1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ CẤU THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

20 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 645,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ CẤU THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM Nguyễn Ngọc Anh - Tô Trung Thành Bài viết này nghiên cứu cơ cấu xuất nhập khẩu cơ cấu hàng hóa, cơ cấu chủ thể, cơ cấu thị trường đ

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ CẤU THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Ngọc Anh - Tô Trung Thành

Bài viết này nghiên cứu cơ cấu xuất nhập khẩu (cơ cấu hàng hóa,

cơ cấu chủ thể, cơ cấu thị trường) để đánh giá tổng thể về thương mại quốc tế trong những năm qua, từ đó nhận định được những thách thức chính của ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn sắp tới

Diễn biến khái quát thương mại quốc tế

Việt Nam đã thực hiện một loạt các cải cách trong lĩnh vực kinh tế

kể từ sau Đổi mới (1986) Đối với thương mại quốc tế, cải cách được thể hiện ở việc giảm thuế và dỡ bỏ các hàng rào thương mại, tham gia các liên minh thuế quan trong khu vực và trên thế giới Đối với thuế quan, Việt Nam đã thực hiện quá trình giảm thuế đáng kể sau khi tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như các hiệp định hợp tác song phương và đa phương

khác Theo cam kết với WTO, Việt Nam phải giảm mức thuế nhập khẩu

bình quân đơn giản xuống 11,4% nhưng thuế bình quân năm 2010 đã đạt mức thấp hơn 9,8% Đối với ngành nông nghiệp được bảo hộ nhiều nhất, Việt Nam cũng đã cắt giảm thuế nhỏ hơn yêu cầu của WTO (17%

và 18.5%)94 Đối với ngành công nghiệp cũng cắt giảm thuế tối đa từ

mức 16,2% xuống 8,7% Theo cam kết với ASEAN, Việt Nam tiếp tục

thực hiện CEPT giai đoạn 2008-2013 với một số điều chỉnh, bao gồm đẩy nhanh việc giảm thuế cho 1600 dòng sản phẩm hải sản, dệt may, sản phẩm công nghệ thông tin về mức 0% vào năm 2012 Đối với một

số dòng sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm, thuế sẽ được giảm từ mức 20-10% xuống 10-5% Thuế suất bình quân sẽ chỉ còn 1.88%, 1,77%

và 1,69% trong các năm 2012, 2013, và 2014 Theo cam kết ASEAN -

94 http://stat.wto.org/TariffProfile/WSDBTariffPFView.aspx?Language=E&Country=VN

Trang 2

Trung Quốc, Việt Nam cam kết đưa 3.700 dòng thuế trong 8.900 dòng

thuế trong bảng MFN về mức thấp hơn 5% so với mức thuế MFN Đáng chú ý khoảng 600 dòng thuế với các nhóm hàng nhạy cảm sẽ giảm về

mức MFN vào gia đoạn 2015-2018 Theo cam kết ASEAN- Hàn Quốc,

việc cam kết giảm thuế sẽ được thực hiện kể từ năm 2015 trở đi Đối với các biện pháp phi thuế quan, về hạn ngạch xuất nhập khẩu, Việt Nam đã từng bước dỡ bỏ hạn ngạch tuyệt đối và chuyển sang dùng hạn ngạch thuế quan, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn vào năm 2015 Các biện pháp về vệ sinh dịch tễ (SPSs) và hàng rào kĩ thuật (TBTs) được sử dụng thường xuyên hơn trong ngắn hạn dưới dạng giấy phép xuất khẩu, đặc biệt trong năm 2011, với mục tiêu bình ổn kinh tế vĩ mô và bảo hộ sản xuất trong nước

Bảng 1 Diễn biến cán cân thương mại giai đoạn 1996-2012

Năm

Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại

Độ mở thương mại (XK+NK)/GDP

tr USD,

FOB %GDP triệu USD, CIF %GDP tr USD %GDP

1996 7.255,9 29,43 11.143,6 45,19 -3.887,7 -15,77 74,62

1997 9.185,0 34,22 11.592,3 43,18 -2.407,3 -8,97 77,40

1998 9.360,3 34,40 11.499,6 42,26 -2.139,3 -7,86 76,66

1999 11.541,4 40,24 11.742,1 40,94 -200,7 -0,70 81,17

2000 14.482,7 46,56 15.636,5 50,16 -1.153,8 -3,70 96,62

2001 15.029,2 45,98 16.218 49,62 -1.188,8 -3,64 95,60

2002 16.706,1 47,64 19.745,6 56,31 -3.039,5 -8,67 103,96

2003 20.149,3 50,94 25.255,8 63,85 -5.106,5 -12,91 114,80

2004 26.485.,0 58,30 31.968,8 70,37 -5.483,8 -12,07 128,67

2005 32.447,1 61,32 36.761,1 69,47 -4.314,0 -8,15 130,79

2006 39.826,2 65,38 44.891,1 73,70 -5.064,9 -8,31 139,08

2007 48.561,4 68,38 62.764,7 88,38 -14.203,3 -20,00 156,76

2008 62.685,1 68,81 80.713,8 88,60 -18.028,7 -19,79 157,42

2009 57.096,3 58,75 69.948,8 71,98 -12.852,5 -13,23 130,73

2010 72.236,7 67,87 84.838,6 79,72 -12.601,9 -11,84 147,59

2011 96.905,7 78,40 106.749,9 86,37 -9.844,2 -7,96 164,77

2012 114.631,0 80,71 114.347,0 80,91 284 0,20 161,63

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Trang 3

Với chính sách thương mại có nhiều cải cách theo hướng dỡ bỏ các rào cản thương mại, hướng đến tự do hóa thương mại, trong hơn một thập niên qua, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có mức tăng trưởng ấn tượng Giá trị xuất khẩu/GDP tăng từ 46% năm 2001 lên tới 80,7% năm 2012, nhập khẩu/GDP tăng từ 49% lên đến 80,9% trong cùng thời kỳ, khiến tổng giá trị thương mại/GDP tăng từ dưới 100% lên đến 161,63%, thể hiện độ mở rất lớn của nền kinh tế, và là mức rất cao

so với Trung Quốc và một số nước ASEAN

Tuy nhiên, trước năm 2011, do tốc độ tăng nhập khẩu nhanh hơn nhiều so với xuất khẩu, cán cân thương mại thâm hụt lớn Nhập siêu bắt đầu được coi là nghiêm trọng kể từ năm 2003, khi đạt mức 12,9% GDP, và đặc biệt căng thẳng vào năm 2008 (ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO), với mức thâm hụt tới 14,1 tỷ USD, tức gần 20% GDP và

tỷ lệ này tiếp tục duy trì ở các năm tiếp theo Nếu giai đoạn 2001-2005, nhập siêu trung bình ở mức 9,1% GDP thì giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010), nhập siêu đã tăng tới 14,7% GDP95, và ở mức gần 8% GDP trong năm 2011 Trong khi đó, Trung Quốc và các nước ASEAN như Indonesia, Thái Lan hay Malaysia đều có thặng dư thương mại, thậm chí ở mức rất cao (như Malaysia 22% GDP)

Nếu như năm 2011, nhập siêu vẫn ở mức 9,8 tỷ USD (gần 8% GDP) thì đến năm 2012, nền kinh tế đã xuất siêu 284 triệu (tương đương 0.2% GDP), Việt Nam đạt thặng dư thương mại lần đầu tiên trong vòng 20 năm (kể từ năm 1993) Nguyên nhân chủ yếu là do suy giảm sản xuất

và tiêu dùng trong nước khiến nhu cầu nhập khẩu giảm tốc, tốc độ tăng chỉ dừng lại 6,6% (với chỉ số giá nhập khẩu giảm 0,33%), so với tốc độ tăng 25,83% của năm 2011 (với chỉ số giá nhập khẩu tăng 20,2%), theo

đó, tốc độ tăng thực tế là tương đương năm 2011, so với con số tăng thực tế trung bình ước tính cho giai đoạn 2005-2010 (loại bỏ năm 2009 trong giai đoạn suy thoái) là 17,3% Trong khi đó, sự gia tăng đột biến

95 Tình trạng còn căng thẳng hơn nếu loại bỏ vàng ra khỏi cán cân thương mại hàng hóa Trong hai năm 2009 và 2010, Việt Nam xuất siêu 2,24 tỷ và 1,72 tỷ USD vàng (được ghi là vàng phi tiền tệ trong thống kê của TCTK) Nếu loại trừ vàng thì nhập siêu hàng hóa trong hai năm này lên đến 15,1 tỷ USD và 14,3 tỷ USD (chiếm 15,5% và 13,5% GDP).

Trang 4

của mặt hàng điện thoại, máy vi tính và linh kiện (chủ yếu từ nhà sản xuất Samsung) đã khiến tốc độ tăng xuất khẩu duy trì ở mức cao 18,2% mặc dù chỉ số giá xuất khẩu giảm 0,54% Diễn biến tám tháng đầu năm

2013 cũng cho thấy xu hướng nói trên Tính chung tám tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 84,8 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước, trong khi kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 85,4 tỷ USD, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, theo đó, nhập siêu tám tháng đầu năm năm 2013 là 577 triệu USD

Hình 1 Tốc độ tăng giá trị xuất nhập khẩu và chỉ số giá xuất nhập khẩu (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu

Xét theo tiêu chuẩn ngoại thương, xuất khẩu của Việt Nam đã có

xu hướng giảm dần tỷ trọng các mặt hàng thô hoặc mới sơ chế (từ nhóm

1 đến 5 theo tiêu chuẩn SITC) Nếu như năm 1995, tỷ trọng của các nhóm hàng này chiếm tới xấp xỉ 70% thì tới năm 2010 đã giảm xuống dưới 40% Xuất khẩu cũng có sự dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng sản phầm nông, lâm, thủy sản và tăng dần tỷ trọng sản phẩm hàng công nghiệp Năm 1996, sản phẩm nông, lâm thủy sản chiếm hơn 40% tổng giá trị xuất khẩu thì đến năm 2012 con số này đã giảm một nửa (20,8%) Cùng với đó là sự tăng nhanh chóng của hàng hóa chế biến công nghiệp như điện thoại và linh kiện, điện tử máy tính, dệt may, da giày

Trang 5

Hình 2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo SITC

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Hình 3 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo nhóm hàng, 2000-2011

Nguồn: WITS, 2013.

Tuy nhiên, khi so sánh với một số nước trong khu vực như Trung Quốc và ASEAN, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn thiên về các mặt hàng thô sơ hoặc mới sơ chế So với Trung Quốc và Malaysia, tỷ trọng hàng xuất khẩu là máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng của Việt Nam thấp hơn rất nhiều và chỉ tương đương với Indonesia Thay vào đó, Việt Nam vẫn có thế mạnh trong xuất khẩu lương thực thực phẩm, đặc biệt là lúa gạo, so với các nước trong khu vực, với tỷ trọng nhóm hàng hóa này chiếm tới 20% tổng giá trị xuất khẩu

Trang 6

Hình 4 Cơ cấu xuất khẩu các nước theo tiêu chuẩn SITC giai đoạn 2006-2010

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thống kê quốc gia Trung Quốc,

BPS-Thống kê Inđônêxia, Cục BPS-Thống kê Malaixia.

Bên cạnh việc xem xét cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo các nhóm hàng, phân tích cơ cấu thương mại theo hàm lượng công nghệ để làm rõ cấu trúc sản xuất và xuất khẩu, qua đó cho thấy sự chuyển dịch để theo đuổi lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu Trong

10 năm qua, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các loại hàng hóa cơ bản và có hàm lượng công nghệ thấp Tỷ trọng dầu thô xuất khẩu đã giảm hơn một nửa (từ khoảng 25% năm 2000 xuống còn xấp xỉ 10% trong năm 2011), trong khi các loại hàng hóa cơ bản hầu như giữ nguyên tỷ trọng Nhóm hàng hóa có hàm lượng công nghệ thấp, và dựa trên tài nguyên không có thay đổi nhiều về tỷ trọng, lần lượt ở mức 30% và 10% Sự đóng góp của nhóm hàng hóa công nghệ cao và trung bình có sự cải thiện nhỏ trong tổng lượng hàng hóa xuất khẩu Cụ thể, nhóm hàng hóa công nghệ cao

đã tăng từ 5% năm 2000 đến khoảng 10% trong năm 2011 Sự chuyển dịch này phần nào chứng tỏ cơ cấu các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng đã có cải thiện nhất định trong thập kỷ qua

Hình 4 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hàm lượng công nghệ, 2000-2011

Nguồn: WITS, 2013

Trang 7

Khi so sánh với một số quốc gia trong Bảng 2 dưới đây (chỉ tính với hàng hóa xuất khẩu công nghiệp), sau 10 năm, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam dường như cùng chiều hướng với Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng tỏ ra khác hẳn so với một số nước ASEAN Với Trung Quốc, nhóm hàng công nghệ thấp và dựa vào tài nguyên trong cơ cấu xuất khẩu đã giảm gần 15% trong từ năm 2000 đến 2010, trong khi đó, Ấn Độ cũng giảm khoảng 10% trong cùng thời kỳ Đối với các nước ASEAN nói chung, nhóm hàng trên lại tăng lên đến 10% (từ 30.61% năm 2000 lên 40.91% năm 2010) Nhóm hàng có hàm lượng công nghệ trung bình đều có sự cải thiện ở hầu hết các nước Ngoài ra, trong khi Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ xuất khẩu nhiều hơn nhóm hàng hóa công nghệ cao thì Indonesia, Thái Lan và các nước ASEAN có xu hướng giảm tỷ trọng nhóm hàng này

Bảng 2 So sánh cơ cấu xuất khẩu Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN

2000 2010 2000 2010 2000 2010 2000 2010 2000 2010 2000 2010 Dựa vào tài nguyên 13.87 12.58 9.15 8.26 34.42 45.42 15.81 26.48 33.73 49.72 18.54 23.50 Công nghệ thấp 64.67 59.43 45.36 31.22 46.90 26.33 14.80 14.43 31.88 21.23 21.86 14.68 Công nghệ trung bình 10.32 13.79 24.29 28.33 13.34 20.34 20.75 25.53 19.53 22.41 27.16 39.23 Công nghệ cao 11.14 14.19 21.20 32.19 5.34 7.90 48.64 33.57 14.87 6.64 32.43 22.59

Nguồn: WITS, 2013.

Tuy nhiên, xu hướng trên chưa mạnh mẽ và có nhiều đột phá Hàm lượng công nghệ xuất khẩu Việt Nam chủ yếu là công nghệ thấp (khoảng 60% và 12-13% ngành sử dụng công nghệ cao) và hầu như

ít thay đổi trong hơn thập niên qua Trong khi đó các nước như Trung Quốc, và một số nước ASEAN thì tỷ trọng ngành sử dụng công nghệ cao đã lên tới trên 30% Điều này phản ánh sự tụt hậu của Việt Nam so với các nước khác trong việc xác lập năng lực cạnh tranh

Trong thực tế, Việt Nam đã có chủ trương nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế nói chung, đối với các mặt hàng xuất khẩu nói riêng Mục tiêu của Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế giai đoạn 2013-2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đặt mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những mục tiêu đầu tiên bên cạnh mục tiêu nâng cao

Trang 8

năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp Trong thời gian qua, chủ trương nâng cao năng lực cạnh tranh thể hiện rõ nét nhất qua các chính sách công nghiệp, nhằm nâng cao hàm lượng công nghệ trong các mặt hàng, phát triển hoạt động sản xuất chế tạo, đặc biệt đối với các mặt hàng xuất khẩu Theo một nghiên cứu gần đây, từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã xây dựng khoản 80 chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể và kế hoạch cho các ngành công nghiệp (Kim và Nguyen, 2011) với nội dung các chính sách trong từng giai đoạn được thể hiện trong biểu

đồ dưới

Biểu đồ 1 Chính sách phát triển ngành công nghiệp

Nguồn: Kim và Nguyen, 2011.

Những chính sách công nghiệp trên đã có ảnh hưởng tích cực tới năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, thể hiện qua

sự tăng lên về xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh CIP toàn cầu Năm

2009, Việt Nam đứng thứ 58, tiến lên được 14 bậc chỉ trong vòng bốn năm và trở thành một trong những nước tiến bộ nhất trên thế giới Tăng trưởng giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo của Việt Nam tăng đáng kể

từ 5,8 tỷ USD năm 2000 lên 15,4 tỷ USD năm 2009

Trang 9

Hình 5 Giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo của Việt Nam và ASEAN,

2000-2009 (tỷ USD)

Nguồn: Chỉ số phát triển Thế giới.

Tuy nhiên, xét về cơ cấu hàng xuất khẩu, Việt Nam thặng dư thương mại đối với nhóm các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ thấp trong khi thâm hụt thương mại đối với nhóm các sản phẩm chế tạo sử dụng công nghệ trung bình và cao96 So với các nước trong khu vực, tỷ trọng của ngành sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng giá trị gia tăng sản phẩm chế tạo chỉ khoảng trên 20% và không thay đổi trong những năm gần đây Trong khi các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ thấp và thâm dụng lao động chủ yếu là cụm công nghiệp dệt may,

da giày chiếm chủ yếu Điều này cho thấy các chính sách phát triển công nghiệp, gia tăng hàm lượng công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh chưa đạt được thành tựu trong nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghệ của sản phẩm chế tạo xuất khẩu

Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu

Nhập khẩu Việt Nam vẫn chủ yếu là nhập khẩu tư liệu sản xuất, bao gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và nguyên nhiên vật liệu Tỷ lệ này luôn chiếm trên 90% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu, keo dài liên tục trong các năm mà không có dấu hiệu thay đổi Phần lớn các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là mặt hàng gia công, bởi thế khi xuất khẩu tăng cũng đồng nghĩa với nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu cũng tăng theo Xét theo tiêu chuẩn ngoại thương (SITC), nhập

96Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp 2011.

Trang 10

khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng có sự khác biệt tương đối với một số nước trong khu vực Nếu như trong xuất khẩu, so với Trung Quốc hay Malaysia, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các hàng hóa thô hoặc mới sơ chế thì trong nhập khẩu lại ngược lại, Việt Nam chủ yếu phải nhập các máy móc, phương tiện vận tải, và đặc biệt là hàng hóa chế biến và các hóa chất trong nước không thể sản xuất được

Hình 6 Cơ cấu nhập khẩu phân theo nhóm hàng

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Hình 7 Cơ cấu hàng nhập khẩu theo SITC các nước giai đoạn 2006-2010

Nguồn: Tổng cục Thống kê; Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc; BPS- Thống

kê Inđônêxia; Cục Thống kê Malaixia.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam phần lớn là dành cho nguyên liệu đầu vào, thiết bị, phụ tùng và máy móc phục vụ sản xuất trong nước, có xu hướng ngày càng gia tăng cả về trị giá và tỷ trọng trong cơ cấu hàng nhập khẩu là

do thực trạng phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam97 chưa

97 Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 22/2/2011 Về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ trong đó quy định rõ các ngành hàng công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng.

Ngày đăng: 25/04/2018, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w