1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận xã hội học kinh tế

14 1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 36,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH QUAN ĐIỂM VÀ HÀNH ĐỘNG KINH TẾ CỦA CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC 1.. LỜI MỞ ĐẦU Qua việc nghiên cứ sự phân công lao động trong xã hội, các nhà khoa học lí giải, trên thực tế co

Trang 1

Đề bài

 Phân tích và so sánh quan điểm và hành động kinh tế của ba nhà xã hội học Max.Wer, Wilfredo Pareto và Joseph Schumpeter.

 Từ những quan điểm của các nhà xã hội học anh/ chị hãy vận dụng vào nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay Trong nền kinh tế vĩ

mô với công thức Tổng cầu Y=C+I+G+T+X-M, thì yếu tố nào tạo điều kiện cho cá nhân và xã hội phát triển Vì sao?.

Trang 2

MỤC LỤC Lời mở đầu……… …………3

I KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC

KINH TẾ

1 Khái niệm xã hội học kinh tế……… 4

2 Đối tượng của xã hội học kinh tế……… …………4

3 Nhiệm vụ của xã hội học kinh tế……… …………4

II PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH QUAN ĐIỂM VÀ HÀNH ĐỘNG KINH

TẾ CỦA CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC

1 Một số lí luận chung xã hội học kinh tế

1.1 Max Weber……….5 1.2 Joshep Schumpeter……….6 1.3 Wilfredo Pareto……… 7

2 So sánh quan điểm và hành động của các nhà xã hội học

2.1 Max.Weber và Schumpeter……… 9 2.1.1 Sự giống nhau về quan điểm và hành động kinh tế của Max Weber và Schumpeter.

2.2 Max Weber và Wilfredo Pareto……… 10

2.2.2 Sự giống nhau về quan điểm và hành động kinh tế của Max.Weber và Wilfredo Pareto.

III VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM VÀ HÀNH ĐỘNG KINH TẾ CỦA CÁC NHÀ XÃ

HỘI HỌC………11

V TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Qua việc nghiên cứ sự phân công lao động trong xã hội, các nhà khoa học lí giải, trên thực tế con người sống trong những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể và có những hình thức hoạt động sống cụ thể do điều kiện và hoàn cảnh đó quy định, do đó, cần phải hiểu rõ nguyên nhân và chức năng xã hội của những sự kiện kinh tế Mặt khác, tất cả các hành vi của con ngưởi điều nhằm vào việc làm thế nào

để nâng cao các lợi ích kinh tế trước hết cho bản thân họ và qua đó phục vụ đem lại lợi ích kinh tế cho cộng động Đồng thời các nhà khoa học cũng khẳng định: hành động của con người là một loại hành vi có tính đến những hành vi của người khác Điều đó có nghĩa rằng, con người là một thực thể kinh tế, “con người kinh tế”, do vậy khi xem xét đến một hiện tượng, sự kiện, hành động kinh tế nào cũng phải tìm

ra được cơ sở xã hội của nó1 Xuất phát từ những nhận định trên, các nhà xã hội học đã đưa ra những quan điểm kinh tế khác nhau để phân tích, lí giải những vấn

đề, sự kiện hiện tượng kinh tế Trong đó có Max.Weber người coi “hành động kinh

tế là hành động xã hội, luôn có ý nghĩa xã hội và gắn liền với quyền lực”, Wifredo Pareto người vận dụng khái niệm “cân bằng” để nghiên cứu các chức năng kinh tế

cơ bản của quá trình sản xuất, sự hình thành “vốn” và chu kì kinh tế, và cuối cùng Joseph Schumpeter người đưa ra khái niệm doanh nghiệp và phân tích mối quan hệ của nó với kinh tế Với những quan điểm kinh tế của các nhà XHH chúng ta có thể phân tích, so sánh quan điểm và hành động của ba nhà xã hội học và vận dụng vào nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay để thấy được trong Tổng cầu Y= C+I+G+T+X-M, thì yếu tố nào sẽ tạo điều kiện cho cá nhân và xã hội phát triển

1 Ts Lê Thị Mai “Xã hội học kinh tế “ nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội- 2008

Trang 4

I KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC

KINH TẾ.

1 Khái niệm

Xã hội học kinh tế là lĩnh vực xã hội học chuyên nghiên cứu về quy luật, tính quy luật, thuộc tính, và các đặc điểm nảy sinh, vận động và phát triển mối quan hệ giữa

con người xã hội và kinh tế

2 Đối tượng nghiên cứu

Dưới góc độ xã hội học, kinh tế là một hiện tượng xã hội, nó đóng vai trò vừa là cơ

sở, nền tảng, cơ chế, điều kiện để thông qua đó mối quan hệ giữa con người và xã hội đã được hình thành và biến đổi Các mối quan hệ đã hình thành trên một số khía cạnh như sau:

+ Quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quá trình kinh tế

+ Quan hệ giữa con người với tư cách, với hoạt động nghề nghiệp, tổ chức và những thiết chế kinh tế

+ Mối quan hệ giữa xã hội và kinh tế

+ Mối tương tác giữa một bên là các yếu tố kinh tế, một bên là hành vi, hoạt động của các cá nhân, nhóm xã hội

Ngoài ra xã hội học kinh tế nghiên cứu các quá trình, hành vi và các sự kiện kinh tế với tư cách là một hành động xã hội, chức năng xã hội và hệ thống xã hội

3 Nhiệm vụ của xã hội học kinh tế

- Xã hội học kinh tế góp phần luận chứng khoa học cho việc hoạch định chiến lược, đường lối và chính sách phát triển kinh tế xã hội để tổ chức, quản lí và điều chỉnh hành vi, hoạt động kinh tế của các cá nhân, nhóm Tiến đến xây dựng xã hội phát triển, công bằng văn minh

- Nhiệm vụ nghiên cứu lí luận, thực nghiệm, triển khai ứng dụng của xã hội học kinh tế đều hướng tới giải quyết những vấn đề lí luận và thực tiễn nảy sinh từ sự phát triển kinh tế xã hội

- Việc xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể còn tùy thuộc vào nhiều yếu

tố trong đó có yếu tố về quan điểm nghiên cứu

Trang 5

II PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH QUAN ĐIỂM VÀ HÀNH ĐỘNG KINH TẾ CỦA CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC

1 Một số lí luận chung xã hội học kinh tế

1.1 Max Weber

Max Weber được coi là người đặt nền móng cho xã hội học hiện đại Theo Weber

xã hội học kinh tế là một bộ phận của kinh tế học xã hội Đó là một khoa học kinh

tế liên ngành gồm: (1) lí thuyết kinh tế (2) Lịch sử kinh tế (3) Xã hội học kinh tế Weber cho rằng; cần phải dựa vào cả ba bộ phận khoa học để nghiên cứu một cách

hệ thống có tính khoa học và bất cứ một hiện tượng kinh tế nào đó Bản thân xã hội học kinh tế tập trung nghiên cứ cả kinh tế và mối quan hệ giữa kinh tế với bộ phận khác của xã hội như luật pháp, chính trị, tôn giáo

M Weber coi hành động kinh tế là hành động xã hội, luôn có ý nghĩa xã hội và gắn liền với quyền lực

Ví dụ: Hành động trao đổi trên thị trường không đơn thuần là hành động kinh tế

“thuận mua, vừa bán” mà là kết quả của một quá trình “ thỏa hiệp lợi ích giữa các bên tham gia” Bản thân thị trường không đơn thuần là mua, bán hay “cung, cầu”,

mà đó là sự cạnh tranh, tức người này chống kẻ khác, “ người được, kẻ thua” Giá

cả chỉ được quy định là một quy luật giá trị theo nguyên lí cung và cầu Mà nó chính là sự giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích và sự thỏa hiệp về quyền lực Theo Weber sự khác biệt giữa xã hội học kinh tế và kinh tế học là ở khía cạnh xã hội và ý nghĩa xã hội của hiện tượng kinh tế ( của cải) và phi kinh tế ( vị thế xã hội,

uy tín, cơ may) các yếu tố này trở thành mối quan tâm các nhà xã hội học hiện đại khi nghiên cứu

1.2 Joseph Schumpeter

Cùng với quan điểm của M Weber, Schupeter coi xã hội học là một bộ phận chuyên ngành của kinh tế học, gồm; (1) lí thuyết kinh tế (2) Lịch sử kinh tế và nhân học (3) Xã hội học kinh tế (4) Thống kê xã hội Ông xem đối tượng xã hội

Trang 6

học là khía cạnh thiết chế của nền kinh tế, không phải là là bản thân của hiện tượng kinh tế

Theo Schumpeter định nghĩa xã hội học kinh tế có nhiệm vụ miêu tả và lí giải các thiết chế tương ứng với kinh tế, bao gồm các thói quen và tất cả các hình thức, hành vi ứng xử nói chung như chính phủ, doanh nghiệp tư nhân, các hành vi theo thói quen còn gọi là hành vi “ duy lí”, trong khi đó kinh tế học có nhiệm vụ miêu tả

có lí giải về các cơ chế kinh tế của các thiết chế đó

Ví dụ: cơ chế thị trường ( vì nhắc đến thị trường là không thể không nói đến yếu

tố cạnh tranh)

Câu hỏi nghiên cứu cơ bản của kinh tế học là: “ các cá nhân cư xử như thế nào trong tình huống kinh tế xã hội”

Câu hỏi nghiên cứu của xã hội học kinh tế là “ tại sao các cá nhân lại cư xử như vậy” ( yếu tố tôn giáo, văn hóa, niềm tin, tâm lí )

Thực chất ta có thể hiểu: ở trong mỗi tình hướng kinh tế xã hội các cá nhân lại có những cách cư xử tình huống đó khác nhau

Ví dụ: về yếu tố tôn giáo: khi bạn là một người theo tôn giáo nhất là Thiên Chúa giáo chắc chắn bạn phải chịu sự ảnh hưởng từ tôn giáo đó Khi các bạn xin vào làm việc những người công giáo họ luôn hỏi người chủ quản có được nghỉ ngày chủ nhật không, hay thậm chí nhiều ngày lễ quan trọng rơi vào ngày thường họ vẫn lấy

lí do tế nhị để xin nghĩ và tham gia sinh hoạt công giáo Điều đó cho thấy mỗi cá nhân tùy hoàn cảnh, yếu tố tác động mà có nhữn cách cư xử khác nhau

Schumpeter đưa ra khái niệm doanh nghiệp và phân tích mối quan hệ của nó với kinh tế Chức năng đổi mới của nhà doanh nghiệp là nhân tố của sự phát triển kinh

tế và biến đổi xã hội Điều này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải có một số phẩm chất nhân cách duy lí, máy móc Có thể nói nhà doanh nghiệp là thủ lĩnh kinh tế, là nhân tố không thể thiếu của mọt nền kinh tế đặc trưng bởi sự cạnh tranh, vận động

và biến đổi không ngừng

Khái niệm doanh nghiệp thực chất là doanh nhân, theo quan niệm của Schumpeter, khác với nhà lãnh đạo, quản lí và người buôn bán Nhà lãnh đạo hay nhà quản lí chỉ có thể là người được giao quyền chỉ huy, chỉ là người thừa hành trách nhiệm

Trang 7

điều phối hoạt động của người khác và giám sát sản xuất kinh doanh Để trở thành doanh nhân, họ cần có trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng vốn đầu tư của họ đã

bỏ ra, cần có sáng kiến và tinh thần đổi mới để làm ra lợi nhuận

Khái niệm giai cấp:

- Trước hết giai cấp gắn liền với gia đình

- Gia đình là một thiết chế cơ bản của xã hội

- Sự phân chia giai cấp không chỉ gắn với bản thân quá trình sản xuất ( sở hữu tư liệu SX) mà còn gắn với chức năng quan trọng về mặt xã hội, đó là chức năng lãnh đạo kinh tế và đổi mới nền kinh tế

- Mối quan hệ đoàn kết gắn bó với các thành viên cùng giai cấp trong việc nắm giữ

và chuyển giao tài sản, quyền lực và vị thế từ thế hệ này sang thế hệ khác

1.3 Wilfredo Pareto

Theo thuyết của Pareto, hành động xã hội bao gồm hai hành loại; hành động logic

và hành động phi logic

+ Hành động kinh tế logic: là hành động có sự lựa chọn một cách duy lí ( hợp lí ) những phương tiện thích hợp để đạt được những mục đích kinh tế đã xác định + Hành động phi logic:

(1) Bản năng sáng tạo; đó là trí tưởng tượng, sự kết hợp tạo ra những cái mới, mối liên hệ mới

(2) Bản năng thả hiệp; thường nhất trí với nhóm, trung thành với nhóm và làm theo truyền thống

(3) Bản năng hoạt động; nhu cầu hành động, luôn biến đổi sự vật và biểu đạt ý tưởng suy nghĩ ( thay đổi sản phẩm )

(4) Bản năng phối hợp; phối hợp các lợi ích vật chất và tinh thần

(5) Bản năng giao tiếp xã hội; giao lưu và kết bạn

Trang 8

Pareto vận dụng khái niệm “ cân bằng” để nghiên cứu các chức năng kinh tế cơ bản của quá trình sản xuất, sự hình thành “vốn” và chu kì kinh tế Ông phát hiện ra: quy luật phân phối thu nhập và cho rằng, việc phân chia của cải trong xã hội thường tuân theo một cơ cấu cân bằng , ổn định và khó thay đổi Vì vậy các nhóm

và các chuẩn mực xã hội luôn có xu hướng kìm lại mọi biến đổi trong cách phân phối thu nhập

Quan niệm “cân bằng” được vận dụng để giải thích các quyết định kinh tế Mọi lựa chọn, mọi quyết định và hành động kinh tế đều là kết quả của trạng thái cân bằng giữa trạng thái và cơ hội kinh tế ( nhu cầu, động cơ, nguyện vọng ) và những trở ngại ( những yếu tố cản trở việc thỏa mãn nhu cầu) Con người luôn tính toán hợp

lí để thỏa mãn nhu cầu hoạt động kinh tế của mình một cách tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép

Pareto cho rằng có 2 loại cân bằng:

(1) Cân bằng tĩnh: là trạng thái cân bằng được thiết lập và dy trì nhờ những thay đổi nhỏ bên trong hệ thống

(2) Cân bằng động: thể hiện khi có sự thay đổi, thì bộ phận này kéo theo sự thay đổi của bộ phận khác cân bằng lại Kết quả là tạo thành quá trình biến đổi toàn bộ hệ thống từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác

Ví dụ:

(1) VFF kết quả kinh tế theo mô hình kế hoạch nên những thay đổi nhỏ trong

hệ thống vẫn tự cân bằng được

(2) Sự thành lập công ti cổ phần bóng đá (VPF) trực thuộc VFF nhưng hoạch toán kinh tế độc lập có phép tính lãi lỗ theo thị trường tạo sự biến đổi toàn

hệ thống ( Không độc quyền phát sóng truyền truyền hình, vá quảng cáo, tạo lợi nhuận, đồng thời phục vụ chính cho công chúng và khán giả)

Pareto đề ra nguyên lí về phúc lợi kinh tế và ông cho rằng; có thể tạo ra những thay đổi trên thị trường để một nhóm xã hội này có thu nhập nhiều hơn nhóm khác mà không phương hại đến lợi ích của các nhóm Ông cho rằng; để xã hội công bằng và bình đẳng hơn về thu nhập, thì cách tốt nhất là làm cho tất cả các nhóm xã hội đều khá lên

Trang 9

2 So sánh quan điểm và hành động của các nhà xã hội học

2.1 Max.Weber và Schumpeter

2.1.1 Sự giống nhau về quan điểm và hành động kinh tế của Max Weber

và Schumpeter.

• Hai nhà nhà hội học đều coi xã hôi học là một bộ phận của chuyên ngành kinh tế học

2.1.1.1 Sự khác nhau về quan điểm và hành động kinh tế của Max Weber

và Schumpeter.

- Sự khác biệt giữa xã hội kinh tế

và kinh tế học là ở khía cạnh xã

hội và ý nghĩa của xã hội của

hiện tượng kinh tế mà nhà xã

hội học kinh tế phải quan tâm

- Kinh tế học có nhiệm vụ mô tả

và trả lời cho câu hỏi “các cá nhân cư xử như thế nào trong tình huống kinh tế xã hội

- Xã hội học kinh tế mô tả và lí giải các thiết chế tương ứng với kinh tế

- Chủ nghĩa duy lí là nhân tố phát

triển nền kinh tế tư bản chủ

nghĩa

- Phát triển kinh tế cần sự đổi mới

và tính năng động của chũ thể kinh tế

- Đề cập đến yếu tố thống kê học

Trang 10

kinh tế trong bộ phận chuyên ngành của kinh tế học

Bảng: so sánh sự khác nhau về quan điểm và hành động kinh tế của hai nhà xã hội học

2.2.Max Weber và Wilfredo Pareto

2.2.2 Sự giống nhau về quan điểm và hành động kinh tế của Max.Weber và Wilfredo Pareto.

 M Weber và Pareto đều cho rằng xã hội học kinh tế tập trung nghiên cứu

cả kinh tế và mối quan hệ giữa kinh tế với bộ phận khác của xã hội như luật pháp, chính trị, lịch sử tôn giáo, Đồng thời xã hội học kinh tế của M.Weber và Pareto cũng đều xem xét sự tác động qua lại giữa kinh tế và

xã hội

2.2.2.2 Sự khác nhau về quan điểm và hành động kinh tế của Max.Weber

và Wilfredo Pareto.

- Max Weber thì coi hành động

kinh tế là hành động xã hội, luôn

có ý nghĩa xã hội và gắn liền với

quyền lực

- Coi hệ thống kinh tế và biến đổi kinh tế liên quan đến hành động

xã hội

- Max Weber cho rằng sự phân

tầng xã hội và bất bình đẳng xã

hội bắt nguồn từ các yếu tố kinh

tế (của cải) và phi kinh tế (vị thế

xã hội, uy tín, cơ may)

- Pareto cho rằng để xã hội công bằng và bình đẳng hơn về thu nhập thì cách tốt nhất là làm cho tất cả các nhóm xã hội đều khá lên

- Theo quan điểm của Max

Weber, chủ nghĩa duy lý là nhân

- Theo thuyết của Pareto, hành động xã hội bao gồm 2 loại:

Trang 11

tố phát triển nền kinh tế tư bản

chủ nghĩa Giải thích của Weber

tính duy lý mang ý nghĩa là tính

hợp lý, tức là sự tính toán, sự

lựa chọn phương tiện sao cho

phù hợp với mục đích theo

nguyên tắc chi phí thấp nhất

nhưng đem lại lợi ích nhiều

nhất Hành động duy lý còn có

nghĩa là hành động vì lợi ích

trước mắt

hành động logic và hành động phi logic

+ Hành động logic: có mục đích,

ý thức rõ ràng + Hành động phi logic: hành động bản năng, không được ý thức

- Pareto thì vận dụng khái niệm

‘cân bằng’ là cân bằng động và cân bằng tĩnh

+ Cân bằng động: thể hiện khi

có sự thay đổi thì bộ phận này kéo theo sự thay đổi của bộ phận khác để cân bằng lại Kết quả là tạo thành quá trình biến đổi toàn

bộ hệ thống từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác

+ Cân bằng tĩnh: là trạng thái cân bằng được thiết lập và duy trì nhờ những thay đổi nhỏ bên trong hệ thống

III VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM VÀ HÀNH ĐỘNG KINH TẾ CỦA CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC.

1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Ngày đăng: 30/09/2019, 18:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w