Để cộng đồng xã hội có thể hiều và tôn trọng những người thuộc cộng đồng LGBT tôi đã quyết định chọn đề tài “ Đăc điểm và phân biệt đối xử đối với người động tính tại Việt Nam” đề tài nà
Trang 1Mở đầu
Mặc dù trong những năm gần đây, xã hội Việt Nam đã có cái nhìn thoáng hơn về cộng đồng người đồng tính ( LGBT) Tuy nhiên xuất phát từ những quan điểm sai lầm rằng đổng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần, là những biểu hiện lệch lạc
về tâm lí, lối sống tha hóa mà xã hội đã dành cho người đồng tính, biểu hiện những hành động như chế giễu, ghê sợ, phân biệt đối xử, thù hằn, bạo lực, xa lánh và thậm chí là cô lập Trước hoàn cảnh như thế nhiều năm nay họ đã đấu tranh khá mạnh mẽ cho chính quyền lợi, quyền được làm một con người bình thường như bao người khác Vì Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khẳng định rằng đồng tính hoàn toàn không phải là bệnh, vậy nên đồng tính không thể “chữa”, không cần
“chữa” và cũng không thể làm cách nào thay đổi được Vì vậy, xã hội cần có cái nhìn cởi mở và tôn trọng họ hơn Để cộng đồng xã hội có thể hiều và tôn trọng những người thuộc cộng đồng LGBT tôi đã quyết định chọn đề tài “ Đăc điểm và phân biệt đối xử đối với người động tính tại Việt Nam” đề tài này được tổng quan qua một số tài liệu nhằm khẳng định LGBT họ cũng sống và làm việc giống một con người bình thường, nhưng lại không được thừa nhận quyền làm người và phải sống một cuộc sống lo âu, sợ hãi
Trang 2Chương 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH
1.1 Một vài khái niệm
a) Giới là gì?
Giới là mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội Giới không chỉ ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân mà nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ ( tính tập thể ) Quan hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội Những yếu tố này ảnh hưởng tới sự thay đổi mối quan hệ giới trong xã hội tùy thuộc vào
sự vận động và phát triển của chính các quan hệ xã hội Cụ thể là các quan hệ có liên quan tới các vấn đề dân tộc, gia cấp, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, phong tục và tập quán.1
b) Giới tính là gì?
Giới tính là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn sinh vật học dùng để chỉ
sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ Đó là sự khác biệt phổ thông và không thể thay đổi được ( Mọi người đàn ông đều có những đặc điểm chung về giới tính
và mọi người phụ nữ đều có đặc điểm chung về giới tính Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính và đặc điểm này tồn tại trong suốt cuộc đời ( tính bất biến ).2
c) Androgyne
Được cấu tạo từ hai yếu tố của tiếng Hy Lạp cổ andr- (nam) và gunē (nữ), androgyne dùng để chỉ người có thần thái của cả nam và nữ nhưng không tự phân loại mình là nam hay nữ Theo Thần thoại Hy Lạp thì thế gian có 3 giới tính: nam-nam đến từ mặt trời, nữ-nữ đến từ trái đất và nam-nam-nữ đến từ mặt trăng Cả ba giới
1 Lê Thị Quý “ xã hội học về giới” Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
2 Lê Thị Quý “ xã hội học về giới” Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
Trang 3này liên kết tranh giành quyền lực với các Thần và thất bại Vì thế thần Dớt (Zeus)
đã quyết định cắt cả 3 giới làm đôi và sai Thần Apollo chỉnh sửa vết cắt cho nhỏ lại
để chỉ còn hình cái rốn như hình dạng con người chúng ta thấy ngày nay Đây cũng
là lý giải cổ xưa nhất về khái niệm song tính & lưỡng tính (Androgyny)
d) Androgyny
Được sử dụng nhiều trong giới thời trang thiết kế, androgyny là phong cách thời trang “lưỡng lưỡng” kiểu unisex, thể hiện cả hai giới trong cùng một con người Tiên phong từ những năm 1900, nhà thiết kế thời trang Paul Poiret và Coco Chanel
đã đưa concept androgyny vào những bộ trang phục nam tính dành cho phái nữ và nhận được nhiều phản hồi tích cực từ công chúng
e) Andro
Một số lesbian không muốn phân loại mình là butch hay femme thì sẽ tự gọi mình là andro, nôm na là vẫn ngoại hình nữ giới nhưng sẽ muốn mang vai trò của nam giới
f) Asexual
Một xu hướng tính dục mà nói chung là không bị hấp dẫn tình dục đối với cả nam lẫn nữ Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là người asexual không quan hệ tình dục
g) Bản dạng giới (Gender identity)
Còn được gọi là nhân dạng giới tính, giới tính tự xác định của một người sau khi người đó trưởng thành và có đủ hiểu biết về bản thân Bản dạng giới có thể giống hoặc khác với giới tính sẵn có lúc sinh ra (assigned sex at birth)
h) BDSM
Trang 4Từ tiếng Anh viết tắt của Bondage and Discipline, Dominance and Submission, Sadism and Masochism, chỉ chung các hành vi đối xử qua lại lẫn quan hệ tình dục giữa hai người, thường mang tính chất kích thích, khêu gợi và khác với quan niệm phổ biến của xã hội về QHTD BDSM không nhất thiết phải là làm khổ nhau hay tra tấn lẫn nhau
i) Bisexual
Chỉ người có chiều hướng bị hấp dẫn tình dục đối với cả nam và nữ Bisexual nói chung hàm ý khuynh hướng tình cảm cá nhân chứ không nói về ngoại hình, hành
vi hay vai trò của một người trong mối quan hệ
j) Demisexual (tạm dịch: Người khuyết tính)
Thuật ngữ này nằm giữa người vô tính và người toàn tính Chỉ những người không bị hấp dẫn tình dục với bất kỳ loại giới tính nào Họ chỉ có thể cảm thấy thu hút với người đã có mối liên kết cảm xúc rất chặt chẽ với họ, và người này có thể thuộc bất kỳ giới tính nào
k) Ex-gay
Còn được gọi là cựu đồng tính hay người từng là đồng tính luyến ái Ex-gay là một thuật ngữ đang gây tranh cãi dùng để chỉ những người đã từng nhận mình là người đồng tính nhưng hiện tại xác định họ không còn là đồng tính nữa
l) Intersex (Giao tính)
Chỉ những người có đặc điểm thể lý, khuynh hướng tính dục không khớp với quan niệm chung về nam, nữ của xã hội Trạng thái Intersex bao gồm những hiện tượng như khác biệt bẩm sinh ở bộ phận sinh dục, khác biệt về kiểu gene, kiểu hình nhiễm sắc thể, loạn sinh tuyến sinh dục v.v…
m) Khuynh hướng tình cảm
Trang 5Là cảm giác bị hấp dẫn, cuốn hút đối với người khác Khuynh hướng tình cảm của một người có thể linh hoạt thay đổi theo từng giai đoạn trưởng thành, trải nghiệm cuộc sống Người ta sử dụng nhiều tên gọi khác nhau để mô tả khuynh hướng tình cảm Một số loại tình cảm thường thấy là: bị hấp dẫn bởi yếu tố lãng mạn (romantic), hấp dẫn về mặt tình dục (sexual), hấp dẫn về mặt xúc giác (sensual), về mặt thẩm mĩ (aesthetic), về mặt trí tuệ (intellectual), hấp dẫn kiểu thương mến nhưng không chứa tình dục (platonic)…
1.2 Đặc điểm của người đồng giới
Phần lớn người đàn ông có quan hệ là QHĐT thường không nhận mình là người đồng tính Họ vẫn sống, kết hôn và có con cái bình thường MSM ( nam có quan
hệ tình dục đồng giới) xảy ra ở mọi lứa tuổi, từng khu vực khác nhau và trình độ
học vấn khác nhau.Trên thực tế, những người quan hệ tình dục đồng giới có tồn tại
ở vùng nông thôn Việt Nam và tương đối dễ tiếp cận, nhưng vấn đề là hầu hết là họ
có khuynh hướng tình dục và hành vi tình dục của mình chứ không lộ diện như nhiều người đồng tính ở đô thị
MSM có khả năng giao tiếp tốt, thường lựa chọn công việc là trang điểm, kinh doanh hoặc làm công chức nhà nước, MSM đa số sống độc thân, không kết hôn và thường sống với gia đình đặc biệt là sống với ba mẹ Tổ chức Y Tế thế giới (WHO), đồng tính không phải là bệnh thì không phải chữa và không thể chữa Phụ
nữ nam tính có vẻ được xem là cá tính và dễ chấp nhận hơn là đàn ông nữ tính ẻo
lả Người đồng tính chia thành 2 thế giới riêng biệt với cộng đồng của mình họ sống thật, có người yêu hoặc bạn tình cùng giới Còn với gia đình, đồng nghiệp và bạn bè họ hoàn toàn bí mật sống với vỏ bọc người dị tính Nhóm tuổi viết về người đồng tính ở tuổi thanh niên, có phần do đây là độ tuổi có tần suất quan hệ cao nhất trong vòng đời Độ tuổi đồng tính ở thanh niên xuất hiện nhiều hơn các nhóm khác
Có sự đánh đồng hành vi tình dục đồng giới với xu hướng tình dục và bản dạng
Trang 6tình dục đồng tính, hành vì tình dục đồng giới cũng chính là đồng tính Quan hệ tình dục đồng giới còn được mô tả như có ma lực khi đã dính vào thì không thể rút
ra được và có những người có quan hệ tình dục đồng giới sẽ trượt dài trong các mối tình phiêu lưu với kết cục không có tương lai
Xu hướng tính dục là một trong bốn yếu tố tạo nên tính dục, chỉ việc chịu sự hấp dẫn (có tính bền vững) về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với đối tượng thuộc giới nào đó
Công khai xu hướng tính dục của người đồng tính (và cả người song tính) là việc
họ công khai vấn đề đồng tính với chính bản thân mình, với những người xung quanh hoặc gia nhập vào cộng đồng đồng tính Hình thức công khai có thể là với tất cả mọi người hoặc với một số ít người Công khai là một thử thách lớn đối với người đồng tính vì họ phải vượt qua được những trở ngại đến từ bản thân và xã hội đối mặt với những nghi vấn về giới tính khác người của mình; chấp nhận thách thức từ những người có tâm lý ghê sợ đồng tính luyến ái trong xã hội, chấp nhận việc có thể bị bạo hành, ngược đãi, kỳ thị và đối xử bất công; đối diện với trách nhiệm, niềm kỳ vọng của gia đình về một người con bình thường như xã hội vẫn hiểu…
Chương 2: sự kì thị, phân biệt đối với người đồng giới
2.1) sự kì thị và phân biệt đối xử
Do kì thị từ phía cộng đồng, do trình độ học vấn có hạn chế nên MSM là lao động
tự do hoặc bị rơi vào tình trạng thất nghiệp Bị hạn chế tiếp cận các nguồn lực, cơ hội việc làm, giáo dục và các chính sách phúc lợi xã hội MSM sợ hãi vì khám phá
ra hành vi tình dục hay nhận dạng tình dục của mình, nhưng che dấu để không phải chịu những sự kì thị, phân biệt đối xử Nam giới là BL thường phải chịu sự quấy rối nặng nề, dẫn đến cảm giác xấu hổ tự ti và cực đoan hơn là tự tử MSM luôn phải sống dưới áp lực phải tuân theo cách chuẩn mực về hôn nhân và con cái của
Trang 7gia đình MSM bị bạo hành về thể xác, lăng mạ trong gia đình đặc biệt là từ cha và anh trai (nhỏ) Tăng trưởng kinh tế phần nào thái độ của người dân Thành phố cởi
mở hơn Người đồng tính công khai hơn Tuy nhiên, tình dục đồng tính chắc chắn không được xem là bình thường Đa số những MSM vẫn giữ kín vì nghĩ tình dục đồng giới của mình Người đồng tính không có cơ hội việc làm và đóng góp bổ ích cho xã hội, Nguy cơ bị bạo lực gia đình, trường học và đường phố Cha mẹ sốc và hoảng loạn, lo lắng và thường có những hành vi không kiểm soát dẫn đến đánh đạp, xích nhốt,… dẫn đến hành vi tự tử Giá trị truyền thống của gia đình khiến người đồng tính bị phân biệt đối xử, bị coi như sai lệch, khác người, bệnh hoạn, kì thị và xa lánh Có sự đánh đồng hành vi tình dục đồng giới với xu hướng tình dục
và bản dạng tình dục đồng tính, hành vì tình dục đồng giới cũng chính là đồng tính Quan hệ tình dục đồng giới còn được mô tả như có ma lực khi đã dính vào thì không thể rút ra được và có những người có quan hệ tình dục đồng giới sẽ trượt dài trong các mối tình phiêu lưu với kết cục không có tương lai Bên cạnh truyền thông thì thái độ cư xử của nhân viên y tế cũng khiến cho cộng đồng người đồng tính gặp nhiều khó khăn và áp lực, gây ra những hậu quả không đáng có Tại các cơ sở dịch
vụ vui chơi giải trí MSM bị từ chối vì có tin đồn là kẻ móc túi và ngây rối, làm ảnh hưởng đến công việc làm ăn của cơ sở dịch vụ
2.2) Sự kì thị, phân biệt đối xử của truyền thông và báo chí
Đồng tính nam xuất hiện nhiều trên phương tiện truyền thông nhưng thường là thái
độ kì thị Báo chí truyền thông chân dung của MSM hiện lên là những người có bản năng tình dục khác thường, khó chấp nhận báo chí khi được hỏi: định nghĩa
về cộng đồng LGBT đều dùng những từ ngữ kỳ thị kiểu như: pêđê, bóng/bóng lộ/bóng kín; xăng pha nhớt, hai thì, hifi , đồng cô, tám vía, ômôi… Chỉ có chưa đầy 1/3 số người dùng đúng ngôn ngữ: đồng tính, lesbian, LGBT… và không tỏ thái độ kỳ thị Tương tự, số bài viết về cộng đồng LGBT hơn phân nửa là hướng
Trang 8tới sự giật gân, câu khách, gợi tò mò, hiếu kỳ của người đọc, hơn là đưa tin một cách khách quan Chưa kể, số nhà báo nhầm lẫn khái niệm về giới khá nhiều Chính bản thân họ chưa có kiến thức vững vàng về LGBT, nên viết sai, dẫn đến độc giả hiểu sai lệch về nhóm người này Trong một nghiên cứu về “Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng” của Viện Nghiên cứu
Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Tuyên truyền, trên tổng số các bài báo được đưa vào nghiên cứu, có tới 41% số bài thể hiện sự kỳ thị, chỉ có 18% số bài viết thể hiện thái độ tích cực, không kỳ thị với người đồng tính, không hạ thấp giá trị của người đồng tính dựa trên xu hướng tình dục của họ Trong một trả lời phỏng vấn, Th.S Lê Quang Bình (Viện Nghiên cứu
xã hội, kinh tế và môi trường - iSEE) đánh giá: “phương tiện truyền thông giữ vai trò quan trọng và tiên phong trong xóa bỏ những định kiến của xã hội đối với người đồng tính Việc thông tin chân thật, chính xác và khách quan về người đồng tính trên báo chí sẽ giúp cộng đồng biết, hiểu hơn về người đồng tính, giúp họ an tâm sống, học tập, làm việc đóng góp tích cực để xây dựng xã hội phát triển
Chương 3: Kết Luận
Có thể thấy, định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử đã ảnh hưởng nặng nề đến tâm
lý của người đồng tính ở Việt Nam Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cộng đồng người đồng tính phải chịu đựng bạo lực thể xác ở mức độ cao, quấy rối tình dục và xúc phạm bằng lời nói Nhưng có lẽ, sự tổn thương lớn nhất đối với họ chính là sự chối bỏ của gia đình, công việc không ổn định Sự bi quan trong tình yêu đã khiến người đồng tính, trở nên chán nản, bi quan và trầm cảm Nhiều người đồng tính vì
sự xa lánh và kỳ thị của gia đình, nhà trường và xã hội mà có những suy nghĩ và hành vi tiêu cực Rất nhiều người đồng tính đã trải qua giai đoạn khủng hoảng nặng về tinh thần Hiện nay, quan niệm về cộng đồng người đồng tính rất đa dạng;
và điều này phản ánh sự đa dạng về cách hiểu thế nào là người đồng tính của xã
Trang 9hội Sự đa dạng này xuất phát từ cách nhìn nhận các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống xã hội – từ góc độ con người sinh học, đặc điểm cấu tạo cơ thể, thay đổi nội tiết tố bên trong cơ thể, thể hiện giới bên ngoài, hay vai trò giới… Trước đây tình dục đồng tính bị xem là một căn bệnh- một rối loạn cần phải được chữa trị Nhưng y học và tâm thần học đã công bố thì khác biệt hoàn toàn Năm 1973, đồng tính được chính thức đưa ra khỏi sổ chẩn bệnh (DSM-3) của APA Vì đồng tính luyến ái không phải là bệnh nên xã hội cần có ý thức tôn trọng sự đa dạng của các
cá nhân trong xã hội, trên cơ sở đó tôn trọng quyền của người đồng tính như quyền của người dị tính Tránh sự khắc họa chân dung người đồng tính và người chuyển giới dựa trên những định kiến về "khuôn mẫu giới" Điều này sẽ góp phần giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của định kiến, kỳ thị đối với cộng đồng người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam
Trang 10Tài liệu tham khảo
1 Mai Xuân Thu, Lê Cự Linh “Tổng quan về sự kì thị và phân biệt đối xử đối
với nam có quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam” nhà xuất bản Viện gia
đình và giới, viện khoa học xã hội Việt Nam
2 Vũ Hồng Phong “Bàn về nam tính ở Việt Nam” nhà xuất bản Viện gia đình
và giới, viện khoa học xã hội Việt Nam
3 Phạm Thu Hoa, Đồng Thị Yến “Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử đối với
người đồng tính ở Việt Nam” Tạp chí khoa học
4 Cộng tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
(iSEE) và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Tuyên truyền “Thông điệp
truyền thông về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng” nhà xuất bản
thế giới
5 http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-tai-mot-vai-net-nghien-cuu-ve-nhan-thuc-cua-sinh-vien-doi-voi-hien-tuong-dong-tinh-luyen-ai-64697/
6 https://sapphovn.com/thuat-ngu-lgbt/