1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các vấn đề về môi trường thương mại quốc tế

85 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu trình bày nền tảng cơ bản về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường trong thương mại quốc tế; các cam kết môi trường trong các Hiệp định thương mại và khuôn khổ hợp tác quốc tế về kinh tế; hệ thống các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế; kinh nghiệm quốc tế trong việc nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Trang 1

HÀ NỘI T7/2017

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Manual to Guide Businesses on Environmental Regulations and Free Trade Agreements

Trang 2

Mục lục

EXECUTIVE SUMMARY 4

Giới thiệu 5

Tóm tắt 7 Phần 1: Nền tảng cơ bản về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường trong thương mại quốc tế 11

1.1 Bản chất mối quan hệ giữa thương mại với môi trường 11

2.2 Diễn biến các vấn đề môi trường trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do 14

1.3 Diễn biến các vấn đề môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế 18

1.4 Diễn biến các vấn đề thương mại trong các Hiệp định môi trường đa phương 20

Phần 2: Các cam kết môi trường trong các Hiệp định thương mại và khuôn khổ hợp tác quốc tế về kinh tế 22

2.1 Các cam kết môi trường trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 23

2.2 Các cam kết môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế 29

2.3 Các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường trong Hiệp định rào cản kỹ thuật liên quan đến thương mại 32

2.4 Các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan đến Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật 33

2.5 Các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường trong các cam kết khác 34

2.6 Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường 35

2.7 Tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường 39

Phần 3: Hệ thống các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế 43

3.1 Các yêu cầu về môi trường đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong thương mại quốc tế 44 3.2 Các yêu cầu về môi trường đối với hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ 47

3.3 Các yêu cầu về môi trường đối với hàng nhập khẩu vào Nhật Bản 49

3.4 Các yêu cầu về môi trường đối với hàng nhập khẩu vào Châu Âu 56

3.5 Các yêu cầu về môi trường đối với hàng nhập khẩu của một số nước khác 69

3.6 Những có hội và thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong việc đáp ứng các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế 70

Phần 4: Kinh nghiệm quốc tế trong việc nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 72

4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 73

4.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 73

4.3 Kinh nghiệm của Indonesia 76

4.4 Kinh nghiệm của Malaysia 76

4.5 Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế của Việt Nam 77

4.6 Bài học kinh nghiệm và một số gợi ý chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế 81

Kết luận 83

Tài liệu tham khảo 84

Trang 4

Bảng 1.1: Tóm tắt các biện pháp thương mại trong một số MEAs 21

Bảng 2.1: Các nội dung cam kết có liên quan đến môi trường trong các FTA 25

Bảng 2.2: Các điều khoản cam kết có liên quan đến môi trường trong các FTAs mà Việt Nam ký kết 26

Bảng 2.3: Một số vụ tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường trong GATT/WTO 40

Bảng 3.2: Các chứng chỉ bền vững tự nguyện đối với các sản phẩm nông sản xuất khẩu toàn cầu 47

Bảng 3.3: Một số văn bản quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mặt hàng thủy sản 51

Bảng 3.4: Các chất cấm sử dụng đối với mặt hàng thủy sản so với quy định Việt Nam 51

Bảng 3.5: Một số quy định về dư lượng hóa chất có trong mặt hàng tôm 52

Bảng 3.6: Quy định chung về luật liên quan đến nhập khẩu 53

Bảng 3.7: Quy định hàm lượng chất hóa học trong sản phẩm dệt may của Nhật Bản 54

Bảng 3.8: Một số văn bản pháp luật điều tiết chế độ nhập khẩu hàng may mặc của Nhật 54

Bảng 3.9: Một số văn bản pháp luật điều tiết chế độ nhập khẩu hàng tơ lụa của Nhật 55

Bảng 3.10: Các quy định liên quan tới sản phẩm đồ gỗ 55

Bảng 3.11: Quy định của EU về mức dư lượng tối đa cho phép đối với chất phụ gia trong sản phẩm thuỷ sản 64

Bảng 3.12: Tiêu chuẩn nhãn môi trường đối với sản phẩm dệt của EU 65

Bảng 3.13: Giới hạn các chất hoá học của EU đối với sản phẩm da giày 67

Bảng 3.14: Tiêu chuẩn nhãn môi trường đối với sản phẩm dệt của Trung Quốc 69

Hộp 3.5: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam và doanh nghiệp từ các cam kết môi trường trong TPP 71

Bảng 4.1: Số lượng chứng chỉ ISO14001 của Thái Lan phân theo lĩnh vực 74

Danh mục Hộp Hộp 1.1: Tác động qua lại giữa thương mại với môi trường 12

Hộp 1.2: Các tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường 15

Hộp 1.3: CTE - Ủy ban thương mại môi trường của WTO 17

Hộp 2.1: Áp dụng ngoại lệ về môi trường theo Điều XX 25

Hộp 2.2: Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các tranh chấp thương mại – môi trường bao gồm: 41

Hộp 3 1: Điểm xanh (Green Dot) 58

Hộp 3.2: Các đặc điểm của tiêu chuẩn QLMT ISO 14001 59

Hộp 3.3: Các hiệp hội và chương trình nhãn mác thương mại bình đẳng đang hoạt động ở EU 61

Hộp 3.4: Chiến dịch quần áo sạch 66

Hộp 4.1: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU của Thái Lan 73

Hộp 4.2: Hàng xuất khẩu bị trả về do không đáp ứng các yêu cầu về môi trường 77

Hộp 4.3: Các hỗ trợ, ưu đãi cho doanh nghiệp tham gia chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020: các nội dung có liên quan đến môi trường 80

Hộp 4.2: Chính sách hỗ trợ xuất khẩu bền vững đối với nông – thủy sản 81

Danh mục Sơ đồ/Đồ thị Sơ đồ 2.1: Danh mục hàng hóa và dịch vụ môi trường theo phân loại của các tổ chức quốc tế và Việt Nam 38

Sơ đồ 2.2: Thủ tục giải quyết tranh chấp môi trường theo FTA Việt Nam - EU 42

Sơ đồ 3.1: Các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế đối với các sản phẩm xuất khẩu có liên quan đến Việt Nam 44

Đồ thị 3.1: Các thông báo TBT liên quan đến nhãn sinh thái gửi tới WTO 46

Sơ đồ 3.2: Sơ đồ khái quát quá trình kiểm dịch thực vật của Nhật Bản 50

Trang 5

EXECUTIVE SUMMARY

In recent years, environmental regulations have become progressively more influential, drastically altering the implementation of free trade obligations Over the past 20 years, Vietnam has been actively participating in international economic integration, signing both international and regional free trade agreements (FTAs) The desire to protect the environment has become a significant component of many sustainable development goals set forth in these agreements For example, both sustainable development and environmental preservation are objectives established in the WTO Agreement, as it declares: “GATT allows Member States to enact necessary measures to protect humans, animals, plants, health, or preserve the depletion of natural resources,” while also stating that “these measures shall not

be used for the purpose of protecting trade or creating discrimination against domestic products.”

WTO negotiations on the environment have persisted, but they irrefutably emphasize the importance of strengthening environmental protection in international trade, promoting trade liberalization for environmentally beneficial goods and services, and limiting the use of environmental barriers to trade To achieve these ambitions, the WTO has prioritized the development of:

(1) quality standards (e.g., requirements and regulations for products, procedures for assessment of product quality);

(2) user safety standards (e.g., labeling and packaging with product codes and

origins);

(3) standards of labor and social responsibility; and

(4) specific regulations targeting environmental protection

In 2015, many next generation FTAs, such as the TPP and the Vietnam-EU FTA, officially established environmental protection as a central goal Their environmental commitments focus on:

(1) the facilitation of trade in goods and services that contribute to environmental improvement and carbon reduction (e.g., commitments to environmentally friendly goods and services through tax cuts, reductions in domestic subsidies to create an environment for equitable competition, etc.); and

(2) increased regulated control of commercial activities likely to cause negative impacts on the environment (e.g., trade in wildlife, exotic species, or illegal timber, commercial fishing activities that threaten to deplete fish resources, and sea transport activities that cause environmental pollution)

Environmental requirements in international trade can pose many challenges for businesses, especially small and medium sized enterprises, due to limited technological, financial, and technical capacities Developing effective environmental requirements can improve access to the market, contributing to national prestige and enhanced trust for commercial partners Compliance with environmental requirements in international economic integration also helps businesses avoid disputes and protects the safety and health of the people Abiding

by environmental regulations would protect and maintain Vietnam’s natural resources and further ensure sustainable development

Trang 6

The objective of this manual is to provide an introduction to environmental issues in international trade, focusing on four main themes:

Part 1 The Relationship between International Trade and the Environment;

Part 2 Environmental Commitments in Trade Agreements and the Framework of

International Economic Cooperation;

Part 3 The Environmental Regulation System and Standards in International

Trade; and

Part 4 International Experiences in Satisfying Environmental Requirements and

Recommendations for Vietnam

Hiện nay Việt Nam đã ký kết, thực thi, và đang đàm phán tổng cộng tới 16 các hiệp định thương mại

tự do thế hệ mới (FTA), trong đó nổi bật như Việt Nam – EU, FTA Việt Nam – Hàn Quốc, và Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)…Các hình thức hội nhập đều có chương trình hoạt động riêng, nhưng về cơ bản đều tuân theo các quy định, nguyên tắc của WTO

Ngoài các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam còn có các cam kết liên quan đến thương mại trong các Hiệp định đa phương về môi trường, chẳng hạn như Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES); Công ước BASEL về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và tiêu huỷ phế thải; Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về biến đổi khí hậu; Công ước khung của UN về biến đổi khí hậu (UNFCCC); Công ước Stocholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POPs)…

2 Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường là mục tiêu được ghi trong lời nói đầu của Hiệp định sáng

lập WTO : “GATT cho phép các nước thành viên ban hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ con người,

động vật, thực vật, sức khỏe, hoặc bảo tồn sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên” Tuy nhiên, điều XX cũng nêu ra rằng “các biện pháp này không được sử dụng vì mục đích bảo hộ thương mại hoặc tạo ra phân biệt đối xử đối với các sản phẩm nội địa”

Từ đó đến nay, các đàm phán về môi trường trong WTO vấn tiếp tục diễn ra qua các vòng đàm phán với các mong muốn về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế, nâng cao vai trò của thương mại trong việc thúc đẩy tự do hóa thương mại đối với các hàng hóa và dịch vụ có lợi cho môi trường, hạn chế các quốc gia sử dụng môi trường gây ra các rào cản thương mại… Song song với quá trình này đó là việc thiết lập các hợp tác và thỏa thuận thúc đẩy BVMT qua các khuôn khổ hợp tác quốc tế như APEC, ASEAM, thực thi có hiệu quả các Hiệp định môi trường đa phương có liên quan đến thương mại…

Các nội dung về môi trường chủ yếu tập trung vào: Các quy định về tiêu chuẩn chất lượng (Các yêu cầu, qui định đối với sản phẩm; Các thủ tục đánh giá, giám định về chất lượng sản phẩm); Tiêu chuẩn về an toàn cho người sử dụng (Các quy định về nhãn mác, đóng gói, ký hiệu mã sản phẩm, nguồn gốc

Trang 7

xuất xứ ); Tiêu chuẩn về lao động và trách nhiệm xã hội ; Quy định về bảo vệ môi trường (Hệ thống ISO14001:2000, xem xét vấn đề về bảo vệ môi trường trong sản xuất sản phẩm, tạo sản phẩm xanh, sạch)

3 Năm 2015, môi trường đã chính thức trở thành một nội dung quan trọng trong các FTA thế hệ mới như TPP và FTA Việt Nam - EU Các cam kết về môi trương tập trung vào: (1) Thuận lợi hóa thương mại đối với các hàng hóa và dịch vụ đóng góp cho cải thiện môi trường và giảm thiểu khí thải các bon như các cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường thông qua các cắt giảm về thuế, cắt giảm các trợ cấp nội địa để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng; (2) Gia tăng kiểm soát các hoạt động thương mại có nguy cơ gây tác động tiêu cực tới môi trường như vấn đề thương mại đối với bảo tồn động thực vật hoang dã, các sinh vật ngoại lai, gỗ có nguồn gốc phi pháp, các hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản trên biển vì mục đích thương mại có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên cá, các hoạt động vận tải hàng hóa trên biển gây ô nhiễm môi trường… thông qua các quy đinh và tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, chế biến, vận chuyển đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, các sản phẩm nông nghiệp Quan trọng hơn, các quốc gia trọng các FTA này là các khu vực thị trường chính của Việt Nam, chiếm hơn 90% kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia và xấp xỉ 50% của GDP

4 Các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế có thể gây ra rất nhiều thách thức cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp SME do hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ thuật… Tuy nhiên, việc thực hiện tốt yêu cầu về môi trường là công cụ để doanh nghiệp tiếp cận thị trường, góp phần nâng cao uy tín quốc gia, tin cậy đối với các đối tác Tuân thủ các yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế còn giúp các doanh nghiệp phòng tránh được những tranh chấp trong thương mại quốc tế liên quan đến các vấn đề môi trường, bảo vệ sự an toàn và sức khoẻ của người dân, đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì được nguồn tài nguyên môi trường của quốc gia

5 Mục tiêu của tài liệu này là giới thiệu một cách tổng thể về các vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế, trong đó, tập trung vào 04 chủ đề chính:

Phần 1 Nền tảng cơ bản về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường trong thương mại quốc

tế

Phần 2 Các cam kết môi trường trong các Hiệp định thương mại và khuôn khổ hợp tác quốc tế về

kinh tế

Phần 3 Hệ thống các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế

Phần 4 Kinh nghiệm quốc tế trong việc nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường trong

thương mại quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 8

Tóm tắt

Phần 1: Nền tảng cơ bản về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường trong thương mại quốc tế

Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường là một trong những nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường Về cơ bản, việc sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ phụ thuộc vào môi trường thông qua việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm đầu vào cho sản xuất và các tác động môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất, trao đổi, sử dụng và thải bỏ hàng hóa và dịch vụ Phần lớn tác động môi trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế, tuy nhiên, chỉ trong điều kiện tự do hoá thương mại, khi trao đổi sản phẩm và dịch vụ được mở rộng vượt qua lãnh thổ quốc gia, sản xuất được gia tăng mạnh mẽ để phục vụ cho thương mại quốc tế thì tác động qua lại giữa thương mại và môi trường mới rõ nét

Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường ở phạm vi quốc tế lần đầu tiên được quan tâm một cách rộng rãi là vào năm 1991 khi chính phủ Mehico khởi kiện Hoa Kỳ về việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu cá ngừ từ Mehico Luật về các hành động bảo vệ các loài động vật biển có vú của Hoa Kỳ cấm các

phương pháp đánh bắt cá ngừ dẫn đến hủy diệt ở một lượng lớn cá heo sống trong khu vực đánh bắt,

luật này cũng được áp dụng cho các sản phẩm cá ngừ nhập khẩu từ các quốc gia sử dụng cùng phương pháp đánh bắt Chính phủ Mehico lập luận rằng luật của Hoa Kỳ đã vi phạm các điều luật của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)

Để giải quyết mối quan hệ giữa thương mại với môi trường quốc tế, cần thiết lập các khuôn khổ hợp tác quốc tế mà ở đó, các ràng buộc thông qua các cam kết, các thỏa thuận giữa các quốc gia được xây dựng và đảm bảo thực thi Giải quyết mối quan hệ giữa các vấn đề thương mại và môi trường quốc tế được xem xét đến trong 03 khuôn khổ:

• Giải quyết các vấn đề môi trường trong các hiệp định thương mại thông qua các điều khoản, cam kết về môi trường đối trong hoạt động tự do hóa thương mại;

• Giải quyết thông qua các thỏa thuận mang tính tự nguyện trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế

• Giải quyết các vấn đề thương mại trong các hiệp định môi trường thông qua các cam kết, điều khoản về thương mại vì mục tiêu bảo vệ môi trường

Trong WTO và các FTA : Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường là mục tiêu được ghi trong lời nói đầu của Hiệp định sáng lập WTO Mặc dù trong khuôn khổ của WTO không có một hiệp định nào riêng về môi trường, nhưng trong nhiều hiệp định của WTO chứa đựng các điều khoản liên quan đến những mối quan tâm về môi trường thông qua các điều khoản về tiêu chuẩn về quy trình sản xuất và chế biến, các quy định về nhãn mác, các hệ thống phí, lệ phí liên quan đến môi trường đối với các sản phẩm xuất nhập khẩu

Trong các khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế: Vấn đề hợp tác về môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế được thảo luận rộng rãi và đạt được nhiều thỏa thuận hơn so với các cam kết trong các FTA hay các MEA Lý do là các thỏa thuận trong các khuôn khổ hợp tác thường mang tính tự nguyện

và do đó dễ được sự đồng thuận của các quốc gia, đặc biệt là trong các vấn đề về xã hội và môi trường Các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế cũng được xem là “lò ấp ý tưởng” cho các FTA và các MEA, khi

mà các thỏa thuận ở dây sẽ được đẩy mạnh lên ở các cam kết mang tính pháp lý khi các bên tham gia thấy mức độ cần thiết của vấn đề, hoặc một số các quốc gia có cùng lợi ích và quan điểm sẽ có thể tách

ra để hình thành các cam kết song phương hay đa phương

Trong các Hiệp định môi trường đa phương liên quan đến thương mại (MEA): Hiện nay có khoảng 20 Hiệp định đa biên về môi trường có liên quan đến các điều khoản thương mại Những hiệp định này

có thể phân ra thành 3 nhóm chính:

Trang 9

• Các Hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi trường toàn cầu Ví dụ Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn; Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện công ước Viên; Hiệp định về thay đổi Môi trường; Nghị định thư Kyoto về Công ước khung Liên Hợp Quốc về thay đổi khí hậu

• Các Hiệp định về bảo vệ các chủng loài bị đe doạ, các loài chim di trú và các loại động vật, cá và động vật biển Ví dụ như Công ước về thương mại quốc tế về các chủng loài động vật và thực vật hoang dã bị đe doạ (CITIES); Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loài độngvật hoang dã và cá; Công ước về đa dạng sinh h ọc – 1993; Công ước Rotterdam về thủ tục đồng ý được thông báo trước đối với một số hóa chất và thuốc diệt côn trùng độc trong thương mại quốc tế(PIC) – 1998;

• Các Hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm các các chất nguy hiểm Ví dụ như: Hiệp định Basel về quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới; Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế

Phần 2: Các cam kết môi trường trong các Hiệp định thương mại và khuôn khổ hợp tác quốc tế về kinh tế

Các cam kết môi trường trong thương mại quốc tế được xem như một khung pháp luật về thương mại

và môi trường quốc tế có 2 hoặc 3 cấp độ Đứng trên cùng là GATT/WTO với một loạt các quy định pháp lý ràng buộc chi tiết nhằm điều chỉnh thương mại quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và một số lĩnh vực đặc biệt khác

Các cam kết môi trường trong các FTA và khuôn khổ hợp tác quốc tế đều dựa vào các khung cam kết chung của WTO, gồm các nội dung như: các khía cạnh về môi trường được lồng ghép trong nhiều Hiệp định thương mại khác nhau, chủ yếu thể hiện trong: điều XX của GATT 1994 và các nội dung lồng ghép trong các Hiệp định khác, gồm:

• Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT);

• Hiệp định về vệ sinh an toàn động thực vật (SPS); Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs);

• Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM);

• Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường;

• Giải quyết tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường

Các đàm phán cũng chú trọng loại bỏ các hàng rào phi thuế quan giữa các nước thành viên, trong đó

có các rào cản về môi trường, vốn rất đa dạng và tạo ra nhiều trở ngại, ảnh hưởng lớn đến thương mại như đàm phán về tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường

Gần đây, một số FTA thế hệ mới như TPP và FTA Việt Nam – EU đã phát triển riêng một chương cam kết về môi trường và phát triển thương mại bền vững

Trong khuôn khổ các hợp tác quốc tế về kinh tế: Các cam kết về môi trường được thể hiện thông qua các thỏa thuận mang tính tự nguyện, các chương trình hợp tác về xây dựng năng lực, hỗ trợ, thúc đẩy đầu tư Vì là các thỏa thuận tự nguyện nên nội dung hợp thường đa dạng hơn so với các đàm phán trong các FTA Các diễn đàn hợp tác này cũng được coi là “lò ấp ý tưởng” cho các đàm phán sâu hơn ở các FTA Các nội dung về hợp tác thường không giới hạn và tập trung vào các vấn đề quan tâm toàn cầu như Hàng hóa môi trường, Sản xuất sạch hơn, sự bền vững của các nguồn tài nguyên, tăng trưởng xanh

Phần 3: Hệ thống các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế

Sự hình thành các Hiệp định về TBT, SPS và các Hiệp định có liên quan trong WTO và các FTA đã tạo ra khung pháp lý cơ bản cho các quốc gia hình thành nên hệ thống các quy định và tiêu chuẩn môi trường nhất định để kiểm soát hàng hóa nhập khẩu

Tuy nhiên, các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế không chỉ dừng ở các quy định, tiêu chuẩn môi trường mang tính bắt buộc thực hiện được quy định trong hệ thống luật và các văn bản pháp lý

Trang 10

của các quốc gia, các yêu cầu môi trường mang tính tự nguyện của các nhà nhập khẩu mới là những nội dung được yêu cầu đáp ứng nhiều nhất của hàng hóa xuất khẩu từ các quốc gia như Việt Nam Các yêu cầu này hiện nay tập trung vào việc hàng hóa nhập khẩu phải được dán nhãn, chứng chỉ về đảm bảo các yêu cầu môi trường trong toàn bộ vòng đời sản phẩm như: nuôi trồng, chế biến, sản xuất, thải bỏ…

Đối với các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản… các quy định và tiêu chuẩn môi trường chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: - Các biện pháp quản lý định lượng (Cấm nhập khẩu/Giấy phép nhập khẩu/Hạn ngạch nhập khẩu) đối với những hàng hóa mà việc khai thác quá mức

có thể gây ảnh hưởng tới môi trường; hệ thống các quy định về dư lượng thuốc trừ sâu trong nông sản thô; các loại hoá chất và nguồn lây nhiễm, kể cả côn trùng; các quy định về đảm bảo các tiêu chuẩn như là các sản phẩm nội địa; quy định về nồng độ giới hạn các loại hóa chất trong sản phẩm; dãn nhãn; các quy định về khả năng thải bỏ và tái chế đối với các loại bao bì đóng gói đối với sản phẩm nhập khẩu; hệ thống kiểm an toàn trước khi nhập khẩu…

Phần 4: Kinh nghiệm quốc tế trong việc nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường trong thương

mại quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Việc xây dựng và hài hòa hóa các chính sách môi trường nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của hoạt động thương mại không được tạo ra những rào cản đối với thương mại tự do sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc không gây ra cản trở cho doanh nghiệp Ngược lại, các chính sách thương mại thúc đẩy phát triển kinh tế phải có tác dụng hạn chế đến mức tối đa thiệt hại về môi trường Điều này đòi hỏi phải giải quyết mối quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường ở cả 3 cấp độ quốc tế, quốc gia và doanh nghiệp

Kinh nghiệm của mỗi quốc gia là không giống nhau Chẳng hạn, nhằm nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu, đặc biệt đối với hàng nông sản, thuỷ sản, công nghiệp chế biến, Trung Quốc đã khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ISO 14000 đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển

và bảo quản hàng xuất khẩu, phổ biến công nghệ sạch, năng lượng sạch cho các cơ sở sản xuất, cung cấp cho họ thông tin kịp thời về yêu cầu của nước nhập khẩu Hệ thống nhãn hiệu xanh, thực phẩm xanh đã được áp dụng

Chính phủ Thái Lan chủ trương kết hợp các vấn đề kinh tế và vấn đề môi trường ngay từ khâu lập kế hoạch, tập trung chủ yếu vào các vấn đề môi trường quan trọng như bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu về môi trường, khuyến khích tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường, Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là thuỷ sản, rau quả

và hàng dệt may Giấy phép xuất khẩu cũng được áp dụng để quản lý hạn ngạch hoặc cấm xuất khẩu

vì các lý do kinh tế, sức khoẻ và sự an toàn cũng như để thực hiện thoả thuận với các đối tác thương mại, đặc biệt là đối với các nhóm hàng như dệt may, phương tiện gắn động cơ, một số sản phẩm nông sản Trong khi đó, Indonesia đã có những chính sách, biện pháp mạnh và đồng bộ để quản lý hoạt động nuôi trồng và chế biến nông thuỷ sản, hạn chế tối đa mức ô nhiễm môi trường để đảm bảo sức khoẻ cho người dân, nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của hàng nông, thuỷ sản xuất khẩu

Một số bài học kinh nghiệm đó là:

• Chính sách khuyến khích mở cửa thị trường phải đi kèm với các chính sách và biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia;

• Chính sách tăng trưởng xuất khẩu phải đi kèm với các chính sách và biện pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học;

Trang 11

• Chính sách bảo vệ môi trường trong nước phải tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ bằng cách đáp ứng các yêu cầu môi trường của các nước nhập khẩu;

• Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với quy định quốc tế để kiểm soát ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu

• Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các quy trình và công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường: Thúc đẩy phát triển công nghệ, nhất là công nghệ thân thiện với môi trường; khuyến khích áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường như: quy trình sản xuất rau an toàn, thịt an toàn, nuôi trồng thủy sản an toàn … hỗ trợ các doanh nghiệp có được chứng chỉ môi trường đối với hàng hóa xuất khẩu Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng mô hình quản lý môi trường tiên tiến nhau ISO 14000, HACCP …

• Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia theo hướng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, về quy trình sản xuất thuân thiện với môi trường (PPM), các quy định và tiêu chuẩn về bao bì, đóng gói, nhãn môi trường và nhãn sinh thái;

Trang 12

Phần 1: Nền tảng cơ bản về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường

trong thương mại quốc tế

Giới thiệu

Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường ở phạm vi quốc tế lần đầu tiên được quan tâm một cách rộng rãi là vào năm 1991 khi chính phủ Mehico khởi kiện Hoa Kỳ về việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu cá ngừ từ Mehico Luật về các hành động bảo vệ các loài động vật biển có vú của Hoa Kỳ cấm các

phương pháp đánh bắt cá ngừ dẫn đến hủy diệt ở một lượng lớn cá heo sống trong khu vực đánh bắt,

luật này cũng được áp dụng cho các sản phẩm cá ngừ nhập khẩu từ các quốc gia sử dụng cùng phương pháp đánh bắt Chính phủ Mehico lập luận rằng luật của Hoa Kỳ đã vi phạm các điều luật của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)

Theo các nguyên tắc về tự do thương mại của GATT (sau này là WTO), các quốc gia không thể hạn chế nhập khẩu ngoại trừ trong một số trường hợp rất giới hạn như để bảo vệ sức khỏe và an toàn của người dân Ban giải quyết tranh chấp của GATT lúc đó đã kết luận rằng, Hoa Kỳ không thể sử dụng Luật nội địa để bảo vệ loài cá heo ở bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ Mặc dù sau đó Mehico đã không tiếp tục theo đuổi vụ kiện đi xa hơn để có được phán quyết cuối cùng bắt buộc Hoa Kỳ phải bãi bỏ lệnh cấm, tuy nhiên, vụ kiện cá ngừ – cá heo đã mở ra những tranh luận về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường trong thương mại quốc tế Đến năm 1999, trong khuôn khổ WTO, một vụ kiện tương tự cũng

đã xảy ra với trường hợp một số quốc gia châu Á (Thái Lan, Indonexia, Malayxia và Ấn độ) kiện Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu các sản phẩm tôm có sử dụng phương pháp đánh bắt ảnh hưởng đến loài rùa biển đang có nguy cơ tuyệt chủng

Các trường hợp tranh chấp cá ngừ - cá heo, tôm – rùa đã trở thành các điển tích trong xem xét mối

quan hệ giữa thương mại với môi trường quốc tế và sau này được mở rộng ra để xem xét đối với các vấn đề toàn cầu tương tự như bảo vệ rừng, biển và tài nguyên biển, suy giảm tầng ô zôn, chất thải nguy hại, và biến đổi khí hậu toàn cầu trong thương mại quốc tế

Phần 1 sẽ giới thiệu các nội dung sau:

• Bản chất mối quan hệ giữa thương mại với môi trường

• Diễn biến các vấn đề môi trường trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do

• Diễn biến các vấn đề môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế

• Diễn biến các vấn đề thương mại trong các Hiệp định môi trường đa phương

1.1 Bản chất mối quan hệ giữa thương mại với môi trường

Mở rộng quy mô thương mại và gia tăng các vấn đề môi trường toàn cầu đã đặt ra yêu cầu làm rõ về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường trong thương mại quốc tế Câu hỏi đặt ra là: Thương mại

là tốt hay xấu cho môi trường và ngược lại? Việc sản xuất hàng hóa cho xuất khẩu cũng như tương tự như sản xuất thường có tác động đến môi trường, tuy nhiên, các tác động này tăng hay giảm cùng với

sự mở rộng quy mô thương mại? Các tác động này sẽ gây ảnh hưởng lên các quốc gia xuất khẩu hay nhập khẩu hay toàn cầu? Trách nhiệm thuộc về ai để giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh do thương mại quốc tế? Câu trả lời cho các vấn đề này là không rõ ràng, và là nguyên nhân cho các tranh luận trong các diễn đàn về thương mại và môi trường toàn cầu hiện nay

Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường là một trong những nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường bởi vì thương mại là nhân tố quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế

Trang 13

thông qua chỉ số E-I (Xuất khẩu - Nhập khẩu) trong GDP Về cơ bản, việc sản xuất và trao đổi hàng hóa

và dịch vụ phụ thuộc vào môi trường thông qua việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm đầu vào cho sản xuất và các tác động môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất, trao đổi, sử dụng và thải bỏ hàng hóa và dịch vụ Phần lớn tác động môi trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế, tuy nhiên, chỉ trong điều kiện tự do hoá thương mại, khi trao đổi sản phẩm và dịch vụ được

mở rộng vượt qua lãnh thổ quốc gia, sản xuất được gia tăng mạnh mẽ để phục vụ cho thương mại quốc tế thì tác động qua lại giữa thương mại và môi trường mới rõ nét

Để giải quyết mối quan hệ giữa thương mại với môi trường quốc tế, cần thiết lập các khuôn khổ hợp tác quốc tế mà ở đó, các ràng buộc thông qua các cam kết, các thỏa thuận giữa các quốc gia được xây dựng và đảm bảo thực thi Giải quyết mối quan hệ giữa các vấn đề thương mại và môi trường quốc tế được xem xét đến trong 03 khuôn khổ:

• Giải quyết các vấn đề môi trường trong các hiệp định thương mại thông qua các điều khoản, cam kết về môi trường đối trong hoạt động tự do hóa thương mại;

• Giải quyết thông qua các thỏa thuận mang tính tự nguyện trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế

• Giải quyết các vấn đề thương mại trong các hiệp định môi trường thông qua các cam kết, điều khoản về thương mại vì mục tiêu bảo vệ môi trường

Về lý thuyết, các thất bại thị trường nên được giải quyết trực tiếp tại gốc gây ra vấn đề thông qua các chính sách về thuế, phí, các quy định và tiêu chuẩn là sự lựa chọn tốt nhất Do đó, đối với các với các vấn đề môi trường toàn cầu, việc hình thành Tổ chức môi trường đa phương đại diện cho toàn cầu, sẽ

là phương án tốt nhất để giải quyết Tuy nhiên, cho đến nay, các vấn đề môi trường đa phương được giải quyết chủ yếu thông qua các Hiệp định môi trường đa phương cho xử lý các vấn đề đơn lẻ, chưa hình thành cơ quan đại diện toàn cầu cho các vấn đề môi trường

Tuy nhiên theo lý thuyết, sử dụng các biện pháp thương mại để xử lý các ngoại ứng về môi trường được xem là sự lựa chọn tốt nhất thứ hai để xác định và nội hóa các chi phí môi trường vào trong sản xuất và tiêu dùng

Có 03 nhóm các biện pháp thương mại để xử lý các vấn đề môi trường (ETMs)1, bao gồm:

ETMs loại 1: để xử lý các vấn đề môi trường bên ngoài lãnh thổ thông qua các công cụ thương mại, chẳng hạn cấm, hạn

ngạch… (ví dụ Hoa Kỳ cấm nhập khẩu tôm từ các quốc gia đánh bắt tôm làm ảnh hưởng đến loài rùa biển bên ngoài lãnh thổ);

1

Hộp 1.1: Tác động qua lại giữa thương mại với môi trường

1 Tác động tích cực

▪ Nhân rộng việc sử dụng các công nghệ mới góp phần bảo vệ môi trường

▪ Thay đổi cơ cấu sản xuất trong nước theo hướng có lợi hơn cho môi trường

▪ Tác động tích cực nhờ quy mô sản xuất gia tăng, hiệu quả sản xuất cao hơn

2 Tác động tiêu cực

▪ Tự do hoá thương mại làm tăng nguy cơ lưu thông những sản phẩm có ảnh hưởng tới môi trường

▪ Lợi nhuận thương mại và áp lực cạnh tranh của thị trường có thể khuyến khích các nhà đầu tư sử dụng các quy trình sản xuất, công nghệ không thân thiện với môi trường để giảm tối đa chi phí sản xuất

▪ Tự do hoá thương mại và sản xuất quy mô lớn có thể dẫn tới khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tạo ra rác thải và các tác nhân gây ô nhiễm Các nước có thu nhập cao hơn lại chính là những nước thải

ra các chất gây hiệu ứng nhà kính nhiều hơn các nước đang phát triển do sử dụng quá nhiều xe có động cơ đốt trong

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 14

ETMs loại 2: để bù đắp đối với các quốc gia nới lỏng các quy định/tiêu chuẩn về môi trường thông qua đánh thuế hoặc các

biện pháp về hải quan;

ETMs loại 3: “Các biện pháp phía sau biên giới”: các biện pháp môi trường nội địa không trực tiếp vào các quốc gia khác

nhưng về thực chất lại hoạt động giống như ETMs Đây là nhóm công cụ không rõ ràng và dễ bị cho là có nhiều nguy cơ gây

ra các tranh chấp thương mại và tạo ra các rào cản thương mại trá hình Chẳng hạn thuế và các quy định nội địa của quốc gia nhập khẩu được áp dụng không biệt đối xử đối với các sản phẩm được sản xuất trong nước và nhập khẩu có thể tạo ra rào cản thương mại cho quốc gia xuất khẩu nếu các quy định môi trường ở quốc gia nhập khẩu cao hơn so với quốc gia xuất khẩu Các trợ cấp cho hàng hóa xuất khẩu gián tiếp gây ra sự gia tăng các vấn đề môi trường cũng là một ví dụ được xem xét đến

Ba nhóm công cụ này hiện nay được làm căn cứ cho giải quyết các vấn đề thương mại và môi trường

đa phương Tuy nhiên, các công cụ về thương mại được xem là kém hiệu quả nhất trong việc ngăn chặn các quốc gia tận dụng free-riding đối với các cam kết về môi trường Khi mà các đối tác thương mại sẽ thất bại bởi vấn đề chi phí thực tế cho việc áp dụng các tiêu chuẩn đơn phương một cách khắt khe hơn, cách tiếp cận đa phương có thể đảm bảo được cam kết thực hiện của tất cả các bên liên quan Việc giải quyết các vấn đề đã không được xử lý qua các chính sách, quy định nội địa của các đối tác thương mại, các cam kết đa phương sẽ được sử dụng để ngăn chặn các quốc gia đặt ra các tiêu chuẩn quá thấp/hoặc quá cao để tác động đến vấn đề chi phí nhằm tạo thuận lợi cho cạnh tranh

Thực tế, các đối tác thương mại có thể sử dụng cả ba công cụ này trong các khuôn khổ đa phương, tuy nhiên, các công cụ này hiện nay vẫn còn quá chung Trong thực tế, giải quyết mối quan hệ giữa thương mại với môi trường vẫn chủ yếu được giải quyết thông qua luật của WTO Các xung đột được đưa tới

cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đã góp phần làm rõ về các quy định về các biện pháp bên ngoài lãnh thổ cũng như làm rõ điều khoản XX về các ngoại lệ2 của GATT, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chứng minh nguồn gốc

Mối quan hệ giữa thương mại với môi trường được thể hiện thông qua các tác động ảnh hưởng qua lại của thương mại đến môi trường và việc giải quyết hài hoà giữa nhu cầu tự do hoá thương mại toàn cầu và bảo vệ môi trường thông qua các cam kết ràng buộc về giải quyết các vấn đề môi trường trong các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) và các cam kết đảm bảo các hoạt động thương mại không gây ảnh hưởng tới môi trường trong các Hiệp định môi trường đa phương (MEAs) Bản chất của mối quan hệ này là ở chỗ các chính sách thương mại đa phương tạo thuận lợi cho quá trình tự do hoá phải tính đến lợi ích môi trường toàn cầu mà không tạo ra rào cản không cần thiết cho tự do thương mại và bất bình đẳng giữa các quốc gia trong việc chia sẻ lợi ích do thương mại mang lại Ngược lại, các chính sách môi trường đa biên với mục đích cuối cùng là bảo vệ môi trường toàn cầu, hạn chế các hoạt động thương mại có tác động tiêu cực tới môi trường sẽ không tạo ra những cản trở không cần thiết cho quá trình tự do hoá thương mại Mối quan hệ giữa thương mại với môi trường ở phạm vi quốc tế hiện nay được giải quyết qua 03 khuôn khổ:

Trang 15

2.2 Diễn biến các vấn đề môi trường trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do

1 WTO

- Giai đoạn khởi động

Mối quan hệ giữa thương mại với môi trường đã được nhận ra ngay từ khi thành lập GATT vào năm

1947, tại điều khoản XX về các ngoại lệ của hiệp định GATT, các bên đã tuyên bố: “GATT cho phép các

nước thành viên ban hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ con người, động vật, thực vật, sức khỏe, hoặc bảo tồn sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên”3 Tuy nhiên, điều XX cũng nêu ra rằng “các biện

pháp này không được sử dụng vì mục đích bảo hộ thương mại hoặc tạo ra phân biệt đối xử đối với các

sản phẩm nội địa” Điều khoản ngoại lệ này được coi là đã đặt ra nền móng đầu tiên cho xử lý các vấn

đề môi trường trong các Hiệp định thương mại tự do sau này Tuy nhiên sau gần 20 năm với sự gia tăng dần nhận thức về môi trường của nhân loại vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, năm 1971, GATT đã thành lập Nhóm về các biện pháp môi trường và thương mại quốc tế (EMIT)4 Tiếp

đó, Hội nghị Môi trường nhân loại được tổ chức tại Stockhom vào năm 1972, Tổng thư ký của GATT đã

có bài phát biểu quan trọng về việc “áp dụng các chính sách bảo vệ môi trường đã trở thành các rào

cản cho tự do thương mại như thế nào” Tại vòng đàm phán của GATT ở Tokyo (từ 1973-1979) với sự

hình thành được Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) vào năm 1979 với việc kêu gọi các quốc gia phải minh bạch hóa việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật trong thương

mại đã là bước đệm thứ hai đối với việc hợp thức hóa các biện pháp bảo vệ môi trường trong thương

mại quốc tế mà các quốc gia được phép xây dựng

- Giai đoạn bùng nổ: những năm 1990

Giai đoạn những năm 1990 được xem là thời kỳ bùng nổ của các tranh luận về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường Vào năm 1991, Hiệp hội thương mại tự do của EU (tiền thân của cộng đồng chung châu Âu) đã đề xuất lên EMIT một cuộc gặp để tổ chức xây dựng một báo cáo nghiên cứu về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường nhằm chuẩn bị cho Hội nghị thương đỉnh trái đất về Phát triển Bền vững tại Rio vào năm 1992 Kết quả của báo cáo này đó chính là các lãnh đạo của Hội nghị Rio đã nhận

ra mối quan hệ giữa thương mại quốc tế với môi trường thông qua việc đồng ý để “xây dựng các chính

sách hỗ trợ lẫn nhau giữa thương mại với môi trường cho mục tiêu phát triển bền vững”

Mối quan hệ giữa thương mại với môi trường được thể hiện đậm nét nhất trong giai đoạn này đó chính

là sự bùng bổ của các vụ tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường:

• Mehico kiện Hoa Kỳ về việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu các sản phẩm cá ngừ từ Mehico vì cho rằng quốc gia này sử dụng các biện pháp khai thác cá ngừ có ảnh hưởng đến cá heo vào năm 1991 và sau đó và EU vào năm 1992;

• EU kiện Hoa Kỳ về việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu xe hơi từ châu Âu vì lý do các dòng xe này tiêu thụ nhiều nhiên liệu và xả thải gây ô nhiễn môi trường vào năm 1994;

• Venezuela kiện Hoa Kỳ về việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu các sản phẩm xăng pha chế từ quốc gia này vì cho rằng các chất pha chế có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường;

• 4 quốc gia châu Á gồm Thái Lan, Ấn độ, Malaysia và Indonexia kiện Hoa Kỳ về việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm vì cho rằng các quốc gia này sử dụng lưới khai thác tôm trên biển có ảnh hưởng đến loài rùa biển vào năm 1998

Kết quả là việc hình thành một loạt thiết chế quốc tế liên quan đến các quy định, tiêu chuẩn môi trường trong các FTA nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường, cũng như các biện pháp thương mại mà các quốc gia

3 Article XX, paragraphs (b) and (g), respectively

4 EMIT: Group on Environmental Measures and International Trade

Trang 16

được quyền áp dụng vì mục tiêu vảo vệ môi trường trong các MEAs để giải quyết các vấn đề này với

sự ra đời của:

• Thành lập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 1995 sau kết quả 8 năm của vòng đàm phán Uruguay

• Thành Ủy ban thương mại – môi trường (CTE) vào năm …

• Hiệp định về áp dụng các biện pháp về vệ sinh và kiểm dịch thực vật (SPS) được xây dựng với việc cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo vệ con người, động thực vật hay sức khỏe vào năm …

• Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại được thể chế hóa

• Thiết lập và thực thi các MEAs với các cam kết pháp lý về việc các quốc gia được phép sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại có ảnh hưởng tới môi trường đã mang đến mối nhiều mối lo ngại đối với quá trình tự do hóa thương mại

Các tranh chấp và cách thức giải quyết các tranh chấp đã làm gia tăng các mối lo ngại về tự do hóa thương mại và gia tăng việc sử dụng các biện pháp đánh bắt gây tổn hại đến các loài động vật biển quý hiếm cũng đã làm gia tăng mối quan ngại của các nhà môi trường học về bảo vệ môi trường do tác động tiêu cực của thương mại Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển cũng lo ngại về việc môi trường cũng có khả năng sẽ trở thành các rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển thông qua các yêu cầu về đáp ứng quy định, tiêu chuẩn môi trường trong quá trình khai thác, sản xuất và sản phẩm xuất khẩu được quy định một cách chính thức trong các Hiệp định TBT, SPS đã làm gia tăng mối lo ngại về việc các quốc gia có thể gia tăng việc xây dựng các quy định và tiêu chuẩn môi trường sẽ gây ra các cản trở cho thương mại quốc tế Đặc biệt là khi các biện pháp này đã được thể luật hóa trong các quy định WTO

- Giai đoạn Doha cho đến nay: sau 2001

Tại Hội nghị cấp Bộ trưởng diễn ra tại Doha vào 2001, các thành viên của WTO lần đầu tiên đưa thương mại và môi trường trở thành một nội dung của chương trình đàn phán với tuyên bố được thể hiện tại

đoạn 6 trong tuyên bố của vòng Doha về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường: “Chúng tôi

khẳng định lại cam kết về mục tiêu phát triển bền vững đã được đưa ra trong lời tuyên bố tại Hiệp định

Hộp 1.2: Các tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường

Trường hợp tranh chấp đầu tiên diễn ra vào năm 1990 trong khuôn khổ GATT khi Mehico kiện Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu cá ngừ từ các quốc gia thiếu các chương trình thích hợp bảo vệ loài cá heo trong quá trình đánh bắt trên biển Mehico cho rằng Hoa Kỳ đã vi phạm các quy định của GATT bởi việc đưa ra các quy định yêu cầu các quốc gia bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ nên đánh bắt cá ngừ cho xuất khẩu như thế nào Thực tế, Hoa Kỳ đã có Luật về các hành động bảo vệ các loài động vật biển có vú với các quy định về phương pháp pháp đánh bắt cá ngừ của ngư dân trong nước, do đó, Hoa

Kỳ phản biện lại rằng Mehico đã thực hiện các biện pháp đánh bắt cá ngừ không hiệu quả dẫn đến gây tổn hại đến loài cá heo vốn thường bơi thành đàn phía trên loài cá ngừ bên ngoài đại dương

Ban Hội thẩm của GATT lúc đó đã đưa ra phán quyết rằng Hoa Kỳ không có quyền đưa ra các yêu cầu đơn phương về việc phải áp dụng các phương pháp sản xuất và chế biến (PPMs) đối với Mehico trong việc khai thác cá ngừ xuất khẩu như thế nào Tuy nhiên, Mehico sau đó đã không tiếp tục theo đuổi vụ kiện do kết quả của quá trình đàm phán song phương với Hoa Kỳ

Một trường hợp tiếp theo đó là tranh chấp về chống lại lệnh cấm vận nhập khẩu cá ngừ của Hoa Kỳ của EU vào năm 1992, kết luận của GATT lại cho rằng, các chính sách bảo tồn loài cá heo của Hoa Kỳ là phù hợp với các quy định của GATT và

có thể được áp dụng bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ Tuy nhiên, GATT vấn giữ lại kết luận từ vụ kiện đầu tiên đó là các biện pháp thực tế mà Hoa Kỳ đã sử dụng (cấm vận nhập khẩu cá ngừ) là không cần thiết (theo điều XX) và cũng không tương thích với các quy định của GATT

Các vụ tranh chấp này đã góp phần giúp thế giới nhận diện rõ hơn về mối quan hệ giữa thương mại với môi trường và sự khác biệt trong nhìn nhận vấn đề môi trường giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển là nguyên nhân của các xung đột Đây cũng là một trong các căn cứ mà một số các Hiệp định thương mại cấp vùng sau đó đã đưa các cam kết về hợp tác môi trường vào trong các cam kết như Hiệp định thương mại tự do khu vực Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp định thương mại tự do giữa Hoa Kỳ, Canada và một số quốc gia đang phát triển với việc đưa ra các cam kết hạn chế các quốc gia đang phát triển đưa ra các quy định/tiêu chuẩn môi trường quá thấp để gia tăng cạnh tranh xuất khẩu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 17

Marrakech 5 Chúng tôi tin rằng mục tiêu phát huy và đảm bảo một hệ thống thương mại đa phương mở và không phân biệt đối xử, và các hành động để bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững

có thể và phải hỗ trợ lẫn nhau Chúng tôi lưu ý các nỗ lực của các thành viên để thực hiện đánh giá môi trường quốc gia của chính sách thương mại trên cơ sở tự nguyện Chúng tôi nhận ra rằng dưới quy tắc của WTO không nước nào bị ngăn cấm sử dụng các biện pháp để bảo vệ con người, động vật hoặc thực vật, sức khỏe hoặc môi trường ở các cấp độ thích hợp đảm bảo rằng chúng sẽ không được áp dụng theo cách tạo ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện giữa các quốc gia nơi có điều kiện tương tự xảy ra, hoặc hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, và nếu không phù hợp với các quy định của Hiệp định WTO Chúng tôi hoan nghênh sự hợp tác tiếp tục của WTO với UNEP và các tổ chức môi trường liên chính phủ khác"

Các nội dung cụ thể của tuyên bố Doha cũng đã được chi tiết vào các nội dung cụ thể tiếp theo:

Đoạn 31: được ủng hộ chủ yếu của các nước phát triển và được đưa môi trường vào đàm phán chính thức: giải quyết mối quan hệ giữa

các quy định của WTO và các nghĩa vụ cụ thể của thương mại trong các MEAs; vai trò quan sát viên cho ban thư ký của các MEA; tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường

Đoạn 32: tập trung vào vai trò của CTE, gồm: ảnh hưởng của các biện pháp môi trường đối với tiếp cận thị trường, các quy định có liên

quan của Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (TRIPS); và nhãn sinh thái

Đoạn 33: tầm quan trọng của xây dựng năng lực và khuyến khích đánh giá tác động môi trường của các cam kết thương mại của các

quốc gia

Đoạn 51: Về xây dựng CTE và Hội đồng về thương mại và phát triển: mỗi cơ quan sẽ hoạt động như các diễn đàn để xác định, tranh

luận về các khía cạnh môi trường và phát triển của các đàm phán nhằm hỗ trợ đạt được các mục tiêu phát triển bền vững một cách thích hợp

Nội dung của tuyên bố Doha cũng đề cập đến vai trò của WTO trong việc làm rõ và cải thiện mối về liên hệ giữa thương mại với môi trường trong các lĩnh vực quan trọng, gồm:

• Nông nghiệp: bảo vệ môi trường từ sản xuất nông nghiệp

• Quyền sở hữu trí tuệ: xem xét mối quan hệ giữa TRIPS với CBD để bảo tồn các tri thức truyền thống và văn hóa dân gian

• Thủy sản: các vấn đề về trợ cấp có nguy cơ làm gia tăng ô nhiễm môi trường

5Hiệp định Marrakesh hay Tuyên ngôn Marrakesh, là một hiệp định được ký kết ở Marrakesh, Maroc, vào ngày 15 tháng 4 năm 1994, về việc sửa đổi Hiệp

định chung về Thuế quan và Thương mại và lập Tổ chức Thương mại Thế giới Hiệp định chính thức có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1995.

Trang 18

• Năng lượng: các trợ cấp trong lĩnh vực năng lượng hóa thạch

2 Trong các FTA

Trong những thập kỷ gần đây chúng ta dễ dàng nhận thấy sự phối hợp trên bình diện quốc tế để xử lý các vấn đề môi trường toàn cầu và đẩy nhanh tự do hoá thương mại trong các hiệp định về thương mại tự do đa phương, vùng, song phương và các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế khác Các yêu cầu về điều chỉnh các cam kết về̀̀̀ thương mại nhằm hạn chế các nguy cơ về môi trường và thúc đẩy tự do hóa thương mại đối với các hoạt động có lợi cho môi trường, bao gồm:

• Các thỏa thuận về tạo cơ hội cho việc xây dựng và thực thi những chính sách về bảo vệ môi trường quốc gia nhưng không được tạo ra sự phân biệt đối xử trong thương mại;

• Tăng cường sự hợp tác đa phương giữa các quốc gia là cần thiết để xem xét hài hoà mối quan hệ giữa các vấn đề thương mại

và môi trường;

• Các thảo luận về các biện pháp thương mại để hạn chế ô nhiễm môi trường như phương pháp sản xuất và chế biến (PPM), các quy định về bao bì và đóng gói, hệ thống nhãn môi trường, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các công cụ kinh tế như lệ phí và thuế ;

Hộp 1.3: CTE - Ủy ban thương mại môi trường của WTO

Tại Hội nghị Bộ trưởng các Bên ký kết GATT tại Marrakesh tháng 4 năm 1994, các Bộ trưởng đã nhất trí rằng WTO cần phải xem xét mối quan hệ giữa hệ thống thương mại đa biên với các chính sách và biện pháp môi trường và xác định xem có cần thiết phải điều chỉnh các quy định thương mại để tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường Để thực hiện nhiệm vụ này, Uỷ ban Thương mại và Môi trường (CTE) được thành lập từ tháng 1 năm 1995, mỗi năm thường tổ chức ít nhất 2 cuộc họp trở lên

Uỷ ban này có nhiệm vụ: (1) Tiến hành nghiên cứu và xác định mối quan hệ giữa các biện pháp thương mại và các biện pháp môi trường nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững; (2) Đưa ra khuyến nghị về bất cứ sự thay đổi cần thiết nào trong các thoả thuận thương mại đa phương nhằm:

▪ Đưa ra các quy định nhằm tăng cường sự tác động tích cực giữa các biện pháp thương mại và môi trường, thúc đẩy sự phát triển bền vững, đồng thời đặc biệt chú ý tới nhu cầu của các nước đang và kém phát triển;

▪ Hạn chế các biện pháp bảo hộ thương mại và duy trì những nguyên tắc của hệ thống thương mại đa biên có tác dụng tích cực đối với việc thực hiện các mục tiêu môi trường thể hiện trong Chương trình Nghị sự 21 và Tuyên bố Rio;

▪ Giám sát các biện pháp thương mại được thực hiện vì các mục đích môi trường, các biện pháp môi trường có tác động đáng kể tới thương mại, đồng thời giám sát tình hình thực hiện các quy định đa phương điều chính những biện pháp này

Các nhiệm vụ lớn này được cụ thể hoá thành một chương trình hoạt động gồm 10 nội dung, được chia thành hai nhóm: tiếp cận thị trường và mối quan hệ giữa thương mại và môi trường Các nội dung cụ thể bao gồm:

▪ Mối quan hệ giữa các quy định thương mại và các biện pháp thương mại được áp dụng vì mục đích môi trường, trong đó có các biện pháp trong MEAs;

▪ Mối quan hệ giữa các quy định thương mại và các chính sách môi trường có ảnh hưởng tới thương mại: (a) Mối quan hệ giữa các quy định thương mại và các loại thuế và phí môi trường; và (b) mối quan hệ giữa các quy định thương mại và các yêu cầu môi trường đối với sản phẩm (trong đó có các quy định và tiêu chuẩn về bao gói, nhãn hiệu và tái chế);

▪ Các quy định thương mại về tính minh bạch của các biện pháp thương mại được áp dụng vì mục đích môi trường

và các chính sách môi trường có ảnh hưởng tới thương mại;

▪ Mối quan hệ giữa các cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và của các MEAs;

▪ Khả năng mà các biện pháp môi trường gây trở ngại cho việc tiếp cận thị trường của hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển, và lợi ích về mặt môi trường của việc loại bỏ các hạn chế và bóp méo trong thương mại;

▪ Vấn đề xuất khẩu những hàng hoá bị cấm trong nước;

▪ Mối quan hệ giữa môi trường và Hiệp định TRIPS của WTO;

▪ Mối quan hệ giữa môi trường và thương mại dịch vụ;

▪ Mối quan hệ của WTO với các tổ chức khác, bao gồm các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ;

Nguồn: www.wto.org

Trang 19

• Các đàm phán về tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường nhằm tạo ra các cơ hội tiếp cận thị trường cho các hàng hóa và dịch vụ góp phần cải thiện môi trường và là yếu tố cần thiết để giúp các nước đang phát triển có cơ hội thực hiện mục tiêu phát triển bền vững với chi phí rẻ

Đáng lưu ý là một số FTA thế hệ mới hiện nay đã đưa môi trường và phát triển bền vững trở thành một nội dung cam kết Chẳng hạn Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP đã được ký kết vào năm

2015 đã đưa môi trường trở thành một chương cam kết riêng, trong đó hầu hết các mội dung về môi trường được đàm phán trong WTO và trong các MEAs đã được đưa vào như các cam kết về hàng hóa

và dịch vụ môi trường, thương mại và bảo tồn, giải quyết tranh chấp về thương mại liên quan đến môi trường… Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đã kết thúc đàm phán vào năm 2015 cũng đã phát triển một chương riêng về thương mại và phát triển bền vững, trong đó, ngoài các nội dung về môi trường, nội dung cam kết về lao động cũng đã được phát triển như các nội dung về lao động trẻ

em, các yêu cầu đảm bảo về điều kiện lao động của công nhân trong quá trình sản xuất hàng hóa cho xuất khẩu…

1.3 Diễn biến các vấn đề môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế

Vấn đề hợp tác về môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế được thảo luận rộng rãi và đạt được nhiều thỏa thuận hơn so với các cam kết trong các FTA hay các MEA Lý do là các thỏa thuận trong các khuôn khổ hợp tác thường mang tính tự nguyện và do đó dễ được sự đồng thuận của các quốc gia, đặc biệt là trong các vấn đề về xã hội và môi trường Các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế cũng được xem là “lò ấp ý tưởng” cho các FTA và các MEA, khi mà các thỏa thuận ở dây sẽ được đẩy mạnh lên ở các cam kết mang tính pháp lý khi các bên tham gia thấy mức độ cần thiết của vấn đề, hoặc một số các quốc gia có cùng lợi ích và quan điểm sẽ có thể tách ra để hình thành các cam kết song phương hay đa phương

1 ASEAN

Hơn 20 năm kể từ khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN được thành lập vào năm 1967, Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) đầu tiên đánh dấu các hợp tác về thương mại giữa các quốc gia trong khu vực được hình thành vào năm 1992 với Chương trình Thuế quan Ưu đãi có hiệu lực chung – CEPT (sau này được thuy thế bởi Hiệp định về thương mại hàng hóa -ATIGA có hiệu lực vào năm 2010) và sau đó là Hiệp định khung về thương mại dịch vụ có hiệu lực từ 1995

Mặc dù nội dung của Chương trình ưu đãi thuế quan - CEPT trước đây và Hiệp đinh thương mại hàng hóa - ATIGA sau này của ASEAN không đề cập trực tiếp tới vấn đề môi trường nhưng lộ trình tự do hoá thương mại của các nước ASEAN có những ảnh hưởng nhất định đối với môi trường thông qua mối quan hệ giữa chính sách thương mại và môi trường trong ASEAN có tính đến việc hạn chế thương mại đối với những trường hợp ngoại lệ cần thiết vì mục tiêu môi trường Thực tế, các hợp tác về thương mại và môi trường trong ASEAN được phát triển theo các chương trình hợp tác toàn diện trong khu vực và được thể hiện trong các hiệp định, các thoả thuận, các thông cáo báo chí cấp Bộ Trưởng của ASEAN, lập trường chung các tuyến bố và các nghị quyết

Hợp tác ASEAN trong lĩnh vực môi trường bắt đầu từ năm 1977 khi Chương trình Môi trường tiểu vùng ASEAN I (ASEPI) được soạn thảo với sự giúp đỡ của Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP)

để chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Môi trường các nước ASEAN lần thứ nhất Hiện nay, cơ chế chủ yếu để thực hiện sự hợp tác môi trường ASEAN là các Hội nghị ở các cấp khác nhau: Thượng đỉnh, Bộ trưởng, Các quan chức cao cấp và các nhóm công tác

Trang 20

Các quốc gia ASEAN đặc trưng bởi những vấn đề môi trường chung do vị trí địa lý của các quốc gia nằm gần kề với nhau và cùng chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề môi trường xuyên biên giới như ô nhiễm khói mù, nước, đất, suy giảm tài nguyên, vận chuyển qua biên giới các loài động thực vật quý hiếm, thương mại các sản phẩm gỗ khai thác phi pháp, và các vấn đề môi trường nảy sinh do các áp lực về tăng trưởng kinh tế và có nguồn gốc từ sự gia tăng quy mô trao đổi thương mại giữa các quốc gia trong khu vực… , trong hơn 30 năm qua, các quốc gia ASEAN đã xây dựng được 10 nội dung hợp tác bao gồm:

• Các vấn đề môi trường toàn cầu

• Ô nhiễm xuyên biên giới (ô nhiễm khói mù xuyên biên giới và sự di chuyên xuyên biên giới chất thải độc hại

• Giáo dục môi trường

• Công nghệ thân thiện môi trường Đây là những công nghệ ít gây ô nhiễm và sử dụng nguồn tài nguyên tiết kiệm hơn, tái chế được phụ phẩm, chất dư thừa, phế thải của chúng nhiều hơn so với các công nghệ truyền thống

• Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

• Quản lý tài nguyên nước

• Môi trường đại dương và ven biển

• Biến đổi khí hậu

• Các thành phố bền vững

• Quản lý rừng bền vững

• Hài hòa hóa chính sách và cơ sở dữ liệu về môi trường

Các cam kết giữa thương mại với môi trường trong khu vực ASEAN được thể hiện thông qua:

• Cam kết thương mại, gồm: cam kết về thương mại hàng hóa (CEFT trước đây và ATGA sau này) và Hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) để thúc đẩy bảo vệ môi trường trong khu vực và đối với các vấn đề toàn cầu;

• Các hợp tác về môi trường với các nội dung liên quan đến sử dụng các biện pháp thương mại

2 APEC

Cũng tương tự những sự hợp tác kinh tế khác, APEC cũng quan tâm tới vấn đề môi trường trong chương trình của mình Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11 - 1996 tại Subic, Philippines các nguyên thủ quốc gia đã chỉ đạo cho các Bộ trưởng cần phải thiết lập các lĩnh vực tự do hoá tự nguyện sớm đặc biệt

là những lĩnh vực có tác động tích cực tới thương mại đầu tư và tăng trưởng kinh tế của các thành viên của APEC và các khu vực Các quốc gia thành viên của APEC cũng nhất trí cần phải phát triển có hiệu quả các nguồn lực mang lại sự tăng trưởng bền vững và cân đối trong từng quốc gia và khu vực APEC

đã xây dựng một nhóm công tác thực hiện bảo vệ nguồn tài nguyên biển trong lĩnh vực năng lượng và nghề cá

Tiếp tục theo định hướng trên vào tháng 11/1997 Hội nghị thượng đỉnh APEC ở Vancouver đã thông qua 15 lĩnh vực sẽ được tự do hoá tự nguyện sớm, trong đó có 9 lĩnh vực ưu tiên được bắt đầu thực hiện vào năm 1999 trong đó có lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ môi trường Mục tiêu tự do hoá tự nguyện sớm trong lĩnh vực này nhằm đo lường, ngăn chặn, hạn chế, và khắc phục việc tàn phá môi trường đối với nước, không khí và đất, cũng như các sản phẩm liên quan đến hoạt động đó

Ngoài ra, APEC còn đưa ra chương trình hành động tập thể cho giai đoạn 2010 đến 2020 Các nước thành viên APEC sẽ trao đổi các tiêu chuẩn an toàn về đồ chơi và thu hồi thực phẩm, thoả thuận về thừa nhận lẫn nhau về thực phẩm và theo dõi các kết quả đạt được của các uỷ ban WTO với các Hiệp định TBT và SPS

Từ các diễn đàn của APEC 6, nguyện vọng lớn lao của các quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề môi

Trang 21

trường như là một bộ phận thống nhất và bộ phận củng cố lẫn nhau trong các hoạt động của khu vực Phát triển bền vững ở APEC đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa ngành và cần phải chú trọng đến con người và môi trường Với mục tiêu này APEC nhấn mạnh vào một số vấn đề cơ bản sau:

1.4 Diễn biến các vấn đề thương mại trong các Hiệp định môi trường đa phương

Nhiều hiệp định môi trường quốc tế đã được ký kết trong vòng 20 năm qua Theo thống kê sơ bộ, hiện

có khoảng 200 hiệp định môi trường đa phương (được hiểu là những hiệp định được ký kết giữa 3 nước trở lên) Một số hiệp định mang tính chất toàn cầu và bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tham gia Con số các hiệp định môi trường song phương còn lớn hơn nhiều, khoảng trên 1000 hiệp định Điều này cho thấy rằng ngày càng có nhiều vấn đề liên quan đến môi trường và các hiệp định nêu trên cùng nhau tạo thành một cơ cấu quản lý môi trường quốc tế

Hiện nay có khoảng 20 Hiệp định đa biên về môi trường có liên quan đến các điều khoản thương mại Những hiệp định này có thể phân ra thành 3 nhóm chính:

• Các Hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi trường toàn cầu Ví dụ Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn; Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện công ước Viên; Hiệp định về thay đổi Môi trường; Nghị định thư Kyoto về Công ước khung Liên Hợp Quốc về thay đổi khí hậu

• Các Hiệp định về bảo vệ các chủng loài bị đe doạ, các loài chim di trú và các loại động vật, cá và động vật biển Ví dụ như Công ước về thương mại quốc tế về các chủng loài động vật và thực vật hoang dã bị đe doạ (CITIES); Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loài độngvật hoang dã và cá; Công ước về đa dạng sinh h ọc – 1993; Công ước Rotterdam về thủ tục đồng ý được thông báo trước đối với một số hóa chất và thuốc diệt côn trùng độc trong thương mại quốc tế(PIC) – 1998;

• Các Hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm các các chất nguy hiểm Ví dụ như: Hiệp định Basel về quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới; Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế

Một số MEA hiện có sử dụng các quy định và biện pháp thương mại có những ảnh hưởng quian trọng đối với thương mại quốc tế hiện nay, bao gồm:

• Công ước quốc tế về buôn bán các loại động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng;

• Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm;

• Công ước đa dạng hoá sinh học;

• Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn;

• Công ước An toàn sinh học;

• Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vật;

• Công ước Quốc tế về bảo tồn cá hồi Đại Tây Dương;

• Công ước về Bảo tồn các nguồn tài nguyên biển Nam Cực;

• Công ước khung của Liên Hiệp quốc về biến đổi khí hậu;

• Nghị định thư Kyoto;

• Hiệp định Quốc tế về gỗ nhiệt đới;

• Hiệp định Liên Hiệp quốc về cá biển;

• Công ước Rotterdam về Thủ tục đồng thuận Thông báo trước đối với các hoá chất độc hại và thuốc diệt côn trùng trong thương mại quốc tế;

• Công ước Stokhom về các chất ô nhiễm hữu cơ

Bên cạnh hệ thống phân loại này của WTO, UNEP cũng đưa ra một danh mục khoảng gần 30 Hiệp định

đa phương về môi trường trong có có thể có các quy định liên quan đến thương mại

Trang 22

Bảng 1.1: Tóm tắt các biện pháp thương mại trong một số MEAs

Cấm xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên với các nước

không phải thành viên

Basel, CITES, MP GATT-Điều I (MFN), Điều XX(b),(g) Cấm nhập khẩu giữa các nước thành viên CITES, MP GATT- Điều XX(b), (g)

Cấm xuất khẩu giữa các nước thành viên Basel, CITES, MP GATT- Điều XX(b), (g)

Giấy phép hoặc cấp phép nhập khẩu CITES, MP GATT- ĐiềuXI; Điều XX(b), (g)

Giấy phép hoặc cấp phép xuất khẩu CITES, MP GATT- Điều XI; Điều XX(b), (g)

Thủ tục thông báo và đồng ý Basel, CITES GATT- Điều XI; Điều XX(b), (g)

Dán nhãn Basel, CITES, MP GATT- Điều XX(b), (g); TBT

Nghĩa vụ chung về bãi bỏ các hạn chế định lượng CITES, MP GATT- Điều XI

Không phân biệt đối xử và không tạo ra rào cản trá hình cho

• Tạo ra khung khổ pháp lý cho các thành viên tham gia thị trường: thương mại có thể là nguồn gốc của nhiều vấn đề môi trường, do đó việc giải quyết các vấn đề môi trường không thể tách rời việc với việc áp dụng các biện pháp quản lý thương mại, và bản thân các hạn chế thương mại có thể dễ được chấp nhận hơn Khi được áp dụng đối với tất cả các thành viên trên một thị trường nhất định, các hạn chế thương mại vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng hoặc bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường có thể được chấp nhận như một điều kiện cạnh tranh chung mà các quốc gia thành viên phải chấp nhận khi tham gia thị trường;

• Đóng vai trò ngăn chặn, phòng ngừa các nguy cơ môi trường: các biện pháp thương mại được sử dụng để ngăn chặn các nguy

cơ môi trường Ví dụ: một nước có thể áp dụng hạn chế về kích cỡ tôm hùm được phép nhập khẩu (không nhập khẩu tôm quá bé) nhằm mục đích bảo vệ trữ lượng tôm ở các vùng biển quốc tế Các nước có thể cấm buôn bán vận chuyển các chất thải nguy hại nhằm ngăn chặn nguy cơ môi trường do các chất này gây ra (công ước Basel);

• Kiểm soát thị trường và định hướng tiêu dùng: Thị trường có thể có nhu cầu cao đối với một số sản phẩm nhưng việc đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể dẫn tới cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp các dịch vụ môi trường mà con người phụ thuộc vào (tài nguyên rừng, biển, nước…) Rất khó có thể xác định được rằng giá cả của một sản phẩm khi đưa ra thị trường cũng như lợi nhuận kinh doanh sản phẩm đó là cân bằng với sự khan hiếm của nguồn nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm đó Chính vì vậy, cần có cơ chế để quản lý thị trường đối với những trường hợp thương mại có thể dẫn tới cạn kiệt các nguồn lực (đây chính là những ý tưởng lôgic đằng sau các Công ước CITES và CBD);

• Đảm bảo sự tuân thủ: Các biện pháp thương mại có thể gây sức ép buộc các nước phải tuân thủ và thực hiện mục tiêu của các MEAs Việc hạn chế buôn bán các sản phẩm có chứa chất gây thủng tầng ôzôn của Nghị định thư Montreal giữa các nước tham gia và không tham gia Nghị định thư là một ví dụ điển hình Nó tạo sức ép buộc các nước loại bỏ các chất nêu trên trong sản phẩm của mình hoặc đáp ứng những điều kiện nhất định để tham gia Nghị định thư nếu không muốn giảm kim ngạch thương mại

Trang 23

Phần 2: Các cam kết môi trường trong các Hiệp định thương mại và khuôn

khổ hợp tác quốc tế về kinh tế

Giới thiệu

Các cam kết môi trường trong thương mại quốc tế được xem như một khung pháp luật về thương mại

và môi trường quốc tế có 2 hoặc 3 cấp độ Đứng trên cùng là GATT/WTO với một loạt các quy định pháp lý ràng buộc chi tiết nhằm điều chỉnh thương mại quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và một số lĩnh vực đặc biệt khác

Trong khuôn khổ của WTO, các khía cạnh về môi trường được lồng ghép trong nhiều Hiệp định thương mại khác nhau, chủ yếu thể hiện trong: điều XX của GATT 1994; Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT); Hiệp định về vệ sinh an toàn động thực vật (SPS); Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs); Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)

Tại cấp độ quốc gia, phạm vi và nội dung của pháp luật thương mại mỗi nước được xác định bởi chính nghĩa vụ của quốc gia đó theo GATT và được sửa đổi, mở rộng bởi hiệp định thành lập WTO và các hiệp định khác của WTO Tuy nhiên, các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, thường đưa ra những đòi hỏi cao hơn và các biện pháp cứng rắn hơn trong mối quan hệ giữa thương mại và môi trường Pháp luật của Hoa Kỳ có rất nhiều quy định về môi trường có liên quan đến việc nhập khẩu hàng hoá

và dịch vụ vào thị trường Hoa Kỳ Song song với các đạo luật bảo vệ môi trường quốc gia do US-EPA thực thi, còn có nhiều văn bản quy định cho việc nhập khẩu các sản phẩm cụ thể như sữa, thịt, trứng, chè, v.v do FDA ban hành và tổ chức thực hiện Bên cạnh đó, các nhà nhập khẩu còn phải đáp ứng rất nhiều các quy định khác của các cơ quan liên bang như Bộ Nông nghiệp, Bộ Thương mại và của các tiểu bang đặt ra Nội dung chủ yếu nhấn mạnh đến các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, công tác kiểm dịch động thực vật, việc đóng gói và nhãn mác

Đối với các nước là thành viên của một hiệp định thương mại tự do khu vực nào đó, như AFTA, NAFTA,

EU, thì các hiệp định này có thể bổ sung cấp độ thứ 3 của các quy định thương mại quốc tế với điều kiện tuân theo GATT/WTO nhưng có hiệu lực hơn về hầu hết các khía cạnh so với pháp luật trong nước Các quy định và thoả thuận về môi trường của các khu vực tự do thương mại (AFTA, NAFTA, EU) được thiết kế để phù hợp chung với khung pháp lý của WTO và thường được nhấn mạnh vào những đặc thù cho mối quan hệ thương mại-môi trường trong từng khu vực Chẳng hạn, đối với các nước ASEAN, nông-lâm-ngư nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và có mối ràng buộc chặt chẽ với hoạt động bảo vệ môi trường, vì vậy các quốc gia này thúc đẩy sự hợp tác mạnh mẽ trong các lĩnh vực đó Còn hoạt động môi trường trong diễn đàn APEC thì tập trung nhiều vào việc giữ gìn sự trong sạch của biển và đại dương - đặc điểm địa lý đã kết nối các nền kinh tế của APEC với nhau và với thế giới

Hiệp định khu vực tự do thương mại thường chú trọng loại bỏ các hàng rào phi thuế quan giữa các nước thành viên, trong đó có các rào cản về môi trường, vốn rất đa dạng và tạo ra nhiều trở ngại, ảnh hưởng lớn đến thương mại trong khu vực Việt Nam, với tư cách là thành viên của khối ASEAN từ năm

1997, đã và đang nhanh chóng hoà nhập với các chương trình hành động phối hợp tích cực nhằm bảo vệ môi trường và đạt mục tiêu phát triển bền vững trong khu vực

Để loại bỏ các hàng rào kỹ thuật, các nước ASEAN đã ký kết Hiệp định khung về các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs) tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 (tháng 12/1998) Căn cứ vào hiệp định, cho đến nay, ba nhóm công tác về hài hoà tiêu chuẩn các sản phẩm Hoa Kỳ phẩm, dược phẩm, và điện

- điện tử đã được thành lập và đi vào hoạt động Bên cạnh đó, hội nghị các quan chức cao cấp trong

Trang 24

nông nghiệp và lâm nghiệp (SOM AMAF) đảm nhiệm việc loại bỏ các hàng rào về vệ sinh an toàn động thực vật Trong lĩnh vực này, 14 sản phẩm đã được các nước ưu tiên để hài hoà tiêu chuẩn, trong đó

có gạo, lạc, xoài, dừa, cam, cà phê, dứa, chuối, v.v Các nước ASEAN cũng đã hài hoà tiêu chuẩn đối với hàm lượng còn lại tối đa của thuốc trừ sâu sử dụng cho rau quả để thúc đẩy trao đổi buôn bán mặt hàng này trong khu vực

Phần 2 sẽ giới thiệu các nội dung sau:

• Các cam kết môi trường trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

• Các cam kết môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế

• Các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường trong Hiệp định rào cản kỹ thuật liên quan đến thương mại

• Các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan đến Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật

• Các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường trong các cam kết khác

• Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường

• Tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường

2.1 Các cam kết môi trường trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

1 Các cam kết môi trường trong WTO

Trong hệ thống các Hiệp định của WTO có nhiều quy định liên quan trực tiếp tới vấn đề môi trường Chẳng hạn Điều I và Điều III (qui định về nghĩa vụ không phân biệt đối xử), Điều XI (về các biện pháp hạn chế định lượng) và các qui định về ngoại lệ chung tại Điều XX Vấn đề thương mại - môi trường được đề cập ngay trong Lời mở đầu (Preamble) của Hiệp định thành lập WTO và trong nhiều Hiệp định khác của WTO, cụ thể là:

• Hiệp định về Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại;

• Hiệp định về Kiểm dịch động thực vật;

• Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ;

• Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng;

• Hiệp định về Nông nghiệp;

• Hiệp định về Thương mại Dịch vụ

Lời mở đầu của Hiệp định Marrakesh thành lập WTO thừa nhận sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường

và phát triển bền vững: “Các bên ký kết Hiệp định này thừa nhận rằng các quan hệ kinh tế thương mại

của họ cần phải đảm bảo mục tiêu nâng cao mức sống, tạo việc làm, tăng thu nhập đáng kể và ổn định , đồng thời sử dụng tối ưu các nguồn lực của thế giới vì mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và bảo tồn môi trường ”7 Đây là cơ sở cho việc diễn giải các quy định cụ thể có liên quan tới môi trường trong các Hiệp định của WTO và áp dụng trên thực tế các biện pháp hạn chế thương mại với mục đích

“bảo vệ môi trường” Tuy nhiên, để tránh trường hợp các quốc gia có những biện pháp xây dựng các rào cản thương mại trá hình WTO đã đưa ra nguyên tắc không phân biệt đối xử trong WTO, bao gồm: Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) qui định tại Điều I và Đãi ngộ quốc gia (NT) qui định tại Điều III của GATT Theo nguyên tắc MFN, các Thành viên WTO có nghĩa vụ dành cho các sản phẩm của các Thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sản phẩm tương tự của bất kỳ nước Thành viên nào Nói cách khác, các Thành viên WTO không được phép dành cho một Thành viên khác ưu đãi thương mại đặc biệt hơn hoặc áp dụng chính sách phân biệt đối xử đối với bất kỳ Thành viên thứ ba nào Còn

7 Đoạn 1, Lời mở đầu, Hiệp định Marrakesh thành lập WTO

Trang 25

theo nguyên tắc NT, một khi hàng hoá đã xâm nhập vào một thị trường thì hàng hoá đó phải được đãi ngộ một cách không kém thuận lợi hơn các hàng hoá tương tự sản xuất trong nước

Một vấn đề đáng lưu ý liên quan tới việc diễn giải và áp dụng nguyên tắc “không phân biệt đối xử”, là

xác định “sản phẩm tương tự” Đây là vấn đề gây nhiều tranh cãi và phát sinh các tranh chấp thương mại Tuỳ từng trường hợp, khái niệm “sản phẩm tương tự” được xác định theo những tiêu chí khác nhau Các tiêu chí cơ bản về “sản phẩm tương tự” bao gồm: đặc điểm, bản chất và chất lượng của sản phẩm, phân loại sản phẩm theo mã số thuế, thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng, và công dụng cuối cùng của sản phẩm

Liên quan tới các vấn đề thương mại - môi trường, nguyên tắc "không phân biệt đối xử" của GATT đảm bảo rằng các chính sách bảo vệ môi trường quốc gia sẽ không được áp dụng một cách phân biệt đối xử giữa các sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm tương tự sản xuất trong nước, hoặc phân biệt đối xử giữa các sản phẩm tương tự nhập khẩu từ các đối tác thương mại khác nhau Nguyên tắc “không phân biệt đối xử” giúp ngăn chặn việc lạm dụng các chính sách môi trường cũng như việc sử dụng chúng như những công cụ hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế

Điều XI của GATT quy định rằng các Thành viên không được cấm hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế nào ngoài thuế và các loại phí khác đối với hàng xuất khẩu và nhập khẩu, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như trong trường hợp khan hiếm lương thực trầm trọng Mục đích của Điều XI là khuyến khích các Thành viên chuyển từ các biện pháp hạn chế định lượng sang thuế quan, một công cụ minh bạch và ít bóp méo thương mại hơn

Trong thương mại quốc tế, nhiều tranh chấp về vấn đề bảo vệ môi trường đã dẫn tới việc áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng, đặc biệt là việc cấm xuất nhập khẩu Những quy định của MEAs liên quan tới cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu có thể vi phạm quy định của Điều XI Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng, Điều XI thường được xem xét cùng với Điều XX về các điều khoản về ngoại lệ chung Ví

dụ, theo Nghị định thư Montreal, Điều 4, các quốc gia thành viên có thể cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu nhằm thực hiện yêu cầu hạn chế tiêu thụ hoặc sản xuất trong nước Việc cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu trong trường hợp này có thể không phù hợp với Điều XI nhưng lại có thể giải thích được theo Điều XX của GATT

Điều XX của GATT qui định những trường hợp mà các bên ký kết GATT có thể được miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ các qui định của GATT8 Trong số các ngoại lệ được đề cập tại Điều XX, hai đoạn (b) và (g) đưa

ra các tiêu chí liên quan tới mục tiêu bảo vệ môi trường: "Với bảo lưu rằng các biện pháp được đề cập

ở đây sẽ không được áp dụng nhằm tạo ra một công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, không

có qui định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp: (b) cần thiết để bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và động vật, thực vật; (g) liên quan tới việc bảo vệ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt nếu các biện pháp đó cũng được

áp dụng hạn chế đối với cả sản xuất và tiêu dùng trong nước

Trang 26

Điều XX phần (b) và (g) cho phép các thành viên WTO áp dụng các biện pháp chính sách không phù hợp

với GATT trong trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ cuộc sống nói chung cũng như bảo vệ nguồn tài

nguyên thiên nhiên nói riêng Tuy nhiên, Điều XX cũng qui định rõ các nước thành viên không được sử

dụng những ngoại lệ này để tạo ra sự phân biệt đối xử một cách độc đoán hoặc hạn chế trá hình đối

với các sản phẩm của các thành viên khác

2 Các cam môi trường trong các FTAs

Các nội dung môi trường trong FTAs có thể không hoàn toàn nằm trong một chương, một điều khoản, nội dung này có thể nằm trong lời mở đầu hoặc các điều khoản có liên quan đến môi trường Phần dưới đây sẽ tập trung tìm hiểu các nội dung môi trường trong FTAs mà Việt Nam đã ký kết

Bảng 2.1: Các nội dung cam kết có liên quan đến môi trường trong các FTA

Hiệp định Yếu tố môi trường

Việt Nam – EU • Chất thải tóc, chất thải lông của vật nuôi, Chất thải của da và các phần của da, gân,

xương, sừng, vỏ, san hô, vỏ các loài giáp xác đã qua xử lý và chưa xử lý Chất thải cá, Chất thải của vỏ ca cao, chất thải của nghành công nghiệp chế biến thực phẩm, thức

ăn chăn nuôi, Chất thải của hóa chất, nguyên liệu, giầy da, giấy, Chất thải đô thị

• Nhiên liệu, khoáng sản, năng lượng điện

• Phân bón hóa chất và xử lý hóa chất

• Xử lý hóa chất của ngành dệt may, thuộc da, …

• Biến đổi khi hậu, đa dạng sinh học, quản lý rừng bền vững, và các sản phẩm từ rừng, bảo tồn và quản lý bền vững sinh vật biển và thủy sản, ứng dụng kỹ thuật các bon thấp

và hiệu quả năng lượng, chương trình nhãn sinh thái, lập bản đồ, đánh giá, định giá hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái, chống buôn bán quốc tế động vật hoang dã, tăng trưởng xanh

TPP • Chất nguy hại tầng ozone, bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học, nền kinh tế phát

thải thấp, vận chuyển các động vật hoang dã hàng hóa và dịch vụ môi trường

ASEAN Ấn Độ • Môi trường, khai thác mỏ và năng lượng

• Hạn chế đối xử quốc gia về điều tra môi trường

• Dịch vụ môi trường

• Dịch vụ đánh giá tác động môi trường

• Xử lý và loại bỏ chất thải độc hai

• Vận chuyển đường biển các chất thải

Hộp 2.1: Áp dụng ngoại lệ về môi trường theo Điều XX

Trong các tranh chấp thương mại có liên quan, bên bị kiện có nghĩa vụ chứng minh rằng biện pháp được áp dụng là nhằm thực hiện các mục tiêu thuộc phạm vi các ngoại lệ (b) hoặc (g) của Điều XX Sau đó, bên bị kiện phải chứng minh rằng biện pháp được áp dụng đáp ứng yêu cầu của các ngoại lệ này Yêu cầu cụ thể của các ngoại lệ này như sau:

- Đoạn (b) - Điều XX yêu cầu một biện pháp muốn được coi là ngoại lệ phải là biện pháp cần thiết để bảo vệ con người và động thực vật Trên thực tế, cơ quan giải quyết tranh chấp phải cân nhắc nhiều yếu tố có liên quan để đảm bảo rằng không có biện pháp nào phù hợp với WTO, hoặc vi phạm ít hơn, có thể thay thế được;

- Theo đoạn (g) - Điều XX, một biện pháp được coi là “liên quan tới việc bảo vệ các nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt” nếu biện pháp đó được chứng minh là có mối quan hệ “đáng kể” và có mục tiêu rõ ràng là “bảo vệ các nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt” Ngoài ra, biện pháp này phải được áp dụng song song với các biện hạn chế sản xuất

và tiêu dùng trong nước

Trong vụ kiện về chính sách đối với xăng dầu nhập khẩu của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đã phải chứng minh rằng việc cấm nhập khẩu xăng pha chì là phù hợp với phạm vi điều chỉnh và yêu cầu của đoạn (g), Điều XX của GATT Ngoài ra, để ngăn chặn sự lạm dụng các trường hợp ngoại lệ vì mục đích bảo vệ môi trường theo Điều XX (b) và (g), các biện pháp này phải phù hợp với điều kiện chung của Điều XX Biện pháp được áp dụng không được phân biệt đối xử một cách “độc đoán” hoặc “bất hợp lý” hoặc tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế Để đảm bảo sự “hợp lý”, bên bị kiện phải chứng minh rằng biện pháp đó chỉ được áp dụng sau những nỗ lực thảo luận hoặc đàm phán nghiêm túc

Nguồn: www.wto.org

Trang 27

ASEAN Hàn Quốc • Hợp tác trong lĩnh vực Công nghiệp môi trường

• Khai thác mỏ nhiên liệu, năng nượng

• Tài nguyên thiên nhiên

• Dịch vụ môi trường, đánh giá tác động môi trường

• Chất thải ASEAN Nhật Bản • Áp dụng tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật để bảo vệ môi trường

• Hợp tác môi trường, năng lượng

• Vận chuyển chất thải độc hại, chất rắn độc

• Tái chế và xử lý chất thải ASEAN –Trung Quốc • Hơp tác môi trường, khai thác mỏ, năng lượng

Việt Nam - Chile • Khai thác nguồn nước, khai thác khoáng sản, nhiên liệu và năng lượng Hợp tác năng

lượng

• Chất thải và sắt vụn Việt Nam – Hàn Quốc • Xuất xứ khoáng sản tự nhiên, thủy sản đánh bắt từ biển, phế thải, phế liệu

ASEAN – Úc và New

Zealand

• Tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật bảo vệ môi trường, hợp tác môi trường

Việt Nam – Nhật Bản • Hợp tác về môi trường Quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật bảo vệ môi trường

• Xuất xứ các sản phẩm đánh bắt từ biển, phế liệu, chất thải, xử lý chất thải

• Quản lý chất thải rắn Ô nhiễm hóa chất

Việt Nam – Liên minh

kinh tế Á Âu

• Quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật bảo vệ môi trường Phát triển bền vững

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Các điều khoản cam kết về môi trường trong FTAs có thể không hoàn toàn nằm trong một chương, một điều khoản, nội dung này có thể nằm trong lời mở đầu hoặc các điều khoản có liên quan đến môi trường Phần dưới đây sẽ tập trung tìm hiểu các nội dung môi trường trong FTAs mà Việt Nam đã ký kết

Bảng 2.2: Các điều khoản cam kết có liên quan đến môi trường trong các FTAs mà Việt Nam ký kết

Năm ký kết

Năm hiệu lực

Năm kết thúc

Lời

mở đầu

Hiệp định bên lề

Chương Các điều khoản riêng

ASEAN-Trung

Quốc

2004 (G*) 2007(S**)

2005(G) 2007(S)

2020 x x x Khoản 2 điều 7; Điểm k, f, điều 25 ASEAN– Nhật bản 2008 2008 2026 x x x Các ngoại lệ (các tiêu chuẩn); Hơp

tác môi trường (điểm g, điều 111, chương 12; Khoản 3 điều 44; Khoản 3, điều 16; Điểm j điều 25 Việt Nam – Nhật

Bản

Điểm 3 điều 51 ASEAN - Ấn Độ 2009(G)

2010 (G) 2009(S)

2024 x x x Khoản 1 điều 3.1 Chương 3; Điều

15, 16, 17 ASEAN – Úc và

New Zealand

2009 2010 2025 x √ x Khoản 2 điều 2; Điểm iii, khoản d,

mục 2, điều 8 Việt Nam – Chile 2011 2014 x √ x x Điểm e, f, j điều 4.3; Điểm a điều

4.12, điểm e điều 9.3

Trang 28

Việt Nam – Hàn

Quốc

Việt Nam – Liên

minh kinh tế Á Âu

Nguồn: Tổng hợp từ các FTAs (G*: Hàng hóa, S**: Dịch vụ)

- Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP:

TPP là Hiệp định thương mại tự do đa phương đầu tiên đưa các nội dung về môi trường thành một chương trong các cam kết Nội dung của các cam kết đó chính là để hướng tới việc thúc đẩy sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các chính sách thương mại với môi trường; ủng hộ các quốc gia có các biện pháp phù hợp thúc đẩy hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường, hạn chế cạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên, trong khi đẩy mạnh hơn nữa tự do hóa thương mại đối với các hàng hóa và dịch vụ góp hỗ trợ chuyển dịch sang nền kinh tế xanh và nền kinh tế các bon thấp Tuy nhiên, các cam kết về môi trường còn khá

“rụt rè” và đang lần tìm “những bước đi đầu tiên” Nội dung các cam kết mới chỉ dừng lại ở chỉ ra các vấn đề và kêu gọi các quốc gia cùng hợp tác để cùng giải quyết mà chưa có các cam kết cụ thể bằng các con số cắt giảm thuế quan, bằng số năm mở cửa thị trường và tham gia

Có thể chia nội dung của các điều khoản về môi trường thành 02 nhóm: Nhóm thứ nhất gồm các hàng

hoá, dịch vụ có hỗ trợ, đóng góp cho việc thực hiện tăng trưởng xanh và nền kinh tế các bon thấp, được quy định tại điều 15 và điều 18 với các chủ trương về giảm thuế, rào cản thương mại và hợp tác thông qua các dự án song phương và đa phương và thúc đẩy đầu tư giữa các bên Chưa có các cam kết

sâu hơn về cắt giảm thuế hay các cam kết khác Nhóm thứ hai bao gồm các nội dung về hạn chế ô

nhiễm, cạn kiệt tài nguyên do các hoạt động thương mại Nhóm này tập trung vào đa dạng sinh học, bảo tồn, cơ chế thực thi môi trường tự nguyện, bảo vệ tầng ô zôn, sinh vật ngoại lai Nội dung chủ yếu

là về kêu gọi hợp tác bảo vệ, hạn chế, và một số là ngăn cấm các hoạt động thương mại đối với các hoạt động này

Có tất cả 30 chương trong Hiệp định TPP, trong đó Chương 20 về Môi trường bao gồm 23 điều, có thể

chia làm 04 nội dung chính, bao gồm: Thứ nhất, nhóm điều khoản chung liên quan đến các định nghĩa, mục tiêu và các tuyên bố chung của Hiệp định, gồm 3 có điều 1, 2 và 3 Thứ hai, nhóm điều khoản liên quan đến các quy định về tính minh bạch và sự tham gia của công chúng, bao gồm 3 điều 7, 8 và 9 Thứ

ba, nhóm điều khoản liên quan đến các hoạt động tổ chức bộ máy, các cơ quan chịu trách nhiệm và

cơ chế phối hợp thực hiện và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại và làm sáng tỏ các vấn đề có liên

quan giữa các bên tham gia, gồm 6 điều 12, 19, 20, 21, 22 và 23 Thứ tư, nhóm quan trọng nhất bao

gồm các điều khoản riêng về các vấn đề môi trường, bao gồm 11 điều khoản:

9 Điểm e điều 7 Chương về các rào cản kỹ thuật với thương mại; Điểm b khoản 2 điều 10; Khoản 2 chương 1 về Dịch vụ, đầu tư và thương mại điện tử; Khoản 1

Trang 29

• Hàng hóa và dịch vụ môi trường

• Các hiệp định môi trường đa phương

• Bảo vệ tầng ô zôn

• Bảo vệ môi trường biển từ ô nhiễm do vận tải biển

• Thương mại và đa dạng sinh học

• Thương mại và bảo tồn (động thực vật hoang dã)

• Các loài ngoại lai xâm lấn

• Chuyển đổi sang nền kinh tế các bon thấp và tự cường

• Ngành thủy sản đánh bắt cá trên biển

• Các cơ chế tự nguyện để thúc đẩy thực thi môi trường và

• Hợp tác trách nhiệm xã hội

- Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đã chính thức kết thúc đàm phán vào ngày 2 tháng 12 năm

2015 sau hơn 3 năm đàm phán Đây được coi là FTA toàn diện nhất mà Việt Nam tham gia với việc đi

xa hơn trong các cam kết về phát triển bền vững trong một hiệp định thương mại tự do Hai bên đã thống nhất ký kết một chương riêng về phát triển thương mại bền vững, trong đó bao gồm cả các vấn đề về môi trường và lao động So với TPP thì FTA Việt Nam – EU có bước tiến xa hơn về các cam kết liên quan đến lao động

Có tất cả 17 điều trong chương cam kết về thương mại và phát triển bền vững, trong đó nhấn mạnh quyền của mỗi bên trong việc xây dựng hệ thống luật, các quy định tiêu chuẩn để đảm bảo phát triển bền vững Các nội dung về cam kết bao gồm:

• Cam kết về các tiêu chuẩn đa phương đối với lao động: các bên cam kết tuân thủ các nguyên tắc và quyền hạn cơ bản về lao động đã được quy định đối với các thành viên của ILO, trong đó có các vấn đề: đảm bảo hoạt động tự do của hiệp hội của người lao động; loại bỏ tất cả các hình thức lao động bắt buộc và không tự nguyện; loại bỏ lao động trẻ em, cũng như các phân biệt đối xử đối với người lao động

• Các cam kết môi trường đa phương: các bên cam kết thực hiện các cam kết trong các MEA mà các bên tham gia

• Cam kết về biến đổi khí hậu: Các bên khuyến khích việc đối thoại, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm của các bên về các bài học kinh nghiệp và các thực hành tốt trong thiết kế, thực thi và vận hành cơ chế định giá các bon; thúc đẩy thị trường phát thải các bon quốc tế và nội địa (qua ETS cũng như REDD+); thúc đẩy hiệu quả năng lượng, công nghệ các bon thấp và năng lượng tái tạo

• Cam kết về đa dạng sinh học: khuyến khích thương mại đối vơi các sản phẩm đóng góp cho việc sự dụng và bảo tồn đa dạng sinh học; chia sẻ nguồn gen, thúc đẩy thực hiện công ước CITES

• Cam kết về quản lý rừng bền vững và thương mại đối với các sản phẩm từ rừng: khuyến khích thương mại đối với các sản phẩm rừng được khai thác và quản lý bền vững; hạn chế và đẩy lùi thương mại đối với các sản phẩm từ rừng được khai thác một cách bất hợp pháp

• Cam kết về thương mại đối với quản lý bền vững các nguồn tài nguyên biển và các sản phẩm thủy sản: khai thác nguồn tài nguyên biển một cách bền vững theo Luật Biển của UN và các bên liên quan khác

• Cam kết về thương mại và đầu tư một cách bền vững: các bên sẽ nỗ lực để tạo thuận lợi và thúc đẩy thương mại và đầu tư đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường, đặc biệt là đối với hàng hóa và dịch vụ góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính thông qua hợp tác về chính sách và công nghệ

Ngoài ra, còn có các cam kết về chia sẻ thông tin, báo cáo đánh giá tác động bền vững của Hiệp định,

cơ chế làm việc của các bên, cơ chế tham vấn chuyên gia, thiết lập thể chế, theo giõi giám sát, minh bạch hóa…

Trang 30

2.2 Các cam kết môi trường trong các khung khổ hợp tác kinh tế quốc tế

1 ASEAN

- Về thuế quan:

Đến nay, ASEAN chưa có các cam kết cắt giảm thuế đối với các hàng hóa có liên quan đến môi trường, tuy nhiên, trong quy định về Danh mục loại trừ chung có liên quan đến môi trường (không thuộc diện cắt giảm thuế theo CEPP/ATIGA) được quy định gồm các sản phẩm được xác định là cần thiết để bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và động thực vật, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang

có nguy cơ cạn kiệt Về cơ bản, việc loại trừ khỏi CEPT/ATIGA các sản phẩm này phù hợp với quy định của Điều XX Hiệp định GATT về các ngoại lệ chung, trong đó có ngoại lệ nhằm mục đích bảo vệ môi trường như các loại động vật sống (các loại lốp bơm hơi cũ các loại hoá chất, dược phẩm độc hại, các chất phế thải, các đồ tiêu dùng xã hội đã qua sử dụng )

Thực hiện ATIGA đòi hỏi phải cắt giảm đáng kể việc kiểm soát đối với hàng nhập khẩu theo Danh mục giảm thuế Các sản phẩm hàng hoá trong Danh mục hạn chế tạm thời (nhạy cảm) cũng được chuyển dần sang danh mục giảm thuế Trong bối cảnh đó, khối lượng thương mại nội khối ASEAN và giữa các nước ASEAN sẽ tăng lên đáng kể, việc buôn bán các sản phẩm hàng hoá có liên quan tới môi trường cũng tăng lên khi hàng rào thuế quan liên tục được cắt giảm Đa số các sản phẩm trong biểu thuế quan

sẽ được các nước xóa bỏ hoặc giảm thuế xuống còn dưới 5%, trừ một số sản phẩm nhạy cảm như: các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến, các sản phẩm nhạy cảm như súng đạn, thuốc nổ, rác thải…

- Về các biện pháp phi thuế:

Ngoài việc giảm thuế, tự do hoá thương mại trong khuôn khổ AFTA còn dựa vào việc cắt giảm các biện pháp phi thuế Tuy nhiên, việc cắt giảm các hàng rào phi thuế lại có tác động rất phức tạp vì nó liên quan tới nhu cầu đảm bảo an ninh xã hội, bảo vệ môi trường và sức khoẻ Đối với những trường hợp này, việc loại bỏ các rào cản phi thuế quan được thực hiện thông qua việc các nước thống nhất các tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá hoặc thoả thuận công nhận tiêu chuẩn của nhau

Các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ: Dịch vụ môi trường đã được đưa vào trong cam kết kể từ khi ký Hiệp định khung về thương mại dịch vụ vào năm 1995, từ 1996 – 2015: Các nước ASEAN đã tiến hành đàm phán và đưa ra 9 Gói cam kết về dịch vụ, 6 Gói cam kết về dịch vụ tài chính và 8 Gói cam kết về dịch vụ vận tải hàng không Đối với dịch vụ môi trường, cho đến nay vẫn chưa có được một bước tiến nào đáng kể kể từ khi hình thành hiệp định

Cho đến nay, ASEAN đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong giải quyết các vấn đề môi trường có liên quan đến thương mại:

• hài hoà tiêu chuẩn đối với dư lượng tối đa của thuốc trừ sâu sử dụng cho rau quả để thúc đẩy buôn bán mặt hàng này trong khu vực và các biện pháp kiểm dịch thực vật

• xây dựng Danh mục loại trừ hoàn toàn gồm các mặt hàng có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia cuộc sống và sức khoẻ của con người và động thực vật

• quản lý rừng bền vững thông qua công cụ cấp giấy phép lâm nghiệp (là cụ dựa vào thị trường được sử dụng nhàm thúc đẩy việc quản lý rừng lâu dài thông qua việc khuyến khích mua bán hàng hoá lâm sản được khai thác từ rừng được quản lý, nâng cao cạnh tranh của hàng hoá ASEAN trong thương mại trong và ngoài ASEAN.), hợp tác ASEAN tập trung vào việc hài hoà hoá các tiêu chuẩn hàng hoá lâm sản ASEAN để hỗ trợ quá trình l cấp giấy phép, ngăn chặn việc nhập khẩu gỗ nhiệt đới

• thủy sản bền vững

• bảo tồn, khai thác, sử dụng khoáng sản và đẩy mạnh thương mại khoáng sản

Trang 31

2 APEC

APEC là Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương được thành lập từ năm 1989, đến nay đã bao gồm 21 nền kinh tế nằm hai bên bờ Thái Bình Dương, hoạt động trên cơ sở không ràng buộc, tự nguyện và linh hoạt Mục tiêu chủ đạo của hợp tác APEC là thực hiện tự do hoá Thương mại và đầu tư trong khu vực vào năm 2010 đối với các thành viên phát triển và 2020 đối với các thành viên đang phát triển Phát triển bền vững luôn là mục tiêu hàng đầu của APEC, do vậy, trong APEC có rất nhiều chương trình hợp tác liên quan trực tiếp và gián tiếp đến môi trường: Chương trình hợp tác phát triển nghề cá; Bảo tồn và phát triển tài nguyên biển; Phát triển bền vững; Công nghệ sinh học; hàng hóa môi trường, sản xuất sạch hơn, chuỗi cung ứng bền vững, thành phố bền vững…

- Hàng hóa môi trường

APEC hiện là hợp tác quốc tế về kinh tế đầu tiên đạt được thành công về cam kết cắt giảm thuế đối với hàng hóa môi trường Ngày 9 tháng 9 năm 2012, lãnh đạo của 21 quốc gia APEC đã có cuộc gặp ở Vladivostok, Nga để đồng ý ký vào thỏa thuận cắt giảm thuế nhập khẩu tự nguyện 54 hàng hóa môi trường với thời gian có hiệu lực là từ tháng 12 năm 2015

- Sản xuất sạch hơn

Những khoản đầu tư mới đối với năng suất công nghiệp trong khu vực châu Á Thái Bình Dương đã tạo

ra một cơ hội nhằm phối hợp các kỹ năng quản lý môi trường một cách linh hoạt và có tính hữu hiệu về chi phí nhằm đạt được sự phát triển công nghiệp bền vững hơn APEC sẽ xúc tiến việc sản xuất sạch hơn trong lĩnh vực công nghiệp thông qua nhận dạng và mở rộng những kinh nghiệm và thực hành tốt nhất để xây dựng một chương trình nghị sự hợp tác về truyền bá công nghệ với sự quan tâm đặc biệt về nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các nước tham gia hội nghị cho rằng lĩnh vực nông nghiệp

là một lĩnh vực quan trọng trong thực thi và loi cuốn các diễn đàn nhằm thích ứng "Chiến lược sản xuất sạch hơn" trong lĩnh vực này APEC sẽ xúc tiến ứng dụng rộng rãi hơn các chính sách và phưong pháp liên ngành tiến tới sản xuất sạch hơn thông qua các hợp tác của các lĩnh vực tổ chức, chuyên môn, khu vực công cộng và tư nhân

Để khuyến khích ứng dụng các công nghệ, các chính sách và thực hiện bền vững về môi trường và có hiệu quả về kinh tế, APEC đã nhất trí khuyến khích:

• Phát triển và sử dụng các công cụ nhằm hỗ trợ thúc đẩy sản xuất sạch hơn;

• Tham gia và nâng cao chất lượng mạng lưới khoa học, công nghệ và nghiên cứu;

• Xây dựng và phát triển các năng lực và cơ chế chia sẻ các thông tin kỹ thuật và chính sách về các lĩnh vực như ứng dụng các hệ thống quản lý thân thiện với môi trường bao gồm hệ thống tiêu chuẩn ISO 14000

• Phát triển các chỉ số đánh giá tác động với môi trường của các ngành công nghiệp;

• Truyền bá rộng hơn các dữ liệu điện tử thông qua Trung tâm APEC Virtual nhằm trao đổi công nghệ môi trường và thông qua Trung tâm trao đổi công nghệ của APEC và huấn luyện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

• Tăng dòng vận động công nghệ trong nội bộ khu vực APEC;

• Xúc tiến các dự án thí điểm trong các lĩnh vực nhất định

- Sự bền vững của môi trường biển

Sự trong sạch của môi trường biển là then chốt đối với lợi ích kinh tế và xã hội của dân cư trong vùng Đại dương và biển đã kết nối các nền kinh tế của APEC với nhau và với thế giới Các quốc gia APEC cam kết nhằm thực hiện các hành động để bảo vệ các nguồn tài nguyên chung khi theo đuổi việc thực hiện những bước tiến đáng kể để tiến tới đại dương và biển sạch trong khu vực APEC

APEC đã đặt ra các mục tiêu và thước đo thự chiện, cùng phối hợp với khu vực tư nhân và các diễn đàn

Trang 32

khác trong và ngoài APEC, nhằm đạt được ba mục tiêu:

• Các phương pháp quản lý thống nhất đối với bờ biển;

• Ngăn ngừa, hạn chế và kiểm soát ô nhiễm biển;

• Quản lý bền vững các nguồn lợi của biển và đại dương

- Các thành phố bền vững

Phát triển bền vững trong khu vực APEC có mối liên quan đặc biệt quan trọng với sự bền vững của các thành phố Do dân cư của các thành phố đông đúc nên giải quyết các tác động môi trường của các hoạt động cuả các thành phố là một trong những mục tiêu chính của việc nâng cao chất lượng cuộc sống và lợi ích của con người Do đó, tất cả các giác độ của kế hoạch hoá và phát triển đô thị phải đựoc xây dựng lấy con người làm trung tâm và có tính đế bảo vệ môi trường và các lợi ích về kinh tế và xã hội Cần phải đặc biệt quan tâm đến ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm và phát triển các cơ sở hạ tầng bền vững về mặt môi trường và có tính đến lợi ích của dân cư nghèo thành thị và xúc tiến các lợi ích kinh tế của họ

Để cải tiến chiến lược của môi trường đô thị trong khi xúc tiến phát triển bền vững, các quốc gia tham gia hội nghị sẽ thực hiện một Chương trình hành động về các thành phố bền vững nhằm nhận dạng các giải pháp để:

• Xoá đi khoảng cách tri thức;

• Khuyến khích đầu tư;

• Nhất thể hoá chương trình nghị sự của cả lĩnh vực công cộng lẫn tư nhân;

• Nâng cao lợi ích của con người và chất lượng cuộc sống

- Tiến tới phát triển bền vững về môi trường

Các quốc gia tham giáo dục kêu gọi sự phối hợp tốt hơn nhằm kết nối và phối hợp thống nhất các nỗ lực phát triển bền vững trong nội bộ APEC Có thể thực hiện được mục tiêu này thông qua xây dựng trên các cơ sở hiện tại và tối đa hiệu quả và hiệu năng các nỗ lực của APEC Các quốc gia cùng cộng tác

và tham gia các loại diễn đàn APEC khác nhau nhằm xây dựng và phát triển những biện pháp thích hợp

để sự hợp tác được củng cố và tiến xa hơn nữa

Với nhận thức về thứ tự tầm quan trọng của các vấn đề có mối quan hệ tương tác với nhau về thực phẩm, năng lượng, môi trường, và phát triển kinh tế và dân số (FEEEP) do các nhà lãnh đạo các quốc gia đề ra, các quốc gia kêu gọi các suy xét và cân nhắc về môi trường phải tiếp tục được giải quyết như

là một nhân tố quan trọng, đan chéo các vấn đề khác Các quốc gia cần tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình FEEEP

3 ASEM

Tương tự như APEC, ASEM là Diễn đàn hợp tác Á–Âu (hay còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu) được chính thức thành lập vào năm 1996 trong hội nghị cấp cao đầu tiên tại Bangkok ASEM là một diễn đàn liên khu vực bao gồm Ủy ban châu Âu và 27 nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU) và 14 thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và ASEAN+3 với các tiến trình chính hợp thành ASEM bao gồm:

• Đối thoại chính trị

• An ninh và kinh tế

• Văn hóa và giáo dục

Trang 33

Tuyên bố chung của Hội nghị lần đầu tiên, được tổ chức tại Thái Lan, 1-2/3/1996 đã có đề cập rất nhiều đến các cam kết bảo vệ môi trường, cụ thể: (i) Tại đoạn số 7, các nguyên thủ ASEM cam kết thực hiện Tuyên bố Rio 1992 về Môi trường và Phát triển; (ii) Tại đoạn số 16, các nguyên thủ ASEM cũng cam kết giải quyết các vấn đề quan trọng của môi trường như tình trang ấm lên của trái đất, bảo vệ nguồn tài nguyên nước, tình trạng sa mạc hoá và tàn phá rừng, đa dạng sinh học, đảm bảo giữ vững môi trường biển, phát triển và sử dụng các công nghệ sản xuất sạch; (iii) Tại đoạn 19, các nguyên thủ cũng thoả thuận về nguyên tắc về một số hoạt động hợp tác môi trường như: Thiết lập một Trung tâm Công nghệ môi trường á-Âu; thành lập Nhóm nghiên cứu nhằm tăng cường trao đổi công nghệ đối với các vấn đề như nông nghiệp và bảo vệ môi trường

Từ đó đến này, ASEM đã có rất nhiều các chương trình hợp tác để thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường thông qua các Hội thảo, các chương trình xúc tiến đầu tư, hỗ trợ nâng cao năng lực, thiết lập các thể chế về tài chính để hỗ trợ đầu tư như Quỹ Á - Âu về các chủ đề như:

• công nghiệp môi trường

• công nghệ sạch,

• tăng trưởng xanh

• các hiệp định song phương về môi trường

• tình trạng sa mạc hóa

• đa dạng sinh học

• biến đổi khí hậu

• bảo vệ rừng và phát triển bền vững

• quản lý nước bền vững …

2.3 Các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường trong Hiệp định rào cản kỹ thuật liên quan đến thương mại

Hiệp định TBT điều chỉnh việc xây dựng, thông qua và áp dụng các yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm cũng như các thủ tục liên quan tới việc đánh giá sự phù hợp của sản phẩm đó với các yêu cầu kỹ thuật Mục tiêu của Hiệp định là đảm bảo rằng các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật (gọi chung là yêu cầu kỹ thuật10) cũng như các thủ tục kiểm tra, đánh giá không tạo nên những rào cản không cần thiết đối với thương mại

Lời mở đầu và Điều 2.2 của Hiệp định này thừa nhận các Thành viên WTO có quyền áp dụng những biện pháp cần thiết để theo đuổi một số mục tiêu chính đáng, trong đó có mục tiêu bảo vệ sức khoẻ

và sự an toàn của con người, sức khoẻ và cuộc sống của các loài động thực vật, và bảo vệ môi trường

Để thực hiện những mục tiêu này, các Thành viên có quyền áp dụng một mức bảo hộ mà họ cho là hợp

lý Các quy định kỹ thuật (bắt buộc) không được hạn chế thương mại quá mức cần thiết để thực hiện các mục tiêu chính đáng như bảo vệ môi trường11 Còn đối với các tiêu chuẩn kỹ thuật (không bắt buộc), Hiệp định này khuyến khích các Thành viên áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để hạn chế sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia Kể từ ngày có hiệu lực của Hiệp định này, có khoảng 2300 thông báo đã được gửi cho Ban Thư ký WTO, trong đó có khoảng 11 % có liên quan tới môi trường Các biện pháp môi trường được thông báo gồm có: các biện pháp hạn chế ô nhiễm, quản lý rác thải, bảo tồn năng lượng, các biện pháp bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các biện pháp thực hiện các Hiệp định đa phương về môi trường

10 Hiệp định TBT chia các yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm thành hai loại, gồm các quy định kỹ thuật (mang tính bắt buộc) và các tiêu chuẩn kỹ thuật (mang tính

tự nguyện)

Trang 34

Các vấn đề thương mại - môi trường chủ yếu liên quan tới việc áp dụng các yêu cầu kỹ thuật trong

thương mại quốc tế theo Hiệp định TBT bao gồm:

Nhãn sinh thái: Việc sử dụng các nhãn sinh thái ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp có thể gây trở ngại cho xuất khẩu của

các nước đang và kém phát triển Vấn đề là các chương trình dán nhãn sinh thái thường chỉ dựa vào việc phân tích một số khía cạnh có liên quan tới vòng đời sản phẩm và do đó các nước nhập khẩu thường đưa ra những tiêu chí khác nhau về nhãn sinh thái Ngoài ra, các nước nhập khẩu có xu hướng xây dựng các tiêu chí này dựa vào nhu cầu trong nước mà không tính đến điều kiện của nhà cung cấp ở nước xuất khẩu;

Vấn đề PPMs 12: Việc đưa ra các biện pháp kiểm soát nhập khẩu dựa trên các tiêu chí về phương pháp và quy trình sản xuất gây ra tranh cãi giữa các Thành viên WTO Các nước Thành viên nhất trí rằng các biện pháp nhập khẩu có thể dựa trên phương pháp và quy trình sản xuất nếu phương pháp hoặc quy trình sản xuất đó tạo nên một đặc tính của sản phẩm: ví dụ như trường hợp cây bông được phun thuốc trừ sâu dẫn tới có dư lượng thuốc trừ sâu trong bông Tuy nhiên, các nước đang phát triển

phản đối việc áp dụng các biện pháp nhập khẩu dựa trên phương pháp và quy trình sản xuất không liên quan tới sản phẩm

cũng như việc sử dụng các tiêu chí một cách “phân biệt đối xử” giữa hai loại PPM này;

Các yêu cầu về bao gói: Một số nước đưa ra yêu cầu về bao gói đối với hàng nhập khẩu, ví dụ: chủng loại bao gói, khả năng

sử dụng lại, khả năng tái chế hoặc phân huỷ Các yêu cầu này tạo thêm chi phí cho các nhà xuất khẩu và có nguy cơ cản trở hàng xuất khẩu tiếp cận thị trường Trên thực tế, các yêu cầu này có thể được áp dụng một cách “phân biệt đối xử” hoặc bị thao túng bởi các tập đoàn trong nước yêu cầu sự bảo hộ

2.4 Các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan đến Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật

Hiệp định SPS trong WTO được đàm phán và ký kết tại Vòng Uruguay để điều chỉnh việc áp dụng các qui định liên quan đến vấn đề an toàn thực phẩm và sức khoẻ của động thực vật Trước khi Hiệp định này ra đời, các biện pháp an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khoẻ các loài động thực vật có ảnh hưởng tới thương mại được điều chỉnh bởi các quy định của GATT (ví dụ như các quy định về không phân biệt đối xử (Điều I, III) và về các ngoại lệ chung (Điều XX)) Hiệp định về các Rào cản kỹ thuật đối với thương mại năm 1979 bao quát cả những yêu cầu kỹ thuật liên quan tới những biện pháp này Tuy nhiên, các nước Thành viên dần dần cho rằng các quy định nêu trên chưa giải quyết thoả đáng những vấn đề liên quan tới các biện pháp kiểm dịch động thực vật (các biện pháp SPS) Về cơ bản, Hiệp định SPS là giống Hiệp định TBT về cơ chế và cách thức hoạt động, ngoại trừ đối tượng và phạm vi áp dụng Hiệp định thừa nhận các nước Thành viên có quyền áp dụng các biện pháp SPS vì các mục đích sau đây (trong đó bao gồm cả những mục đích bảo vệ môi trường):

• đảm bảo rằng thực phẩm không chịu những rủi ro phát sinh từ các chất gây nghiện, các chất nhiễm bẩn, các chất độc hoặc các loài sinh vật gây bệnh;

• ngăn chặn sự lan rộng của sinh vật gây bệnh;

• ngăn chặn hoặc kiểm soát các loài sâu bệnh

Hiệp định SPS khuyến khích các nước Thành viên hài hoá các yêu cầu SPS riêng của nước mình như thông qua các tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn do các tổ chức quốc tế xây dựng, ví dụ như thông qua các tiêu chuẩn của Uỷ ban Dinh Dưỡng Quốc tế (Codex Alimentarius) Các Thành viên có thể áp dụng những tiêu chuẩn quốc gia cao hơn trong trường hợp các tiêu chuẩn quốc tế chưa đủ mạnh Tuy nhiên các biện pháp SPS phải được dựa trên cơ sở khoa học hoặc dựa trên việc đánh giá những rủi ro có thể xảy

ra đối với sức khoẻ và cuộc sống của con người và các loài động thực vật Các thủ tục và quyết định liên quan đến việc đánh giá rủi ro phải được cung cấp khi nước Thành viên khác yêu cầu Điểm đặc biệt của Hiệp định này là nó cho phép các nước áp dụng nguyên tắc phòng ngừa, tức là mặc dù chưa có đủ bằng chứng khoa học nhưng nước Thành viên vẫn được quyền áp dụng các biện pháp tạm thời để phòng ngừa trong thời gian tìm kiếm thêm thông tin

Trang 35

2.5 Các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường trong các cam kết khác

1 Các cam kết liên quan đến môi trường liên quan đến Nông nghiệp

Được đàm phán và ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định Nông nghiệp đưa ra các qui định nhằm cải cách thương mại nông sản và cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các chính sách theo định hướng thị trường Nội dung chính của Hiệp định tập trung vào các vấn đề tiếp cận thị trường, trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu

Bảo vệ môi trường là vấn đề được đề cập nhiều trong Hiệp định này Đoạn thứ 6 của phần mở đầu nêu

rõ rằng các cam kết theo các chương trình cải cách chính sách cần phải tính đến vấn đề môi trường Điều 20 của Hiệp định cũng quy định các cuộc đàm phán về việc tiếp tục các chương trình cải cách cần phải tính đến các vấn đề phi thương mại, trong đó có vấn đề môi trường Cụ thể hơn, Phụ lục 2 của Hiệp định liệt kê các loại biện pháp trợ cấp khác nhau không thuộc diện phải cam kết cắt giảm, trong

đó có nhiều biện pháp trợ cấp liên quan tới môi trường Trong số các biện pháp này phải kể đến biện pháp cung cấp tài chính trực tiếp cho nhà sản xuất và các chương trình hỗ trợ của chính phủ trong lĩnh vực nghiên cứu và xây dựng cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ các chương trình môi trường Tiêu chuẩn

để được trợ cấp tài chính trực tiếp được xác định căn cứ vào nội dung của các chương trình bảo tồn hoặc bảo vệ môi trường Giá trị trợ cấp giới hạn trong khoảng các chi phí phụ trội hoặc khoản thu nhập

bị bỏ lỡ để tuân thủ các nghĩa vụ theo các chương trình môi trường

2 Các cam kết liên quan đến môi trường liên quan đến Trợ cấp

Hiệp định Trợ cấp của WTO được áp dụng đối với các sản phẩm không phải là nông sản Trong khuôn khổ của Hiệp định có một số chương trình trợ cấp được gọi là trợ cấp không bị đánh thuế đối kháng

(non- actionable) được qui định tại Điều 8 và một trong những hình thức trợ cấp đó có liên quan tới bảo vệ môi trường Những chương trình trợ cấp này được sử dụng "nhằm thúc đẩy việc nâng cấp các

máy móc thiết bị phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp quy định, làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính" Kèm theo một số điều kiện khác, trợ cấp liên quan tới môi trường

nêu trên có thể được phép chiếm tới 20% chi phí nâng cấp máy móc thiết bị

Trợ cấp có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến môi trường Trợ cấp mang tính tích cực khi chúng

hỗ trợ bảo vệ môi trường và mang tính tiêu cực khi chúng tạo ra những căng thẳng về môi trường (chẳng hạn như thông qua việc khuyến khích sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên ) Trong lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng, trợ cấp được xem như là một nhân tố bóp méo thương mại, đồng thời trong một chừng mực nào đó, nó gây ra sự xuống cấp về môi trường

Tại Vòng Uruguay, các bên đàm phán đã xem xét những đóng góp tích cực và tiêu cực của trợ cấp đối với môi trường cũng như một loạt các qui tắc mới và ngoại lệ áp dụng trong các Hiệp định về Nông nghiệp và Hiệp định Trợ cấp Cả hai hiệp định này đều qui định những ngoại lệ nhất định về trợ cấp môi trường Theo Hiệp định Nông nghiệp, trợ cấp môi trường có thể được coi là một ngoại lệ miễn trừ khỏi nghĩa vụ cắt giảm hỗ trợ trong nước khi đáp ứng một số điều kiện nhất định; còn trong Hiệp định Trợ cấp, trợ cấp môi trường có thể được coi là một ngoại lệ miễn trừ khỏi nghĩa vụ chịu thuế đối kháng cũng như đưa ra xét xử tranh chấp miễn là các điều kiện liên quan đến hình thức trợ cấp đó được đáp ứng

Trong các cuộc thảo luận của Uỷ ban về Thương mại và Môi trường, trợ cấp năng lượng cũng được đề cập tới Trong đó, các bên liên quan đã tập trung vào việc rà soát các qui tắc áp dụng cho trợ cấp xuất khẩu được qui định tại Hiệp định Trợ cấp Theo quy định tại Phụ lục 1 và 2 của Hiệp định, thuế đánh vào loại năng lượng được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu sẽ có thể được hoàn lại mà không bị coi

Trang 36

là một hình thức trợ cấp xuất khẩu Nhiều nước cho rằng qui định này khuyến khích việc tăng cường

sử dụng các công nghệ tiêu thụ nhiều năng lượng để sản xuất hàng xuất khẩu Mặt khác, các nước cũng

tỏ ra lo ngại về việc các qui định liên quan đến môi trường có thể bị lạm dụng hoặc bóp méo các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO Tuy nhiên cho đến nay vấn đề này vẫn chưa có cách giải quyết và hiện đang tiếp tục được thảo luận và phân tích trong nội bộ Uỷ về Thương mại và Môi trường của WTO

3 Các cam kết liên quan đến môi trường liên quan đến các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Hiệp định TRIPS đóng một vai trò quan trọng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận và chuyển giao các công nghệ và sản phẩm lành mạnh đối với môi trường Điều 27 (2) và (3) của phần 5

(Văn bằng bảo hộ sáng chế) hiệp định TRIPS qui định rằng các thành viên WTO có thể không cấp văn

bằng bảo hộ cho việc khai thác thương mại các sáng chế trong lãnh thổ của mình vì lý do bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ của con người và động hoặc thực vật hoặc để tránh gây tổn hại nghiệm trọng cho môi trường với điều kiện việc cấm khai thác không chỉ xuất phát từ chỗ luật của các thành viên đó cấm khai thác thương mại Các thành viên cũng có thể không cấp văn bằng sáng chế cho thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh cũng như các qui trình sinh học sản xuất động vật và thực vật Tuy nhiên, các thành viên phải qui định việc bảo hộ giống cây thông qua văn bằng sáng chế hoặc một hệ thống di truyền riêng thực tế, hoặc sự kết hợp giữa hai hệ thống này dưới mọi hình thức

Đây là những qui định được xây dựng nhằm điều chỉnh các vấn đề môi trường có liên quan đến bảo hộ

sở hữu trí tuệ Thông qua những quy định này, Hiệp định TRIPS cho phép các thành viên được phép từ chối không cấp văn bằng sáng chế cho những đối tượng có thể gây phương hại đến môi trường; đồng thời cũng qui định các thành viên phải đảm bảo cho các giống cây trồng khác nhau nhằm mục đích đa dạng hoá sinh học thông qua các văn bằng sáng chế hoặc các phương tiện hữu hiệu khác

Mặt khác, hiệp định TRIPS cũng không cấm các thành viên hạn chế việc nghiên cứu, phát triển hoặc sử dụng công nghệ có thể gây hại đối với môi trường Ví dụ, văn bằng sáng chế cho phép người chủ sở hữu văn bằng được quyền ngăn cấm những người khác sử dụng phát minh đã được cấp văn bằng, tuy nhiên văn bằng đó lại không đảm bảo cho người sở hữu văn bằng quyền được khai thác công nghệ đang bị nghi vấn

2.6 Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường

Tự do hoá thương mại trong lĩnh vực hàng hoá môi trường không những đem lại lợi ích cho môi trường, góp phần giảm thiểu chi phí đối với hoạt động bảo vệ môi trường, mà còn hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cho các quốc gia Đàm phán về tự do hóa thương mại trong lĩnh vực hàng hoá môi trường

là một phần trong vòng đàm phán Doha bắt đầu từ năm 2001 Các tuyên bố trong vòng đàm phán này

đã đạt được những thỏa thuận đáng kể trong các vấn đề liên quan đến thương mại và môi trường, cụ thể “Cắt giảm và từng bước tiến tới loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường” Tuy nhiên, vòng đàm phán Doha vẫn chưa xác định được các danh mục hàng hoá môi trường cụ thể, đặc biệt là kỳ vọng của mỗi quốc gia khi tham gia tự do hoá thương mại đối với hàng hóa môi trường được xem là một trong những lý do chính dẫn đến các quốc gia vẫn còn gặp những khó khăn trong việc lựa chọn danh mục hàng hoá môi trường cụ thể để đưa vào tiến trình đàm phán Từ đó, đỏi hỏi các quốc gia phải nỗ lựa đưa ra phương án giải quyết cho các câu hỏi:

• Loại hàng hóa môi trường nào phù hợp cần cân nhắc cho việc đưa ra ưu đãi?

• Các phương pháp tiếp cận mô hình đàm phán phù hợp đối với các thành viên trong việc tự do hóa thương mại?

Trang 37

Trong câu hỏi đầu tiên, có ít nhất 3 loại hàng hóa tiềm năng liên quan đến môi trường đã được đem ra thảo luân đặc biệt:

• Loại 1: Hàng hóa có đóng góp cho môi trường khi thải bỏ

Loại 2: Hàng hóa được dùng để cải thiện môi trường (đối tượng chính)

• Loại 3: Hàng hóa có đóng góp cho môi trường trong sản xuất và chế biến

Cho đến thời điểm hiện tại, cam kết về hàng hóa môi trường trong khuôn khổ các FTA mà Việt Nam tham gia mới chỉ được chính thức đề cập trong TPP và EVFTA, trong khi các đàm phán trong WTO vẫn tiếp tục bế tắc Tuy nhiên, với những khó khăn về xác định được danh mục hàng hóa môi trường cho các đàm phán và phương thức thực hiện đàm phán mà nội dung của các cam kết vẫn dừng lại ở mức

độ đó là các quốc gia trong các FTA sẽ cố gắng hợp tác với nhau để hướng tới cắt giảm thuế và rào cản phi thuế cho nhóm hàng hóa này mà chưa đưa ra được danh mục hàng hóa môi trường cho các cam kết về cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế cần phải dỡ bỏ Dưới đây, sẽ giới thiệu chi tiết diễn biến về các đàm phán và cam kết về hàng hóa môi trường trong các FTA, kết quả và các nội dung về cam kết để cung cấp một bức tranh chung về hiện trạng và xu hướng

Trong những giai đoạn đầu của các vòng đàm phán, mặc dù các bên tham gia đều tích cực và chủ động đề xuất các chủ đề tiềm năng liên quan đến hàng hoá môi trường Tuy nhiên, dưới tác động của mục tiêu cắt giảm hàng rào thuế quan đối với các quốc gia thành viên, sự đe doạ tiềm tàng tới lợi ích hàng hoá môi trường đã được nhận thấy Từ đó, một nhóm nhỏ các quốc gia được gọi là “Người bạn của hàng hóa môi trường” đã đệ trình hai bản dự thảo bao gồm một danh sách về hàng hoá môi trường có tên là “Hàng hóa Xanh” Ban đầu, danh sách bao gồm 400 loại hàng hóa tuy nhiên ngay sau đó đã nhanh chóng được sửa đổi và được giới hạn lại 153 loại hàng hóa khác nhau Sau đó, các dự thảo được Ủy ban thương mại và môi trường tập hợp và chắt lọc nội dung để biên soạn và xuất bản ra một danh sách tài liệu tham khảo về hàng hoá môi trường từ năm 2010

Tuy nhiên, các đàm phán về của hàng hoá môi trường trong các cuộc đàm phán thường không được nhượng bộ và dẫn đến bế tắc, tiêu biểu là sự bế tắc kéo dài kể từ vòng đàm phán Doha năm 2011 Kết quả là cộng đồng kinh tế Châu Á – Thái Bình Dường APEC phải đưa ra sáng kiến về việc thành lập một danh sách các hàng hóa môi trường trong nội khối Sáng kiến này sau đó đã nhận được sự đồng thuận

từ các nước thành viên trong năm 2012 với tên gọi “Danh sách APEC” Danh sách này bao gồm 54 loại hàng hóa môi trường với mức giảm thuế suất tối đa lên tới 5% vào cuối năm 2015 (tự do hóa thuế quan được dựa trên cơ sở tự nguyên và không phải là bắt buộc đối với các thành viên APEC)

“Danh sách APEC” đã mang tới một động lực mới trong các cuộc đàm phán đa phương và song phương giữa các quốc gia Ngày 24 tháng 1 năm 2014, Úc, Canada, Trung Quốc, Costa Rica, Đài loan, Cộng đồng kinh tế EU, Hồng Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc, Niu di lân, Singapore và Hoa Kỳ đã đưa ra sáng kiến cần phải theo đuổi gọi là “Sáng kiến Davos” để hướng tới xây dựng môt Hiệp định riêng về hàng hóa môi trường- Hiệp định hàng hóa môi trường- EGA Dựa trên bối cảnh vòng đàm phán Doha, các vòng đàm phán đa phương sau đó về EGA đã được khởi động vào tháng 7 năm 2014 Isarel tham gia sáng kiến Davos vào tháng 1 năm 2015 và Thổ Nhĩ Kỳ và Iceland tham gia vào tháng 3 năm 2015 và sau đó, một số quốc gia khác của APEC cũng đã bày tỏ ý kiến về việc tham gia đàm phán về vấn đề này như Singapore, Braxin Cho đến nay, đã có 28 quốc gia là thành viên WTO đã tham gia đàm phán EGA với

dự tính 1000 sản phẩn hàng hóa môi trường và 450 dòng thuế được đưa ra thảo luận, đàm phán

Đã có 5 vòng đàm phán hoàn thành trong đó vòng đàm phán cuối cùng đã diễn ra vào ngày 16 – 20 tháng 3 năm 2015 Một điểm chung trong các cuộc đàm phán là danh sách hàng hoá môi trường đều được đưa ra thảo luận theo phân ngành sản phẩm Thêm vào đó, với sự tham dự của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ môi trường như các chuyên gia đến từ OECD, Chương trình môi

Trang 38

trường liên hợp quốc, cơ quan năng lượng quốc tế, cơ quan năng lượng tái tạo quốc tế cũng như các

cơ quan môi trường của các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hồi ngành, học viện với vai trò chính là để hỗ trợ đàm phán dựa trên những phân tích chuyên sâu về các loại hàng hóa xanh nhằm đưa ra được một bản danh sách cuối cùng về danh mục các loại hàng hóa Điều đó cho thấy, sự tham gia của các chuyên gia cộng với những hỗ trợ về kỹ thuật và kiến thức về môi trường đã giúp đảm bảo chất lượng của các cuộc đàm phán ở mức tối đa

Trong các cuộc đàm phán, các lĩnh vực chính sau đã được ưu tiên đưa ra thảo luận:

• Cắt giảm ô nhiễm không khí

• Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại

• Cải tạo đất và nước

• Xử lý và làm sạch môi trường

• Giảm tiếng ồn và độ rung

• Năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng

• Hàng hóa liên quan đến năng lượng và hiệu quả nguồn tài nguyên

• Các sản phẩm thân thiện với môi trường

• Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

• Kiểm soát và phân tích môi trường

Danh sách sơ bộ của hàng hoá môi trường được dựa trên các bản dự thảo được đưa ra bởi các quốc gia tham gia đàm phán đã được hoàn tất ở vòng thứ 5 của các cuộc đàm phán Theo đó, bất kỳ một đệ trình mới nào trong việc mở rộng danh sách hàng hoá môi trường sẽ không được xem xét mặc dù các vấn đề liên quan đến hàng hoá môi trường có thể được tham gia thảo luận tại các cuộc đàm phán bên lề diễn ra sau đó

Các cuộc đàm phán về hàng hóa môi trường trong diễn đàn WTO có tác động tích cực đến thương mại của hàng hóa môi trường cũng như các nước đã phát động “Sáng kiến Davos” đã đại diện cho khoảng 86% thương mại thế giới về các hàng hóa môi trường

Trang 39

Sơ đồ 2.1: Danh mục hàng hóa và dịch vụ môi trường theo phân loại của các tổ chức quốc tế và Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU là Hiệp định thương mại song phương đầu tiên mà cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập đến Tại Điều 9, Chương 15 về Thương mại và phát triển bền vững, đã cam kết: các nước thành viên đã khẳng định sự cam kết để tăng cường sự đóng góp của các bên trong lĩnh vực thương mại và đầu tư đồng thời đi kèm với các mục tiêu về phát triển bền vững ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Theo đó:

• Các bên công nhận vai trò quan trọng và lợi ích sẽ đạt được liên quan đến hiệu quả kinh tế, đổi mới kinh tế và năng suất lao động Đồng thời, các chính sách được khuyến khích có sự gắn kết lớn hơn giữa chính sách thương mại và chính sách lao động với nhau

• Mỗi nước thành viên phấn đấu tạo thuận lợi và thúc đẩy đầu tư, thương mại phù hợp đối với hàng hóa môi trường và dịch

vụ môi trường trong hiệp định này

• Các nước thành viên sẽ phấn đấu nhằm tạo thuận lợi tốt nhất cho thương mại và đầu tư hàng hóa và dịch vụ có liên quan đặc biệt nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu, trong đó bao gồm cả sự phát triển các khuôn khổ, chính sách có lợi cho việc triển khai

có hiệu quả và tốt nhất các công nghệ hiện có

TPP là Hiệp định thương mại đa phương đầu tiên đưa nội dung cam kết về hàng hóa và dich vụ môi trường thành một điều khoản riêng Tại điều 18 của chương 20 về môi trường, các nội dung cam kết đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập như sau:

• Thương mại, đầu tư hàng hóa và dịch vụ môi trường được coi là một phương tiện để cải thiện hiệu suất kinh tế và môi trường,

từ đó giải quyết các thách thức của môi trường toàn cầu

• Các bên công nhận tầm quan trọng của Hiệp định này để khuyến khích thương mại và đầu tư hàng hóa, dịch vụ môi trường tại các khu vực thương mại tự do

• Theo đó, Uỷ ban sẽ xem xét các vấn đề xác định bởi một bên hoặc các bên liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ môi trường, bao gồm cả các vấn đề được xác định là các rào cản phi thuế quan đối với tiềm năng thương mại đó Các Bên hoặc một bên sẽ nỗ lực để giải quyết các rào cản đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ môi trường, kể cả bằng cách kết hợp với các ủy ban có liên quan khác được thành lập theo Hiệp định này

• Các Bên có thể phát triển các dự án hợp tác song phương và đa phương về hàng hóa và dịch vụ để giải quyết những thách thức với thương mại toàn cầu liên quan đến môi trường trong hiện tại và tương lai

EGA: 153 sản phẩm

APEC: 54 sản phẩm

• Năng lượng tái tạo;

• Các thiết bị kiểm soát, phân tích và đánh giá môi trường;

• Bảo vệ môi trường (chất thải rắn và chất thải nguy hại; quản lý nưóc thải, kiểm sát ô nhiễm không khí…)

• Các sản phẩm thân thiện môi trường

OECD: 164 sản phẩm

• Quản lý ô nhiễm: Kiểm soát

ô nhiễm không khí, Quản lý nước thải, Quản lý chất thải rắn; Xử lý và làm sạch; Giảm tiếng ồn và độ rung; Phân tích, đánh giá và kiểm soát môi trường

• Công nghệ và sản phẩm sạch hơn: công nghệ sạch hơn và hiệu quả tài nguyên, các sản phẩm sạch hơn và hiệu quả tài nguyên

• Quản lý tài nguyên: Cung cấp nước, tái chế chất thải, năng lượng tái tạo, quản lý

và tiết kiệm nhiệt/năng lượng; nông lâm nghiệp và thủy sản bền vững

Việt Nam

• Dịch vụ môi trường: Dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải; Dịch vụ thoát nước và xử

lý nước thải; Dịch vụ thu gom,

xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu; Dịch vụ xử lý ô nhiễm và hoạt động quản lý chất thải khác;

• Hàng hóa môi trường: Thiết

bị, công nghệ sử lý khí thải;

Thiết bị công nghệ xử lý chất thải rắn; Hóa chất và chế

phẩm môi trường; Thiết bị đo lường môi trường

• Nhóm chưa được đưa vào:

Năng lượng sạch; Năng lượng tái tạo; Tiết kiệm năng lượng

Trang 40

Ngoài ra, tại điều 15 của chương, các bên cũng có các cam kết liên quan đến thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng với việc cam kết về các lĩnh vực hợp tác có thể bao gồm, nhưng không giới hạn: hiệu quả năng lượng; phát triển, thay thế công nghệ nhằm làm giảm lượng khí thải với chi phí-hiệu quả, năng lượng sạch, các nguồn năng lượng tái tạo; giao thông vận tải bền vững, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị bền vững; giải quyết việc phá rừng và suy thoái rừng; giám sát khí thải theo

cơ chế thị trường và phi thị trường, phát triển nền kinh tế và chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề này Hơn nữa, các Bên sẽ (khi thích hợp) tham gia vào các hoạt động hợp tác và xây dựng năng lực liên quan đến việc chuyển đổi sang nền kinh tế ít khí thải

So với Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, TPP có bước tiến xa hơn khi có điều khoản về hợp tác giữa các quốc gia thành viên trong việc tiếp tục đẩy mạnh các nội dung về tự do hóa thương mại đối với hàng hóa môi trường, cho phép các quốc gia hình thành các cơ quan để đẩy mạnh các đàm phán và các nội dung chi tiết của các hợp tác, trong đó sẽ có cơ hội để phát triển sâu hơn về cắt giảm thuế, rào cản kỹ thuật và các hỗ trợ kỹ thuật Tuy nhiên, đây vẫn là những vấn đề của tương lai và hoàn toàn phụ thuộc vào sự chủ động của mỗi quốc gia Tuy nhiên, tương tự như EVFTA, các cam kết về hàng hóa môi trường trong TPP cũng chỉ dừng lại ở mức độ cam kết khung, chưa đề xuất được danh mục, biểu thuế cắt giảm, cũng như các rào cản kỹ thuật cần được giỡ bỏ để thúc đẩy tự do hóa thương mại

2.7 Tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường

Tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường trở thành một nội dung quan trọng trong thương mại quốc tế là từ năm 1991 với vụ kiện giữa Hoa Kỳ và Mêhicô về việc Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá ngừ

từ Mêhicô vào Hoa Kỳ Hoa Kỳ cho rằng việc đánh bắt cá ngừ của Mêhicô đã không ngăn cản được những rủi ro đối với cá heo, do đó chính thức đến năm 1990 Hoa Kỳ đã đặt ra một lệnh cấm nhập khẩu

cá ngừ từ Mêhicô Vấn đề này đã bị phản ứng từ phía Mêhicô cho rằng những sắc luật này không phù hợp với những qui định thương mại quốc tế, đặc biệt là những qui định của GATT Tiếp sau đó là những sắc lệnh của một số các nước thuộc EU (European Union) liên quan đến thương mại trong việc chống lại nhập khẩu gỗ nhiệt đới vì họ cho rằng như vậy sẽ tiếp tay cho việc phá các khu rừng nhiệt đới

Năm 1996, Ấn độ, Malaysia, Thái lan đã đệ trình khiếu nại lên WTO, họ cho rằng pháp luật đã không công bằng đối với thực tiễn thương mại Các nước này đã bị tổn thương trong hoạt động thương mại liên quan đến việc nhập khẩu tôm của họ vào thị trường Hoa Kỳ đã bị Hoa Kỳ ngăn cản Hoa Kỳ đã dựa vào đạo luật của mình năm 1989 về những loài có nguy cơ tuyệt chủng, Hoa Kỳ yêu cầu các nước nhập khẩu tôm phải chứng minh được các công cụ đánh bắt tôm phải đảm bảo an toàn đối với loài rùa Vụ kiện này đã chỉ ra vấn đề đáng lo ngại trong WTO thời điểm đó, đó là việc phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu dựa trên phương pháp sản xuất (PPP) là không phù hợp với Luật của WTO

Sự việc đã phải đưa ra ban hội thẩm của WTO và đã đi đến kết luận Hoa Kỳ đã vi phạm điều khoản chống lại sự hạn chế định lượng của GATT (thuộc phần 11) Sau đó Hoa Kỳ đã phản ứng quyết liệt trọng tâm dựa vào điều XX của GATT Ban Phúc thẩm của WTO cuối cùng đã kết luận rằng, Cơ quan Phúc thẩm của WTO quyết định cuối cùng xác định rằng trong khi luật pháp Hoa Kỳ cấm nhập khẩu tôm được khai thác theo phương pháp không sử dụng "thiết bị loại trừ rùa" là điều hợp lý theo Điều XX, tuy nhiên, lệnh cấm naày đã được thực hiện theo cách phân biệt đối xử Nói cách khác, Cơ quan Phúc thẩm đã không yêu cầu Hoa Kỳ tháo dỡ luật pháp của nó, nhưng chỉ yêu cầu Hoa Kỳ thay đổi cách thực hiện Luật Tuy nhiên, quyết định đặc biệt gây lo ngại đối với Thái Lan, Ấn Độ và một số nước đang phát triển khác bởi vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến thủy sản nhập khẩu của các quốc gia này vào Hoa Kỳ Các quốc gia này cho rằng phán quyết cho phép các Thành viên phân biệt đối xử với các sản phẩm dựa trên PPM - một vấn đề chưa được đàm phám tại Vòng đàm phán Uruguay Theo quan điểm của các quốc gia này, quyết định của Tôm-Rùa có thể được hiểu là cho phép các Thành viên được thực hiện các hành

Ngày đăng: 09/05/2021, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hồ Trung Thanh, 2007, Các quy định, tiêu chuẩn môi trường đối với các mặt hàng thủy sản, nông sản, mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu, mặt hàng dệt may và da giầy. Đề xuất các giải pháp giúp doanh nghiệp đáp ứng các quy định tiêu chuẩn môi trường và tăng trưởng xuất khẩu bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định, tiêu chuẩn môi trường đối với các mặt hàng thủy sản, nông sản, mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu, mặt hàng dệt may và da giầy. Đề xuất các giải pháp giúp doanh nghiệp đáp ứng các quy định tiêu chuẩn môi trường và tăng trưởng xuất khẩu bền vững
Tác giả: Hồ Trung Thanh
Năm: 2007
3. Nguyễn Doãn Thị Liễu, 2001, “Các quy định pháp luật về môi trường trong tiến trình hội nhập với các tổ chức quốc tế: WTO, EU, Hoa Kỳ, APEC, ASEAN và Hiệp định thương mại Việt - Mỹ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật về môi trường trong tiến trình hội nhập với các tổ chức quốc tế: WTO, EU, Hoa Kỳ, APEC, ASEAN và Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
Tác giả: Nguyễn Doãn Thị Liễu
Năm: 2001
4. Nguyễn Thanh Hưng, 2004, Các vấn đề môi trường trong các Hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và các giải pháp xử lý những vấn đề đặt ra đối với ngành thương mại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề môi trường trong các Hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và các giải pháp xử lý những vấn đề đặt ra đối với ngành thương mại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Hưng
Năm: 2004
5. Nguyễn Thế Chinh, 2005, Nghiên cứu một số trường hợp tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam và trên thế giới. Đề xuất giải pháp và cơ chế giải quyết tranh chấp cho hoạt động thương mại của Việt Nam trong thời gian tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số trường hợp tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam và trên thế giới. Đề xuất giải pháp và cơ chế giải quyết tranh chấp cho hoạt động thương mại của Việt Nam trong thời gian tới
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh
Năm: 2005
6. Nguyễn Văn Lịch, 2007, Xây dựng hệ thống tài liệu về các vấn đề thương mại- môi trường liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống tài liệu về các vấn đề thương mại- môi trường liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 2007
7. Trần Hoàn và David Luff, 2014, “Nâng cao hiệu quả đàm phán và thực thi các cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường cho Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả đàm phán và thực thi các cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường cho Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàn, David Luff
Năm: 2014
8. Trần Hoàn, 2014, Phát triển thương mại bền vững đáp ứng yêu cầu thực hiện mô hình tăng trưởng xanh của Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thương mại bền vững đáp ứng yêu cầu thực hiện mô hình tăng trưởng xanh của Việt nam
Tác giả: Trần Hoàn
Năm: 2014
9. Trần Hoàn, 2016, Quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường tại Việt nam Việt Nam Những cơ hội và thách thức đối với Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường tại Việt nam Việt Nam Những cơ hội và thách thức đối với Việt nam
Tác giả: Trần Hoàn
Năm: 2016
10. Trần Hoàn, 2016, Xây dựng Đề án tăng cường tham gia các cơ chế hợp tác giải quyết các vấn đề môi trường trong Hiệp định thương mại tự do (FTA).B- Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đề án tăng cường tham gia các cơ chế hợp tác giải quyết các vấn đề môi trường trong Hiệp định thương mại tự do (FTA)
Tác giả: Trần Hoàn
Năm: 2016
1. Hồ Trung Thanh, 2003, Cơ sở khoa học nhằm giải quyết mối quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường để phát triển thương mại bền vững ở Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w