Sau 100 năm kể từ ngày phát hiện, những cuộc khai quật khảo cổ học, những công trình nghiên cứu về văn hoá Sa Huỳnh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã góp phần dựng nên diện mạo cơ bản củ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
Nguyễn Thị Xuân Quý Nga
VĂN HÓA SA HUỲNH TẠI HỘI AN
ĐÀ NẴNG, 05/2013
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
VĂN HÓA SA HUỲNH TẠI HỘI AN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ
NHÂN VĂN HOÁ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
‘
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Văn hoá Sa Huỳnh tại Hội An”, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS NGUYỄN NGỌC HOÀ, người đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Chân thành cảm Trung tâm Quản lí Bảo tồn di sản văn hoá Hội An và Bảo tàng văn hoá Sa Huỳnh tại Hội An đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận thực tế với vấn đề đang nghiên cứu
Cuối cùng, xin cảm ơn các quý thầy,cô giáo trong Khoa Ngữ văn, trường Đại học
Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!!
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Khi luận bàn về văn hóa Việt Nam là luận bàn về một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Và bản sắc đó được tạo nên từ những cộng đồng người cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Dân tộc Việt Nam có những cộng đồng văn hóa khá rộng lớn xuất hiện vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào các thiên niên kỉ tiếp theo Đó là các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Óc Eo, tạo thành tam giác văn hóa của Việt Nam
Một trong ba tam giác văn hóa đó, trong cái nôi cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam là nền văn hóa Sa Huỳnh Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa được xác định ở vào khoảng năm 1000 trước Công Nguyên đến cuối thế kỷ thứ II
Sau 100 năm kể từ ngày phát hiện, những cuộc khai quật khảo cổ học, những công trình nghiên cứu về văn hoá Sa Huỳnh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã góp phần dựng nên diện mạo cơ bản của một nền văn hoá bị chìm khuất; phân tích, đánh giá và so sánh giữa văn hoá Sa Huỳnh và các khu vực văn hoá khác trong vùng lãnh thổ Việt Nam như văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc, văn hoá Óc Eo ở phía Nam sẽ làm sáng tỏ sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
Văn hoá Sa Huỳnh với các di chỉ ở Quảng Ngãi là trung tâm, có ảnh hưởng khá rộng lớn, về phía Bắc tới địa bàn tỉnh Hà Tĩnh với địa điểm Bãi Cọi, về phía Nam là các tỉnh miền Đông Nam Bộ: Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, ngược lên cao nguyên phía Tây là các di chỉ ở Gia Lai, Buôn Ma Thuột Và tại Quảng Nam – Đà Nẵng thì sự hiện diện rõ rệt nhất của văn hóa Sa Huỳnh là tại Hội An
Hội An, một vùng đất giao lưu và giao thoa văn hóa với nhiều nhân tố nội sinh lẫn ngoại sinh,tự tạo ra cho nơi này một phức thể văn hóa đặc sắc Từ những phát hiện đầu tiên về văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An năm 1989, đến nay các nhà nghiên cứu đã tìm ra nhiều minh chứng cho một nền văn hóa Sa Huỳnh từng hiện hữu rất rõ ràng ở nơi đây Từ
cơ sở nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh sẽ đưa ta đến nền văn hóa Chămpa cũng như các phức thể văn hóa khác tại Việt Nam
Trang 6Trong quá trình đô thị hóa xâm lấn mạnh mẽ văn hoá truyền thống, đô thị cổ Hội
An cũng đứng trước nguy cơ ảnh hưởng đó, việc nhìn nhận đúng hơn về các giá trị văn hóa tại Hội An, mà cụ thể là văn hóa Sa Huỳnh, để có phương án bảo tồn thích hợp là
điều cần thiết Chính vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài “Văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An”
để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh tại Việt Nam nói chung, các công trình này đều tập trung phân tích các mặt lịch sử hình thành, khảo cổ học, nhân chủng học, lịch sử tộc người, ảnh hưởng và giao lưu văn hóa từ nền văn hóa Sa Huỳnh với các nền văn hóa khác và vị trí của nó trong nền văn hóa đa sắc tộc của Việt Nam Như trong nghiên cứu “Văn hóa Sa Huỳnh” (1991) của tác giả Vũ Công Quý, “Cơ sở khảo cổ học” (1975) do giáo sư Trần Quốc Vượng chủ biên, công trình “Cơ sở khảo cổ học” (2008) của tác giả Hán Văn Khân, hay trong sự đối sánh “Mối quan hệ Đông Sơn -
Sa Huỳnh qua những tài liệu mới” (2005) của tác giả Trịnh Sinh trong Hội nghị thông báo khoa học năm 2005 của Viện Khảo cổ học
Và đặc biệt là trong các báo cáo của các nhà nghiên cứu tại “Hội thảo về văn hóa
Sa Huỳnh tại Hội An” diễn ra năm 1995, đã được tập hợp trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An” đã cho thấy nhiều tâm huyết của các nhà văn hóa về vấn đề này Tuy nhiên, vẫn hiếm có một công trình nghiên cứu hay một tác phẩm nào hiện nay có sự nghiên cứu tổng quát và chuyên sâu về vấn đề này mặc dù nó không còn
là một vấn đề mới mẻ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh tại Hội
An và khảo sát các hiện vật khảo cổ của văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
Phạm vi nghiên cứu : Do thời gian có hạn cũng như những hạn chế về khả năng nghiên cứu của bản thân, chúng tôi chỉ xin khảo sát một số địa điểm văn hóa, các di tích,
di chỉ, hiện vật khảo cổ thuộc về văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An và miền Trung Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7Để thực hiện tốt đề tài nhóm đã thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, phương pháp điền dã, phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp…………
-Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Là phương pháp chính được sử dụng trong đề tài Trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới đề tài nghiên cứu, người viết sẽ xử lý, chọn lọc để có những kết luận cần thiết, có được tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu Chẳng hạn như từ những nguồn tư liệu đã có, người viết cần phải hệ thống lại những nguồn tư liệu đã có Người viết cần phải hệ thống lại kiến thức về văn hóa Sa Huỳnh nói chung, lịch sử hình thành trong khu vực Đông Á, sự xuất hiện và hình thành của văn hóa Sa Huỳnh tại Việt Nam, cũng như sự phát triển và lan tỏa của nền văn hóa này qua các vùng miền đất nước;
và đặc biệt là đánh giá dấu ấn văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An…., tất cả nhằm có một cái nhìn tổng quan nhất
-Phương pháp điền dã: Quá trình này giúp sưu tầm thu thập tài liệu, nhằm nhận được thông tin xác thực cần thiết để thành lập ngân hàng số liệu cho việc hoàn thiện đề tài Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã tiến hành đi điền dã, tham quan tìm hiểu các dấu tích văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
-Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp:Phương pháp này giúp định hướng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tương quan, phát hiện ra các yếu tố khu biệt của văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
5 Bố cục của khoá luận
Chương I: Tổng quan về văn hóa Sa Huỳnh
1.1 Lịch sử khám phá văn hóa Sa Huỳnh
1.2 Đặc trưng văn hóa Sa Huỳnh
1.3 Vị trí văn hóa Sa Huỳnh tại Việt Nam
1.4 Văn hóa Sa Huỳnh và mối quan hệ với các văn hóa đồng đại ở Đông Nam Á
Trang 8Chương II: Văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
2.1 Lịch sử xuất hiện và khám phá văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An 2.2 Đặc điểm phân bố các di tích văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An 2.3 Các di tích mộ táng thuộc văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An 2.4 Các di chỉ cư trú thuộc văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
2.5 Đồ gốm trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An 2.6 Đồ sắt trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
2.7 Đồ trang sức trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
Chương III: Giá trị và bảo tồn văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
3.1 Giá trị văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
3.2 Hiện trạng bảo tồn văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
3.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
Trang 9NỘI DUNG Chương I: Tổng quan về văn hóa Sa Huỳnh 1.1 Lịch sử khám phá văn hóa Sa Huỳnh
Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa được xác định ở vào khoảng 1.000 năm trước Công Nguyên đến cuối thế kỷ thứ II Nền văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba cái nôi
cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam, cùng với: Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Óc
Eo (Đồng Nai), tạo thành tam giác văn hóa của Việt Nam Nền văn hóa Sa Huỳnh đã được các nhà khảo cổ trên thế giới nghiên cứu từ lâu và ngày càng sáng tỏ nhiều điều về đời sống của các tộc người thời tiền sơ sử ở miền Trung Việt Nam Xuất hiện cách nay khoảng 3.000 năm và kết thúc vào thế kỷ thứ I, văn hóa Sa Huỳnh có lẽ đã tồn tại hơn 5.000 năm kéo dài từ thời hậu kỳ đồ đá mới đến đầu thời đại đồ sắt trên địa bàn các tỉnh
từ Quảng Bình đến các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên
Văn hóa Sa Huỳnh được nhà khảo cổ người Pháp M Vinet phát hiện lần đầu tiên vào năm 1909 khi ông tìm thấy bên đầm An Khê, một đầm nước ngọt ở Sa Huỳnh Đức Phổ Quảng Ngãi một số lượng lớn quan tài bằng chum (khoảng 200 chiếc) Người ta gọi
Di tích khảo cổ đó là Kho Chum Sa Huỳnh Từ đó đến nay, hàng trăm di chỉ của nền văn hóa này đã được tìm thấy khắp các tỉnh ven biển miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận và lan cả sang một số địa bàn lân cận Từ đó, các cuộc khai quật tiếp theo của các nhà khoa học trong và ngoài nước đem lại những kết quả khá bất ngờ Tuy nhiên, phải đến những năm sau 1975 cho đến nay, những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học Việt Nam mới được tiến hành một cách toàn diện
Các cuộc khai quật vào nhiều năm khác nhau tại di tích gò Ma Vương hay còn gọi
là Long Thạnh, Đức Phổ nơi được xem là có niên đại sớm nhất của nền văn hóa Sa Hùynh, đã đem lại những đánh giá xác đáng và quan trọng về nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển văn hóa Sa Huỳnh Các cuộc khai quật được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, dọc duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ mà nhiều nhất là
Trang 10địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Theo đó, các lần khai quật lớn ở đây lần lượt là: Năm 1976 khai quật tại Gò Ma Vương (Phổ Khánh-Đức Phổ); năm 1997 khai quật tại xóm Ốc (Lý Sơn); năm 2000 tại suối Chình (Lý Sơn); năm 2005 tại Bình Đông (Bình Sơn) và gần đây nhất
là năm 2009 tại xã Đức Thắng (Mộ Đức) Hiện vật tìm thấy qua những lần khai quật cho phép tái hiện không gian văn hóa Sa Huỳnh rộng lớn hơn nhiều so với hình dung của các nhà khảo cổ học Pháp trước đây Các cuộc khai quật này đã phát hiện sự tồn tại của một giai đoạn văn hóa sớm, liền trước, tiền thân của Sa Huỳnh cổ điển, mà ngày nay được định danh là giai đoạn tiền Sa Huỳnh hoặc Sa Huỳnh sớm
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, việc phát hiện và khai quật cụm di tích Giồng
Cá Vồ - Giồng Phệt (thuộc huyện Cần Giờ - TPHCM) đã gây "chấn động" giới khảo cổ học và sử học Đó là những bãi mộ chum lớn với hiện vật vô cùng phong phú, đa dạng về chất liệu cũng như loại hình Đồ tuỳ táng gồm có kiếm sắt, dao sắt, khuyên tai, hạt chuỗi thuỷ tinh, hạt chuỗi vàng, khuyên tai vàng Và cuối năm 2008 đầu năm 2009 mới đây, một cuộc khai quật khảo cổ ở di tích Bãi Cọi (xã Xuân Viên, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã phát hiện những hiện vật đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh như khuyên tai hình hai đầu thú, mộ bình, mộ nồi chôn đứng, mộ chum và rất nhiều hiện vật gốm như chum, vò, bát bồng, nắp nón cụt, khuyên tai ba mấu bằng thuỷ tinh và đất nung, đặc biệt là chiếc chum mai táng hình trái đào Chính những phát hiện này cho thấy, dù đã tròn một thế kỷ phát hiện và nghiên cứu, nhưng văn hóa Sa Huỳnh vẫn luôn tiềm ẩn những bất ngờ, không những thú vị mà còn là thách thức với các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong và ngoài nước
Phát hiện có ý nghĩa khoa học này cho phép khẳng định văn hóa Sa Huỳnh mà người Pháp tìm thấy và định danh có nguồn gốc bản địa, phát sinh, phát triển ngay trên dải đất từ Quảng Bình đến Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, một số hải đảo ven bờ biển miền Trung Việt Nam và có thể rộng hơn, trên nhiều vùng của bán đảo Đông Dương Với sự phân bố khá đậm đặc và liên tục những di chỉ, hiện vật của một nền văn hóa có quan hệ với các nền văn hóa tồn tại đồng đại và không gian giao thoa, tiếp cận mà không phải du
Trang 11nhập từ nơi khác đến Những kết quả khai quật, nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Pháp
và Việt Nam, đã có thể cho chúng ta hình dung một số nét cơ bản về đời sống, sinh hoạt, tín ngưỡng của cư dân Sa Huỳnh Đó là những nhóm người đã biết sử dụng các công cụ,
đồ trang sức, vũ khí bằng đá, xương động vật, thủy tinh, mã não, gốm…, kể cả các công
cụ bằng đồng thau và sắt sớm; biết đánh cá để làm thức ăn, biết làm đẹp cho mình bằng những vật trang sức phong phú, chú ý tạo dáng cho các vật dụng, sáng tạo nhiều dạng hoa văn độc đáo, giàu tính thẩm mỹ, đặc biệt là trên đồ gốm
Bên cạnh những phát hiện mới, những năm gần đây, nhiều cuộc khai quật khảo cổ học đã được tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chămpa Trong nhiều di tích, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những mảnh gốm vừa mang đặc điểm của gốm Sa Huỳnh và cả đặc điểm gốm Chămpa Đây là nguồn tư liệu quan trọng để chứng minh con đường phát triển từ văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Chămpa Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra từ thư tịch cổ một số "yếu tố Sa Huỳnh" trong xã hội và văn hóa Chămpa
Gần đây nhất, dự án “Khai quật khảo cổ về di tích văn hoá mộ chum Sa Huỳnh ở thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng”, đã được xây dựng, triển khai trong ba năm (từ tháng 1/1993 đến tháng 11/1995) và thu thập kết quả,tổ chức báo cáo hội thảo vào ngày 23, 24/11/1995.Kết quả đạt được ngoài việc thiết lập “Nhà trưng bày văn hoá Sa Huỳnh ở Hội An” (nay là Bảo tàng Sa Huỳnh tại Hội An) với 2397 hiện vật phong phú,
đa dạng về chủng loại, chất liệu, đủ điều kiện phục vụ nghiên cứu khoa học, góp thêm một sản phẩm du lịch Hội An; các nhà nghiên cứu còn làm sáng tỏ về văn hoá Sa Huỳnh
ở Hội An khi đặt trong một bối cảnh rộng lớn hơn là Sa Huỳnh của xứ Quảng, Sa Huỳnh miền Trung, của cả nước và của Đông Nam Á
1.2 Đặc trưng văn hóa Sa Huỳnh
1.2.1 Không gian phân bố
Trang 12Các di tích văn hoá Sa Huỳnh phân bố ở mọi địa hình các tỉnh miền Trung Việt Nam với cực bắc là vùng giáp ranh với văn hoá Đông Sơn (Hà Tĩnh) và cực nam là vùng giáp ranh với văn hoá Đồng Nai (Đông Nam Bộ) Những trung tâm chính của văn hoá Sa Huỳnh được tạo lập dựa trên điều kiện tự nhiên và sinh thái của những lưu vực sông lớn
Ở đây đã hình thành những không gian xã hội tương đương với lãnh địa quy mô lớn hay liên minh giữa các lãnh địa theo mô hình hình cây hay mô hình những vòng tròn liên kết phổ biến ở Đông Nam Á cùng thời
1.2.2 Nguồn gốc
Văn hoá Sa Huỳnh Sơ kỳ sắt có nguồn gốc nội sinh với những xúc tác ngoại sinh: Văn hóa Sa Huỳnh sơ kỳ sắt là kết quả của sự kết tinh và hợp nguồn từ các dòng chảy văn hoá Tiền Sa Huỳnh (Long Thạnh, Bình Châu…) và tương đương Tiền Sa Huỳnh (văn hoá Xóm Cồn) Bên cạnh đó, đối với sự hình thành và tiến hoá của văn hoá Sa Huỳnh nhóm yếu tố ngoại sinh đã có vai trò không nhỏ Văn hoá Sa Huỳnh có trường hoạt động rộng và tầm mức thu phát mạnh Một mặt, trong văn hoá Sa Huỳnh có sự hiện diện của yếu tố văn hoá Đông Sơn, Đồng Nai, Đông Nam Á lục địa và Hải đảo, Trung Hoa, Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải… Mặt khác, hiện vật của văn hoá Sa Huỳnh cũng được tìm thấy trong nhiều địa điểm khảo cổ cùng thời ở Đông Nam Á và Việt Nam
1.2.3 Nội hàm văn hoá Sa Huỳnh
Những hiểu biết về tính chất văn hóa của văn hoá Sa Huỳnh chủ yếu đến từ các di tích mộ táng - những khu mộ địa đôc lập trên sườn cồn cát, đồi gò ven sông, trên những giồng đất cao Táng thức chủ đạo là mộ chum song vẫn có những mộ đất cùng tồn tại Táng tục liên quan đến mộ chum và mộ đất cũng rất đa dạng từ hoả táng, cải táng, hung táng đến có thể có loại chôn tượng trưng Khu cư trú nằm liền kề khu mai táng và thường
ở vị trí thấp hơn như chân cồn cát, bậc thềm sông Do tác động của những điều kiện tự nhiên, nhiều khu cư trú đã bị nước lũ hay sông đổi dòng phá huỷ
Trang 13Đa số chum gốm quan tài có kích thước lớn với ba dạng chính (chuyên dụng) để mai táng - hình trụ, hình trứng và hình cầu Đôi khi người Sa Huỳnh cũng dùng một số chum nồi có hình dạng khác để làm quan tài (không chuyên dụng) Đồ tuỳ táng giàu có từ nhiều chất liệu khác nhau Quy mô và phạm vi của những cộng đồng dân cư mở rộng hơn rất nhiều so với giai đoạn Tiền Sa Huỳnh cho thấy sự tăng nhanh và mở rộng mức độ khai thác các nguồn lực tự nhiên và xã hội,sự gia tăng của đồ sắt dẫn đến sự tích luỹ của cải vật chất đẩy mạnh tính phức hợp xã hội Quy mô những khu mộ địa và sự phân tầng của các mức mộ theo đồ tuỳ táng tăng dần theo thời gian
1.2.4 Mức độ phát triển kinh tế - xã hội
Các cộng đồng dân cư văn hoá Sa Huỳnh rất linh hoạt và tận dụng tối đa ưu thế địa hình cũng như môi trường sinh thái để mưu sinh Họ có nền kinh tế đa nghề, trong đó nông nghiệp chắc chắn đã có vai trò đáng kể trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững
và ổn định của xã hội (đảm bảo an ninh lương thực) Văn hoá Sa Huỳnh là sản phẩm của những cư dân sống định cư trên đất liền với xu hướng hướng biển mạnh mẽ Hệ sinh thái chủ đạo tạo nên nhiều đăc trưng văn hoá là hệ sinh thái cồn, bàu Nền kinh tế đa ngành kết hợp giữa trồng lúa nước ở các đồng bằng nhỏ duyên hải, trồng lúa kiểu nương rẫy ở vùng đồi gò Cư dân văn hoá này sớm biết khai thác những nguồn lợi của biển, của rừng, biết phát triển các nghề thủ công, từng bước họ đã mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với các cư dân trong khu vực Đông Nam Á lục địa, hải đảo và rộng hơn với Ấn Độ và Trung Hoa Trong nền kinh tế Sa Huỳnh buôn bán có vai trò quan trọng, đặc biệt là ở những vùng ven biển, cửa sông Nhiều cảng thị sơ khai đã được hình thành ở những cửa sông lớn ven biển Những cộng đồng Sa Huỳnh liên kết với nhau và với bên ngoài qua trao đổi văn hoá, chính trị và kinh tế bằng đường biển và đường sông
Tính đa dạng sinh thái của miền Trung Việt Nam đã tác động đến sự phát triển sớm của hệ thống kinh tế chuyển hoá và trao đổi tài nguyên giữa vùng thấp và vùng cao,
và giữa những cư dân ven bờ với cư dân sâu trong nội địa, giữa cư dân trong đất liền với
cư dân ở các đảo riêng biệt về sinh thái Theo tài liệu lịch sử và sinh thái học, chiến lược
Trang 14này của sự cộng sinh giữa sinh thái và kinh tế đã có kết quả trong kết nối phức hợp văn hoá từ những xã hội hái lượm nhiệt đới quy mô nhỏ đến những cư dân của các cộng đồng tập trung với mật độ đậm đặc hơn, của những người làm nông nghiệp nương rẫy ở vùng cao với những người làm nông nghiệp thâm canh ở vùng thấp và tích hợp cư dân buôn bán vùng ven biển vào những chính thể ở mức lãnh địa với tính phức hợp đa dạng ở phần
lớn các lưu vực sông lớn Mạng lưới trao đổi và buôn bán nội vùng và liên vùng cùng với
buôn bán khoảng cách xa có một vai trò quyết định trong việc tiếp thu, chuyển tiếp và biến đổi những yếu tố văn hoá ngoại sinh trong văn hoá Sa Huỳnh để dẫn đến những thay đổi quan trọng trong quá trình tiến hoá nội tại và thay đổi cấu trúc, quan hệ xã hội
1.2.5 Đời sống tinh thần
Cách thức mai táng và đồ tùy táng phản ánh một cách sinh động đời sống tinh thần, tâm linh của cư dân Hơn tất cả những cư dân thời Sơ sử ở Việt Nam, người Sa Huỳnh có một sự chăm sóc đặc biệt đối với cái chết và duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa thế giới của người sống với thế giới của người chết.Mộ địa Sa Huỳnh dù phân bố trên bất
kỳ địa hình nào cũng đều chiếm cứ không gian cao ráo, gần đường giao thông,giao thương và cận kề nơi cư trú Những khu mộ địa có diện tích rộng có những khu mộ rộng tới chục nghìn mét vuông và thường là phức hợp di tích của nhiều giai đoạn chôn cất tồn tại liên tục trong vòng thời gian từ một đến vài trăm năm Những khu mộ địa được tổ chức theo một quy hoạch định trước, do đó ta rất ít khi gặp mộ cắt phá nhau dù chôn ở các thời điểm khác nhau Những bãi mộ Sa Huỳnh phân bố trong một không gian trải dài hàng trăm kilômét với địa hình chia cắt bởi các đèo với kiểu chum quan tài được sản xuất theo những tiêu chuẩn thống nhất và đồ tùy táng đồng dạng cho thấy sự đồng nhất về thế giới quan và tính tương đồng văn hóa giữa các nhóm cư dân Nhiều hiện vật chôn theo đặc biệt là đồ trang sức phản ánh sự hiện diện ở một mức độ sơ khai nào đó những yếu tố sớm của tôn giáo (Phật giáo) Mỹ cảm của người Sa Huỳnh được ảnh xạ qua đồ gốm trang trí khắc vạch, tô màu và đồ trang sức thủy tinh, mã não tinh xảo, cầu kỳ
1.2.6 Mối quan hệ Sa Huỳnh – Chămpa
Trang 15Văn hoá Sa Huỳnh là nền tảng cơ sở cho sự hình thành và phát triển của những nhà nước sơ khai giai đoạn muộn hơn.Kiểu tổ chức không gian xã hội và sự phát triển đa dạng phù hợp với điều kiện tự nhiên sinh thái cũng như cách thức hội nhập phù hợp với bối cảnh chính trị-kinh tế khu vực của các cộng đồng cư dân văn hoá Sa Huỳnh đã được
kế thừa và phát huy ở những giai đoạn sau Cùng với sự chuyển dịch của dân cư từ bên ngoài vào, áp lực chính trị từ Trung Hoa, tiếp xúc với Nam Á và sự phát triển nội tại đã dẫn đến quá trình kết tinh và thể chế hoá kinh tế-chính trị từ sau Công nguyên dẫn đến sự hình thành của những nhà nước sớm Từ góc độ môi trường địa lý - sinh thái, những nhà nước sớm mandala Chăm đã cho thấy sự tái chọn lựa và nối tiếp không gian chính trị xã hội của những lãnh địa Sa Huỳnh
1.2.7 Đặc trưng cơ bản
Đặc trưng cơ bản của văn hóa Sa Huỳnh là táng thức mộ chum, vò suốt từ giai đoạn sớm đến muộn, tuy ở một vài địa điểm vẫn có sự hiện diện của mộ huyệt đất Các khu mộ phân bố tập trung ở những cồn cát ven biển, lan dần ra các đảo ven bờ, ngoài ra còn phân bố ở vùng đồng bằng và miền núi phía tây Di tích là những khu mộ táng rộng lớn gồm hàng chục, hàng trăm chum, vò gốm chôn đứng trong địa tầng Loại hình chum,
vò chủ yếu hình trụ, hình trứng, hình cầu đáy bằng có nắp đậy hình nón cụt hay hình lồng bàn Đặc biệt trong các mộ táng chum, vò thuộc văn hóa Sa Huỳnh ít tìm thấy di cốt hay than tro hỏa táng, vì vậy theo các nhà nghiên cứu táng tục của cư dân Sa Huỳnh có thể là
“chôn tượng trưng”
Trong chum hoặc vò chứa nhiều đồ tùy táng gồm các chất liệu đá, gốm, sắt, đá quý, thủy tinh rất đa dạng về loại hình: công cụ lao động, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt, trang sức… Đặc trưng về di vật là sự phổ biến của công cụ lao động và vũ khí bằng sắt, đồ gốm tô màu trang trí nhiều đồ án hoa văn khắc vạch, đồ trang sức bằng đá ngọc, mã não, thủy tinh như vòng, hạt chuỗi, khuyên tai ba mấu, khuyên tai hai đầu thú… Chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh có nền kinh tế đa thành phần, gồm trồng trọt trên nương rẫy và khai thác sản phẩm rừng núi, trồng lúa ở đồng bằng, phát triển các nghề thủ công, đánh bắt cá ven
Trang 16biển và trao đổi buôn bán với những tộc người trong khu vực Đông Nam Á và xa hơn, với Trung Quốc và Ấn Độ Những di tích văn hóa Sa Huỳnh ven biển đã có thể từng là những “tiền cảng thị” (như khu vực Hội An với di tích Hậu Xá chẳng hạn)
Có thể nhận biết trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh là khu vực Quảng Nam – Quảng Ngãi Khu vực Nam Trung Bộ, từ Phú Yên đến Bình Thuận những di tích và di vật thời tiền – sơ sử mới được phát hiện và nghiên cứu từ sau năm 1975 Cho đến nay số lượng di tích và di vật ở khu vực này chưa nhiều lắm song đã thể hiện tính chất và diện mạo của
“văn hóa Sa Huỳnh” có phần khác biệt so với vùng trung tâm, kể cả giai đoạn nối tiếp từ văn hóa Sa Huỳnh sang văn hóa Chămpa Văn hóa khảo cổ ở đây có những nét độc lập nhất định so với vùng trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh Ngay từ giai đoạn đồ đồng ở khu vực Khánh Hòa đã phân lập được một văn hóa khảo cổ là “văn hóa Xóm Cồn” Đến giai đoạn muộn sơ kỳ thời đại Đồ Sắt, ở một số di tích mộ vò ở Nam Trung bộ như Hòa Diêm (Cam Ranh, Khánh Hòa), Hòn Đỏ, Bàu Hòe (Bình Thuận) có nhiều yếu tố khác biệt mộ chum vò Sa Huỳnh điển hình và thậm chí còn có những yếu tố gần gũi với văn hóa Đồng Nai ở miền Đông Nam bộ như hình dáng chum, vò mai táng, hiện tượng di cốt
và than tro hiện hữu trong chum, vò táng…
1.2.8 Đặc trưng về phong tục mai táng
Như chúng ta đã biết một trong những đặc trưng riêng biệt nhất của văn hóa Sa Huỳnh là mộ táng chum Loại hình mộ táng này đã tồn tại trong hầu hết các di tích mộ táng từ giai đoạn Sơ kỳ đến giai đoạn Hậu kỳ (trừ di tích mộ táng địa điểm Bình Châu và một vài di tích xuất hiện mộ vò nhỏ úp nhau )
Nhìn chung mai táng của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh có 3 loại chính sau:
hộng Loại chum mai táng này chưa phát hiện được nắp đậy
Trang 17- Chum táng có thân trụ với nắp đậy hình nón cụt
Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển, cư dân Văn hóa Sa Huỳnh có loại chum mai táng riêng và trong mỗi khu vực (hay loại hình) chum mai táng cũng có nét riêng Nhưng nhìn chung, ở giai đoạn Sơ kỳ, cư dân Văn hóa Sa Huỳnh phổ biến dùng loại chum mai táng hình trứng với nắp đậy hình lồng bàn úp Thứ đến là loại chum có thân hình cầu, đáy tròn hay chum táng thuộc dạng nồi lớn, có gờ gãy tóc trên hông, đáy tròn Đồng thời ngoài mộ táng chum ở một vài di tích chúng ta thấy xuất hiện một vài mộ vò nhỏ úp nhau
Ở giai đoạn Trung kỳ chúng ta mới gặp loại chum táng có thân hình cầu, đáy tròn với nắp đậy hình nón cụt (Bầu Trám II)
Ở giai đoạn Hậu kỳ, ngoài hai loại chum táng trên, chúng ta thấy xuất hiện phổ biến và chiếm ưu thế là loại chum có thân hình trụ với nắp đậy hình nón cụt Đồng thời, ở giai đoạn này chúng ta thấy xuất hiện mộ tầng “Trong quan ngoài quách”: gồm hai chum
có thân hình trụ lồng nhau với nắp đậy hình nón cụt ( Đại Lãnh, Cồn Ràng, Hậu Xá) Ở giai đoạn này, chúng ta vẫn còn gặp một vài mộ vò nhỏ úp nhau trong một vài di tích
So với giai đoạn trước, chum mai táng giai đoạn Hậu kỳ được tạo dáng khỏe hơn, vai và đáy chum hình thành rõ nét hơn, chum vững chãi hơn Ngoài hoa văn thừng hay hoa văn chải, trên phần vai chum thường gặp bằng hoa văn trang trí khắc vạch Trên sườn nắp đậy hình nón cụt cũng thấy xuất hiện băng trang trí khắc vạch
Trang 18Các đặc trưng đó của văn hóa Sa Huỳnh cũng đã tìm được ở các di chỉ trong lưu vực sông Đồng Nai Có nơi còn có những đặc trưng xưa hơn, mà khảo cổ học gọi là văn hóa thời tiền Sa Huỳnh Gốm văn hóa Sa Huỳnh phổ biến các loại hình nồi, bình có miệng loe, cổ thắt, có gờ gãy góc trên vai hay thân, đáy tròn hay có chân đế và các loại bát nông long, đáy tròn, bát sâu long có chân đế cao Trong các di chỉ mộ táng, phổ biến là mộ chum, trong chum chứa nhiều đồ trang sức bằng đồng, đá quý, thủy tinh, đặc biệt là loại khuyên tai ba mấu nhọn và khuyên tai hai đầu thú
Về mặt hoa văn trang trí: Mẫu gốm thường gặp là vàng đỏ, nhiều khi có vệt đen bóng, có hoa văn chữ S có đệm tam giác, những đường chấm hay đường in dấu răng vỏ
sò Gốm Văn hóa Sa Huỳnh được trang trí bằng phương pháp: khắc vạch (các họa tiết đường cong, xoắn ốc, hình học)…, in (mép vỏ sò, hay in dấu thường), tô màu (màu đỏ hay màu đen ánh chì) và cắt hớt đất hay ấn lõm hình hạt đậu trên vành miệng hay gờ gãy góc trên vai hay thân gốm Trong đó thủ pháp trang trí gốm của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh là khắc vạch kết hợp với in mép vỏ sò, hay in dấu thường và tô màu đỏ hay màu đen ánh chì bên trong, hay bên ngoài họa tiết khắc vạch bằng các băng ngang trang trí trên vai, thân hay chân đế gốm
Các loại hình và phong cách trang trí hoa văn gốm trên của cư dân văn hóa Sa huỳnh tồn tại và phát triển từ giai đoạn Sơ kỳ đến giai đoạn Hậu Kỳ Tuy nhiên đồ gốm thuộc giai đoạn Sơ kỳ có dáng hình mềm mại, thanh thoát và hoa văn trang trí cũng phong phú đa dạng hơn Các họa tiết khắc vạch mềm mại hơn Hoa văn in mép vỏ sò và
tô màu đen ánh chì cũng mềm mại hơn
Ngược lại, ở giai đoạn Hậu kỳ đồ gốm được tạo dáng cứng cáp hơn, góc cạnh hơn
Ở giai đoạn này, chúng ta thấy xuất hiện loại hình hiện vật mới “ Đèn Sa Huỳnh” Đồng thời về mặt hoa văn trang trí gốm cũng thô hơn Chúng ta gặp phổ biến các họa tiết hình học quy chỉnh, các đường gấp khúc cứng cáp hay các đường rạch ngắn song song Hoa văn in mép vỏ sò và tô màu đen ánh chì cũng ít phổ biến hơn hai giai đoạn phát triển
Trang 19trước Nhìn chung, gốm giai đoạn Hậu kỳ chắc khỏe, mang tính thực dụng hơn, gốm có
độ nung cao
1.2.10 Đặc trưng về công cụ sản xuất và vũ khí
Ở giai đoạn Sơ kỳ, công cụ sản xuất của cư dân văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu là các loại rìu, cuốc bằng đá Trong đó tiêu biểu là loại rìu, cuốc có vai xuôi và loại rìu, cuốc hình thang, có tiết diện mặt cắt dọc cong Các loại công cụ đá này còn tồn tại đến giai đoạn Trung Kỳ
Ở giai đoạn Trung kỳ, bên cạnh các loại rìu, cuốc bằng đá, cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã biết tới kỹ nghệ luyện kim đồng thau để chế tạo công cụ sản xuất và vũ khí (rìu, đục, lưỡi câu) Nhìn chung, kỹ thuật luyện kim đồng thau của cư dân văn hóa Sa Huỳnh kém phát triển hơn so với cư dân văn hoá Đông Sơn và cư dân văn hóa Dốc Chùa Nhưng ngược lại, kỹ nghệ luyện sắt của cư dân văn hóa Sa Huỳnh rất phát triển Trong hầu hết các mộ chum giai đoạn Hậu kỳ đều gặp phong phú hiện vật sắt Bao gồm các loại rìu, cuốc, thuổng, dao, liềm, búa, lao, giáo, kiếm mũi nhọn…
1.2.11 Đặc trưng về đồ gốm trang sức
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy, ở những khu mộ táng của văn hóa Sa Huỳnh, các bộ hạt chuỗi giá trị ở Lai Nghi Trong khi rây bằng sàng phát hiện được hơn 8.600 hạt cườm bằng thủy tinh màu xanh, vàng hoặc nâu có đường kính 1-3 mm Ngoài bộ hạt chuỗi gồm khoảng 1.500 hạt bằng đá mã não, achat, crystal, amethyst, nephrite và bằng vàng - còn
có bốn khuyên tai bằng vàng Người văn hóa Sa Huỳnh ở Lai Nghi nhiều nhất thích sử dụng loại đá ngọc mã não làm đồ trang sức Hơn 15 hình dạng hạt chuỗi khác nhau đươc chế tác - có lẽ bằng đá mã não đến từ khu vực Myanma hoặc Ấn Độ Trong tổng số 1.136 hạt chuỗi bằng đá mã não tìm thấy ở Lai Nghi có ba chiếc rất đặc biệt: chiếc thứ nhất có hình con chim nước, chiếc thứ hai có hình con hổ hoặc sư tử và chiếc thứ ba là hạt chuỗi khắc axít (etched bead) Cả ba hạt chuỗi này được phát hiện trong ba mộ chum khác nhau cùng với nhiều đồ tùy táng quý khác có niên đại vào thế kỷ 1-2 trước Công Nguyên
Trang 20Những di vật hiếm thấy khác ở miền Trung Việt Nam được kể đến là hai cái gương bằng đồng của thời kỳ Tây Hán
Thủy tinh nhân tạo là một thành tựu rực rỡ của văn hóa Sa Huỳnh Đây là một trong những nơi làm ra thủy tinh nhân tạo sớm trên thế giới Chúng không những đa dạng
về kiểu dáng mà còn phong phú về màu sắc như xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ, xám, tím,
đỏ và nâu Sử Trung Hoa đã từng ghi chép về một chén thủy tinh xuất phát từ vùng đất này mà họ gọi là Chén Lưu Ly với một sự trân trọng và khâm phục
Nổi bật trong những vật trang sức của người Sa Huỳnh là khuyên tai ba mấu dành cho phụ nữ và khuyên tai hai đầu thú của nam giới Nếu khuyên tai ba mấu dịu dàng, tinh
tế và khá duyên dáng thì khuyên tai hai đầu thú lại thể hiện chất dũng mãnh, kiêu hãnh và cường tráng của nam giới Những vật trang sức chế tác từ đá, mã não và thủy tinh có thể nói là những tinh hoa đặc sắc nhất mà nền văn minh này sáng tạo ra và được phổ biến khắp vùng Đông Nam Á Người ta đã tìm thấy khuyên tai ba mấu và khuyên tai hai đầu thú ở Thái Lan, Malaysia, Philippines và Đài Loan
Cư dân Văn hóa Sa Huỳnh có truyền thống chế tác và ưa chuộng dùng đồ trang sức Vì thế, đồ trang sức của họ rất phong phú và đa dạng, Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển, họ đã chế tác và sử dụng loại đồ trang sức riêng
Ở giai đoạn Sơ kỳ, đồ trang sức chủ yếu của họ là vòng tay và hạt chuỗi bằng đá Trong đó tiêu biểu là loại vòng tay bốn mấu và hạt chuỗi hình đốt trúc
Ở giai đoạn Trung kỳ, đồ trang sức của họ gồm có khuyên tai ( khuyên tai hình đỉa bằng đất nung và khuyên tai hình vành khăn có khe hở bằng đá) và hạt chuỗi bằng đá
Ở giai đoạn Hậu kỳ, đồ trang sức của họ cực kỳ phong phú, đa dạng về các loại hình và chất liệu Đó là các loại khuyên tai, vòng tay, chuỗi hạt bằng đá, bằng kim loại và bằng thủy tinh… Trong đó tiêu biểu là khuyên tai ba mấu nhọn và khuyên tai hai đầu thú bằng đá hay bằng thủy tinh Hai loại khuyên tai này được các nhà nghiên cứu coi là di sản
Trang 21văn hóa đặc trưng tiêu biểu nhất của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh giai đoạn Hậu kỳ (Sa Huỳnh Cổ điển)
Tóm lại, những đặc trưng của Văn hóa Sa Huỳnh ở các mặt đề cập trên đã được định hình từ giai đoạn Sơ kỳ và phát triển đến giai đoạn Hậu kỳ Tuy nhiên , trong quá trình phát triển của Văn hóa Sa Huỳnh từ giai đoạn Sơ kỳ đến giai đoạn Hậu kỳ , do tính giai đoạn và loại hình (hay khu vực), cũng như do mối quan hệ, giao lưu với các nền văn hóa đương đại ở Việt Nam và Đông Nam Á, mà những đặc trưng trên của Văn hóa Sa Huỳnh vừa có sự phát triển kế tiếp theo giai đoạn vừa mang sắc thái loại hình riêng
1.3 Vị trí văn hóa Sa Huỳnh tại Việt Nam
Cho đến nay đã gần chín thập kỷ phát hiện và nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh Chúng ta đã biết hàng trăm di tích văn hóa Sa Huỳnh phân bố từ Thừa Thiên Huế ở phía Bắc đến khu vực sông Đồng Nai và vùng duyên hải Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Nam Đồng thời đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập văn hóa Sa Huỳnh Tuy nhiên, cho đến nay về Văn hóa Sa Huỳnh còn nhiều vấn đề khoa học đã và đang được đặt ra cho các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và giải đáp Đặc biệt là các vấn đề về nguồn gốc, chủ nhân, mối quan hệ giữa cư dân văn hóa Sa Huỳnh và cư dân văn hóa Chămpa cổ đại
Như đã trình bày ở trên, ngay từ năm 1909, giới khoa học đã biết tới dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh qua thông báo của M.Vinet trên tạp chí Trường Viễn Đông Bác Cổ Nhưng tri thức về Văn hóa Sa Huỳnh lại được tích lũy quá chậm chạp Trước 1975, ngoài cụm di tích mộ chum Sa Huỳnh phân bổ trên dải cồn cát biển bao bọc quanh khu vực đầm muối
Sa Huỳnh ( Phổ Trạch, Đức Phổ, Quảng Ngãi) Giới khoa học mới biết thêm cụm mộ chum Sa Huỳnh phân bố ở vùng đất đỏ bậc thềm cao của lưu vực sông Đồng Nai ở miền Đông Nam Bộ và dấu vết mộ chum Sa Huỳnh ở Khương Hà và Cổ Gian ( Bố Trạch, Quảng Bình ) Khi đó giới khoa học mới biết tới Văn hóa Sa Huỳnh như là những khu di tích mộ táng được mai táng bằng các chum gốm lớn, thuộc đầu Thời đại sắt Nhưng từ
Trang 22sau năm 1975 đến nay, ngành khảo cổ học nước ta đã phát hiện và khai quật hàng trăm di tích Văn hóa Sa Huỳnh từ Thừa Thiên Huế ở phía Bắc đến lưu vực sông Đồng Nai và vùng duyên hải Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh Trong đó, nhiều vùng trước đây Văn hóa Sa Huỳnh chưa hề được biết đến, thì đến nay, ngành Khảo Cổ học nước ta mới phát hiện được rất nhiều di tích phân bố từ vùng ven biển lên vùng gò đồi cao trước núi như tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng Đồng thời, trước năm 1975, các học giả nước ngoài mới chỉ biết đến di tích mộ chum Sa Huỳnh đầu Thời đại Đồ sắt, thì đến nay các nhà Khảo Cổ học nước ta đã phát hiện được ở nhiều nơi trên địa bàn phân bố của những di tích mộ chum Sa Huỳnh đầu Thời đại Sắt, những di tích cư trú và di tích mộ táng có niên đại sớm hơn thuộc Thời đại Đồng thau như di tích Long Thạnh, Truông Xe, Bình Châu,(Quảng Ngãi), Bầu Trám (Quảng Nam Đà Nẵng), Xóm Cồn(Khánh Hòa), Mỹ Tường (Ninh Thuận)…
Các di tích sớm này có mối liên hệ rất chặt chẽ với các di tích mộ táng chum Sa Huỳnh đầu thời đại sắt Vì thế, chắc chắn những di tích mộ táng chum Sa Huỳnh đầu thời đại sắt được bắt nguồn trực tiếp từ các di tích sớm thuộc thời đại Đồng thau trên Bởi vậy, một số nhà nghiêm cứu coi các di tích trên là tiền Sa Huỳnh Còn các nhà nghiên cứu tham gia chương trình khai quật tại Hội An năm 1993 lại coi các di tích sớm trên thuộc phổ hệ Văn hóa Sa Huỳnh Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu toàn bộ các loại hiện vật trong các di tích Văn hóa Sa Huỳnh đã biết, đặc biệt là sự phân tích gốm trong các địa điểm đã khai quật, họ đã nhận ra trật tự niên đại tương đối của các địa điểm này trong quá trình phát triển của văn hóa Sa Huỳnh từ đầu Thời đại Đồng thau đến đầu thời đại Sắt Từ
đó, họ đã phác dựng phổ hệ văn hóa Sa Huỳnh qua ba giai đoạn phát triển:
1 Giai đoạn Sa Huỳnh Sơ kỳ thuộc giai đoạn sớm Thời đại Đồng thau Bao gồm các di chỉ Long Thạnh, Truông Xe, Bàu Trám I, Xóm Cồn, Hòa Vinh I, ( hay Bàu Hòe)
Mỹ Tường, Hòn Đỏ I
2 Giai đoạn Sa Huỳnh Trung kỳ thuộc giai đoạn muộn Thời đại Đồng thau Bao gồm di tích Bình Châu và Bàu Trám II
Trang 233 Giai đoạn Sa Huỳnh Hậu kỳ: bao gồm các di tích mộ chum Sa Huỳnh thuộc đầu thời đại Sắt
Để phân biệt văn hóa Sa Huỳnh với các văn hóa Kim khí đương đại ở Việt Nam và Đông Nam Á, ta phải chú ý đến các đặc trưng văn hóa Sa Huỳnh trên các mặt phong tục mai táng, đồ gốm, công cụ sản xuất, vũ khí và đồ trang sức (đã nêu ở phần trên)
1.3.1 Vị trí văn hóa Sa Huỳnh trong thời đại kim khí của Việt Nam
Do vị trí Văn hóa Sa Huỳnh phân bố ở miền Nam Trung Bộ nước ta nên trong quá trình phát triển từ giai đoạn Sơ kỳ đến giai đoạn Hậu kỳ, Văn hóa Sa Huỳnh có mối quan
hệ với giai đoạn phát triển tương đương của trung tâm kim khí miền Bắc và trung tâm kim khí miền Đông Nam Bộ Mối quan hệ trên được đẩy mạnh ở giai đoạn Hậu kỳ Chính vì vậy, chúng ta đã gặp những hiện vật đồng thau của Văn hóa Đông Sơn và Văn hóa Dốc Chùa ở Văn hóa Sa Huỳnh Ngược lại, chúng ta cũng gặp lại di vật đặc trưng của nền Văn hóa Sa Huỳnh ở hai nền văn hóa trên
Chẳng hạn những hiện vật đồng thau phát hiện trong mộ chum Phú Hòa, dao găm đồng thau sưu tập ở Điện Tiến (Quảng Nam Đà Nẵng), trống đồng Đông Sơn phát hiện trong địa bàn phân bố của Văn hóa Sa Huỳnh là những bằng chứng về những ảnh hưởng Văn hóa Đông Sơn đến Văn hóa Sa Huỳnh Trong khi đó, Văn hóa Sa Huỳnh đã du nhập vào Văn hóa Đông Sơn những đồ trang sức đặc trưng như khuyên tai hai đầu thú Sa Huỳnh phát hiện ở di tích Xuân An (Nghi Xuân- Hà Tĩnh), khuyên tai ba mấu nhọn, thủy tinh Sa Huỳnh cũng đã tới Làng Vạc (Nghệ An)
Những di vật đồng thau phát hiện trong di tích mộ chum Hòa Vinh (Bình Thuận) như rìu, giáo,dao,qua… chắc hẳn đã được du nhập từ văn hóa Dốc Chùa sang Trong khi
đó, trên địa bàn phân bố của Văn hóa Dốc Chùa chúng ta đã gặp những di tích mộ chum
Sa Huỳnh cổ điển (Sa Huỳnh Hậu Kỳ) như Dầu Giây, Hàng Gòn, Phú Hòa, Sối Chồn (Đồng Nai) và năm 1994, mộ chum Sa Huỳnh Cổ điển đã phát hiện ở miền duyên hải Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh như di tích Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ Sự có mặt của
Trang 24các di tích mộ chum này là bằng chứng về sự mở rộng địa bàn phân bố của cư dân văn hóa Sa Huỳnh giai đoạn Hậu kỳ ở phía Nam đến địa bàn phân bố của cư dân Văn hóa Dốc Chùa Tại đây, dường như sự phát triển của cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã lấn át sự phát triển của cư dân văn hóa Dốc Chùa Vì thế, chúng ta thấy ảnh hưởng của văn hóa Dốc Chùa đến các di tích mộ chum văn hóa Sa Huỳnh ở đây rất mờ nhạt, thậm chí ngay
cả di tích mộ chum Sa Huỳnh ở địa điểm Suối Chồn cũng mờ nhạt
Đồng thời cũng do vị trí phân bố của Văn hóa Sa Huỳnh mà Văn hóa Sa Huỳnh còn có mối quan hệ rộng rãi với các Văn hóa Kim khí ở Đông Nam Á và đặc biệt là Hải đảo
1.3.2 Vị trí các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
Như chúng ta đã biết, trước năm 1975, trên địa bàn Quảng Nam- Đà Nẵng chưa có mặt di tích Văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện
Nhưng sau năm 1975, Quảng Nam – Đà Nẵng là địa bàn phát hiện được nhiều di tích Văn hóa Sa Huỳnh nhất Các di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng có vị trí quan trọng đối với việc nghiên cứu Văn hóa Sa Huỳnh và mối quan hệ giữa Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Chămpa Cổ đại
Di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng phân bố từ dải cát thềm sông cổ ven biển Đô Thị cổ Hội An đến dải đồng bằng hẹp ven biển và miền đồi gò cao trước núi, bao gồm các di tích cư trú và di tích mộ táng có niên đại sớm thuộc Thời đại Đồng thau đến các di tích mộ chum Sa Huỳnh ở Quảng Nam – Đà Nẵng đã góp phần quan trọng vào việc xác định phổ hệ các giai đoạn phát triển của văn hóa Sa Huỳnh cũng như nguồn gốc của phổ hệ văn hóa này
Di tích mộ chum Văn hóa Sa Huỳnh Cổ điển (Sa Huỳnh Thời đại Sắt) ở Quảng Nam – Đà Nẵng có một mật độ phân bố cao, tập trung thành ba cụm chính: Cụm di tích dải đồng bằng hẹp ven biển Tam Kỳ, Núi Thành (Phú Hòa, Tam Mỹ), cụm di tích dải cồn
Trang 25cát thềm sông cổ Đô thị cổ Hội An (An Bang, Thanh Chiếm, Xuân Lâm) và cụm di tích vùng gò đồi cao trước núi Đại Lãnh, Tiên Hà, Quế Lộc) Dù phân bố trên địa hình khác nhau, nhưng các di tích mộ chum Sa Huỳnh ở Quảng Nam – Đà Nẵng đều mang đầy đủ đặc trưng tiêu biểu của di tích mộ chum Sa Huỳnh cổ điển Đồng thời, qua mật độ phân
bố di tích, qui mô di tích và sự phân bố đa dạng đồ tùy táng, nhất là công cụ sản xuất, cũ phí bằng sắt, đồ trang sức bằng đá và bằng thủy tinh đã cho thấy các di tích mộ chum Sa Huỳnh ở Quảng Nam – Đà Nẵng là những di tích mộ chum Sa Huỳnh Cổ điển có niên đại muộn Các di tích mộ chum này, nhất là cụm di tích mộ chum Sa Huỳnh mới phát hiện gần đây ở Đô thị cổ Hội An (Thanh Chiếm, An Bang , Xuân Lâm…) có vị trí rất quan trọng để tìm hiểu bước phát triển chuyển tiếp giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chămpa
cổ đại (hay bộ mặt văn hóa Hậu Sa Huỳnh- Tiền Chămpa )
Tuy nhiên, hiện nay trong địa bàn phân bố của Văn hóa Sa Huỳnh chúng ta chưa phát hiện được di tích có tầng văn hóa phát triển liên tục, nối tiếp từ Văn hóa Sa huỳnh lên Văn hóa Chămpa (hay bộ mặt văn hóa Hậu Sa Huỳnh - Tiền Chămpa) Trong tình hình đó, các di tích Sa Huỳnh muộn (Thanh Chiếm, An Bang – Cả mộ táng và di chỉ cư trú Hậu Xá, Xuân Lâm, Hội An) đã cho chúng ta thấy khả năng hiện thực về bước chuyển tiếp này
1.3.3 Đối sánh giữa văn hóa Đông Sơn và văn hóa Sa Huỳnh tại Việt Nam
Văn hoá Đông Sơn và Văn hoá Sa Huỳnh là hai nền văn hoá tiêu biểu ở Việt Nam
có cùng thời gian tồn tại Hai nền văn hoá này có nguồn gốc từ những nền tảng chung của các văn hoá thời đại đá - đồng trong khu vực Chúng có con đường phát triển riêng, độc lập Song trong quá trình phát triển của mình từ thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, hai nền văn hoá này đã có những mối liên hệ, giao lưu, trao đổi nhiều chiều với nhau Trong quá trình đó, cả hai nền văn hoá đều đã tiếp nhận những yếu tố văn hoá ngoại sinh
và bản địa hoá các yếu tố văn hoá đó làm phong phú thêm sắc thái văn hoá của mình
Trang 26Trong quá trình phát triển, cả hai nền văn hoá đều đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ vào thời kỳ đầu của sơ kỳ thời đại đồ sắt ở bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á Những thành tựu rực rỡ của nền văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc là cơ sở vật chất quan trọng dẫn đến sự phân hoá giai cấp sâu sắc và là tiền đề quan trọng để hình thành Nhà nước sơ khai ở khu vực này, Nhà nước Văn Lang của người Việt cổ Và, những thành tựu rực rỡ của nền văn hoá Sa Huỳnh ở ven biển miền Trung Việt Nam có thể cũng là những tiền đề vật chất không thể thiếu được cho sự hình thành nước Lâm Ấp tiền thân của Vương quốc Chăm Pa vào những năm cuối của thế kỷ II sau Công nguyên
Ngày nay, cả hai nền văn hoá này đã hoà cùng dòng chảy của văn hoá Việt Nam Khu vực địa lý trải dài trên nhiều vĩ độ nhưng có tính thống nhất của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, sự gắn bó, giao thoa của các yếu tố tự nhiên, xã hội, nhân chủng… đã tạo ra nhiều nét tương đồng và dị biệt của hai nền văn hóa đó Chính sự hợp lưu của hai dòng chảy văn hóa đó đã tạo nên những tiền đề cơ bản của văn hóa và văn minh Việt Nam
sử Do vậy, không phải ngẫu nhiên người ta gọi văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa của những con người lấn biển: “tựa/dựa núi - men/ven sông - vươn ra biển” Nếu địa bàn văn hóa Đông Sơn chủ yếu tồn tại trong khu vực trung du và đồng bằng trong phạm vi lưu vực của các con sông lớn ở Bắc Bộ như sông Hồng, sông Mã, sông Cả… thì văn hóa Sa
Trang 27Huỳnh tồn tại trên địa bàn ven biển miền Trung trong lưu vực của các con sông miền Trung ngắn và dốc với những bãi cát trắng dài ven biển như sông Thu Bồn, sông Trà Khúc Người ta còn gọi văn hoá Sa Huỳnh là “văn hoá cồn - bàu”
Tuy đều nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nhưng nền văn hóa Đông Sơn nằm trong khu vực thời tiết khí hậu miền Bắc mang đặc trưng bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, chịu ảnh hưởng của khí hậu tiền lục địa khá rõ nét trong khi đó nền văn hóa Sa Huỳnh lại chủ yếu có hai mùa rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa, chịu sự tác động và ảnh hưởng của khí hậu biển mạnh mẽ Nếu văn hóa Đông Sơn nằm trong khu vực chịu sự ảnh hưởng của thuỷ văn sông nước ngọt chảy trong nội địa là chính thì thuỷ văn của khu vực văn hóa Sa Huỳnh ngoài các con sông nội địa ngắn, dốc còn chịu sự tác động to lớn của biển cả ở phía trước và núi đồi, cao nguyên của dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía sau
Tóm lại, dưới góc độ địa bàn cư trú nếu có thể nói văn hóa Đông Sơn là “văn hóa đồng bằng”, “văn hóa tiền lục địa” thì văn hóa Sa Huỳnh là “văn hóa duyên hải”, “văn hóa tiền biển cả” hay “văn hóa tiền cảng thị” Chính những điều này sẽ tạo nên những sắc thái riêng biệt trong đặc trưng của hai nền văn hóa rực rỡ này
1.3.3.2 Về thời gian tồn tại
Nhìn chung, cả hai nền văn hóa này có thời gian tồn tại gần như thống nhất, trong cùng một thời điểm của lịch sử Thời gian tồn tại của chúng kéo dài trong khoảng nửa sau của thiên nhiên kỷ thứ nhất trước công nguyên, vượt qua công nguyên và kéo dài khoảng vài ba thế kỷ sau đó rồi lụi tàn, nhường chỗ cho những thể chế chính trị - xã hội khác nhau ra đời và phát triển
Niên đại của văn hóa Sa Huỳnh tồn tại trong khoảng thế kỷ V trước Công Nguyên đến thế kỷ I sau Công Nguyên, cách ngày nay từ 2500 năm tới 2000 năm Những di chỉ của văn hoá Đông có niên đại từ thế kỷ VII trước Công Nguyên đến thế kỷ sau Công Nguyên (2700 năm đến hơn 1900 năm về trước) Văn hóa Đông Sơn thuộc sơ kỳ thời đại
Trang 28đồ sắt, đặc biệt thời kỳ này kỹ thuật đúc đồng thau đã phát triển đạt trình độ đỉnh cao mà hiện vật tiêu biểu là trống đồng Đông Sơn Chủ nhân của văn hóa Đông Sơn là nhóm cư dân Việt cổ nhưng đã phát triển ở trình độ tương đối cao: trong quá trình tồn tại và phát triển, cư dân ở giai đoạn này đã kết hợp việc trồng lúa nước với săn bắn, đánh cá, và bắt đầu phát triển chăn nuôi [7 Tr57]
1.3.3.3 Về những dấu tích văn hóa
Cả hai nền văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều phương diện Dấu tích văn hóa của cả hai nền văn hóa này để lại hầu hết được tìm thấy từ trong lòng đất, trong các tầng văn hóa Đặc trưng nổi bật chính là những ngôi
mộ cổ, với văn hoá Đông Sơn là mộ thuyền, với văn hoá Sa Huỳnh là mộ chum
Di chỉ mộ thuyền của văn hoá Đông Sơn là những di chỉ mà ở đó có các mộ được làm từ các thân cây gỗ lớn đục đẽo thành hình thuyền, do vậy mà chúng mang tên gọi
"mộ thuyền" Điều này cùng với những hình ảnh khắc trên trống đồng Đông Sơn và những di vật khác của văn hóa Đông Sơn phát hiện ở nhiều nơi trong đồng bằng Bắc bộ càng khẳng định ở giai đoạn văn hóa Đông Sơn, người Việt Cổ đã khai phá mạnh mẽ vùng đồng bằng, đầm lầy, phát triển giao thông thủy khá mạnh mẽ Những di chỉ này đã được phát hiện ở Việt Nam có niên đại từ thế kỷ VII trước Công Nguyên đến thế kỷ I sau Công Nguyên Hình thức mộ thuyền chủ yếu là đơn táng, song táng (mẹ và con) Bên cạnh công cụ sản xuất và sinh hoạt còn có các vũ khí chiến đấu hoặc các đồ "minh khí" với nhiều loại hình khác nhau được chế tác bằng đồng phản ánh đời sống tín ngưỡng- tinh thần đã khá phát triển của cư dân ở giai đoạn này Ngoài ra nó cũng phản ánh trình độ luyện kim của cư dân Đông Sơn khá cao
Di chỉ mộ chum - vò gắn với cư dân văn hoá Sa Huỳnh thuộc giai đoạn sơ kỳ đồ sắt trong dải đất miền Trung của Việt Nam (phía Bắc tới khu vực nam Đèo Ngang, phía Nam tới khu vực Phan Rang, Phan Thiết Văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa thuộc giai đoạn
sơ kỳ đồ sắt của cư dân nông nghiệp ven biển Dân cư thời đại văn hóa Sa Huỳnh đã biết
Trang 29dùng đồ sắt, sản xuất những đồ gốm lớn có chiều cao lên tới 1m - 1,5m Thi hài ngươi chết khi đó được đưa vào chum gốm lớn và chôn dưới cát, được đặt ngồi hoặc đứng trong chum, tạo ra dáng ngồi khom như khi còn là bào thai nằm trong bụng mẹ Đồ tuỳ táng gồm cả các loại đồ gốm (đồ nấu, đựng), đồ sắt với khá nhiều chủng loại khác nhau
Nếu các hiện vật trong văn hoá Đông Sơn chủ yếu được chế tác bằng đồng, cụ thể
là đồng thau thì hiện vật của văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu là đồ sắt Hiện vật trong các ngôi
mộ văn hóa Đông Sơn là các quan tài gỗ của thì trong văn hóa Sa Huỳnh là quan tài bằng gốm với nhiều loại kích thước và hình dáng khác nhau Tuy nhiên, ở văn hóa Đông Sơn chưa thấy xuất hiện các hiện vật, các đồ trang sức bằng thuỷ tinh, đá quí Trong các mộ thuyền của văn hoá Đông Sơn cũng chưa thấy xuất hiện kim loại quí như vàng, trong khi
đó ở văn hóa Sa Huỳnh đã xuất hiện nhiều đồ trang sức bằng vàng
Về loại hình hiện vật, trong các di tích của văn hóa Đông Sơn không chỉ có các công cụ mà còn có cả các tượng nghệ thuật như tượng người trong các tư thế khá tự nhiên Nhiều tượng đồng được đặc tả nhấn mạnh cơ quan sinh dục của con người với ước mong sinh sôi nảy nở Bên cạnh tượng người, còn thấy tượng các động vật như tượng cóc, chim, vịt, bồ nông…
Số lượng các quan tài hình thuyền trong một quần thể các khu mộ của văn hóa Đông Sơn thường ít, trong khi ở các khu mộ của văn hoá Sa Huỳnh, thường rất nhiều, có khi lên tới hàng chục mộ chum trong một khu vực gần nhau Hiện vật trong các khu mộ của hai nền văn hóa này về cơ bản đều có cả công cụ sản xuất, vũ khí và đồ trang sức Điều đó cho thấy vào thời điểm đó đã xuất hiện sự xung đột giữa các tộc người, các cuộc chiến tranh đã xảy ra Việc chôn theo các hiện vật của cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất phản ánh tín ngưỡng của cư dân thời đó vẫn còn mang nặng hình thức “chia của” cho người đã khuất Bên cạnh đó, đã xuất hiện các đồ minh khí chôn trong các ngôi mộ Điều này chứng tỏ đời sống tinh thần của cộng đồng người trong hai nền văn hóa này đã phát triển lên một tầm cao mới Họ đã tiến một bước dài trong đời sống tín ngưỡng của
Trang 30mình, đó là “đi từ hiện thực đến biểu tượng” Điều đó chứng tỏ cư dân thời đó đã có tư duy khái quát cao trong ứng xử của những người sống với những người đã khuất
Vị trí tồn tại của các ngôi mộ cũng có sự khác biệt Những ngôi mộ thuyền của nền văn hóa Đông Sơn thường được chôn trong các khu vực đồng bằng, mộ nằm trong các tầng phù sa màu mỡ của đồng bằng châu thổ các con sông lớn ở phía Bắc như sông Hồng, sông Cả, sông Mã Trong khi đó, những ngôi mộ chum vò của văn hóa Sa Huỳnh thường được tìm thấy ở ven những cồn cát ven biển, bên những bàu nước ngọt hoặc trên những mảnh ruộng của đồng bằng ven biển hẹp, chạy dọc ven biển miền Trung Việt Nam
Hệ thống hiện vật của hai nền văn hóa cho thấy ở giai đoạn này, cư dân của hai nền văn hóa đã đạt trình độ phát triển khá cao về mọi mặt của đời sống xã hội Hệ thống hiện vật không chỉ nói lên ý nghĩa vật chất mà còn thể hiện những quan niệm, ý tưởng về tinh thần mà các hiện vật hàm chứa
Cả hai nền văn hóa vào thời điểm phát triển rực rỡ của mình đã có sự giao thoa mạnh mẽ trong sự tương đồng nhất định để đạt được những thành tựu rực rỡ làm tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của các quốc gia Chiêm Thành - Đại Việt sau này Tuy nhiên, trên nền tảng quá khứ lịch sử của nền văn hóa Sa Huỳnh, quốc gia Chiêm Thành đã sớm ra đời, là quốc gia độc lập tự chủ và nhanh chóng phát triển rực rỡ ở 15 thế
kỷ sau công nguyên, nhưng sau đó lại rơi vào vòng suy tàn, diệt vong trong sự giao thoa, cạnh tranh như một sự thật hiển nhiên trớ trêu của lịch sử Trong khi đó, nền văn hóa Đông Sơn phải tới gần tám thế kỷ sau đó sống trong đêm dài Bắc thuộc, mới ra đời nhà nước độc lập tự chủ, chủ nhân của văn minh Đại Việt Nền “văn minh đồng bằng”, “văn minh tiền lục địa” đã không ngừng lớn mạnh trên mảnh đất hình chữ S vốn được hình thành và góp mặt của hai nền văn hóa rực rỡ trong quá khứ Loại trừ sự tích hợp đa phương diện, dưới một góc độ nào đó có thể đưa ra một “hợp lưu văn hóa”: Văn hóa Đông Sơn kết hợp với văn hóa Sa Huỳnh đã tạo thành văn minh Việt Nam
Trang 311.4 Văn hóa Sa Huỳnh và mối quan hệ với các văn hóa đồng đại ở Đông Nam Á
Di chỉ cỏ mộ chum ở Đông Nam Á được phát triển và khai quật vào loại sớm nhất
là hang Kalanay, thuộc đảo Masbate, Trung Phillipine Dựa vào những tài liệu của Carl Guthe để lại, vào những năm 50, M.G Solheim đã nghiên cứu kỹ sưu tập hiện vật, đặc biệt là đồ gốm và lần đầu tiên ông ta đưa ra khái niệm phức hệ gồm Kalanay Ông lưu ý đến mối tương quan rằng, nguồn gốc của gốm Kalanay là từ Trung và Bắc Việt Nam (Soltheim, 1964: 200), Sau này trong hàng loạt bài báo cáo, ông đưa ra khái niệm “truyền thống gốm Sa Huỳnh – Kalanay” và từ những năm cuối 60 ông đổi lại là “Phức hệ gốm
Sa Huỳnh – Kalanay” [14,303]
Phải thừa nhận rằng, trong những khu vực phân bố táng tục mộ chum, gốm Sa Huỳnh – Kalanay hay rộng hơn gốm khu vực Trung và Nam Philippine, gốm phức hệ Tabon, Leang Buidane ( thuộc quần đảo Talauds) thể hiện những tương đồng rất rõ ràng Đặc trưng của các phức hệ gốm tại nơi này là sự bảo tồn và phát triển các đồ án hoa văn khắc vạch tới tận Sơ kỳ Đồ sắt Đặc điểm này khác hẳn hệ thống Phùng Nguyên – Đông Sơn ở đồng bằng và Trung du Bắc Bộ Có thể nói, cho tới văn hóa Đông Sơn văn khắc vạch in chấm hầu như tàn lụi Do vậy, không phải không có lý do khi một số học giả cho rằng, phức hệ gốm Sa Huỳnh – Kalanay đặc trưng cho cả khu vực và có từ giai đoạn Hậu
kỳ Đá mới – Sơ kỳ Kim khí Ở đây phức hệ này là sự phong phú của các đồ án khắc vạch – in chấm kết hợp tô màu ở thời đại đồng sắt mà không phải giai đoạn sớm hơn
Mặc dù có những tương đồng, song giữa gốm Sa Huỳnh – Kalanay vẫn thể hiện những khác biệt nhất định Về hình dáng, ở gốm Kalanay có những loại hình cổ hẹp, loại bình, nổi vai gãy có cắt vát hình hạt đậu, bình có ba chân thấp… Những loại hình này vắng bóng trong Văn hóa Sa Huỳnh Ngược lại, dạng đèn, bình hoa… thấy ở Sa Huỳnh nhưng không gặp trong phức hệ gốm Kalanay
Về mặt trang trí, văn hình học giữa hai phức hệ giống nhau cơ bản về họa tiết, cách phối trí, kỹ thuật thể hiện, nhưng ở gốm zkalanay còn thấy văn hình người và động
Trang 32vật, loại hoa văn chưa hề thấy ở Văn hóa Sa Huỳnh Khác biệt quan trọng khác là sự vắng mặt của văn thừng trong phức hệ gốm Kalanay Người Sa Huỳnh thường dung màu đỏ và đen ánh chì để trang trí xem kẽ các họa tiết khắc vạch, trong khi đó, ở gốm kalanay cũng như khu vực hải đảo nói chung, màu đỏ là màu chủ đạo, đôi khi thấy dung cả vôi trang trí
Bên cạnh đồ gốm, đồ trang sức trong Văn hóa Sa Huỳnh rất giống với các di vật cùng loại trong các văn hóa và các di tích cùng thời ở khu vực hải đảo cũng như lục địa
Sự phong phú hạt chuỗi bằng đá quý như agate, cimelian và thủy tinh là điều dễ nhận biết nhất Đặc biệt là các dạng khuyên tai, vòng có mấu, thường được gọi chung là Linglingo giống nhau tới từng chi tiết Khuyên tai 3 mấu hình quả lê, một trong những dạng khuyên đặc trưng của Văn hóa Sa Huỳnh thấy ở Lalanay, Tabon, Somrong Sen, Nam Thái Lan… Phong phú và tiêu biểu nhất trong sưu tập trang sức của Văn hóa Sa Huỳnh là khuyên tai hai đầu thú Loại hiện vật này đến nay phát hiện được vài chục tiêu bản, đặc biệt có những tiêu bản ở dạng phác vật Vượt ra ngoài biên giới Văn hóa Sa Huỳnh, khuyên tai hai đầu thú đã thấy ở đảo Botel Botago (Nam Đài Loan), U thong và bản Don Ta Phét (Thái Lan) Có thể kết luận với nhiều phần chắc chắn rằng, khuyên tai hai đầu thú là sản phẩm Văn hóa Sa Huỳnh và là một trong những thứ hàng hóa có giá trị trao đổ
Theo PTS Ngô Thế Phong, tài liệu thu được ở Việt Nam có thể giúp soi sáng vấn
đề này Nhìm chung những mộ chum được xếp vào “hậu kỳ đá mới” ở Philippines và Indonesia đến không có niên đại tin cậy chỉ khoảng vài trăm năm trước công nguyên, khó
có thể đưa quá thiên niên kỷ I trước công nguyên Trông khí đó ở Việt Nam, chúng ta đã thấy dấu tích Sa Huỳnh sớm, được định tuổi khoảng nửa sau thiên niên kỷ II trước Công nguyên Đó là lý do để ta nghĩ rằng, Sa Huỳnh là một văn hóa giao lưu nhiều chiều nhưng với vị trí thuận lợi về mặt thông thương, đó là một văn hóa phát nhiều hơn thu
Trang 33Chương II: Văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
2.1 Lịch sử xuất hiện và khám phá văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
Trước Giải phóng miền Nam, tháng 4/1975 không có một di tích Thời đại đá hay đầu thời đại kim khí ào được phát hiện ở Quảng Nam – Đà Nẵng nói chung và Hội An nói riêng
Mười năm sau, giới khảo cổ học Việt Nam mà công lao trước hết thuộc về viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng đã lật lên từ trong lòng đất Xứ Quảng những trang sử chưa hề được biết tới từ trước đến nay, từ một Bàu Dũ hậu Hòa Bình niên đại khoảng 6000 năm cách ngày nay và nhất là một phức thể văn hóa Thời đại Kim khí - từ Sơ kỳ Đồng trên 3000 năm đến Sơ kỳ Sắt 1500 – 2000 năm, từ Bào Trám, Tam Kỳ đến Đại Lãnh, Đại Lộc, mà tuy có nhà khảo cổ chưa đồng ý, nhiều người khác đã gọi là phức thể Văn hóa Sa Huỳnh, với các di chỉ phân bố ở các hệ sinh thái khác nhau: miền núi - cao nguyên (Tabhing) miền đồi gò (Đại Lãnh, Đại Lộc) nhưng dày đặc nhất là ở cả miền Trung vẫn còn miền cồn – bàu văn biển cho nên theo cái nhìn sinh thái nhân văn, ta có thể coi bản sắc trội vượt của nhiều nền văn hóa miền Trung, từ Bàu Tró, Quảng Bình đến Xóm Cồn, Cam Ranh rồi đến Sa Huỳnh “cổ điển” là bản sắc Cồn – Bàu
Nhưng tới năm 1985 – bóng dáng di tích Sa Huỳnh vẫn vắng mặt ở Hội An Phải chờ tới sau khi Ủy ban Quốc gia Hội thảo Quốc tế về Hội An được thành lập (tháng 4/1989) và vào hè khó quên 1989, Trung tâm Văn hóa Văn Nam – Đại học Tổng hợp Hà Nội và Ban Quản lý Di tích Hội AN đã tìm thấy những di tích đầu tiên về Văn hóa Sa Huỳnh, giai đoạn cổ điển, giai đoạn muộn hay “ chân chính” Sa Huỳnh, tùy cách gọi và quan niệm của nhà khảo cổ - ở Hậu Xá, ở Tham Chiếm, An Bang,… cùng đôi ba di tích Chămpa mà trước đó, thời Pháp thuộc, không phải người Pháp chưa biết chút gì
Năm 1989, khu vực Hội An mới được biết đến trên bản đồ phân bố văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung – Việt Nam, với những thông tin khoa học rất ít ỏi qua ba hố đào
Trang 34thám sát ở An Bang (3m2), Thanh Chiếm (4m2) và Hậu Xá (4m2) thuộc xã Cẩm Hà Nhưng đây cũng là thời điểm đánh sâu bước đầu cho việc đi sâu nghiên cứu về văn hoá
Sa Huỳnh ở Hội An
Viện Khảo cổ học Việt Nam cũng có những điều tra và khai quật bổ ích, hợp tác với giới khảo cổ Quốc tế nữa - ở Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,Tây Nguyên… Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ mảnh đất Nam Bộ thân quen, cũng có cố gắng vươn ra ninh – Bình Thuận, Quảng Ngãi … các Sở Văn hóa Thông tin miền Trung
Trước thế kỷ II nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu
Xá I, II; An Bang; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiêm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền
sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu
kỳ Sa Huỳnh
Từ giai đoạn đó, mảnh đất Hội An là một trong những nơi lý tưởng về nghiên cứu Văn hóa Sa Huỳnh Hai mươi năm qua, xứ Quảng và Hội An là nơi tìm thấy các di tích
Sa Huỳnh nhiều nhất, đậm đặc nhất, với diễn trình lịch sử từ sớm đến muộn (riêng ở Hội
An tập trung phần “cổ điển” và muộn) , có đóng góp lớn vào việc chứng minh Văn hóa
Sa Huỳnh là nền Văn hóa Bản địa, chứa những nhân tố và thành tố nội sinh độc đáo Hội
An , từ thời Sa Huỳnh đã là một Tiền cảng thị hay là một Cảng thị Sơ khai, sớm có giao lưu kinh tế - văn hóa với các không gian văn hóa Đông Sơn ở Bắc, Xóm Cồn – Hàng Gồn – Dầu Giây – Đồng Nai, Giồng Phệt – Giồng Cá Vồ -Long AN, Tiền Óc Eo ở cực Nam Trung bộ, ở Đông Nam bộ, ở Trung Tây Nam Bộ… Về phía Tây,”sức vươn” của Sa Huỳnh còn lên tới Tây Nguyên và qua đó tới Đông Bắc Thái Lan, Bắc Lào, Sam Rong Sen (Campuchia)…Về phía Biển Đông, gốm Sa Huỳnh, khuyên tai 3 mấu,khuyên tai(bùa?) hai đầu thú – điển hình Sa Huỳnh – còn lan tỏa đến Java, Palawan Philippines, Hải Nam, Đài Loan…
Trang 35Và ngược lại, Sa Huỳnh xứ Quảng cũng là nơi tiếp thu các nhân tố văn hóa khác
Có lẽ nhiều dòng chảy văn hóa để dẫn tới dòng sông – của biển Sa Huỳnh – Hội An từ Bàu Tró theo dọc ven biển tiến vô, từ Tây Nguyên Hồ Lắc (Biển Hồ) tiến xuống.Từ Đông Sơn lan tỏa xuống Nam, rồi từ Nam Trung Hoa, từ Nam Ấn Độ và biết đâu còn xa hơn nữa, với thủy tinh, mã não, lá đồng dáng bồ đề… khiến cho càng muộn về sau, Hội
An cảng thị càng chưa đựng một đa phức thể văn hóa đa sắc, đa dạng…
Cùng với Hậu Xá I, các di chỉ cư trú ở Hội An như Trảng Sỏi, Đồng Nà (Vạn Đức) Bàu ĐÀ (Lùm Bà Yang Cẩm Thanh)… cũng như ở Trà Kiệu, với nhiều lớp văn hóa sớm muộn và cũng như các di chỉ Bào Đông, Xuân Lâm, Động Trụi ở Vĩnh Linh, ở Gio Linh Quảng Trị, thậm chí ở Cồn Nền, ở cánh đồng Chăm (Quảng Trạch) , ở cửa động Phong Nha, Xóm Chằm, Bố Trạch, Quảng Bình… tuy đều chưa được giám sát khai quật và báo cáo đầy đủ, song gần như chắc chắn, là chúng mở ra một giai đoạn mới trong việc nghiên cứu diễn trình văn hoá Sa Huỳnh tại Hội An
2.2 Đặc điểm phân bố các di tích văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
Những di tích mộ táng và di chỉ cư trú văn hoá Sa Huỳnh ở Hội An tập trung cơ bản trên một dải cồn cát dài khoảng 5km, ôm bên dưới bởi một dòng chảy cổ hướng chủ yếu Tây – Đông Từ phía Tây giáp với huyện Điện Bàn, xuống phía Đông giáp với trung tâm Hội An, có một dòng chảy theo hướng Bắc – Nam Trên dải cồn cát này, hình thành nên các di tích Trảng Sỏi, An Bang, Thanh Chiếm, Hậu Xá II, Hậu Xá I Mỗi điểm này lại cách nhau bởi những dòng chảy nhỏ cắt ngang, chạy theo hướng Bắc – Nam Về cơ bản, khu di tích mộ táng nằm ở phía trong, còn di chỉ cư trú nằm ở phía ngoài, men theo
bở dòng chảy, cách nhau trong bán kính chừng 100m
Ngoài ra, lấy phố cổ Hội An làm trung tâm thì ta thấy các di chỉ như: Đồng Nà, Bầu Ốc, Bầu Sấu, Trảng Kèo, Trà Quế… ở phía Bắc, Tây Bắc; Trà Quân, Lăng Bà (Bầu Đà), Phước Trạch, An Bàng… ở phía Đông, Cẩm Nam, Cẩm Kim… ở phía Nam; hay
Trang 36Xuân Lâm ở ngay chân cồn trung tâm H Tất cả đều mang tính chất phân bố men theo dòng chảy (hiện nay có thể chỉ còn lại dấu vết hoặc còn là sông chết)
Như vậy, ta càng hiểu thêm về yếu tố sông nước, cồn – bầu hay yếu tố nông – ngư nghiệp của cư dân Sa Huỳnh trên địa bàn Hội An Hơn nữa, các dòng chảy này đương nhiên có cội nguồn núi – trung du ở phía Tây Quảng Nam – Đà Nẵng và đều hội tụ về Cửa Đại, thông ra biển cả Điều này cho chúng ta hiểu thêm về một yếu tố nữa, yếu tố giao lưu văn hoá trong vùng, trong khu vực của văn hoá Sa Huỳnh ở Hội An Ở đâu có dấu vết di tích Chàm thì ở đó có điểm di tích văn hoá Sa Huỳnh như: Miếu Thần Hời, Miếu Bà Yafng, Trà Quế, Lăng Bà (Lồi), Làng Mây (Lang May), Làng Câu (Lang Cau)…
Trong ba năm 1993 – 1995, các nhà khảo cổ học thuộc trường Đại học Quốc Gia
Hà Nội, Bảo tàng tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Ban Quản lý Di tích Hội An đã tiến hành triển khai thực hiện dự án “Nghiên cứu khảo cổ học văn hoá Sa Huỳnh trên toàn bộ địa bàn thị xã Hội An” Dựa vào những báo cáo khoa học từ chương trình này, ta tìm hiểu thêm được nhiều thông tin hữu ích về các di tích mộ táng thuộc văn hoá Sa Huỳnh tại Hội
An Tại bốn địa điểm di tích Hậu Xá I, Hậu Xá II, An Bang, Xuân Lâm, các nhà nghiên cứu đã khai quật được :
Trang 37Xuân Lâm 13,5 1 2 3
con số trên, chúng ta có thể hình dung được mật độ phân bố dày đặc mộ chum, kể cả mật độn dân cư thời kỳ này như thế nào Ở mỗi hố, mộ chum được chôn thành từng cụm (tuy
số lượng không đều, có thể 2,3 hoặc 4 mộ chum), nhưng cái chôn sau không cắt cái chôn trước Có trường hợp hai chum trong một biên mộ (chôn cùng một lần), một cái to một cái nhỏ (thường cái nhỏ hình nồi) Có trường hợp chum lồng nhau (như mộ chum 4 ở Hậu Xá II), trường hợp này rất ít gặp, mới thấy ở Đại Lãnh Nhưng ở đây, chum bên trong còn nguyên Ở một số hố (An Bang, Hậu Xá II) thể hiện rõ hiện tượng sử dụng cát trắng (dân gian miền trung gọi là cát Lồi) trong biên mộ hoặc có những lỗ cát trắng, nhỏ, tròn Hiện tượng này cho chúng ta liên tưởng đến hiện nay, cư dân miền Trung vẫn sử dụng cát trắng để đổ vào trong quan tài khâm liệm người chết còn rất phổ biến Những yếu tố trên chứng tỏ những khu mộ chum ở đây được chôn có ý thức quy hoạch (riêng Hậu Xá I, Xuân Lâm do bị đào xới, xáo trộn nên không thể khảo sát được hiện tượng này)
2.3 Các di tích mộ táng thuộc văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An
Trang 38Trong các hố đào ở An Bang, Hậu Xá II phát hiện thấy rõ có hiện tượng đốt lửa, than củi nằm xung quanh từng mộ chum Phải chăng hiệm tượng này có liên quan đến sự kiện nhân học văn hoá của cư dân ở miền Trung và Nam Bộ hiện nay, việc đốt lửa “sưởi ấm” mộ trong ba ngày đầu tang lễ còn rất phổ biến Tại một số mộ chum còn cả vỉa than củi lớn, ôm xung quanh vành miệng chum dày 40 – 50cm Phần lớn bên ngoài, dưới đáy chum, sử dụng loại đá màu vàng, nâu sẫm để lót chum, dày khoảng 20 – 40cm
2.3.2 Về các hiện vật tùy táng
Có thể thấy rất rõ hiện vật đồ gốm, đồ trang sức được phân bố cả ở trong và ngoài chum Riêng đồ sắt chỉ phát hiện ở trong chum Có hiện tượng đồ gốm đã sử dụng khi chôn theo bị đập vỡ trước khi chôn Ở đây, đồ gốm – loại hình nồi, cũng có sự khác biệt giữa các di tích Ở Hậu Xá II, chủ yếu là đồ minh khí, ở Hậu Xá I chủ yếu là đồ đã sử dụng, còn ở An Bang thì gần như không có cả hai thứ Có thể nói, Hậu Xá I cho chúng ta một bộ sưu tập quý về đồ gốm dân dụng của cư dân thời kỳ này, không riêng gì loại hình nồi mà tất cả các loại hình khác như: bát (có chân đế, không chân đế), “đèn Sa Huỳnh”, cốc, bát bồng, bình con tiện, đĩa…
Đồ trang sức, nếu ở Hậu Xá II quá nghèo về loại hình nồi gốm đã sử dụng thì ở đây, so với các di tích khác, đồ trang sức lại phong phú (chiếm 76,37%) của tổng số các
di tích) Gần như có tất cả loại hình: Khuyên tai (ba mấu,vành khăn), vòng đeo tay, hạt chuỗi… chất liệu đá (hồng mã não, nephrite, crystal, agate ), phiến sét, thuỷ tinh, kim loại vàng, chì, đồng… Tuy ít nhiều có khác nhau nhưng nhìn chung đồ trang sức có mặt trong tất cả các di tích Đặc biệt ở đây là chuỗi hạt bằng thuỷ tinh, đá nhỏ li ti thể hiện công nghệ chế tác và kỹ thuật rất điêu luyện, tinh vi
Về đồ sắt có khá nhiều về số lượng với các loại hình vũ khí: qua, dao găm, giáo, mác, dao mũi nhọn…
Trang 39Loại hình công cụ sản xuất: rựa, dao quắm, rìu, đục, thuổng, cuốc, dao, công cụ có lưỡi cong….Đặc biệt, công cụ đục chiếm một số lượng khá lớn trong tổng số các hiện vật sắt
1989 Sau đó, năm 1990, cán bộ khảo cổ của viện khảo cổ học tiếp tục đào ở đây.Trong
ba năm 1993 – 1995, thực hiện chương trình dự án: “Khai quật khảo cổ về di tích văn hoá
mộ chum Sa Huỳnh ở thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng”, nhằm làm sáng tỏ về khu di tích này, nhóm nghiên cứu Hội An phối hợp các nhà khảo cổ học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo tàng tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã tiếp tục đào thám sát và khai quật khảo cổ học
Thực tê, việc tiến hành đào thám sát, khai quật khu mộ táng này đều nằm trong tình trạng đào chữa cháy, vì lí do cư dân đào huyệt chôn mộ hoặc xúc đất đã làm lộ chum, thậm chí đào phá làm nhiều chum, hiện vật bị vỡ nát, lộn xộn, lộ ra trên mặt đất, nên việc xử lý không thể thực hiện theo đúng phương pháp khoa học khảo cổ Các nhà nghiên cứu đã đào và khoanh vùng thành ba hố chính
Hố I: Được tiến hành từ ngày 18 đến ngày 20/02/1993,[14, tr 60] diện tích hố đào
được ba chiếc chum,cụ thể như sau:
Trang 40- Chum 1: hình trụ , có vai gãy, đáy tròn, không phình, miệng loe, từ vai xuống đái trang trí văn thừng Chiều cao cả nắp 65 cm, đường kính vai 50 cm, đường kính miệng 30cm, đường kính hông 40cm Nắp đậy hình lồng bàn úp Xung quanh nắp chum có một
số mảnh vỡ của đồ đựng chân đế cao, nồi nấu, chân đế đèn, mẩu sắt
- Chum 2: Hình trụ, miệng loe, dáy tròn, vai gầy, hông phình, thân trang trí văn thừng Cao đến miệng 75cm, đường kính vai 66cm, đường kính hông 55cm, đường kính miệng 70cm, nằm nghiêng về chum 1 Nắp hình chóp cụt, trang trí hoa văn khắc vạch, kết hợp chấm dải, tô màu thổ hoàng Có khá nhiều hiện vật nằm trong và xung quanh bên ngoài chum như bát chân đế cao, thấp, nồi nấu, bát không chân đế miệng loe…Hiện vật trong lòng chum phân bố từ miệng đến đáy có các đồ đựng (nồi, bát chân đế thâp), dọi xe chỉ bằng đất nung , gần đáy có hạt chuỗi thuỷ tinh, đá , nhỏ, màu nâu, xanh nước biển Bên ngoài, dưới đáy chum có một số mảnh vỡ của “đèn Sa Huỳnh”
- Chum 3 : Lộ trên mặt đất (do lớp đất mặt đã bị lấy để đắp đường và bị bào mòn) Chum hình cầu, có hông phình, miệng loe, đáy tròn, thân trang trí văn thừng Cao đến miệng 25cm, đường kính thân 42cm, đường kính miệng 23cm Nắp hình lồng bàn (không
có núm) bị vỡ thành nhiều mảnh Xung quanh, bên ngoài có một số mảnh vỡ của bát có chân đế, nồi
Hố 2 : Được tiến hành từ 21-25/02/1993,cách hố 1 khoảng 10m về phía Đông của con đường mòn Diện tích hố đào 7.5cm2 ( 2,5 x 3m )[14, tr 61] Ở đây đã bị đào bới, xáo trộn, mảnh chum và hiện vật đồ đựng khá nhiều, xác định có khoảng 3 chum, số lượng mảnh hiện vật gốm rất phong phú, cùng với hiện vật sắt, dọi xe chỉ
Hố 3 : Từ 3-60/01/1994 nằm sát vách Nam của hố 2, diện tích đào 9m2 nhìn chung
hố này cũng bị đào bới, xáo trộn [14 tr 61] Dựa vào vết tích đáy chum, các hiện vật đã xác định được ở trong hố có 6 chum Các hiện vật bị đập vỡ, bỏ vung vãi xung quanh Căn cứ vào mảnh chum (thân, đáy, miệng) có thể xác định chum ở đây là miệng loe, có vai đáy bầu, thân trang trí văn thừng và chải Nắp hình chóp cụt hoặc lồng bàn úp