Thông thường, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào, thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MÍNH
TIỂU LUẬN MÔN: LUẬT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
GVHD Nhóm sinh viên
: Th.s Nguyễn Việt Khoa : Nguyễn Minh Chánh
Bùi Thu Thảo Phan Quốc Tuấn Nguyễn Thành Nghĩa Trần Thị Yến Lan
Lớp : VB18ALA01
Trang 2TP.HCM – 2016
I KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm Trọng tài thương mại
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì “Trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”.
Như vậy ta có thể hiểu Trọng tài thương mại là hình thức tài phán mà quyền lực của nó được tạo nên bởi chính các bên trong quan hệ tranh chấp thương mại Tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, pháp luật quy định nguyên tắc loại trừ thẩm quyền của tòa án khi các bên đã lựa chọn trọng tài
2 Các hình thức của trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức, đó là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực
a Trọng tài vụ việc
Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài vụ việc sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp Đây là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất và được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Tuy nhiên quy định của pháp luật các nước về hình thức trọng tài này cũng ở mức độ sâu, rộng khác nhau
Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:
o Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp Theo đó, trọng tài chỉ được thành lập theo thỏa thuận của các bên tranh chấp để giải quyết vụ việc tranh chấp cụ thể giữa các bên Khi giải quyết xong tranh chấp, trọng tài tự chấm dứt hoạt động
o Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào
o Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình, mà quy tắc tố tựng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng
Trang 3Thông thường, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào, thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế.
o Trọng tài vụ việc lần đầu tiên được quy định tại Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 Trước khi ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại, hình thức trọng tài vụ việc mới chỉ được ghi nhận là một phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc Sau khi ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại thì diện mạo của trọng tài vụ việc ở Việt Nam được khắc họa rõ nét
o Trọng tài vụ việc có một số ưu thế hơn trọng tài thường trực như: giải quyết nhanh chóng vụ việc tranh chấp, ít tốn kém; các bên có quyền lựa chọn bất kì trọng tài viên nào trong danh sách trọng tài viên của bất kì trung tâm trọng tài nào…
b Trọng tài thường trực
Ở Việt Nam, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định
Các trung tâm trọng tài có một số đặc trưng cơ bản sau:
o Các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước; nhưng đồng thời vẫn nhận sự hỗ trợ của nhà nước
o Các trung tâm trọng tài được thành lập theo sáng kiến của trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, chứ không phải được thành lập bởi nhà nước Các trung tâm trọng tài không nằm trong hệ thống cơ quan quản lí nhà nước, cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử nhà nước
Hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết Là tổ chức phi chính phủ nhưng các trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lí và hỗ trợ của Nhà nước Nhà nước quản lí đối với các trung tâm trọng tài thông qua việc bạn hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài Ngoài ra, nhà nước còn quản lí thông qua hoạt động quản lí hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
Trang 4việc cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, đăng kí hoạt động của các trung tâm trọng tài.
o Các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau
o Mỗi trung tâm trọng tài là một pháp nhân, tồn tại độc lập và bình đẳng với cac trung tâm trọng tài khác Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới
o Tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ
Cơ cấu của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm Ban điều hành gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm trọng tài và có thể có tổng thư ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm trọng tài
cử Các trọng tài viên trong danh sách trung tâm trọng tài có thể tham giai vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chỉ định
o Mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng
o Mỗi trung tâm trọng tài tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình tùy theo khả năng chuyên môn của đội ngũ trọng tài viên và phải ghi rõ trong điều lệ của trung tâm trọng tài Trong quá trình hoạt động, trung tâm trọng tài có quyền
mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động trên cơ sở sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
o Mỗi trung tâm trọng tài đều có điều lệ riêng, đặc biệt là quy tắc tố tụng riêng được xây dựng căn cứ vào đặc thù về tổ chức, hoạt động của trung tâm
và không trái với quy định của pháp luật về trọng tài thương mại Khi giải quyết tranh chấp, hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất phải tuân thủ quy tắc tố tụng này
Việc xây dựng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường dựa trên cơ
sở là một số bản quy tắc trong tài hay một số công ước quốc tế có liên quan cũng như bản quy tắc tố tụng của một số trung tâm trọng tài quốc tế có uy tín
Hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm Mỗi trung tâm trọng tài đều có danh sách riêng về trọng tài viên của trung tâm Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp chỉ được giới hạn trọng danh sách trọng tài viên của trung tâm Vì vậy, hoạt động
Trang 5xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm.
3 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại
Giải quyết tranh chấp thương lượng bằng hình thức trọng tài thương mại đang là xu hướng giải quyết được nhiều chủ thể lựa chọn bởi tính linh hoạt, nhanh gọn của nó Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại Khi giải quyết tranh chấp, các trọng tài viên và chủ thể lựa chọn
hình thức này cần tuân theo các nguyên tắc sau Theo Điều 4 Luật trọng tài thương
mại 2010 đã quy định rất cụ thể nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài:
a) Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên Nếu thỏa thuận đó
không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội Một trong những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài là các bên có tranh chấp được đảm bảo tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện trong quá trình giải quyết Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết mà trọng tài viên phải tôn trọng, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả là quyết định của hội đồng trọng tài theo bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên
b) Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật Khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại, trọng tài viên phải
thực sự là người thứ ba có đủ các điều kiện nhất định để đảm bảo rằng họ độc lập,
vô tư, khách quan trong việc giải quyết tranh chấp, không liên các quan đến bên tranh chấp cũng như không có bất kì lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó Điều 20 Luật trọng tài thương mại 2010 có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt
có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội Đặc biệt, Luật dành cho các Trung tâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn đối với các Trọng tài viên trong danh sách của mình
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm
2003, Luật trọng tài thương mại 2010 không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm
Trang 6họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Để giải quyết tranh chấp một cách công bằng, hợp lí, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên, trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật Khi giải quyết các tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài, trọng tài viên phải căn cứ vào pháp
Tư tưởng chỉ đạo đối với trọng tài viên là pháp luật, chỉ có căn cứ vào pháp luật, trọng tài viên mới giải quyết được tranh chấp một cách vô tư, khách quan được
c) Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
d) Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Để hạn chế tối đa sự ảnh hưởng tiêu
cực tới uy tín bí mật kinh doanh, giữ cho các bên tranh chấp cơ hội hợp tác thì nguyên tắc của giải quyết tranh chấp thương mại bẳng con đường trọng tài được tiến hành không công khai
e) Nguyên tắc giải quyết một lần và phán quyết trọng tài là chung thẩm.
Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại là nhanh chóng, dứt điểm, tránh dây dưa, kéo dài, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Để các tranh chấp thương mại giữa các nhà kinh doanh được giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, thủ tục trọng tài rất đơn giản, không có nhiều giai đoạn xét xử như tố tụng tại tòa án đã ra đời Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, trọng tài thương mại không có cơ quan cấp trên nên phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm như bản án sơ thẩm của tòa
án và cũng không có thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tố tụng trọng tài chỉ có một trình tự giải quyết, tức là các tranh chấp thương mại chỉ được giải quyết một lần trọng tài
II Thẩm quyền của Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại được thành lập là để giải quyết các tranh chấp thương mại Nhưng tranh chấp thương mại cũng chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại nếu các bên có tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài này có hiệu lực
Trang 7Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền
vụ việc, nếu được các bên có “vụ việc” lựa chọn đích danh Các nguyên tắc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, theo trụ sở hoặc chỗ ở của bị đơn và theo sự thỏa thuận của nguyên đơn không được áp dụng trong tố tụng trọng tài Thẩm quyền của trọng tài không được phân định theo lãnh thổ, vì các bên có tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một tổ chức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho
họ, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như trụ sở của nguyên đơn hay bị đơn, cũng không phân định theo cấp xét xử, vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng không phân định theo sự lựa chọn của nguyên đơn, vì trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết nếu các bên có thỏa thuận trọng tài
Thẩm quyền của Trọng tài thương mại được xét trên hai khía cạnh:
1 Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại phải là tranh chấp thương mại giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh
Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định:
“ Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.”
Theo quy định trên, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp sau đây:
+ Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại: Đối với loại “ tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại ” thì các bên tranh chấp
đó đều phải là các chủ thể tiến hành hoạt động thương mại Luật trọng tài thương mại 2010 không định nghĩa khái niệm hoạt động thương mại, mà sử dụng khái niệm hoạt động thương mại tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”
Trang 8Chủ thể tiến hành hoạt động thương mại trước hết là thương nhân, bao gồm thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài Thương nhân Việt Nam là các chủ thể như được quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005: “ Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.” Còn thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận ( Khoản 1 Điều 16 Luật thương mại 2005 ).
Bên cạnh hoạt động thương mại của thương nhân, hoạt động của các cá nhân dưới hình thức tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” cũng được xem là hoạt động thương mại
Cần chú ý rằng, Luật trọng tài thương mại 2010 không giới hạn thẩm quyền của trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam Vì vậy các bên là thương nhân Việt Nam, thương nhân nước ngoài ( kể cả thương nhân ngoài không hoạt động thương mại tại Việt Nam ) đều có thể thỏa thuận chọn trọng tài theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ cả các hoạt động thương mại diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam
Điều đó tương thích với phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 2005 và đồng thời phù hợp với xu hướng mới trong quan niệm về chủ quyền tư pháp của quốc gia, theo đó trong lĩnh vực luật tư thì luật của một quốc gia có thể được áp dụng cho các quan hệ pháp luật tư được xác lập, thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia
đó nếu các bên giao dịch có thỏa thuận
+ Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại: Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các “ Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại ” Quy định này
mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
Trang 9phát sinh từ hoạt động thương mại giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh, nên trong thực tế các tranh chấp giữa một bên là thương nhân và bên kia không phải là thương nhân đã không được trọng tài giải quyết theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003.
Theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp mà trong đó chỉ cần 1 bên tranh chấp là thương nhân ( thực hiện hoạt động thương mại ) còn các bên còn lại có thể không phải là thương nhân, cũng không phải là cá nhân thực hiện hoạt động thương mại
Như vậy, tranh chấp giữa một thương nhân và các cá nhân, tổ chức không kinh doanh ( có thể bao gồm cả các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của nhà nước ) cũng có thể được giải quyết bởi trọng tài thương mại Trong quan hệ với các bên có hoạt động thương mại thì các bên này có thể đóng vai trò là người tiêu dùng Người tiêu dùng là “ người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ có mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức ” Ví dụ một bên Bệnh viện công ủy thác cho một thương nhân nhập khẩu cho mình một thiết bị y tế là thuộc trường hợp này Các giao dịch này có thể được giải quyết bởi trọng tài thương mại nếu giữa các bên
có một thỏa thuận trọng tài hợp pháp
+ Tranh chấp khác giữa các bên mà phát luật qui định được giải quyết bằng Trọng tài: Đây là quy định mở nhằm bảo đảm các luật ban hành sau này có thể quy định các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đó có thể được giải quyết bằng trọng tài mà không cần phải sữa đổi Luật trọng tài thương mại 2010 Ngoài ra, theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, các tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp cũng có thể giải quyết bằng trọng tài Trước Luật trọng tài thương mại 2010, trên thực tế các tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp không được trọng tài thụ lý giải quyết các tranh chấp này thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại
2 Giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài hợp lệ
2.1 Thỏa thuận trọng tài
Trước hết, có thể hiểu thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại Như vậy, các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước khi có
Trang 10tranh chấp hoặc sau khi có tranh chấp Khác với việc giải quyết tranh chấp tại tòa án – cơ quan tài phán nhà nước, khi có tranh chấp phát sinh, bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm có quyền đệ đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết mà không cần có sự thỏa thuận trước, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của các bên Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài, không có tố tụng trọng tài” Thỏa thuận trọng tài
có thể là một thỏa thuận riêng hoặc là thỏa thuận trong hợp đồng và phải được lập thành văn bản Các hình thức thỏa thuận trọng tài được quy định tại đều 16 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, chi tiết như sau:
Điều 16 Hình thức thoả thuận trọng tài
1 Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng
2 Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận
Ngay cả khi hợp đồng giữa các bên không được thể hiện bằng văn bản thì thỏa thuận trọng tài vẫn phải lập thành văn bản Khi nộp đơn kiện cho trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải nộp kèm theo thỏa thuận trọng tài Nếu không có thỏa thuận trọng tài, trung tâm trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết
2.2 Thỏa thuận trọng tài hợp lệ
Trang 11Thỏa thuận trọng tài hợp lệ là thỏa thuận trọng tài đó không bị vô hiệu Điều này có nghĩa là, ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài nhưng nếu thỏa thuận trọng tài
đó vô hiệu thì trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết
Các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy định tại điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Sau đây, trên cơ sở điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, từ đó kéo theo việc loại trừ thẩm quyền của trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp trong những trường hợp này:
1 Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 Theo điều 2 của Luật Trọng tài thương mại có quy định, tranh chấp chỉ được giải quyết bằng trọng tài thương mại khi Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài Như vậy, ngoài các lĩnh vực được quy đinh trên thì khi phát sinh tranh chấp thì Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết
2 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền
Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu Trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu
3 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự Người xác lập thoả thuận trọng tài là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự Trong trường hợp này thì Tòa án cần thu thập chứng cứ để chứng minh người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự thì phải có giấy
Trang 12tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Tòa án xác định, tuyên bố người đó mất năng lực hành
vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
4 Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010
5 Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.Việc một trong các bên bị lừa dối, đe dọa cưỡng ép trong quá trình thỏa thuận trọng tài được quy định tại điều 4 và điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 chi tiết như sau:
Điều 4 Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận
Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.
Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên
và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.
Điều 132 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.
6 Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật Những điều cấm của pháp luật được quy định tại điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005, chi tiết như sau:
Điều 128 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Trang 13Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
III So sánh giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại và Tòa án
1 Khái niệm và đặc điểm của tố tụng trọng tài.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện
Cũng như thủ tục tố tụng tòa án, trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh trọng tài cũng phải tuân theo các trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật quy định, từ việc khởi kiện, xét xử, thi hành phán quyết trọng tài, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia,… Đây chính là thủ tục tố trọng tài Nói cách khác, tố tụng trọng tài được hiểu là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng trọng tài
Tố tụng trọng tài nhìn chung có các đặc điểm cơ bản sau :
- Trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, một tổ chức mang tính chất xã hội – nghề nghiệp, hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài
- Tố tụng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán
Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận
- Tố tụng trọng tài đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt của mình một cách cao nhất, các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên, quyền lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, lựa chọn quy tắc tố tụng…
- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất cứ cơ quan, tổ chức nào Về nguyên tắc, trọng tài không xét xử công khai,
Trang 14do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần thiết.
- Quy tắc tố tụng trọng tài của các quốc gia rất khác nhau, nhưng nhìn chung quy tắc lựa chọn trọng tài viên và thủ tục của hầu hết các trung tâm trọng tài trên thế giới đều theo khuôn mẫu của Quy tắc trọng tài mẫu UNCITRAL
- Trọng tài thương mại của các nước trên thế giới chủ yếu tồn tại dưới hai dạng cơ bản :
· Trọng tài vụ việc (Trọng tài Ad – hoc) là hình thức trọng tài được lập
ra để giải quyết những tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết xong tranh chấp đó.Đặc điểm cơ bản của trọng tài vụ việc là không có trụ sở, không
có bộ máy giúp việc và không lệ thuộc vào bất cứ một quy tắc xét xử nào Về
nguyên tắc, các bên đương sự khi yều cầu trọng tài Ad-hoc xét xử có quyền lựa chọn thủ tục, các phương thức tiến hành tố tụng
· Trọng tài thường trực (còn gọi là quy chế) là những trọng tài có hình thức tổ chức, có trụ sở ổn định, có danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều
lệ riêng Phần lớn các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín trên thế giới đều được thành lập theo mô hình này dưới các tên gọi như Trung tâm trọng tài, Ủy ban trọng tài, Viện trọng tài, Hội đồng trọng tài quốc gia và Quốc tế Trọng tài thường trực có quy chế tố tụng riêng và được quy định rất chặt chẽ Về cơ bản, các đương sự không được phép lựa chọn thủ tục tố tụng
2 Sự khác nhau cơ bản giữa tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài.
Tòa án và trọng tài đều là những hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, chúng đóng vai trò một bên trung lập với các bên trong quan hệ tranh chấp Hoạt động giải quyết tranh chấp của tòa án và trọng tài có điểm giống nhau và có thể phân biệt với các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh khác đó là chúng căn cứ vào pháp luật và hợp đồng của các bên trong quan hệ tranh chấp, xem xét sự thật vụ án và độc lập ra phán quyết, phán quyết này được đảm bảo thi hành Vì chúng có thẩm quyền xem xét và ra phán quyết cho nên thủ tục tố tụng của tòa án
và trọng tài rất chặt chẽ và được pháp luật quy định Thủ tục tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài đều dựa trên những nguyên tắc chung như : tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, đảm bảo sự độc lập của người tài phán, … Tuy nhiên, vì đây
Trang 15là hai hình thức giải quyết tranh chấp độc lập, cho nên giữa tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài cũng có những sự khác biệt cơ bản sau đây :
Một là : Về tính chất pháp lý.
Giữa tòa án và trọng tài có sự khác biệt rất rõ về tính chất pháp lý của mỗi loại cơ quan này Tòa án là một cơ quan nhà nước nằm trong hệ thống cơ quan tư pháp Trong quá trình tố tụng, tòa án nhân danh Nhà nước để xem xét, xử lý vi phạm pháp luật nhằm duy trì trật tự công cộng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh Trong khi đó, các trung tâm trọng tài đều tồn tại với
tư cách là một tổ chức phi chính phủ, một tổ chức mang tính chất xã hội – nghề nghiệp Tính phi chính phủ của trọng tài thương mại thể hiện ở chỗ, các trung tâm trọng tài không do Nhà nước quyết định thành lập mà do các trọng tài viên thỏa thuận xin phép Nhà nước để được thành lập, các trung tâm trọng tài thương mại không nằm trong cơ cấu thiết chế nào của bộ máy Nhà nước và cũng không phải là một cơ quan xét xử của Nhà nước mà là một tổ chức xã hội nghề nghiệp Trọng tài được thành lập nhằm cung cấp cho các nhà kinh doanh một cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh nhanh chóng, đơn giản, thuận tiện phù hợp với tâm lý của nhà doanh nghiệp Chính sự khác biệt cơ bản này giữa tòa án và trọng tài đã quyết định
sự các sự khác biệt khác trong thủ tục tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài, ví dụ như tính chất, mục đích, trình tự, thủ tục,…
Hai là : Về thẩm quyền.
Thẩm quyền theo vụ việc : dưới góc độ thẩm quyền theo vụ việc, thực tế cho thấy tòa án thường có thẩm quyền rộng hơn so với trọng tài Tòa án có thẩm quyền giải quyết hầu hết tất cả các tranh chấp trong kinh doanh Trong khi đó, khác với tòa
án, thẩm quyền của trọng tài có thể thay đổi, hoặc thu hẹp lại tùy theo từng trung tâm trọng tài
Thẩm quyền theo lãnh thổ : Đối với tòa án, không phải vụ tranh chấp trong kinh doanh nào cũng được tòa thụ lý giải quyết Đơn kiện chỉ được tòa án thụ lý giải quyết khi được chuyển đến tòa án có thẩm quyền giải quyết Ngược lại, trong tố tụng trọng tài không đặt ra vấn đề thẩm quyền về mặt lãnh thổ Các bên tranh chấp
có quyền lựa chọn bất cứ trung tâm trọng tài nào để giải quyết cho mình theo ý muốn và sự tín nhiệm của họ Khi tranh chấp đã được các bên thỏa thuận đưa ra