Bảo tàng Lịch sử quốc gia đang duy trì 2 hệ thống trưng bày cố định tại 2 cơ sở: số 1 Tràng Tiền Hà Nội, trưng bày Lịch sử Việt Nam giai đoạn cổ, trung đại; tại cơ sở số 216 Trần Quang Khải Hoàn Kiếm Hà Nội, trưng bày về Lịch sử Việt Nam thời kỳ cận hiện đại. Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã vinh dự được nhận nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng, trong đó có: 1 Huân chương Hồ Chí Minh, 4 Huân chương Độc lập, 3 Huân chương Lao động…
Trang 1TÌM HIỂU BỘ SƯU TẬP HIỆN VẬT VĂN HÓA SA HUỲNH TRƯNG BÀY TẠI BẢO
TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAMBảo tàng lịch sử quốc gia được thành lập theo Quyết định
số 1674/QĐ-TTg ngày 26/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ ViệtNam trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảotàng Cách mạng Việt Nam; Bảo tàng Lịch sử quốc gia là mộtcông trình văn hóa tọa lạc ngay tại quận Hoàn Kiếm, trung tâmcủa Thủ đô Hà Nội, gần với khu quần thể di tích linh thiêng củaThủ đô như Tháp Rùa- Hồ Gươm; Cầu Thê Húc- Đền Ngọc Sơn-Bút tháp và nhiều công trình văn hóa nổi tiếng khác như Nhàhát lớn…Đây là Bảo tàng lưu giữ, trưng bày, giới thiệu lịch sửViệt Nam từ thời Tiền sử đến ngày nay một cách tổng hợp,phong phú, liên tục và toàn diện nhất
Bảo tàng Lịch sử quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập trựcthuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đứng đầu hệ thống cácbảo tàng lịch sử- xã hội Việt Nam; có chức năng nghiên cứukhoa học, khai quật khảo cổ học, sưu tầm, lưu giữ, kiểm kê, bảoquản, trưng bày, giới thiệu, phát huy giá trị tài liệu, hiện vật vềtiến trình lịch sử Việt Nam;
Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện đang lưu giữ và bảoquản khoảng 200.000 hiện vật, tư liệu lịch sử văn hóa ViệtNam, trong đó giai đoạn lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đếnnăm 1945 có gần 110.000 tài liệu, hiện vật là di vật, cổ vật và
11 bảo vật quốc gia; trong đó có nhiều sưu tập quý hiếm vàobậc nhất so với các bảo tàng cùng loại hình ở trong nước và khuvực như: sưu tập hiện vật thuộc các nền văn hóa khảo cổ từ sơ
kỳ thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồng thau và sắt sớm (HòaBình- Bắc Sơn); Văn hóa Đông Sơn; Gốm men cổ Việt Nam; Đồđồng thời Lê Nguyễn; Điêu khắc đá Chăm pa; Nghệ thuật trangtrí nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và các nướctrong khu vực Đông Nam Á Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ giữathế kỷ XIX đến ngày nay có khoảng hơn 80.000 tài liệu, hiện vậtquý về lịch sử cách mạng Việt Nam, về Đảng Cộng sản ViệtNam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ
Bảo tàng Lịch sử quốc gia đang duy trì 2 hệ thống trưngbày cố định tại 2 cơ sở: số 1 Tràng Tiền - Hà Nội, trưng bày Lịch
sử Việt Nam giai đoạn cổ, trung đại; tại cơ sở số 216 Trần
Trang 2Quang Khải - Hoàn Kiếm- Hà Nội, trưng bày về Lịch sử Việt Namthời kỳ cận - hiện đại
Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã vinh dự được nhận nhiềuphần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng, trong đócó: 1 Huân chương Hồ Chí Minh, 4 Huân chương Độc lập, 3Huân chương Lao động…
Trong nội dung trưng bày“Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến hết thời Nguyễn (1945)” với 10 phòng trưng bày, trong đó, phần trưng bày thời Hùng Vương: Giới thiệu thời đại kim khí (4.000 - 2.000 năm CNN) thông qua 240 hiện vật và tư liệu Thời này, Việt Nam đã hình thành nền văn minh sông Hồng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, văn hóa Sa Huỳnh ở Trung Trung Bộ
và văn hóa Đồng Nai ở Đông Nam Bộ, tương ứng với thời kỳ cácvua Hùng dựng nước Văn Lang, An Dương Vương lập nước Âu Lạc… Văn hóa Sa Huỳnh là một trong 3 nền văn hóa lớn trong thời đại kim khí của nước ta, văn hóa Sa Huỳnh đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc, cho nên văn hóa Sa Huỳnh được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Cách đây hơn 100 năm, năm 1909 những dấu vết đầu tiêncủa văn hóa Sa Huỳnh được biết đến với gần ngàn mộ chum vớinhiều đồ tùy táng được đưa lên khỏi lòng đất Sa Huỳnh Sự hiểubiết về văn hóa Sa Huỳnh chỉ được thực sự mở rộng, đẩy mạnh
và nâng cao sau ngày đất nước thống nhất, cho đến nay chúng
ta đã có trong tay khối tư liệu đồ sộ của ít nhất trên 60 di tích
Sa Huỳnh hay dạng Sa Huỳnh hoặc có gắn bó với văn hóa Sa Huỳnh, qua đó ta có thể khái quát và gợi ra nhiều vấn đề dẫn tới việc hiểu biết khá toàn diện về nền văn hóa nổi tiếng này
Số di tích thuộc phổ hệ văn hóa Sa Huỳnh phân bố trong một không gian rộng lớn trên mọi địa hình khác nhau từ đồng bằng lên cao nguyên, từ đảo biển đến núi rừng Tuy nhiên nếu xem xét kĩ ta sẽ thấy phần lớn các di tích đều tập trung ở các ven sông, bên các đầm hồ nước ngọt (điều này được quy định bởi các phương thức sống chủ yếu và nh cầu sống của con
người thời đó) các di tích sớm với số lượng nhiều thường phân
bố rộng nhưng tập trung ở vùng bờ biển, đối với các di tích Sa Huỳnh cổ điển ( Sa Huỳnh sắt) thì các di tích sớm thường phân
Trang 3bố ở vùng ven biển có xu thế lan tỏa sâu vào nội địavà lan đến khu vực miền núi tây nguyên và xa hơn, các khu di tích Sa
Huỳnh được phân bố thành cụm quanh các vùng có vị trí địa lí thuận lợi và có tiềm năng phát triển kinh tế, mở rộng như Hội
An, Cần Giờ, Xuân Lộc
Qua nhiều ý kiến nhận xét đánh giá về sự phát triển của văn hóa Sa Huỳnh thỳ các nhà nghiê cứu đều cho rằng văn hóa
Sa Huỳnh thuộc thời đại kim khí, đầu thời kì đồ sắt Tuy nhiên, còn nhiều ý kiến cho rằng nó thuộc thời đại đồng thau Và Bảo tàng lịch sử quốc gia đã có cuộc hội thảo về văn hóa Sa Huỳnh ,các nhà nghiên cứu đã sắp xếp văn hóa Sa Huỳnh đầy đủ từ những năm nghiên cứu và phát hiện văn hóa Sa Huỳnh, họ cho rằng sự xuất hiện và phát triển của đồ sắt chinh là một trong những yếu tố cơ bản để kết tinh, thống nhất văn hóa Sa Huỳnh
và chính nó là cơ sở vững chắc để văn hóa Sa Huỳnh phát triển rực rỡ và có sức lan tỏa mạnh mẽ
Sự phát hiện và khai quật nghiên cứu về văn hóa Sa
Huỳnh cho đến nay đã hơn một thế kỉ Các nhà nghiên cứu
khảo cổ học trong và ngoài nước đã có những bộ sưu tập hiện vật khá phon phú ở văn hóa Sa Huỳnh Các hiện vật tiêu biểu trong văn hóa Sa Huỳnh bao gồm: Đồ gốm ( chum mai táng, đồ tùy táng trong các mộ chum, nồi, mâm, bát, bình hoa ), đồ trang sức, công cụ sản xuất
Bảo tàng lịch sử quốc gia đã trưng bày văn hóa Sa Huỳnh tại Bảo tàng với hơn 200 hiện vật gồm có:
1.Hiện vật đồ đá:
Gồm những công cụ thô sơ như rìu, cuốc, đục, dao, rìu bôn, đoi xe chỉ Thổ Hoàng, cục chì (ở di chỉ Long Thạnh), công cụ chặt, bàn mài, hòn ghè (công cụ đá ở núi Thành Quảng Nam, di chỉ Bàu Trám)
Theo sự phân chia niên đại di chỉ Long Thạnh thuộc giai đoạn Sa Huỳnh Sơ kì Địa điểm Long Thạnh được khai quật với quy mô lớn và có nội dung văn hóa phong phú nhất, được khai quật nhiều lần, đây vừa là di chỉ cư trú, vừa là di chỉ mộ táng của cùng môt chủ nhân và được xếp vào giai đoạn đầu của văn hóa Sa Huỳnh với số lượng hiện vật phong phú và đa dạng gồm
Trang 4các loại công cụ sản xuất bằng đá, bằng đất nung, bằng xương
Do loại hình hiện vật gốm là chủ yếu trong các di tích, di chỉ thuộc vă hóa Sa Huỳnh, nên phòng trưng bày đã trưng bày một số lượng lớn những loại hình hiện vật gốm, bao gồm:Lọ hoa, nồi gốm, nồi minh khí, đèn gốm, bát chân cao, bình gốm, đồ đựng, các loại chân đế, chum mai táng Đây là những hiện vật và sưu tâp gốm tiêu biểu về văn hóa Sa
Huỳnh
a, Nồi gốm ở phòng trưng bày
Có 4 loại tiêu biểu:
+ Nồi gốm ở Phú Nhuận, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (chất liệu thô chắc, màu vàng xám có tô ánh chì, có đáy tròn, bụng phình miệng loe xiên, cổ ngắn, bản miệng hơi bẻ
ra, cao 11,5 cm, đường kính đáy 15,5 cm, dày 0,6 cm,
đường kính miệng 12cm, đường kính bụng 49cm)
Nồi gốm này có đáy tròn, bụng phình miệng loe xiên, cổ ngắn, bản miệng hơi bẻ ra Từ mép ra hết phần cổ nồi được miết nhẵn và tô ánh chì, thân có 4 đường vạch gần như songsong chạy quanh thân nồi tròn, nền vặn thừng Bên trong đường vạch đơn có đường vạch xiên héo, có chỗ tạo ô trám Phần đáy có vặn thừng đập chéo cắt nhau tạo lên độ bền chắc
Trang 5+ Nồi gốm ở Bình Châu ( là những nồi gốm có miệng loe,
cổ thắt, thân hình cầu phình rộng, đôi khi tạo thành gờ nổi, đáy tròn nhọn
Được chia làm 4 loại:
- Loại 1: Nồi có miệng lọc bên ngoài có gờ nổi Trên thành miệng tô màu đen ánh chì Bên ngoài, phía trên
gờ nổi ở miệng có băng hoa tô mầu đen ánh chì Trừ phần vai đến phần rộng nhất ở thân nồi có 3 băng hoa văn trang trí: băng trên tô màu đen ánh chì, băng giữa khắc vạch hình răng sói dài hoặc rạch ngắn song song
và băng cuối khắc vạch họa tiết hai nửa vòng tròn nằm ngang lồng nhau, phần còn lại đến đáy nồi được trang trí hoa văn thừng ha hoa văn chải
- Loại 2: Nồi có miệng lọc, bẻ Có môt băng hoa văn trang trí ở bên trên phần rộng nhất ở thân nồi Băng hoa văn này được trang trí in mép vỏ sò hay khắc vạch hình răng sói, hoặc rạch ngang song song Lưới băng hoa văn này đến đáy, nồi được trang trí hoa văn thừng hay hoa văn chải
- Loại 3: Nồi có thành miệng cao, loe xiên, cổ thắt, thân phình gãy góc, đáy tròn nhọn Trên vai nồi có trang trí một băng tô màu đen ánh chì, có băng hoa văn khắc vạch hình răng sói dài
- Loại 4: Nồi có kích thước nhỏ, miệng loe thấp, thân hình cầu, đáy tròn dẹt Không có hoa văn trang trí
+ Nồi gốm ở Bàu Tám, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
Có 4 loại:
- Loại 1: Nồi có thành miệng loe cao, loe cong, cổ thắt, mộttrong thành miệng bằng hoặc lõm hình lòng máng, thân hình cầu, đáy tròn hay chân đế thấp Trên bản miệng trang trí những đường rạch ngắn song song, trên vai nồi thường trang trí hoa văn khắc vạch
Nồi đã xuất hiện trang trí vẽ màu, trên miệng (cả bên trong và bên ngoài) và trong cổ nồi tô màu đỏ thổ hoàng Trên nền tô màu thổ hoàng, bên ngoài rồi từ miệng đến đáy có trang trí các băng hoa văn tô màu đen ánh chì và khắc vạch xen kẽ nhau Trong miệng, phần lõm hình lòng
Trang 6máng trang trí băng tô đen ánh chì và băng khắc vạch chéo nhau ở phần cổ trang trí như bên ngoài nồi.
- Loại 2: Nồi có thành miệng thấp, loe cong, bụng nở, đáy tròn, không có hoa văn trang trí
- Loai 3: Nồi có thành miệng cao, cổ thắt, thân phình rộng,
có gờ gãy góc, đáy tròn nhọn Từ dưới thành miệng đến cổtrang trí tô màu đen, ánh chì Bài trên gờ mổi ở chân
trang trí hoa văn thừng Bài dưới gờ nổi đến đáy không trang trí hoa văn
- Loại 4: nồi có thành miệng thấp, loe cong, thân phình rộng, có gờ gãy góc, đáy tròn dẹt Trên gờ gãy góc ở thân nồi có băng trang trí hoa văn khắc vạch họa tiết chữ S nối nhau và tam giác đệm Trong họa tiết S tô màu đen ánh chì và bên ngoài họa tiết S in mép vỏ sò
+ Nồi minh khí có màu vàng xám, gốm chắc mịn, Đường kính 3,6 – 4,1 cm Loại nồi này nhỏ,miệng khum, mép thẳng,đáy tròn bằng, được nặn bằng tay Nồi được trang trí văn thừng, in mép vỏ sò, một số cái bề mặt miết nhẵn không có hoa văn mà có dấu vân tay
b, Bình gốm:
Tưng bày ở đây được tìm thấy tại Long Thạnh, huyện Đức Phổ, Quảng ngãi Bình có thân hình cầu, cổ vươn cao thắt lại, miệng loe xiên rộng, chân đế thấp Trên phần miệng, cổ và thân bình
có đường gờ nổi Bình có hoa văn trang trí phủ kín bề mặt, hoa văn trang trí là chữ S đơn hay kép nối với nhau thành từng
băng, ngoài ra còn họa tiết khắc vạch hình tam giác song hành tạo thành những băng ngang, hoa văn hình chữ nhật hoặc hình xương cá Các loại bình đều có dáng tương tự như nhau tuy nhiên có hai nhóm khác nhau là dáng cao và dáng thấp
c, Bát chân cao:
Tìm thấy ở Bàu Tràm và Bình Châu
Ở Bàu Tràm bát có dáng khum, miệng rộng, lòng sâu, thành miệng mỏng, bóp vào, chân đế cao, dáng choãi, thường
có một băng hoa văn khắc vạch trang trí ở chân đế
Ở Bình Châu bát có dáng khum, miệng loe rộng, sâu lòng, bản miệng rộng vát từ trong ra ngoài, bên ngoài thành miệng
Trang 7có gờ nổi Bát có chân đế cao, dáng choãi Hoa văn trang trí đều có 3 băng hoa văn trang trí tô maud đen ánh chì giống nhau Một băng trang trí trên bảng thành miệng và một băng trang trí dưới chân đế
V, trang trí đối xứng, thân phân biệt với đường miệng bởi hai đường vạch chay song song quanh thân Thân trang trí hoa văn hình chữ nhật lồng vào nhau
e, Chum mai táng:
- + Chum mai táng tìm thấy ở khu vưc Long Thạnh, thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, có thân hình trứng, vai
nở, miệng loe, thành miệng thấp đáy chum tròn hơi nhọn
Từ phần vai đến đáy chum có trang trí hoa văn thừng hay chỉa Chum có kích thước lớn, có nắp đậy hình lồng bàn
úp, nắp đậy có núm cầm nhỏ, thấp ở giữa, đều có hoa văntrang trí, hoa văn khắc vạch kết hợp với ra mép vỏ sò và
tô màu đen ánh chì phủ kín bề mặt, nắp đậy có kích thướclớn Chum có niên đại cách ngày nay khoảng 3000 năm
- + Chum mai táng tìm thấy ở An Bang, Hội An, tỉnh Quảng Nam, có dáng thẳng, miệng loe, có nắp đậy, hình nón cụt hay hơi bằng, hoa văn khắc vạch, có màu đỏ thổ hoàng Chum được xác định có niên đại cách ngày nay khoảng
2000 năm
- + Chum mai táng ở Tam Mĩ, Núi Thành, Quảng Nam, có nắp đậy hình nón cụt, nắp đậy thường có băng hoa văn khắc vạch trang trí bên dưới vành miệng hay ở gần đáy,
Trang 8băng hoa văn này thường được khắc vạch họa tiết hình chữ V, hình thoi, hình hồi văn, hình chữ nhật Bên trong họa tiết khắc vạch có trang trí những nét rạch ngắn song song và bên ngoài họa tiết khắc vạch tô maud đỏ hay đenánh chì, có niên đại cách ngày nay khoảng 2000 năm.+ Chum mai táng tìm thấy ở di chỉ Mả Vôi thuộc Duy
Xuyên Quảng Nam, có hình trứng, miệng loe, cổ thắt
vào,hoa văn trang trí kẻ vạch xiên ấn bằng đầu que, Cổ không trang trí, dùng tay miết nhẵn, màu thổ hoàng, có niên đại cách ngày nay khoảng 2000 năm
3 Các loại hiện vật đồ trang sức:
Đạt được tính thẩm mĩ cao của cư dân Sa Huỳnh
- Hạt chuỗi là đồ trang sức có nhều ở các di tích, chúng có nhiều loại hình với những nguyên liệu khác nhau: Đá quý, thủy tinh
- Khuyên taiđược chế tác bằng các loại đá quý hay thủy tinh gồm các loại: khuyên tai vành khăn dẹt hở, khuyên tai bốn mấu nhọn, khuyên tai ba mấu, khuên tai hai đầu thú, vòng và mảnh vòng
Có thể nói trên lĩnh vực tạo dáng và sử dụng chất liệu đồ trang sức các khuyên tai ba mấu bằng đá quý, thủy tinh, khuyên tai bốn mấu, khuyên tai hai đầu thú, các hạt chuỗi
là những đồ trang sức đạt tính thẩm mỹ cao của cư dân
Sa Huỳnh
4 Đồ kim khí
Đồ dùng bằng kim loại dược trưng bày ở đây gồm có công cụ,
vũ khí bằng sắt như dao găm cán tượng voi tìm thấy ở Đại
Lãnh, và Tam Mĩ, huyện Núi Thành, Quảng Nam, dao găm và giáo hình lá lứa rất giống những hiện vật đồng thau của văn hóa Đông Sơn Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể những hiện vật đồng thau này có thể do cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã trao đổi hay giao lưu trực tiếp với cư dân văn hóa Đông Sơn Ngoài
ra còn có các hiện vật bằng kim loai khác như nhạc đồng ở Sa Huỳnh, gốm có đinh sắt ở Phù Lu
Trang 9Thông qua những di vật được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử quốc gia về văn hóa Sa Huỳnh ta nhận biết được một số đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh như sau:
a Về công cụ sản xuất:
Công cụ sản xuất của cư dân văn hóa Sa Huỳnh giai đoạn
sơ kỳ chủ yếu là các loại rìu, cuốc bằng đá Trong đó tiêu biểu nhất là loại rìu, cuốc có vai xuôi, và loại rìu, cuốc đốc thu hẹp lưỡi xòe rộng, những loại công cụ này còn tồn tai đến trung kỳ
Ở giai đoạn trung kỳ, ngoài những loại công cụ sản xuất kế thừa từ giai đoạn sơ kì, cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã có kỹ nghệ luyện kim đồng thau và sắt, công cụ sản xuất bằng đồng thau đã xuất hiện, chúng dần dần thay thế công cụ sảnxuât bằng đá
ở giai đoạn hậu kỳ, công cụ sản xuất của cư dân văn hóa Sa Huỳnh rất phát triển và chủ yếu là công cụ bằng sắt
Như vậy, công cụ sản xuất của cư dân văn hóa Sa Huỳnh từ giai đoạn so kỳ đến giai doạn hậu kỳ là những công cụ sản xuất của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước mà trong đó tiêu biểu nhất là các loại rìu và cuốc Hai loại công cụ này códáng hình ổn định rừ đá sang sắt Điều này đã khẳng định nét đặc trưng riêng về công cụ sản xuất của cư dân văn hóa
Sa Huỳnh – một cư dân nông nghiệp trồng lúa ven biển Nam Trung Bộ nước ta vào thời tiền sử và sơ sử
b Về đồ trang sức:
Có thể nói cư dân văn hóa Sa Huỳnh có truyền thống
ưa chuộng đồ trang sức và đồ trang sức của họ rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn phát triển họ
đã chế tạo và trang điểm những loại đồ trang sức riêng
Ở giai đoạn sơ kỳ dồ trang sức của họ chủ yếu là vòng tay và đồ trang sức bằng đá Trong đó tiêu biểu nhất
là vòng tay có 4 màu và hạt chuỗi hình đốt trúc
Ở giai đoạn trung kỳ, đồ trang sức của họ chủ yếu là khuyên tai Khuyen tai gồm hai loại: khuyên tai hình vành khăn có khe hở bằng đá và khuyên tai hình đỉa bằng đất nung
Trang 10Ở giai đoạn hậu kì, đồ trang sức của cư dân văn hóa
Sa Huỳnh rất phát triển Chúng ta đã gặp các loại hạt chuỗi, vòng tay, khuyên tai, nhẫn bằng đá thủy tinh Trong đó tiêubiểu nhất là khuyên tai ba màu nhọn và khuyên tai hai đầu thú Nhìn chung các loại đồ trang sức giai đoạn hậu kì kế thừa từ các loại trang sức của các giai đoạn trước Riêng loại khuyên tai hai đầu thú chúng là một trong những đặc trưng
về đồ trang sức, đặc trưng văn hóa của cư dân Sa Huỳnh thời đại sắt
c Đồ gốm:
Có thể nói hiện vật gốm được phát hiện và tìm thấy nhiều nhất ở văn hóa sa Huỳnh, đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh rất phong phú và đa dạng về mặt loại hình cũng như là hoa văn trang trí, đặc biệt là gốm tùy táng trong các mộ chum Chúng t có thể nhận thấy nét đặc trưng tiêu biểu về mặt loại hình là sự phổ biến các loại nồi, bình, có gờ gãy góc trên thânhay trên vai và loại bát sâu lòng có chân đế cao Chúng ta cũng nhận biết thủ pháp trang trí gốm của cư dân văn hóa
Sa Huỳnh là khắc vạch với nhiều họa tết, kết hợp với in mép
vỏ sò (hay in dấu thừng) và tô màu (màu đỏ hay màu đen ánh chì) thành các băng ngang trên gốm Những loại hình và hoa văn trang trí đặc trưng này đã tồn tại từ giai đoạn Sa Huỳnh sơ kỳ đến giai đoạn Sa Huỳnh hậu kỳ Tuy nhiên, đồ gốm trong các di tích thuộc giai đoạn sớm được tạo dáng mềm mại, thanh thoát Gốm có hoa văn trang trí rất phong phú, gồm nhiều họa tiết đường cong uốn lượn mềm mại Hoa văn in mép vỏ sò và tô màu đen rất phổ biến Ngược lại, đồ gốm trong các di tích thuộc giai đoạn muộn được tạo dáng cứng hơn và góc cạnh hơn Ở giai đoạn này đã xuất hiện loại hiện vật mới như “Đèn Sa Huỳnh” Hoa văn trang trí trên gốm giai đoạn này đơn điệu hơn, cứng hơn các giai đoạn trước Hoa văn trang trí chủ yếu là các hình học hay đường gãy khúc Hoa văn in mép vỏ sò và tô màu đen ánh chì cũng
ít phổ biến hơn mà thay vào đó là màu đỏ thổ hoàng
Như vậy, trong quá trình phát triển, đồ gốm văn hóa
Sa Huỳnh đã đóng vai trò quan trọng, thể hiện trình độ nhậnthức cao của người cổ Sa Huỳnh, họ đã tiếp thu và biến đôi