muốn tuyên ngôn bằng thơ”.[96]
Nguyễn Bỉnh Khiêm sống giữa thời thế loạn lạc, làm quan 8 năm, ông dâng sớ xin chém đầu 18 tên gian thần, không được chấp thận, ông đã lui về quê, mở trường dạy học, sống cuộc sống nhàn dật với người dân xung quanh, vui với trăng trong gió mát:
Gió mát trăng trong là tương thức, Nước biếc non xanh ấy cố tri
“Cái bất lực của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước thời cuộc đã tìm được lối thoát trong cái triết lí nhân sinh xuất xử và thể hiện bằng chữ “nhàn””[62;tr.233] Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ làm quan 8 năm, quả thật rất ít so với quãng thời gian ông sống ẩn dật tại quê nhà - làng Trung Am Vì thế các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho ẩn dật, sáng tác của ông phần lớn cũng thể hiện quan niệm, hình ảnh
ẩn dật
Chính Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết trong lời tựa Bạch Vâm am thi tập : “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui, rất là vụng về trong nghề thơ Tuy nhiên, cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng vẻ đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý…”
Trang 29“Nhàn dật trong quan niệm của trí thức thời trung đại ở nước ta có chỗ khác với Trung Quốc Nó không đậm, thậm chí không có tư tưởng thoát li xã hội Nó chưa bao giờ là cứu cánh, mà chỉ là một lối sống, một cách ứng xử, một phương tiện thoát li những ràng buộc danh lợi, để được sống lạc thiên, tri mệnh, khoáng đạt, có lạc thú Nó pha sắc thái Lão Trang, Phật giáo nhưng Nho vẫn là chủ thể Nhàn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy, khi ông quay lưng với công danh, với sự nghiệp, với danh lợi bon chen, với thói đời đen bạc, mà vẫn ưu thời mẫn thế, thì nhàn vẫn đậm khí vị của quan niệm “hành tàng”, “xuất xử”, “nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư” của Nho học:
Từng xem sách cũ một hai pho, Mến đạo thề chẳng phụ nghiệp nho
(Thơ Nôm, bài 27) [62;tr.402]
Nguyễn Bỉnh Khiêm thừa nhận mình theo nghiệp nho, và cũng không phụ nghiệp nho, sách vở thánh hiền đã giáo dưỡng cho ông lòng trung quân ái quốc, là kẻ sĩ
có trách nhiệm với nước với dân:
Quân thân thề hết lòng thờ một, Xuất xử cầu chưa đạo được hai
(Thơ Nôm, bài 12) Như vậy, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho chính thống, con người ông hội đủ tất cả những yêu cầu mà nho giáo đã đặt ra cho người quân tử Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm sống vào giai đoạn suy thoái của chế độ phong kiến, vua ham mê tửu sắc, gian thần lộng quyền, chiến tranh liên miên Ông từng thi thố, mang tài năng giúp vua giúp nước, cuối cùng không thỏa ước nguyện nên ông đã chọn cho mình con đường ẩn thân:
Thuở áng công danh nhiều phải lụy, Trong nơi ẩn dật mấy nên mầu
Thuở nơi doanh mãn là nơi tổn, Hãy gẫm cho hay mới kẻo âu
Trang 30(Thơ Nôm, bài 9) Gặp thời bình, vua sáng tôi hiền thì giúp nước giúp dân, nhưng khi đất nước loạn lạc thì về với vườn xưa:
- Hội cả công danh, nhiều phải chí,
Thú nhàn sơn dã, mấy nên mùi
(Thơ Nôm, bài 10)
- Niềm xưa trung ái, thề chẳng phụ,
Cảnh cũ điền viên, thú đã quen
(Thơ Nôm, bài 11) Giữa hai con đường xuất xử, hành tàng, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm ưa cảnh sống nhàn, gần với thiên nhiên hơn Xét cho cùng, đây chính là nét văn hóa trọng tình,
gần thiên nhiên của người Việt Vì ông từng viết “Để rẻ công danh đổi lấy nhàn”
Thuở nơi xuất xử đâu là phải?
Ở ắt nên, về cũng ắt nên
(Thơ Nôm, bài 7) Xuất hay xử, con đường nào đúng, con đường nào sai? Đôi lúc thật khó phân biệt rạch ròi Nhưng dù xuất hay xử, hành hay tàng thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đã:
Lão lai vị ngải tiên ưu chí, Cùng, thông, đắc, táng khởi ngã ưu
(Tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi, Cùng, thông, đắc, táng ta có lo chi riêng mình)”
(Tự thuật) Đại Việt sử loại của Vũ Khâm Lân có viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:
“Tuy ở nhà 44 năm mà lòng không ngày nào quên đời, ưu thời mẫu tục đều lộ trong thơ.” Còn Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” có nhận xét: “Lòng trạng không một lúc nào quên đời Lo thời thương tục đều phát lộ ra thơ”
Trang 31Nguyễn Bỉnh Khiêm khi ở ẩn cũng thường tách mình ra khỏi thế nhân, ông tự nhận mình là dại, là ngu…
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn người đến chốn lao xao
(Thơ Nôm, bài 73) Đồng thời Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng biếng việc giao du với người đời, ông luôn trong trạng thái, trong tâm thế một mình đối diện với thiên nhiên hữu tình:
Một mai, một cuốc, một cần câu
(Thơ Nôm, bài 73) Hay
Có thuở lên lầu ngồi đợi nguyệt Một mình uống, lại một mình kham
(Thơ Nôm, bài 22)
Lo cho dân cho nước hết mình ở mọi cương vị, quên đi bản thân mình nên trong lòng ông đã phần nào thỏa nguyện :
- Đến chốn nào vui chốn ấy, Dầu ta tự tại, có ai han
(Thơ Nôm, bài 23)
- Quân tử gẫm hay nơi xuất xử,
Ắt là khôn hết cả hòa hai
(Thơ Nôm, bài 39)
Trong Giáo trình văn học Việt Nam, Phạm Văn Diêu cho rằng: “Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy có ba nhân cách phù hợp với nhau tấu thành một bản sắc không phàm Ông là một nhà nho theo nghĩa thuần túy của nó, ông là một vị quan gương mẫu nhưng cũng là một nhà ẩn dật phiêu nhiên, thích thảng” Qủa thật, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm,
chúng ta thấy hội tụ những chuẩn mực của nho gia đề ra cho người quân tử hành đạo, đồng thời ở ông cũng phảng phất tư tưởng Lão – Trang, thể hiện một con người sống
Trang 32vô vi, an nhiên, tự tại Nhưng nổi bật nhất ở Nguyễn Bỉnh Khiêm có lẽ chính là những
sáng tác thể hiện quan niệm sống nhàn tản Theo Thanh Lãng: “Cứ thơ văn còn lại, ta thấy ông có một hệ tư tưởng duy nhất: yếm thế, vì yếm thế nên ông tìm nơi ẩn dật, an hưởng chữ nhàn.” Tư tưởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể nói là đậm nét
hơn so với các nhà nho ẩn dật khác “Cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có khía cạnh giống như cái nhàn của các bậc tiền bối, (như tình yêu thiên nhiên, khinh thường công danh phú quí…) nhưng ở đây tư tưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cả một triết lí nhân sinh, dựa trên một vũ trụ quan có hệ thống, trở thành như một cái đạo cuộc sống, phù hợp với hoàn cảnh và tâm lí sĩ phu lúc mà chế độ phong kiến đã ở trên con đường suy biến.”[62;tr.234]
Trang 33CHƯƠNG 2
HÌNH ẢNH TỰ NHIÊN MANG Ý NGHĨA
ẨN DẬT TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM
2.1 HÌNH ẢNH MÂY
Văn học nhân loại từ xưa đến nay luôn có một mẫu số chung trong việc thể hiện quan niệm quay về với thiên nhiên Người phương Tây có quan niệm khám phá, chinh phục thiên nhiên, nên họ luôn tách mình ra khỏi thiên nhiên Trái ngược với quan niệm nhị nguyên của người phương Tây là quan niệm nhất nguyên của người phương Đông Người phương Đông quan niệm con người và thiên nhiên luôn hòa hợp làm một, con người là một bộ phận không thể tách rời của thiên nhiên theo nguyên tắc “thiên – nhân
hợp nhất” Người xưa có câu “Coi đạo trời để hiểu đạo làm người”, coi con người là
một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la nên sống hòa hợp với thiên nhiên và luôn bảo vệ thiên nhiên Về nội dung này, các trường phái triết học Trung Quốc có nhiều sự giải
thích khác nhau Khổng Tử trong Luận ngữ đã từng nói rằng: “Trí nhân nhạo thủy,
nhân nhân nhạo sơn” (Người có trí óc, vui với nước, người có lòng nhân vui với non) Câu nói ngắn gọn trên cho ta thấy cả một quan niệm sống mang tính triết lí nhân sinh của các bậc tiền nhân, đó là con người có con tim, khối óc thì luôn biết tìm niềm vui sống bên thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm bạn tâm tình Và khi đã trở về với thiên nhiên, con người lại có cơ hội đối diện với cái bản lai diện mục của chính mình, nhận ra tất cả những công danh, phú quý cũng chỉ là phù du và muốn vượt thoát ra khỏi vòng danh lợi, lánh xa chốn bon chen để được sống đúng với bản chất tự nhiên nhất của con người
Kinh Dịch cho rằng: “Bậc đại nhân hợp đức với trời đất, chung ánh sáng với mặt trời,
mặt trăng, hợp tuần tự với bốn mùa, hợp cát hung với quỷ thần, làm trước trời mà không trái ý trời, làm sau trời mà theo thiên thời” Mạnh Tử cho rằng trời và người thông với nhau, tính thiện là do trời phú, tận tâm thì biết được tính, biết được tính thì biết được trời
Còn Trang Tử cho rằng trời và người vốn hợp nhất, “Trời đất cùng sinh ra với ta, vạn vật
Trang 34cùng với ta là một” Trình Di và Trình Hạo thì nói: “Trời và người không phải là hai, bất tất phải nói hợp” Ở Trung Quốc, ý kiến khác nhau này còn tiếp tục cho đến cuối thời phong kiến
Còn ở Việt Nam, cha ông ta từ thời phong kiến cũng có những quan niệm thể hiện mối quan hệ giữa trời đất và con người, “các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam đều khẳng định trời và người không phải tách rời nhau như hai thực thể đối lập
mà có liên hệ mật thiết với nhau, có thể thấu hiểu, giúp đỡ hoặc hóa giải nạn tai cho con người nếu con người thật sự có thành ý và chân thành khấn xin làm cho trời cảm động Về thực chất, đây cũng chính là nội dung của các thuyết “thiên nhân tương đồng”, “thiên nhân cảm ứng”, “thiên nhân hợp nhất” mà Hán Nho đã đưa ra Các nhà Nho Việt Nam đều quan niệm quyền lực của vua là do trời trao cho để thực hiện ý chí của trời, vị vua ấy phải thường xuyên chăm lo công việc trị nước, cai quản muôn dân
và quan sát những biến đổi của trời đất để xem việc mình làm có thuận theo ý trời hay không Nếu việc làm của vua trái với ý trời, trời sẽ hiện ra những điềm tai biến để cảnh báo, như lụt lội, hạn hán, bệnh dịch, và vua phải theo đó mà điều chỉnh việc làm của mình, thành ý cầu xin trời thì mới mong chấm dứt được những điều tai ương [95] Thế
kỷ XVI - XVIII, hầu hết các nhà Nho cũng cho rằng, giữa trời và người có sự thống nhất với nhau Đó cũng là nguồn gốc của lối sống an nhiên tự tại thường thấy của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng Điều đó giúp chúng ta hiểu vì sao trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm lại xuất hiện rất nhiều câu thơ thể hiện mối quan hệ thống nhất giữa con người với thiên nhiên trong một trạng thái, một tâm thế an nhàn, thảnh thơi, tự tại:
Thong thả: hôm khuya nằm, sớm thức, Muôn vàn đã đội đức trời Nghiêu
(Thơ Nôm, bài 3)
Am quán ngày nhàn, rồi mọi việc, Dầu ta tự tại, mặc dầu ta
Trang 35(Thơ Nôm, bài 14)
Và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhiều lần thể hiện sự gắn kết giữa bản thân và thiên nhiên trong thơ:
Lấy chẳng ai cấm, mặc ai dùng,
Hễ của tự nhiên, ấy của chung
(Thơ Nôm, bài 30)
Hễ của tự nhiên, có ít nhiều, Một kho tạo hóa cũng chia đều
(Thơ Nôm, bài 37) Cái đẹp của thiên nhiên gắn liền với thơ ca nghệ thuật và ngược lại Cổ ngữ có câu:
“Sơn thủy tích văn chương dĩ hiển, văn chương diệc bằng sơn thủy dĩ truyền.” (Cảnh
sơn thủy mượn văn chương mà biểu lộ cái đẹp, văn chương lại nhờ vào cảnh sơn thủy
mà lưu truyền.)
Thật vậy, hình ảnh thiên nhiên gói trong nó những gì hàm súc nhất, cô đúc nhất, nhưng lại mang một ý nghĩa tỏa lan, chính bởi hình ảnh đó xuất phát từ cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ, hơn nữa đó còn là những hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dật Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có những hình ảnh ẩn dật xuất hiện với tần số cao như những hình ảnh bạch vân, hoa cúc, hoa mai, cây tùng, cây trúc, Những hình ảnh này được xem là phương tiện cấu thành thế giới thơ và cả thế giới ẩn dật của ẩn sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trước hết đó là hình ảnh “bạch vân” Trong Bạch Vân am thi tập, có rất nhiều
câu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng hai chữ “bạch vân” “Bạch vân” là mây trắng, thể hịên một con người an nhiên, tự tại, không bị ràng buộc bởi danh lợi Có lẽ không phải
ngẫu nhiên mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt tên hai tập thơ của mình là Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi Chỉ qua tựa hai tập thơ Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi ta cũng thấy hình ảnh “bạch vân” lồng lộng, nó như một sợi chỉ đỏ
xuyên suốt các sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ứng chiếu nhân cách, tâm hồn của
Trang 36thi nhân Có thể nói hình ảnh “bạch vân” chiếm vị trí và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng thời trở thành một ám ảnh nghệ thuật trong thơ của “ông nhàn”:
Bạch Vân am vắng chim kêu muộn, Kim tuyết dòng thanh cá mát tươi
(Thơ Nôm, bài 109)
Tân quán Vân am mịch cựu du
(Hãy tìm chỗ chơi cũ ở quán Tân am Bạch Vân.)
(Cảm hứng thi, bài 5)
Mây có muôn nghìn dáng vẻ, có thể tự do bay lượn khắp nơi, một sự tự do, tự tại tuyệt đối Đặc biệt hình ảnh “bạch vân” mang biểu trưng cho một nhân cách cao khiết, một phẩm chất thanh cao, thoát ra vòng danh lợi, phóng khoáng, thanh tao, phiêu diêu, thích thảng…
Bạch Am cao ngọa bạch vân trù,
Dã tính sơ dung diệc tự tu
(Am Bạch Vân nằm cao giữa vùng mây trắng dày đặc, Tính trời vốn lười, biếng việc giao du cũng cảm thấy thẹn)
(Bệnh hậu thuật hoài)
Câu thơ trên thể hiện cảnh giới ẩn dật của người ẩn sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm
“biếng việc giao du”, tự tạo cho mình một không gian riêng tư, là chốn bình yên để cảm nhận cuộc sống nhàn tản nơi am Bạch Vân Để rồi từ “Am Bạch Vân nằm cao giữa vùng mây trắng dày đặc” ấy, mây trắng đã đi vào giấc mộng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hay nói khác hơn, đó chính là sự khát khao, mong mỏi cuộc sống tự do, tự tại không chỉ nằm sâu trong tâm trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn nằm sâu trong tiềm thức:
Phấn thự chu tuyền duyệt kỷ sương, Bạch vân nhập mộng tạm vinh hương
Trang 37(Tiễn Tuyên Quang lại tào lang vinh hương)
Như vậy, ta có thể thấy “bạch vân” là một trong những hình ảnh chủ đạo, tượng trưng cho cuộc sống ẩn dật của ẩn sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm Cũng chính vì thế, hình ảnh
“bạch vân” xuất hiện rất nhiều lần trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Cụ thể như:
Minh nguyệt ư nhân tùy xứ hữu, Bạch vân dữ ngã tống nhàn lai
(Trăng sáng bởi người nơi nơi có, Mây trắng đem nhàn đến cho ta)
(Tân quán ngụ hứng, bài 12)
Hay:
Bán hoằng bôn thủy lưu minh nguyệt,
Sổ điểm tàn sơn nhạ bạch vân
(Hồ nước trong veo in hình bóng trăng sáng, Mấy ngọn núi xa là nơi sản sinh ra mây trắng)
(Cảm hứng, bài 2)
Và đây chính là cảnh giới của người ẩn sĩ
Hồng nhật đông thăng tri đại hải, Bạch vân tây vọng thị Thần châu
(Ngụ ý, bài 1)
(Hướng đông nơi mặt trời mọc, biết là biển lớn;
Từ vùng mây trắng nhìn về phía tây, nơi ấy chính là chốn kinh thành.) Nơi ẩn dật dùng vùng mây trắng để tượng trưng, là nơi phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên Và đó chính là cảnh giới lý tưởng mà ẩn sĩ mong đạt tới
Tụ nhạ bạch vân miên xứ ổn, Bôi lưu minh nguyệt túy thời mang
(Lão cuồng, bài 2)
(Mây trắng bay ra từ tay áo, nơi ngủ có cảm giác yên ổn,
Trang 38Đáy ly in hình trăng sáng mải ngắm trong lúc say)
“Bạch vân” - biểu tượng của cảnh giới tự do, nhàn nhã, trong ánh mắt của
người say, dường như bay ra từ tay áo rộng và mây trắng mang lại cảm giác bình yên cho Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thấy dặm thanh vân bước ngại chen
Thanh vân tranh tự bạch vân nhàn
Thanh vân tranh tự bạch vân cao
Mây trắng (bạch vân) hoàn toàn khác với mây xanh (thanh vân) chỉ con đường công danh hanh thông ở đời:
Tân quán nhật cao miên vị khởi, Thanh vân tranh tự bạch vân nhàn
(Tự thuật hựu thể)
(Tân quán mặt trời đã lên cao, vẫn chưa ngủ dậy;
Mây xanh sao có thể đem đến cảm giác nhàn nhã như mây trắng? )
Thấy dặm thanh vân bước ngại chen
Được nhàn ta sá dưỡng thân nhàn
(Thơ Nôm, bài 8 )
Trang 39Vì vậy, với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “bạch vân” vượt xa thanh vân đã tự bao giờ:
Thanh vân tranh tự bạch vân cao
(Thanh vân làm sao cao bằng bạch vân.)
(Lý cư giản chư đồng chí) Thanh vân tranh tự bạch vân nhàn
(Thanh vân thua hẳn bạch vân nhàn)
(Ngụ hứng, bài 10)
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vượt thoát ra ngoài vòng danh lợi, đồng thời ông là người rất ý thức về cuộc sống của bản thân, cuộc sống an nhiên tự tại nơi Bạch Vân am:
Bạch Vân, am tớ cỏ hoa tươi
(Thơ Nôm, bài 110) Còn mây xanh thể hiện công danh bức bách, con người bị ràng buộc bởi lợi danh, không có sự tự do, chỉ mây trắng mới đem đến sự nhàn nhã, bay bổng cho nhà thơ:
Thùy thị thùy phi tu thuyết trước, Thanh vân tranh tự bạch vân cao
(Ai đúng ai sai thôi đừng nói, Mây xanh sao có thể bay cao bằng mây trắng?)
(Lý cư giản chư đồng chí)
Vì khi đối diện với “bạch vân”, người ẩn sĩ mới thực sự cảm thấy được nhàn nhã, thư thái, tự do:
Bạch Vân am bàng bạch vân hương,
Cận ấp giang lâu đối tịch dương
(Tự thuật, bài 1)
(Am Bạch Vân ở cạnh làng mây trắng, Chiều đến múc nước nơi giang lầu đối diện với tà dương)
Trang 40Và cũng chính mây trắng là nơi để con người giữ vững được “thiên chân”, giữ vững được nhân cách:
Bạch Vân am tận bạch vân hương, Thủ chuyết đô vô hoạn tích mang
(Tân quán ngụ hứng, bài 27)
(Am Bạch Vân ở cạnh làng mây trắng, Đây là nơi để ta dưỡng vụng (giữ bản chân của ta), hoàn toàn không phải bức bách bởi nghiệp quan trường)
Trở lại với nguồn gốc của hình ảnh “bạch vân”, thì hình ảnh “bạch vân” xuất
hiện trong điển tịch Trung Quốc khá sớm, nhưng ở giai đoạn đầu, nó vẫn chưa mang ý
nghĩa ẩn dật Thiên Thiên địa trong sách Trang tử chép: “Phàm thánh nhân có thể tùy
ngộ nhi an, hoàn toàn không để tâm vào việc uống ăn, khác nào cánh chim bay không
để lại dấu tích; thiên hạ thái bình, hưng thịnh cùng vạn vật; thiên hạ loạn lạc, chọn cuộc sống ẩn dật để giữ gìn thiên lương; ngàn năm ngại dấn thân vào chốn hồng trần, đến khi thoát tục thành tiên, lại phiêu diêu cùng mây trắng, ở ngoài cõi hư vô, không chút
tai ương, hỏi còn gì phải lo lắng?” Thiên Canh trụ sách Mặc tử chép: “Mây trắng bồng
bềnh, chòm nam chòm bắc, chòm tây chòm đông Được chú ý từ thời nhà Chu, có thay
đổi nhất định dưới thời Tam Quốc.”
“Bạch vân” biểu trưng cho sự tự do, cao khiết, ở đây nó chính là cây cầu nối hai thế giới thực tại và mộng tưởng, cũng chính là cảnh giới thực tại và cảnh giới ẩn dật của ẩn sĩ Với ẩn sĩ, hai thế giới này hoàn toàn trái ngược nhau, hiện thực với đầy xấu
xa, bức bách, nguy hiểm, còn mộng tưởng là sự tươi đẹp, nơi tồn tại vĩnh viễn của tự
do Cũng cần chú ý rằng, mây trắng chính là biểu tượng để ẩn sĩ thoát ly hiện thực, vươn tới cảnh giới của sự tự do Xuất hiện khoảng cuối thời Chu, nhưng khi ấy nhắc đến mây trắng phần nhiều chú ý đến ước mong thoát tục thành tiên của con người, khoảng cuối đời Đông Hán, Tam Quốc, cùng với phong khí ẩn dật thấm đẫm trong đời sống xã hội, mây trắng đồng thời trở thành biểu tượng của ẩn sĩ và cảnh giới ẩn dật của