1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại và thực tiễn áp dụng

57 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 615,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại và thực tiễn áp dụng Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại và thực tiễn áp dụng Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại và thực tiễn áp dụng luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn : TS.Nguyễn Thành Đức

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Di

MSSV: 1411270582 Lớp: 14DLK08

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Nguyễn Văn Di xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bàiKhóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Công ty, trên các sách

báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định); Nội dung

trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu

và thực tếKHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác.

Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Nguyễn Văn Di xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bàiKhóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Công ty, trên các sách

báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định); Nội dung

trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu

và thực tếKHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác.

Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 Bộ luật Dân sự năm 2015 : BLDS 2015

5 Luật thương mại năm 1997 : LTM 1997

6 Luật thương mại năm 2005 : LTM 2005

8 Tổ chức thương mại quốc tế : WTO

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỠ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Đối tượng và mục tiêu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI 5

1.1 Hoạt động đại lý thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường 5

1.1.1 Sự hình thành và phát triển hoạt động đại lý thương mại 5

1.1.2 Vai trò của đại lý thương mại trong xu thế toàn cầu hóa thương mại 6

1.2 Khái niệm và đặc điểm của đại lý thương mại 8

1.2.1 Khái niệm về Đại lý thương mại và Hợp đồng đại lý thương mại 8

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại 10

1.3 Các hình thức hợp đồng đại lý thương mại 11

1.4 Phân biệt đại lý thương mại và một số hoạt động trung gian thương mại khác 14

1.4.1 Đại lý thương mại với đại diện cho thương nhân 14

1.4.2 Đại lý thương mại với môi giới thương mại 15

1.4.3 Đại lý thương mại với ủy thác mua bán hàng hóa 17

1.5 Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý thương mại 18

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI 19

2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý thương mại 19

2.2 Đối tượng của hợp đồng đại lý thương mại 20

Trang 6

2.3 Hình thức giao kết và nội dung giao kết hợp đồng đại lý thương mại 20

2.3.1 Hình thức của hợp đồng đại lý thương mại 20

2.3.2 Nội dung của hợp đồng đại lý thương mại 21

2.4 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý thương mại 23

2.5 Thực hiện hợp đồng đại lý thương mại 24

2.5.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý thương mại 24

2.5.2 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý thương mại 25

2.5.3 Trách nhiệm của bên giao đại lý, bên đại lý với bên thứ 3 27

2.5.4 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng đại lý thương mại 28

2.6 Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại 29

2.7 Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng 31

2.7.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng đại lý thương mại 31

2.7.2 Phạt vi phạm hợp đồng đại lý thương mại 31

2.7.3 Bồi thường thiệt hại hợp đồng đại lý thương mại 32

2.7.4 Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng đại lý thương mại 32

2.8 Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý thương mại 33

2.8.1 Giải quyết bằng thương lượng hòa giải 33

2.8.2 Giải quyết bằng Trọng tài hoặc Tòa án 34

2.9 Thực tiễn áp dụng hợp đồng đại lý thương mại 34

2.9.1 Vụ việc 1 34

2.9.2 Vụ việc 2 37

CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 35

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại 44

3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại đối với nhà nước 39

Trang 7

3.1.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại

đối với công ty 41

3.1.3 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại đối với đại lý 41

3.2 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại 42

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong đại lý thuongq mại 42

3.2.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định phâp luật về hình thức đại lý độc quyền 43

3.2.3 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trach nhiệm của các bên giao đại lý, bên đại lý với bên thứ ba 43

3.2.4 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại 44

3.3 Những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu 45

KÊT LUẬN 47

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thương mại hàng hóa và dịch vụ ngày càng phát triển, vai trò trung gianthương mại càng được coi trọng vì nó hỗ trợ đắc lực cho thương nhân trong khâuphân phối, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ được nhanh chóng, ít rủi ro, chi phí thấp, và

dễ dàng gia nhập hoặc từ bỏ thị trường

Ở Việt Nam, bắt đầu từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập chung mô hình đại lýthương mại ngày càng được sử dụng và phổ biến Trong những năm gần đây, hoạtđộng đại lý thương mại ngày càng phát triển và số lượng đại lý hoạt động tại ViệtNam tăng nhanh Đại lý thương mại có mặt trên toán quốc từ nông thôn đến thànhthị, từ trung du miền núi hoặc nhưng khu vực hẻo lánh Đại lý thương mại đa dạng

về loại hình và phát triển nhanh chóng trong hầu hết các lĩnh vực ngành nghề, cả vềdoanh số bán hàng và cung cấp dịch vụ

Để thừa nhận về mặt pháp lý sự tồn tại của loại hình hoạt động thương mại này,

để bảo về quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý thươngmại cũng như đảm bảo cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý thương mạitrong một trật tự ổn định, cần có pháp luật điều chỉnh hoạt động đại lý thương mại

và hợp đồng đại lý thương mại Xét về mặt nội dung, pháp luật về hoạt động trunggian thương mai nói chung và về đại lý thương mại nói riêng điều chỉnh không táchrời hai nhóm quan hệ: quan hệ hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ (bên giao đại lý) vớibên đại lý và quan hệ giữa bên giao đại lý, bên đại lý và bên thứ ba Hợp đồng đại lý

là căn cứ thỏa thuận đại lý thương mại được thực hiện một hành lang pháp lý antoàn vì nó ghi nhận sự tự do thể hiện ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng,đồng thời là căn cứ pháp lý bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đối vớitranh chấp phát sinh trong và liên quan tới qua trình thực hiện hoạt động đại lý.Hiện nay ngoài Luật thương mại 2005, pháp luật điều chỉnh hoạt động đại lý ởViệt Nam còn được đề cập trong nhiều văn bản luật như Bộ luật Hàng Hải, Luậtkinh doanh bảo hiểm…và các văn bản dưới luật khác, Không thể phủ nhận nhữngđóng góp nhất định trong việc đóng góp và ban hành hệ thống các quy định nêu trên,tuy nhiên hiện nay nhận thức của thương nhân và nhiều chủ thể khác về hoạt độngđại lý thương mại còn khá mơ hồ, chưa hiểu rõ bản chất pháp lý của đại lý thươngmại và mối quan hệ của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý thương mại vớibên thứ ba Mặt khác, hệ thống pháp luật hiện hành về hoạt động đại lý thương mạichưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thực tiễn đặt ra Các quy định pháp luật điều chỉnhđại lý thương mại còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo Một số quy định còn thiếu tính

Trang 10

cụ thể hoặc chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Đây là một trong những nguyênnhân làm ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động đại lý thương mại ở nước ta.Trước nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, trước thực trạng pháp luật điều chỉnhhoạt động đại lý ở Việt Nam đang cần bổ sung, hoàn thiện, nên tôi đã lựa chọn đề

tài “Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại và thực tiễn áp dụng” khóa luận tốt

nghiệp của mình và mong muốn nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ các vấn đề

lý luận cũng như thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh lĩnh vựchợp đồng này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu và tìm kiếm tài liệu qua thư viện, tạp chí, sáchbáo, internet,… để thực hiện đề tài, tôi tìm thấy rất ít tài liệu nghiên cứu trực tiếppháp luật về hợp đồng đại lý thương mại mà chủ yếu là những công trình liên quanđến pháp luật về hợp đồng nói chung Các chuyên đề, bài nghiên cứu, luận án tiến sĩliên quan đến khóa luận nghiên cứu là:

Bài nghiên cứu “ Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế” của TS Trần Đình Hảo đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật

năm ( 2000)

Bài nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam” của

PGS.TS Dương Đăng Huệ đăng tại tạp chí Nhà nước và Pháp luật (2002)

Luận án tiến sĩ “ Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hiệu quả của hợp đồng kinh

tế vô hiệu” của Lê Thị Bích Thọ tại Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội (2002).

Bài nghiên cứu “Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi pháp luật Việt Nam về hợp đồng” đăng tại tạp chí Nhà nước và pháp luật (2004) và “Hoàn thiện pháp luật về biện pháp đảm bảo nhìn từ quyền tự do hợp đồng” của TS Nguyễn

Am Hiểu đăng tại tạp chí Dân chủ và pháp luật (2004)

Bài nghiên cứu “ Dự thảo Bộ luật dân sự ( sửa đổi) và vấn đề cải cách pháp luật hợp đồng ở Việt Nam” của PGS.TS Phạm Hữu Nghị đăng tại

http//www.vibonline.com,vn//vi-VN/Topic Deltaivaspx? TopicID251 (2005)

Bài nghiên cứu “Hoàn thiện chế định hợp đồng” của TS Phan Chí Hiếu

đăng tại tạp chí nghiên cứu lập pháp ( 2005)

Bài nghiên cứu “ Những quy định nghĩa vụ dân sự và hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005” của TS Nguyễn Thúy Hiền đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp

luật (2006)

Trang 11

Quyển “ Chế định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” của TS.

Nguyễn Ngọc Khánh, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội (2007)

Quyển “ Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án” của TS.

Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội ( 2008)

Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu vô cùng quý giá giúp tôi có thêmnhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu báo cáo tốt nghiệp Nhữngvấn đề bao quát chung thì được nghiên cứu nhiều nhưng những vấn đề nhỏ trong nóđang ngày càng không phù hợp thì chưa được tìm hiểu, nghiên cứu sâu, trong khi đóhoạt động đại lý ngày càng phát triển mạnh pháp luật quy định về hợp đồng đã cónhiều chỗ không thỏa đáng gây mâu thuẫn giữa các bên nên pháp luật về hợp đồngđại lý cần phải được nghiên cứu nhiều hơn, sâu sắc hơn, toàn diện hơn để từ đó đưa

ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện nó giúp cải thiện pháp luật khi màpháp luật hiện nay chưa đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động đại lý thươngmại

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Đề tài tập trung nghiên cứu về pháp luậtđiều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại trong Luật thương mại 2005 và thực tiễn ápdụng

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu với mục tiêu làm sáng tỏ cơ sở lý luận từ khía cạnhpháp lý của ĐLTM, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của phápluật về ĐLTM, từ đó tìm ra phương hướng và đề xuất giải pháp nhầm hoàn thiệncác quy định của pháp luật điều chỉnh ĐLTM ở nước ta

Từ mục đích trên, khóa luận đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của ĐLTM và cơ sở lý luận củapháp luật điều chỉnh loại hoạt động trung gian thương mại này

Thứ hai, phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật điều chỉnhquan hệ ĐLTM trong thực tế, từ đó nêu những bất cập, hạn chế trong quy định phápluật

Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, khóa luận đưa ramột số giải pháp để haofn thiện các quy định của pháp luật về đại lý thương mại

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp để làm sáng tỏ về mặt khoa học của lý luận

và thực tiễn của đề tài bằng những phương pháp như: các phương pháp luận logic,phương pháp phân tích, phương pháp lý giải, phương pháp đánh giá được sử dụngnhiều trong nghiên cứu các vấn đề lý luận về đại lý thương mại; các phương phápbình luận, đối chiếu, so sánh, thống kê, hệ thống, phương pháp chứng minh, phươngpháp lịch sử được sử dụng nhiều trong nghiên cứu về thực trạng pháp luật về hợpđồng đại lý thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

5 Kết cấu đề tài

Chương 1: Khái quát chung về đại lý thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng đại lý thương mạiChương 3: Thực tiễn ký kết thực hiện hợp đồng đại lý thương mại và kiến nghị,giải pháp hoàn thiện về hợp đồng đại lý thương mại ở Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động đại lý thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường 1.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động đại lý thương mại

Ngay sau sự phân công lao động lần thứ nhất, trên thế giới hoạt động mua bánhàng hóa đã xuất hiện và phát triển Thời kỳ đầu, hoạt động mua bán hàng hóa chủyếu được diễn ra trực tiếp giữa người sản xuất ra hàng hóa và người tiêu dùng Saunày, cùng với sự ra đời của những người lấy việc bán hàng làm nghề nghiệp chínhcho mình (thương nhân, thương gia) thì hoạt động mua bán hàng hóa càng pháttriển mạnh mẽ và được tiến hành với nhiều hình thức đa dạng, phong phú với sựtham gia của nhiều chủ thể khác nhau Ngày nay, hoạt động trong cơ chế thị trườngvới sự phát triển ngày càng đi lên của xã hội, cạnh tranh trên thị trường ngày cànggay gắt thì vấn đề tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp ngày càng

có ý nghĩa quan trọng trong quyết định sự thành công của doanh nghiệp Trong thời

kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, sư phát triển của các ngành thương mại đã thúc đẩy cácdoanh nghiệp đi vào tập chung chuyên môn cao Các doanh nghiệp sản xuất dồntoàn bộ sức lực cho ra những sản phẩm tốt Vấn đề tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch

vụ cũng là ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp chính vì vậyđòi hỏi các doanh nghiệp cần tìm cho mình sự trợ giúp của các nhà trung gian Vìvậy thương nhân sử dụng nhiều phương thức giao dịch qua trung gian đang dần bộc

lộ nhiều ưu điểm hơn so với phương thức giao dịch trực tiếp

Phương thức giao dịch trực tiếp là phương thức giao dịch, theo đó ngươi sở hữuhàng hóa và khách hàng tự tìm kiếm cơ hội để giao kết và thực hiện HĐ Đây làphương thức giao dịch mang tính truyền thống, xuất hiện ngay từ khi hoạt độngmua bán hàng hóa mới ra đời Theo phương thức này, thương nhân phải tự tìm kiếmđối tác, tự thỏa thuận các điều kiện để thiết lập quan hệ HĐ Phương thức trực tiếp

có nhiều ưu điểm như: cả thương nhân và người mua đều không phải trả chi phí chongười trung gian; do phải trực tiếp tiếp cận thị trường để tìm kiếm đối tác nênthương nhân có điều kiện nắm bắt nhu cầu của khách hàng, thị hiếu của thị trường,thương nhân và khách hàng trực tiếp đàm phán các điều khoản của HĐ nên tăng sựhiểu biết lẫn nhau và tránh được những sai lầm không đáng có Tuy nhiên, phươngthức giao dịch trực tiếp cũng có những hạn chế, nhất là khi hoạt động mua bán hànghóa đã phát triển ở quy mô lớn: việc thương nhân và khách hàng trực tiếp giao dịchvới nhau sẽ làm phát sinh chi phí về thời gian và tiền bạc; khi tiếp cận thị trườngmới, thương nhân phải mất thời gian, chi phí đáng kể cho việc xây dựng đội ngũnhân viên, tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác…

Trang 14

Để khắc phục những hạn chế của phương thức giao dịch trực tiếp, phương thứcgiao dịch qua trung gian đã ra đời Phương thức giao dịch qua trung gian như cácĐLTM, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác thươngmại…Trong các dịch vụ trung gia thương mại thì ĐLTM là dịch vụ phổ biến, được

ưa chuộng trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đại lý thương mại đã giúp thươngnhân đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng trên phạm vi rộng lớn, tiết kiệm chi phígiao dịch và đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn

1.1.2 Vai trò của ĐLTM trong xu thế toàn cầu hóa thương mại

Trong nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh và tự so cạnh tranh được bảođảm khiến các thương nhân phải không ngừng tìm kiếm một phương thức linh hoạt

và tiện lợi để tăng hiệu quả kinh doanh thu về nguồn lợi nhuận tối đa Tham gia vàoquan hệ ĐLTM là một phương thức kinh doanh được nhiều thương nhân ưa chuộng,góp phần phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Vai trò của hoạtđộng ĐLTM thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, đại lý thương mại góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa và

từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển nói chung và ngành thương mại dịch vụ nói riêng.Hoạt động ĐLTM phát triển, làm cho khối lượng hàng hóa lưu thông trên thịtrường tăng lên, giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước cũng như các nước trongkhu vực và trên thế giới đẩy mạnh Thông qua các nhà đại lý thương mại mà nhàsản xuất có thể thiết lập một hệ thống phân phối hàng hóa đa dạng và rộng lớn Cácnhà đại lý giúp thương nhân nắm bắt những thông tin cần thiết về thị trường mộtcách kịp thời Từ đó, phân tích như cầu thị trường và hàng hóa để tiến hành các hoạtđộng sản xuất sản phẩm, phân khúc thị trường, phân bổ sản phẩm một cách hiệu quảcho thị trường cần thiết Trên cơ sở đó, mà mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm,

mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh vàsức cạnh tranh của doanh nghiệp

Thứ hai, Hoạt động ĐLTM mang lại hiệu quả lớn cho thương nhân trong quá

trình phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ ở thị trường trong nước, mở rộng ở thịtrường nước ngoài

Khi gia nhập thị trường mới, thương nhân luôn gặp nhiều khó khăn do sự khácbiệt về văn hóa dẫn đến nhu cầu của mỗi vùng, miền là khác nhau ĐLTM có thểgiúp khắc phục được những khó khắn này, vì:

Bên ĐLTM thường có mạng lưới phân phối trên thị trường Với mạng lướikhách hàng quen thuộc, bên đại lý rất dễ dàng trong việc tiếp thị, mua bán hàng hóa

Trang 15

Bên ĐLTM thường có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp với nhiều kinh nghiệm,

am hiểu thị trường nên dễ dàng nắm được điểm mạnh, điểm yếu của sản phẩm màthương nhân giao đại lý cung cấp để giúp thương nhân nâng cao chất lượng sảnphẩm, phù hợp với nhu cầu thị trường Nhờ đó, tăng khả năng thu hút khách hàng,đảm bảo lợi nhuận kinh doanh cho thương nhân giao địa lý

Thông qua ĐLTM, thương nhân tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc cho việctìm hiểu thị trường mới Khi gia nhập thị trường mới, thương nhân thường mất rấtnhiều chi phí cho việc xây dựng cơ sở vật chất, thuê mướn lao động, quảng cáo, tiếpthị sản phẩm…Nhờ có ĐLTM chi phí mà thương nhân bỏ ra sẽ giảm rất nhiều dobên ĐLTM đã có cơ sở vật chất lẫn lao động trên thị trường Nếu hoạt động muabán hàng hóa, cung ứng dịch vụ do thương nhân cung cấp không đạt được hiệu quảnhư mong muốn, thương nhân cũng có thể nhanh chóng thanh lý ĐLTM và rút khỏithị trường mà không mất thời gian, chi phí cho việc thanh lý tài sản, giải quyếtquyền lợi cho người lao động…

Nếu thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa thông qua ĐLTM, thay vì phải xâydựng mạng lưới phân phối, thương nhân có điều kiện tập trung thực hiện sản xuất,kinh doanh Nhờ đó sẽ tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín của thương nhântrên thị trường

Hạn chế rủi ro cho thương nhân khi gia nhập thì trường nước ngoài Trong xuthế toàn cầu hóa hiện nay, việc mua bán hàng hóa quốc tế đang ngày càng phát triểnnhưng việc thâm nhập thị trường của một quốc gia khác của thương nhân gặp rấtnhiều khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật và các yếu tố văn hóa.ĐLTM rất được cá thương nhân lựa chọn khi gia nhập thị trường nước ngoài vì sự

am hiểu thị trường và pháp luật nước sở tại của bên ĐLTM giúp cho các thươngnhân hạn chế được nhiều rủi ro và giúp hàng hóa của họ dễ dàng tiếp cận, thích ứngvới khách hàng địa phương

Thứ ba, hoạt động ĐLTM ra đời, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng,

nhất là những người tiêu dùng ở những nơi có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăntiếp cận được với hàng háo dịch vụ một cách tốt nhất

Trước khi ĐLTM ra đời, khách hàng muốn mua hàng hóa chính hãng phảiđúng đến địa điểm kinh doanh của thương nhân nên chi phí bỏ ra cho hàng hóa tăngcao Từ khi ĐLTM xuất hiện, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận với hàng hóachính hãng qua mạng lưới đại lý ở tỉnh, địa phương của mình Khách hàng có cơ hộiđược sử dụng hàng hóa, dịch vụ chất lượng chính hãng với giá cả và hậu mãi tốt từcác đại lý

Trang 16

1.2 Khái niệm và đặc điểm đại lý thương mại.

1.2.1 Khái niệm về đại lý thương mại và hợp đồng đại lý thương mại.

Khái niệm đại lý thương mại:

Đại lý là quan hệ trong đó một bên (bên đại lý) bằng danh nghĩa chính mìnhthực hiện một hoặc một số công việc theo sự ủy thác của bên kia (bên giao địa lý)

để hưởng thù lao Ví dụ, Toyota có thể ủy quyền hoặc/và cho phép một công tythương mại làm đại lý kiêm trạm bảo hành, sử chữa cho họ tại khu vực nào đó.Trong khi Vietnam Airlines là một hang cung cấp dịch vụ có thê phân phối dịch vụcủa mình qua một hệ thống các đại lý được ủy quyền bán vé cho hãng

Các nước theo truyền thống common law quan niệm địa lý (egency) theo nghĩarất rộng, bao gồm Toàn bộ các hoạt động đại diện, mô giới, ủy thác,… được ngườiđại lý (agnet) tiến hành trên danh nghĩa của mình hoặc danh nghĩa của người giaođại lý (principal) vì quyền lợi của người giao địa lý Căn cứ vào phạm vi quyền hạn

mà người ủy thác trao cho người đại lý, Luật Anh-Mỹ chia đại lý thành: tổng đại lý(general agent), đại lý đặc biệt (special agent), đại lý toàn quyền (universal agent),đại lý độc quyền (sole agent),…

Các nước theo truyền thống châu Âu lục địa phân biệt khá rõ đại lý thương mạivới các trung gian thương mại khác Trong quan hệ đại lý, người đại lý sử dụngdanh nghĩa của chính mình khi giao dịch với khách hàng để thực hiện công việcđược bên giao đại lý ủy thác1

Theo Luật thương mại 2005, đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo

đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên địa lý nhân danh chính mìnhmua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung úng dịch vụ của bên giao địa lýcho khách hàng để hưởng thù lao2

Theo Luật thương mại 1997 chỉ quy định về đại lý mua bán hàng hóa, thì Luậtthương mại 2005 quy định cả về đại lý cung ứng dịch vụ

Mặc dù là hoạt động trung gian thương mại, nhưng hoạt động đại lý thươngmại có những đặc điểm khác biệt so với hoạt động trung gian thương mại khác.Trong hoạt động đại diện cho thương nhân, bên đại diện không nhân danh chínhmình mà nhân danh bên giao đại diện để tiến hành các giao dịch thương mại Cònvới hoạt động đại lý thương mại, bên đại lý tham gia các giao dịch nhân danh chínhmình và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng ràng buộc bên đai lý với khách hàng Bênđại lý phải trực tiếp thực hiện hợp đồng thương mại đã ký kết với khách hàng: giao

1 Bộ tư pháp từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa và NXB Tư pháp, năm 2013, tr.226

2 Điều 166 Luật thương mại 2005

Trang 17

hàng từ kho của mình sang cho người mua và nhận tiền đối với đại lý mua bán hànghoặc nhận hàng vào kho của mình và thanh toán tiền hàng cho người bán đối với địa

lý mua hàng

Hoạt động ủy thác thương mại cũng có sự khác biệt so với hoạt động đại lýthương mại Hoạt động ủy thác thương mại có thể được thiết lập giữa các chủ thể làthương nhân với nhau, giữa thương nhân với người liên quan Trong khi đó, đại lýthương mại chỉ có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau Ngoài ra trongđại lý thương mại, bên đại lý được tự do lựa chọ khách hàng nhưng vẫn chịu tráchnhiệm trước bên giao đại lý về sự vi phạm hợp đồng của khách hàng Còn trong ủythác thương mại việc lựa chọn khách hàng đôi khi bị hạn chế Ví dụ Cty cổ phần X

có đối tác nhập khẩu sản phẩm của mình ở Hoa Kỳ, nhưng do không đủ điều kiện

để xuất khẩu (điều kiện năng lực tài chính) nên đã ủy thác cho doanh nghiệp Y xuấtkhẩu sản phẩm sang thị trường Hoa Kỳ

Khái niệm hợp đồng đại lý thương mại:

Giống với các hoạt động trung gian thương mại khác, bản chất đại lý thương mại làmột quan hệ hợp đồng, đó là sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa

vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Luật thương mại 2005 khôngđưa ra định nghĩa chính xác về HĐĐL, tuy nhiên quan hệ đại lý thương mại giữathương nhân giao đại lý và thương nhân làm đại lý được xác lập trên cơ sở hợpđồng là sự thỏa thuận giữa bên giao đại lý và bên đại lý về việc bên đại lý nhândanh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bêngiao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao

Xét về bản chất, HĐĐL là một hợp đồng dịch vụ

Theo quy định tại Điều 513 Bộ luật dân sự 2015:

“Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụthực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả tiềndịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”

Theo đó, đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không

bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội Cụ thể ở đây, đó là việc bên đại lý nhận

sự ủy quyền của bên giao đại lý trong việc định đoạt hàng hóa hoặc cung ứng dịch

vụ vì lợi ích của bên giao đại lý HĐĐL thương mại được xác lập trên cơ sở có đềnghị giao kết và có chấp nhận đề nghị giao kết hay thỏa thuận và được tạo ra và xácđịnh bởi nghĩa vụ về công việc mua, bán hàng hóa có điều kiện giữa bên giao đại lý

và bên đại lý Đối tượng, công việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bênthứ ba, cùng các thỏa thuận về thời hạn, thù lao…đối với bên đại lý là các điều

Trang 18

khoản chủ yếu trong hợp đồng dịch vụ.

Tuy mang đặc điểm của hợp đồng dịch vụ trong dân sự (hợp đồng dịch vụ dân sựtrong thương mại) nhưng về bản chất HĐĐL có những dấu hiệu của hợp đồng ủyquyền Bên đại lý, thực thể cung ứng dịch vụ trung gian thương mại chuyên nghiệpđược thuê thực hiện công việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhân danhchính mình cho bên thuê và được trả thù lao theo thỏa thuận Yếu tố ủy quyền thểhiện ở nghĩa vụ thực hiện công việc của bên đại lý (người thụ ủy) trong phạm viđược ủy quyền và được nhận thù lao theo thỏa thuận Mặc dù vậy, ủy quyền trongdân sự là hành vi giao cho người khác sử dụng một số quyền mà pháp luật đã traocho mình trong khi đại lý thương mại là hành vi giao cho người khác làm thay côngviệc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của mình Do đó, về tư cách chủ thể khithực hiện hành vi, bên được ủy quyền hay bên bên nhận đại diện thực hiện côngviệc được ủy quyền nhân danh bên chủ ủy, bên giao đại diện; bên đại lý thực hiệncông việc được giao nhân danh chính mình Về phạm vi, bên được ủy quyền có thểđược ủy quyền thực hiện một hoặc một số hành vi trong khi đại lý thương mại thuhẹp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Về năng lực pháp lý, bênđược ủy quyền trong hợp đồng ủy quyền có thể là cá nhân, thương nhân hay tổ chứctùy thuộc vào hành vi được ủy quyền Trong khi đó, các chủ thể tham gia HĐĐLgồm bên giao đại lý và bên đại lý đều phải là thương nhân3

HĐĐL có thể được giao kết dưới hình thức HĐĐL bao tiêu, HĐĐL độc quyền, tổngđại lý và các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận, song về cơ bản HĐĐLphải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tươngđương (Điều 168 Luật thương mại 2005)

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại.

Bên đại lý phải dùng chính danh nghĩa của mình để thực hiện việc mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng.

Đây là đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại cho phép phân biệt hợp đồngđại lý với hợp đồng đại diện cho thương nhân Theo khoản 1 Điều 9 Luật doanhnghiệp 2005 quy định: “hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi tronggiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” Tùy quy định trên đi đến nhận định: Trongquan hệ hợp đồng đại lý thương mại do bên giao đại lý thực hiện việc mua, bán, ủyquyền thông qua bên đại lý nên bắt buộc phải có quyền kinh doanh những mặt hàng

đó hay nói cách khác là phải có ngành nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại lý

Do bên đại lý thực hiện việc mua, bán, ủy quyền cho bên giao đại lý bằng chínhdanh nghĩa của mình nên phải có ngành nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại

3 Ths Đào Thu Hằng, Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ

Trang 19

lý mua, đại lý bán, đại lý cung ứng dịch vụ Từ nghĩa vụ cụ thể của bên giao đại lý

là nhân danh chính mình để thực hiện việc mua bán khối lượng hàng hóa nhât địnhcho bên giao đại lý nên bên đại lý phải có đăng ký kinh doanh phù hợp với hànghóa ghi trong hợp đồng

Trong quan hệ hợp đồng đại lý thương mại, bên đại lý không phải là chủ sở hữu đối với hàng hóa, dịch vụ mà là nhận ủy nhiệm quyền mua, bán hàng hóa của bên giao đại lý.

Đặc điểm này làm cho hợp đồng đại lý thương mại khác với hợp dồng mua bánhàng hóa , đặc biệt là các hợp đồng “mua sỉ bán lẻ” Đặc trưng nổi bật của hợp đồngmua bán hàng hóa là có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ người bán cho ngườimua và kể từ thời điểm chuyển giao chuyển giao quyền sở hữu thì rủi ro xảy ra đốivới hàng hóa cũng được chuyển giao từ người bán sang cho người mua, trừ trườnghợp các bên có thỏa thuận khác Với hợp đồng đại lý bên giao đại lý được toànquyền định đoạt với hàng hóa của mình phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng nhưchịu trách nhiệm với khách hàng về chất lượng của hàng hóa

Để thực hiện hoạt động đại lý thương mại, bên đại lý vừa phải thực hiện các hành vi (giao kết hợp đồng với khách hàng), vừa phải thực hiện các hành vi thực tế (nhận hàng hóa từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong trường hợp đại lý bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng; nhận hàng từ khách hàng để giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua hàng).

Đặc điểm này giúp phân biệt hợp đồng đại lý thương mại với hợp đồng ủy thácmua bán hàng hóa, trong đó bên được ủy thác chủ yếu thực hiện các hành vi pháp lý(bên được ủy thác chỉ sử dụng danh nghĩa của mình ký hợp đồng với khách hàng;còn việc giao hàng, thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp giữa bên ủy thác vớikhách hàng)

Hợp đồng đại lý thương mại là một dạng của hợp đồng dịch vụ.

Bên đại lý bán hàng, mua hàng, nhận ủy quyền cho bên giao đại lý để nhận thùlao Trong quan hệ hợp đồng đại lý, lợi ịch giữa bên đại lý được hưởng chính là thùlao đại lý, mà xét dưới khía cạnh pháp lý thì khoản tiền này chính là thù lao dịch vụ

mà bên giao đại lý phải thanh toán cho bên đại lý do sử dụng dịch vụ mua bán hànghóa, cung ứng dịch vụ của bên đại lý

1.3 Các hình thức hợp đồng đại lý thương mại:

Hoạt động đại lý thương mại được các thương nhân thực hiện dưới nhiều hìnhthức khác nhau Hình thức đại lý là cách thức thực hiện việc mua bán hàng hóa theonhững điều kiện nhất định mà bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận

Trang 20

Các hình thức đại lý thương mại được quy định lần đầu tiên trong Quy chế đại

lý mua bán hàng hóa ban hành kèm theo Nghị định 25/NĐ-CP của Chính phủ ngày25/04/1996 Theo đó, đại lý mua bán hàng hóa gồm 6 hình thức: Đại lý mua hàng,đại lý bán hàng, đại lý hoa hồng, đại lý bao tiêu, đại lý độc quyền, tổng đại lý.Những hình thức này cũng được LTM 1997 quy định

Trong LTM 2005 chỉ quy định cụ thể ba hình thức đại lý thương mại: đại lýbao tiêu, đại lý độc quyền, tổng đại lý mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ Tuynhiên, pháp luật đặt sự tự do lựa chọn các hình thức cho các thương nhân nhưnghình thức được các thương nhân lựa chọn phải phù hợp với thực tiễn kinh doanhcủa các bên mà không trái với quy định của pháp luật Việt Nam

Theo LTM 2005, các hình thức đại lý thương mại được quy định như sau:

Thứ nhất: Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý được thực hiện việc mua bán trọn

vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên gaio đại lý.Bên giao đại lý có quyền ấn định giá giao đại lý còn bên đại lý có quyền quyết địnhgiá bán cho khách hàng Thù lao mà đên đại lý được hưởng là mức chênh lệch Mứcchênh lệch được xác định à mức chênh lệch giữa giá mua, bán, cung ứng dịch vụcho khách hàng so với giá bên giao đại ấn định cho bên đại lý Điều này lý giải chochúng ta biết vì sao với cùng một loại hàng hóa có cùng xuất xứ chính hãng nhưngngười mua lại mua hàng hóa với những giá khác nhau Hình thức đại lý này nớirộng quyền cho bên đại lý về giá bán lẻ đồng thời cũng gàn buộc bên đại lý chặt chẻhơn về nghĩa vụ phải bán hết từng khối lượng hàng nhất định Đại lý bao tiêu thíchhợp với những hợp đồng ngắn hạn, những hợp đồng theo mùa vụ như thu mua nôngsản ở thời điểm thu hoạch

Thứ hai: Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vưc địa lý nhất

định bên giao địa lý chỉ giao một đại lý nhất định mua, bán hoặc một số mặt hànghoặc cung ứng dịch vụ nhất định Hình thức đại lý này được xác định rõ phạm vi vàlãnh thổ mà tại đó bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý duy nhất thực hiện việcmua bán hàng hóa và cung ứng một loại dịch vụ nào đó Hình thức này tạo cho bênđại lý có phạm vi đại lý nhất định để hoạt động mà không bị đại lý khác của cùngbên giao đại lý cạnh tranh

Quan sát trên thị trường, hình thức đại lý độc quyền hầu như có mặt ở tất cả cáclĩnh vực tiêu dùng trọng yếu như: Honda Việt Nam có hơn 500 đại lý trải dài khắpđát nước, Yamaha Việt Nam có hơn 300 đại lý… Các nhà đại lý này thường chỉ bánsản phẩm của một nhà máy, doanh nghiệp chuyên biệt

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, rất nhiều các cửa hàng bán nước giải khát,đại lý bia rựu, thuốc lá chỉ bán sản phẩm của công ty sản xuất hoặc cung ứng Điển

Trang 21

hình như thị trường nước giải khác, các cửa hàng thường chỉ bán sản phẩm của mộtcông ty như các cửa hàng chỉ bán của công ty Cocacola, công ty Pepsi… Lý giảiđiều này ở góc độ kinh doanh rất dễ hiệu, khi thiết lập hệ thống phân phối sản phẩm,các công ty đều chi phí rất lớn cho việc đầu tư mạng lưới đại lý bán hàng Chính vìvậy, trong các hợp đồng với đại lý này, các công ty thường ràng buộc và cam kếtkhông bán sản phẩm cùng loại của công ty khác Hơn nữa các cửa hàng bán sảnphẩm đều được nhận tiền quảng cáo tài trợ lâu dài (Hãng CocaCola chi phí 35%doanh thu cho quảng cáo thời kỳ đầu tiếp cận thị trường…) cùng với chiếc khấu vàlợi nhuận bán hàng rất cao Điều này, làm các đại lý, cửa hàng cũng không mặn màvới việc phân phối sản phẩm khác, nhất là hàng nội địa.

Thứ ba: Tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý

mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ co bên giao đại lý Tổng đại lý là đại diện cho hệ thốngđại lý trực thuộc và và đối tác trực tiếp của bên giao đại lý Tổng đại lý nắm trongtay hệ thống đại lý trực thuộc, các hệ thống đại lý trực thuộc này không phải là bênthứ ba để bên Tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong quan hệ hoạtđộng đại lý và cũng không phải là đơn vị thành viên của tổng đại Các đại lý trựcthuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý.Hình thức tổng đại ký giúp cho bên giao đại lý giảm bớt số đầu mối mình phải quản

lý xuống xong vẫn có thể mỡ rộng mạng lưới mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụtrên phạm vi rộng với số lượng lớn

Tổng đại lý theo LTM 2005 vẫn còn nhiều bất cập mà pháp luật chưa quy định

cụ thể Phân tích dưới góc độ cấp bậc thì hệ thống các địa lý trực thuộc này dườngnhư là đại lý cấp 2 cho tổng đại lý cấp 1 Tuy nhiên, vấn đề này chưa được quy địnhtrong LTM 2005 hay bất kỳ văn bản pháp luật nào

Theo góc độ ủy quyền, các địa lý này là bên đại diện cho bên giao đại diện (làtổng đại lý) để thực hiện các giao dịch nhân danh tổng đại lý Quan hệ giữa tổng đại

lý và các đại lý quan hệ đại diện cho thương nhân và được thiết lập trên cơ sở hợpđồng đại diện cho thương nhân chứ không phải hợp đồng đại lý Tổng đại lý trongmối quan hệ này đóng vai trò là bên giao đại diện chứ không phải là bên giao đại lý.Hình thức tổng đại lý được các thương nhân sử dụng khá phổ biến và trong lĩnhvực trọng yếu của quốc gia Theo thống kê, cả nước hiện nay có khoảng 300 tổngđại lý và hơn 9000 cửa hàng kinh doanh xăng dầu Hiện nay chỉ có 2 đơn vị gồmTổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và công ty Dầu khí Sài gòn là có hệthống đại lý trực tiếp, các đơn vị còn lại chỉ bán thông qua các tổng đại lý4

Trang 22

1.4 Phân biệt đại lý thương mại với một số hoạt động trung gian thương mại khác

1.4.1 Đại lý thương mại với Đại diện cho thương nhân

Tại các nước theo truyền thống luật Châu Âu lục địa (civil law), đại diệnthương mại (commercial agient) là hình thức hoạt động trung gian thương mại phổbiến nhất và đóng vai trò quan trọng so với các hoạt động thương mại khác quatrung gian Ở Việt Nam Luật thương mại quy định thuật ngữ commercial agent làđại diện cho thương nhân, là một dạng của hoạt động đại diện theo ủy quyền đểthực hiện các công việc trong hoạt động thương mại Đại diện cho thương nhân làviệc một thương nhân nhận ủy quyền (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác(gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa,theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện (Điều

141 Luật thương mại 2005)5 Như vậy, với bản chất là thực hiện công việc trong nộidung ủy quyền thay cho thương nhân giao đại diện, đại diện cho thương nhân cónhững điểm giống và khác với đại lý thương mại theo quy định của luật Việt Namnhư sau:

Về chủ thể, đại diện cho thương nhân và đại lý thương mại đều bắt buộc cácbên tham gia là bên giao đại diện, bên đại diện và bên giao đại lý, bên đại lý đềuphải là thương nhân Điều đó có nghĩa người đại diện và người đại lý phải hoạtđộng thương mại như là nghề nghiệp của mình và phải đăng ký kinh doanh để trởthành thương nhân

Hoạt động đại diện cho thương nhân và đại lý thương mại đều có liên quan tới

ba chủ thể: bên chủ ủy (bên giao đại diện, bên giao đại lý), bên được ủy nhiệm (bênđại diện, bên đại lý) và bên thứ ba

Quan hệ đại diện cho thương nhân và quan hệ đại lý thương mại đều phát sinhtrên cơ sở hợp đồng được lập bằng văn bản và có tính chất đền bù, có nghĩa là bênđược ủy nhiệm (bên đại diện, bên đại lý) thực hiện các công việc do bên chủ ủy(bên giao đại diện, bên giao đại lý) giao để đổi lấy thù lao Những hợp đồng này cónhiều yếu tố của hợp đồng dịch vụ được quy định tại Bộ luật dân sự 2015

Về phạm vi ủy nhiệm: nội dung của hoạt động đại diện cho thương nhân do cácbên thỏa thuận, theo đó bên đại diện có thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ cáchoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện Nó có thểbao gồm việc tìm kiếm các cơ hội kinh doanh cho thương nhân giao đại diện, thaymặt bên đại diện ký kết và thực hiện hợp đồng với bên thứ ba… và được tiến hành

5 Nguyễn Mai Chi, Pháp luật Việt Nam về họp đồng đại lý năm 2012

Trang 23

trong suốt thời gian đại diện, không giới hạn vào một vụ việc cụ thể nào Các vănbản pháp luật đầu tiên trên thế giới quy định về đại diện thương mại chỉ giới hạnhoạt động mà bên đại diện được thực hiện là trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, sau

đó mở rộng sang nhiều lĩnh vực của hoạt động thương mại Trái lại, phạm vi ủynhiệm của đại lý thương mại cho thấy nội dung hoạt động của đại lý thương mạihẹp hơn, giới hạn vào việc mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ

Điểm khác biệt lớn nhất giữa đại diện cho thương nhân và đại lý thương mạinhư hiện nay được hiểu là tư cách pháp lý khi thực hiện ủy nhiệm Đối với bên đạidiện, họ được sự ủy quyền của bên giao đại diện và nhân danh bên giao đại diện khithực hiện giao dịch với bên thứ ba, do đó mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ hành vicủa bên đại diện sẽ mang lại cho bên giao đại diện Điều này là phù hợp với nhậnđịnh đại diện cho thương nhân là một dạng riêng của ủy quyền trong dân sự Ngượclại, đối với bên đại lý, căn cứ cách phân loại của Luật thương mại 2005 thì bên đại

lý nhân danh chính mình thực hiện giao dịch với bên thứ ba, do đó mọi hậu quảpháp lý phát sinh từ hành vi của bên đại lý sẽ trực tiếp mang lại cho chính bên đại

lý Tư cách hành động nhân danh bên chủ ủy hay nhân danh chính mình của bên đại

lý so với bên đại diện không phải là cơ sở để khẳng định sự khác biệt về hậu quảpháp lý phát sinh giữa hai loại hình trung gian thương mại này Có thể thấy ở đại lýdịch vụ, họ vẫn là bên nhận sự ủy quyền của bên giao đại lý để cung ứng dịch vụtheo Điều 167 của Luật thương mại Việt Nam, vì vậy mọi hậu quả pháp lý phát sinh

từ giao dịch mà họ thực hiện với bên thứ ba vẫn phát sinh đối với bên ủy quyền làbên giao đại lý tương tự như trong quan hệ đại diện thương mại

1.4.2 Đại lý thương mại với Môi giới thương mại

Tại Việt Nam, hoạt động môi giới thương mại mới hình thức và phát triển trongnhững năm gần đây khi thị trường chứng khoán, bất động sản và tiền tệ được giaodịch công khai Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, môi giới được hiểu

là người làm trung gian để hai bên tiếp xúc, giao thiệp với nhau Về cơ bản, quanđiểm về môi giới thương mại của Việt Nam giống với các nước theo truyền thốngluật Châu Âu lục địa, theo đó môi giới thương mại là hoạt động thương mại mà mộtbên thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hànghóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới (Điều 150 Luật thươngmại 2005) Như vậy, vai trò của thương nhân làm môi giới là giúp các bên đượcmôi giới có cơ hội tiếp xúc với nhau để đàm phán, giao kết hợp đồng, xác lập quan

hệ thương mại6

Trang 24

So với đại lý thương mại, môi giới thương mại có những đặc điểm giống và khácnhau như sau:

Về phương diện chủ thể, tham gia quan hệ môi giới thương mại bao gồm bênmôi giới và các bên được môi giới, trong đó bên môi giới cũng là thương nhân cóđăng kí kinh doanh để thực hiện dịch vụ cho bên được môi giới để hưởng thù lao,nhưng không nhất thiết phải có ngành nghề kinh doanh trùng với ngành nghề kinhdoanh của các bên được môi giới Trong hoạt động đại lý thương mại, cả bên giaođại lý và bên đại lý phải là thương nhân nhưng đối với bên được môi giới, pháp luậtkhông quy định bên được môi giới có nhất thiết phải là thương nhân hay không.Đồng thời, tuy giữ vai trò trung gian đối với các bên tham gia quan hệ môi giớinhưng không phải tất cả các bên được môi giới đều có quan hệ môi giới thương mạivới bên môi giới mà thông thường chỉ có bên được môi giới nào ký hợp đồng môigiới thương mại với bên môi giới thì giữa họ mới phát sinh quan hệ này Tuy vậy,thực tế cũng có trường hợp người môi giới thỏa thuận với các bên ký kết hợp đồngmua bán hàng hóa, dịch vụ thông qua hoạt động môi giới là họ sẽ được hưởng thùlao từ cả hai bên nếu hợp đồng được ký kết Thỏa thuận này không xảy ra trongtrường hợp của bên làm đại lý thương mại

Về phạm vi hoạt động, cũng như đại lý thương mại Luật thương mại 2005 đã

mở rộng so với Luật thương mại năm 1997 ở chỗ không chỉ bó hẹp các hoạt độngliên quan đến mua bán hàng hóa mà còn gồm cả dịch vụ thương mại Nội dung hoạtđộng của môi giới thương mại có phần rộng hơn đại lý thương mại, trên nhiều lĩnhvực như du lịch, bất động sản, tài chính, chứng khoán được quy định không chỉ ởLuật thương mại mà còn được các luật chuyên ngành điều chỉnh

Về quan hệ pháp lý xác lập với bên thứ ba, bên môi giới cũng nhân danh chínhmình khi quan hệ với các bên được môi giới và làm nhiệm vụ giới thiệu các bênđược môi giới với nhau Tuy vậy, khác với người làm đại diện thương mại hay đại

lý thương mại, người môi giới không trực tiếp xác lập và thực hiện các giao dịch

mà chỉ giữ vai trò trung gian cho các bên đàm phán, trực tiếp ký hợp đồng với nhau.Người môi giới thông thường không tham gia vào ký kết hợp đồng mua bán hànghóa và cung ứng dịch vụ, họ chỉ tìm kiếm các cơ hội và giúp đỡ các bên đi tới kýhợp đồng, họ không phải đi tới bất kỳ một quyết định nào trong việc các bên đượcmôi giới có ký kết hợp đồng hay không Với vai trò cung cấp thông tin cho các bên,hướng các bên đi tới xác lập quan hệ mua bán hoặc cung ứng dịch vụ, hoạt độngcủa người môi giới chưa làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho người được môi giớiđối với bên thứ ba, tức là chưa làm phát sinh các quan hệ pháp lý với bên thứ ba.Tuy nhiên, Luật thương mại của Việt Nam không cấm bên được môi giới ủy quyền

Trang 25

cho bên môi giới ký hợp đồng với khách hàng Trong trường hợp này, bên môi giớihành động với tư cách của bên đại diện.

Như vậy sự phân biệt rạch ròi giữa người đại diện, đại lý, ủy thác thương mạivới môi giới thương mại chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý Trong thực tế thương mạiluôn có thể xảy ra sự đan xen giữa các quan hệ này, phụ thuộc vào thỏa thuận cụ thểcủa các bên trong khi thực hiện các công việc

1.4.3 Đại lý thương mại với Ủy thác mua bán hàng hóa

Trong những năm gần đây, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa chủ yếu pháttriển ở Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu Hoạt động này theoquy định của pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với luật các nước theotruyền thống Châu Âu lục địa (civil law), theo đó ủy thác mua bán hàng hóa là hoạtđộng thương mại mà bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa với danhnghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhậnthù lao ủy thác (Điều 155 Luật thương mại 2005)7

Ủy thác mua bán hàng hóa có nhiều đặc điểm pháp lý giống với đại lý thươngmại, đặc biệt là đại lý mua bán hàng hóa (ví dụ như bên đại lý và bên nhận ủy thácđều là thương nhân thực hiện hoạt động trung gian để nhận thù lao, khi thực hiệncông việc họ nhân danh chính mình…) tuy nhiên giữa hai loại hình hoạt động này

có những điểm khác biệt trên một số phương diện sau:

Về phạm vi hoạt động, đại lý thương mại có phạm vi hoạt động rộng hơn, baogồm các hoạt động mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ trong khi ủy thác muabán hàng hóa giới hạn ở hoạt động mua hoặc bán hàng hóa Đây cũng là điểm khácbiệt trong quy định của pháp luật Việt Nam và các nước civil law về hoạt động ủythác thương mại

Về chủ thể tham gia quan hệ, trong khi bên giao đại lý và bên đại lý bắt buộcphải là thương nhân thì trong quan hệ ủy thác, bên ủy thác không nhất thiết phải làthương nhân Tuy nhiên, bên nhận ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặthàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác và thực hiện mua hoặc bán hàng hóa theonhững điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác Bên nhận ủy thác có thể nhận ủythác mua bán hàng hóa cho nhiều bên ủy thác khác nhau nhưng bên đại lý bị hạnchế chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hànghóa hoặc dịch vụ nhất định nếu pháp luật có quy định (Điều 175 Luật thương mại2005)8

7 Nguyễn Mai Chi, Pháp luật Việt Nam về họp đồng đại lý năm 2012

8 TS.Nguyễn Thị Vân Anh (2006), “Các hình thức pháp lý chủ yếu của trung gian thương mại”, Tạp chí

Trang 26

Bên đại lý được tự do hơn bên nhận ủy thác trong việc lựa chọn bên thứ ba đểgiao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng.

1.5 Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý thương mại:

Về nguyên nguyên tắc giao kết trong hợp đồng đại lý thương mại gồm nhữngnguyên tắc sau:

Nguyên tắc tự nguyện: Việc giao kết hợp đồng thương mại phải dựa trên cơ sở

tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng, bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cánhân đều không được áp đặt ý chí của mình cho bên tham gia quan hệ hợp đồng.Khi xác lập quan hệ hợp đồng các chủ thể có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thờiđiểm giao kết, bàn bạc thoả thuận nội dung trong hợp đồng Tuy nhiên, khi các bên

sử dụng quyền giao kết hợp đồng phải tuân theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi: Trong quan hệ kinh doanh thì lợi nhuận là

động lực thúc đẩy hành động của các chủ thể kinh doanh Theo nguyên tắc này thìnội dung của hợp đồng bảo đảm lợi ích kinh tế của các bên cũng như sự tương ứng

về quyền và nghĩa vụ đối với bất cứ tổ chức, cá nhân thuộc thành phần kinh tế nào.Tính bình đẳng này không phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý củachủ thể

Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản: Các bên tham gia quan hệ hợp

đồng kinh tế phải tự mình gánh vác trách nhiệm tài sản, gồm phạt vi phạm hợp đồng,bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm hợp đồng

Nguyên tắc không trái với pháp luật: đòi hỏi việc giao kết và thực hiện hợp

đồng phải hợp pháp: Mọi thỏa thuận trong hợp đồng phải hoàn toàn không trái vớiquy định của pháp luật, không được lợi dụng giao kết hợp đồng để hoạt động tráipháp luật Vấn đề này có ý nghĩa trong việc giữ trật tự, an toàn trong lĩnh vực hợpđồng kinh tế cũng như hợp đồng thương mại

Trang 27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG

ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI 2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý thương mại

Là một loại hình trung gian thương mại, nên giống với các hoạt động trunggian thương mại khác, đại lý thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giaokết giữa bên giao đị lý và bên đại lý Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hóacho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại ly mua hoặc thương nhân ủy quyềnthực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ ( khoản 1 Điều 167 LTM 2005) Nhưvậy, các bên trong quan hệ đại lý bắt buộc phải là thương nhân Có thể thấy điềukiện về chủ thể HĐ ĐLTM khắt khe hơn so với hợp đồng mua bán hàng hóa, theo

đó, bắt buộc cả hai bên chủ thể đều phải là thương nhân Khái niệm thương nhântheo LTM 2005 đã khắc phục những bắt cập chưa phù hợp của LTM 1997, từ đó

mỡ rộng cho chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý thương mại9

Bên giao địa lý là thương nhân VN hoặc thương nhân nước ngoài giao hànghóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân ủyquyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ Thương nhân nước ngoài cóthể giao cho thương nhân VN làm đại lý mua bán các loại hàng hóa, trừ hàng hóathuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu Đối với hàng hóa thuộc danhmục hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lýsau khi được Bộ thương mại (nay là Bộ Công thương) cho phép

Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng

để làm đại lý mua hoặc là bên nhận ủy quyền cung ứng dịch vụ Thương nhân nướcngoài có thể được thương nhân VN thuê làm đại lý bán hàng tại nước ngoài các loạihàng hóa, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm dừng xuất khẩu Đốivới hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉđược ký hợp đồng thuê đại lý bán hàng tại nước ngoài sau khi được Bộ Côngthương cho phép

Trong quan hệ đại lý thương mại, bên giao đại lý là bên có nhu cầu mua bánhàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ nhưng không trực tiếp thực hiện những công việcnày mà ủy quyền cho bên đại lý thay mặt mình mua bán hàng hóa hoặc cung ứngdịch vụ hộ mình Bên địa lý nhân danh chính mình giao dịch với bên thứ ba để muabán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ thương mại cho bên giao đại lý và hưởng thùlao khi hoàn tất công việc Hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hợp đồng cung ứngdịch vụ sẽ phát sinh ràng buộc trách nhiệm giữa bên đại lý với bên thứ ba

Trang 28

2.2 Đối tượng của hợp đồng đại lý thương mại

Đối tượng của hợp đồng ĐLTM là dịch vụ mua bán hàng hóa và cung ứng dịch

vụ Cụ thể là bên đại lý thực hiện công việc dịch vụ cho bên giao đại lý Theo cáchphân loại của BLDS 2015, thì hợp đồng ĐLTM là một loại hợp đồng dịch vụ Đây

là tiêu chí quan trọng để phân biệt hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa với hợp đồngmua bán hàng hóa ( có khối lượng hóa lớn) mà trên thực tế có sự nhầm lẫn Đốitượng của hợp đồng mua bán hàng hóa chính là quyền sở hữu hàng hóa Theo đó,bên bán hàng sẽ chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua Bênmua có quyền nhận hàng hóa và có nghĩa vụ thanh toán

Luật thương mại hiện hành khẳng định sự khác biệt giữa quan hệ mua bán hàng

hóa và quan hệ đại lý mua bán hàng hóa Điều 170 LTM 2005 quy định: bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền giao cho địa lý Như vậy, bên đại lý

không phải là người mua (bán) hàng hóa của bên giao đại lý mà chỉ là người nhậnhàng (nhận tiền) để rồi tiếp tục mua (bán) với bên thứ ba Chỉ khi hàng hóa đượcgiao cho bên thứ ba, quyền sở hữu mới được chuyển từ bên giao đại lý cho bên thứ

ba hoặc khi hàng hóa được giao cho bên giao đại lý thì quyền sở hữu hàng hóa mớichuyển từ bên thứ ba cho bên giao đại lý Bên đại lý chỉ là bên trung gian đứng giữamối quan hệ giữa bên giao đại lý và bên thứ ba Hàng hóa không bao giờ thuộcquyền sở hữu của bên đại lý trong mối quan hệ hợp đồng đại lý Nên khi bên giaođại lý chuyển hàng cho bên đại lý bán hộ, thì số hàng đó vẫn thuộc quyền sở hữucủa bên giao đại lý, nên chưa phát sinh quan hệ mua bán

Đối tượng của hợp đồng đại lý lag công việc mua, bán hàng hóa hoặc cung ứngdịch vụ mà bên giao đại lý yêu cầu bên đại lý thực hiện Trong quan hệ hợp đồngđại lý, thì hàng hóa hoặc tiền đã được bên giao đại lý chuyển cho bên đại lý nhưnglại không chuyển quyền sở hữu vì thế sẽ có khả năng phát sinh những vấn đề pháp

lý liên quan đến quyền tài sản và trách nhiệm của các bên (đặc biệt là trách nhiệmchịu rủi ro đối với tài sản được chuyển giao ) Điều này khiến sự ràng buộc bên giaođại lý giám sát, kiểm tra hàng hóa chuyển cho bên đại lý một cách chặt chẽ10

2.3 Hình thức và nội dung giao kết của hợp đồng đại lý thương mại.

2.3.1 Hình thức của hợp đồng đại lý thương mại

Quan hệ đại lý thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồng LTM 2005 quy

định rõ “Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương” Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện

báo, talex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

10 Ngô Thị Minh Hải về Đại lý thương mại theo LTM 2005

Ngày đăng: 04/05/2021, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bài nghiên cứu “ Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế” của TS. Trần Đình Hảo đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật năm ( 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợpđồng kinh tế
12. Bài nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ đăng tại tạp chí Nhà nước và Pháp luật (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt N"am
13. Bài nghiên cứu “Chế định hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay không tồn tại” của GS.TS Lê Hồng Hạnh đăng tại tạp chí Luật học ( 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay không tồn" tại
7. Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật thương mại 2005 về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý, mua, bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngòa Khác
8. Nghị định 79/2005 ngày 16/06/2005 cảu Chính Phủ về việc quy định điều kiện đăng ký và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan Khác
9. Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 13/06/2006 Quy định chi tiết Luật thương mại 2005 về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Khác
15. Bộ tư pháp từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa và NXB Tư pháp, năm 2013, tr.226 Khác
16. Ths. Đào Thu Hằng, Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w