1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo luật hôn nhân và gia đình 2014

69 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài pháp luật hôn nhân gia đình điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nước ta còn có hệ thống các văn bản dưới luật và 11 Điều ước quốc tế đa phương đã gia nhập cùng 33 Hiệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ

GIA ĐÌNH 2014

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Bành Quốc Tuấn

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

Em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy Bành Quốc Tuấn, người

đã trực tiếp hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho khóa luận này Nhờ sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của thầy đã giúp em chỉnh sửa được những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và tìm được hướng đi đúng cho khóa luận của mình

Lời cuối cùng em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo khoa Luật trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã truyền dạy cho em nguồn kiến thức và kinh nghiệm quý báu giúp em thêm tự tin vững bước trong quá trình học tập cũng như cho công việc mai này

Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận này không thể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía thầy, cô để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của thầy Bành Quốc Tuấn Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình Trường đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trinhg thực hiện (nếu có)

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 7 năm 2018

Người thực hiện

Phạm Thị Phương Mai

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của khóa luận 4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 5

1.1 Khái niệm và đặc điểm của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 5

1.1.1 Khái niệm quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 5

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 7

1.2 Các yếu tố cấu thành quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 8

1.2.1 Chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài 8

1.2.2 Khách thể quan hệ pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài 11

1.2.3 Sự kiện pháp lý trong pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài 11

1.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật và một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 12

1.3.1 Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 12

1.3.2 Một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 13

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 19

2.1 Pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài 19

2.1.1 Điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài 20

2.1.2 Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài 25

2.1.3 Giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài 27

2.1.4 Công nhận và từ chối đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài 31

2.2 Pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài 34

2.2.1 Điều kiện, quyền yêu cầu và căn cứ cho ly hôn có yếu tố nước ngoài 35

2.2.2 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài 43

Trang 5

2.2.3 Vấn đề công nhận bản án, quyết định về ly hôn của Tòa án nước ngoài 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 50

3.1 Thực tiễn việc thực hiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 50

3.2 Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 tại Việt Nam 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 61

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 6

đó Hòa vào sự phát triển của nền kinh tế hội nhập, quan hệ xã hội cũng được hình thành

và phát triển dưới nhiều góc độ khác nhau dựa trên những nguyên tắc, cơ sở nhất định Một trong những quan hệ xã hội tương đối phát triển phải kể đến chính là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Quan hệ trên hình thành trong quá trình giao lưu, trao đổi giữa các nền văn hóa, kinh tế, xã hội, thông qua các hình thức làm việc, học tập, nghiên cứu và sinh sống, công dân ngoài nước hòa nhập vào cuộc sống nơi cộng đồng mình đang ở, hiểu và tiếp nhận phong tục, tập quán bản địa và dần thiết lập quan hệ hôn nhân với công dân nước sở tại

Quan hệ hôn nhân xét ở nhiều góc độ vừa là quan hệ pháp luật vừa là quan hệ xã hội phức tạp, đa dạng và nhạy cảm Với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phát sinh ngày càng nhiều và phổ biến Cũng như mọi quan hệ khác, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cần có sự điều chỉnh của pháp luật Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan tới quan hệ này trong giai đoạn hiện nay là thật sự cần thiết

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quan tâm, chú trọng và tạo dựng khung pháp lý để ghi nhận, bảo hộ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Điều 36 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định:

“ 1 Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một

vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

2 Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (được thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) cùng khẳng định nguyên tắc:

“Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” và

“Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp

Trang 7

2

pháp luật Việt Nam có quy định khác

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế”

Ngoài pháp luật hôn nhân gia đình điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nước ta còn có hệ thống các văn bản dưới luật và 11 Điều ước quốc tế đa phương

đã gia nhập cùng 33 Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp Việt Nam ký kết với 25 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đóng góp hiệu quả trong quá trình làm ổn định và phát triển các giao lưu dân sự quốc tế; là công cụ đắc lực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước có liên quan đồng thời thực hiện nhiệm vụ đặc thù, quan trọng của tư pháp quốc tế - hài hòa hóa các xung đột pháp luật Có thể nói, nội dung của các văn bản pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế trên đây đã đóng góp một phần rất quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, so với đòi hỏi thực tế của đời sống quốc tế, pháp luật của Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được nghiên cứu để áp dụng có hiệu quả và bổ sung hoàn thiện

Khác với việc giải quyết quan hệ hôn nhân thông thường, việc giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến việc chọn pháp luật áp dụng Do đó việc nghiên cứu đề tài sẽ làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận trong việc áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam, cụ thể là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Đây là điều quan tâm không chỉ của những người nghiên cứu pháp luật mà còn là của những người làm công tác liên quan tới việc giải quyết các vấn đề về hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn

hiện nay Vì những lý do trên mà việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014" có ý nghĩa thiết

thực cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Qua đề tài nghiên cứu, người viết có thể giới thiệu một cách khái quát các quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Có thể tư vấn cho công dân Việt Nam về điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như cơ quan giải quyết việc kết hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài Và trường hợp nào áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam để giải quyết các vấn đề xung đột pháp luật Từ đó có những kiến nghị của bản thân góp phần hoàn thiện quan hệ này, qua đó người viết có thể tích lũy vốn kiến thức phục vụ cho công việc sau này

Trang 8

3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề lý luận pháp luật và thực tiễn pháp

lý của việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Việt Nam Nghiên cứu các vấn đề lý luận để xác định tính khoa học trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu

tố nước ngoài Nghiên cứu thực tiễn để tìm ra những điểm phù hợp và chưa phù hợp của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề pháp lý liên quan tới các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, chứng bao gồm các vấn

đề cơ bản như khái niệm, đặc điểm, nội dung và thực trạng của pháp luật về vấn đề này Trong quá trình nghiên cứu, các quy định tương ứng của pháp luật một số nước được vận dụng để so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam

Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp nên các vấn đề chi tiết có liên quan tới đề tài sẽ không được trình bày, mà khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu và trình bày một cách tổng quát những vấn đề pháp lý cơ bản, đặc biệt là các vấn đề làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, phương pháp phân tích: Người viết phân tích về mặt lý luận các quy định

của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong phạm vi quốc gia

và trong phạm vi quốc tế

Thứ hai, phương pháp so sánh: Được người viết áp dụng khi xem xét những vấn đề

về pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 trong tương quan đối chiếu với một số nước trên thế giới Đặc biệt phương pháp này sẽ được áp dụng nhằm rút ra những điểm chưa phù hợp trong quy định của pháp luật so với thực tiễn, với mục đích hoàn thiện những quy định đó

Thứ ba, phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp cổ điển được vận dụng khá phổ

biến trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng Áp dụng phương pháp này khi nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ sự phát triển có tính kế thừa

Trang 9

4

của pháp luật trong việc điều chỉnh những quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Thứ tư, phương pháp tổng hợp: Áp dụng phương pháp tổng hợp nhằm rút ra những

vấn đề cơ bản về mặt lý luận Việc làm này nhằm tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong việc quy định về nội dung quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Việt Nam

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần lời mở đầu - kết luận và phần danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận này gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Chương 2: Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 3: Thực tiễn việc thực hiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu

tố nước ngoài tại Việt Nam và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật

Trang 10

5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm và đặc điểm của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Ngày nay, đi cùng với xu hướng hội nhập tất yếu của thế giới là sự phát triển cực đại của công nghệ thông tin, phương tiện giao thông đi lại giữa các nước đã không còn nhiều rào cản như trước, tinh thần chống phân biệt chủng tộc, quốc tịch, tuổi tác và hoàn cảnh sống đi cùng với phong trào hòa nhập quốc tế và toàn cầu hóa khiến số lượng các cá nhân tìm hiểu và kết hôn với bạn đời nước ngoài ngày càng nhiều Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ Chúng ta không ngần ngại tìm hiểu văn hóa mới và hòa nhập với nền văn minh nước ngoài trong xã hội hiện đại Hai thập kỷ trở lại đây, hiện tượng người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài đã không còn xa lạ, thậm chí ngày càng trở nên phổ biến, việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã trở thành một yêu cầu cấp bách, quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào loại quan hệ hôn nhân này

Mặt khác, hôn nhân là một hiện tượng xã hội phát triển với xã hội loài người, hôn nhân thể hiện mối quan hệ xã hội giữa vợ và chồng hay hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn

Theo quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

thì: “Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”

Từ nội dung các quy định trên đây của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có thể

Trang 11

6

nói theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cơ sở để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân dựa vào những dấu hiệu sau:

Một là, chủ thể trong quan hệ hôn nhân là người nước ngoài

Hai là, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở

nước ngoài

Ba là, tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài

Bốn là, nơi cư trú của các bên đương sự tham gia vào quan hệ hôn nhân ở nước

ngoài

Tóm lại, từ cơ sở lý luận cũng như về mặt pháp lý trên đây, có thể rút ra khái niệm

về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như sau: Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân được xác lập giữa các bên chủ thể khác quốc tịch hoặc sự kiện làm nảy sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ hôn nhân ở nước ngoài

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thì “Hôn nhân là quan hệ giữa

vợ và chồng sau khi kết hôn”1

và “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng

với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”2 Từ các quy định trên ta nhận thấy quan hệ kết hôn là một bộ phận của quan hệ hôn nhân và để xác lập quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì hai bên nam nữ phải tuân theo các điều kiện kết hôn do luật định hay nói cách khác kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn mà ít nhất một trong các bên tham gia là người nước ngoài, công dân Việt Nam định

cư ở nước ngoài hoặc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà xác lập quan hệ đó ở nước ngoài

Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở Pháp tại cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại Như vậy hai công dân Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước Pháp về điều kiện, hình thức kết hôn Khi đó sự kiện xác lập quan hệ hôn nhân đã xảy ra ở Pháp và đặt ra vấn đề áp dụng pháp luật nước nào để giải quyết quan hệ trên Như vậy việc kết hôn giữa họ mang yếu tố nước ngoài

Nếu kết hôn là sự kiện xác lập quan hệ hôn nhân thì ly hôn thực chất là mặt trái của quan hệ này và cũng là mặt không thể thiếu khi quan hệ hôn nhân đó thực sự tan vỡ Ly hôn chỉ là giải pháp sau cùng khi cuộc sống vợ chồng không còn khả năng hàn gắn lại,

1

Khoản 1, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2 Khoản 5, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 12

7

mục đích hôn nhân không đạt được thì việc chấm dứt hôn nhân tất yếu sẽ xảy ra Mặt

khác, “ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực

pháp luật của Tòa án”3 Như vậy ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trên cơ sở là quyết định hay bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật Vậy ly hôn có yếu tố nước ngoài

là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng mà một trong các bên chủ thể là người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc ly hôn giữa công dân Việt Nam với nhau

mà căn cứ ly hôn chấm dứt ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài theo yêu cầu ít nhất một bên vợ hoặc chồng bằng bản án, quyết định của Tòa

án có hiệu lực pháp luật

Ví dụ: Hai công dân Việt Nam ly hôn với nhau ở Cộng hòa Séc, trước cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa Séc Khi đó căn cứ chấm dứt quan hệ hôn nhân đã xảy ra ở Cộng hòa Séc nên vụ việc mang yếu tố nước ngoài hoặc căn cứ ly hôn xảy ra ở nước ngoài như việc công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài nay xin ly hôn tại Việt Nam thì căn cứ giải quyết ly hôn là việc kết hôn được tiến hành ở nước ngoài nên vụ việc mang yếu tố nước ngoài

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Vì tính đặc thù của quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói riêng, ta có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản sau:

Một là, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường chịu sự điều chỉnh của hệ

thống pháp luật quốc gia và cả hệ thống pháp luật quốc tế Việc chọn pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài vì thế không chỉ là nỗi trăn trở của giới nghiên cứu khoa học mà còn là vấn đề đáng lưu tâm của các cơ quan áp dụng pháp luật

Ví dụ: Công dân Việt Nam kết hôn với công dân Tây Ban Nha tại cơ quan có thẩm quyền của Tây Ban Nha thì việc kết hôn phải tuân theo pháp luật Tây Ban Nha và pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn Như thế hiện tượng xung đột pháp luật đã xảy ra và việc áp dụng pháp luật nước nào để điều chỉnh sẽ được đặt ra

Hai là, quan hệ hôn nhân là quan hệ dân sự đặc biệt vì thế quan hệ hôn nhân có yếu

tố nước ngoài cũng là một loại quan hệ dân sự có tính chất đặc biệt và được thể hiện ở mặt tình cảm giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ này Đây cũng là yếu tố quyết định trong việc xác lập hay chấm dứt quan hệ hôn nhân Mặc khác, quan hệ hôn nhân còn

bị ảnh hưởng nhiều bởi phong tục tập quán, đạo đức xã hội, những hiểu biết về pháp luật nước ngoài làm cho quan hệ này bị chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu

3 Khoản 14, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 13

8

giữa các bên về mặt tình cảm là việc rất khó khăn dễ dẫn đến tình trạng ly hôn ngày càng tăng như hiện nay

Ba là, tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài còn phải chịu sự

điều chỉnh riêng của các hệ thống pháp luật khác nhau nên việc xác định tài sản trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là việc rất khó khăn và phức tạp Hơn thế, một số trường hợp do tài sản ở nước ngoài nên việc phân loại tài sản là động sản hay bất động sản hoặc việc chia tài sản cần phải tuân thủ theo các hệ thống pháp luật khác nhau

1.2 Các yếu tố cấu thành quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Vì quan hệ hôn nhân là quan hệ dân sự đặc biệt nên các yếu tố để xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng được sử dụng để xác định quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Do đó, trong quan hệ hôn nhân nếu chủ thể là các bên khác quốc tịch; sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài; hoặc tài sản liên quan tới quan hệ hôn nhân ở nước ngoài thì quan hệ đó được gọi là quan hệ hôn nhân

có yếu tố nước ngoài Về mặt lý luận cũng như thực tế, các dấu hiệu sau đây sẽ được áp dụng để xác định quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể: chủ thể, khách thể và sự kiện pháp lý

1.2.1 Chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Chủ thể trong quan hệ hôn nhân là công dân Việt Nam, người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài.4

1.2.1.1 Chủ thể trong quan hệ hôn nhân là công dân Việt Nam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 2013 thì “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có

quốc tịch Việt Nam”

Theo Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật

số 56/2014/QH13 quy định về người có quốc tịch Việt Nam thì:

“1 Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này

2 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đăng

4 Xem thêm khoản 25, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 14

9

ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam

và cấp Hộ chiếu Việt Nam.”

Ngoài ra, nếu chủ thể có một trong các căn cứ sau thì được xác định có quốc tịch Việt Nam:

- Trẻ em khi sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.5

- Trẻ em khi sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc

mẹ lầ công dân Việt Nam còn người kia là người không có quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.6

- Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công

dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em

đó có quốc tịch Việt Nam.7

- Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.8

- Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.9

- Chủ thể có các điều kiện thỏa theo quy định tại các Điều 18, Điều 35, Điều 37 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 về: quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ

em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam, quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam, quốc tịch của con nuôi chưa thành niên

- Được nhập quốc tịch Việt Nam (quy định tại Điều 19 Luật quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 về điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam)

- Được trở lại quốc tịch Việt Nam (quy định tại Điều 23 Luật quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 về các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam)

- Theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

1.2.1.2 Chủ thể trong quan hệ hôn nhân là người nước ngoài

5 Điều 15 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

6 Khoản 1, Điều 16 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

7 Khoản 2, Điều 16 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

8

Khoản 1, Điều 17 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

9 Khoản 2, Điều 17 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

Trang 15

10

Các tiêu chí xác định người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch được quy định tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 Đối với người có quốc tịch nước ngoài, Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 không có quy định cụ thể, nhưng tại khoản 1 Điều 3 khi giải thích về thuật ngữ

"quốc tịch nước ngoài" thì luật này quy định: "Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một

nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam" Điều này được hiểu, theo pháp luật Việt

Nam, người có quốc tịch nước ngoài là người có quốc tịch của một nước khác không phải

là quốc tịch của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đối với người không quốc tịch thì khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi,

bổ sung năm 2014 quy định: "Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt

Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài.”

Từ nội dung quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm

2014 vừa nêu trên, có thể thấy khái niệm về người nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch nước ngoài nhưng không có quốc tịch Việt Nam và người không có quốc tịch là người không có quốc tịch nước ngoài và đồng thời cũng không có quốc tịch Việt Nam Các khái niệm trên đây được thống nhất sử dụng khi nghiên cứu tư cách chủ thể của những người tham gia các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

1.2.1.3 Chủ thể trong quan hệ hôn nhân là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài

Quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài thì đó là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Quy định này là hoàn toàn phù hợp khi số lượng người Việt Nam cư trú ở nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam ngày càng tăng

Theo quy định tại khoản 3 và 4 Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài, không kể người đó đã nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa và có thể thuộc hai nhóm đối tượng: Công dân Việt Nam có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra, quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống10 và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Theo quy định này, người gốc Việt Nam là người từng có quốc tịch Việt Nam hoặc người có cha đẻ, mẹ đẻ hoặc ông

10 Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới xác định quốc tịch theo ba nguyên tắc: nguyên tắc huyết thống, nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc thỏa thuận quốc tế Theo nguyên tắc huyết thống, trẻ em sinh ra có cha mẹ, có cha hoặc mẹ là công dân nước nào thì được công nhận có quốc tịch nước đó mà không phụ thuộc nơi trẻ sinh ra

Trang 16

11

bà nội, ngoại hiện đang hay trước đây từng có quốc tịch Việt Nam Cơ sở xác định người

có gốc Việt Nam là một trong các giấy tờ hợp lệ như giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, sổ đăng ký hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn v.v…

Như vậy việc kết hôn hay ly hôn giữa công dân Việt Nam với người có quốc tịch nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch, giữa người có quốc tịch nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa người không quốc tịch với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam cư trú trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.2.2 Khách thể quan hệ pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Khi quan hệ hôn nhân được xác lập thì quan hệ về tài sản và các quan hệ về nhân thân giữa các chủ thể cũng được xác lập Nếu quan hệ vợ chồng có liên quan tới tài sản đang tồn tại ở nước ngoài thì tài sản này là cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Như vậy khách thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là tài sản, quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài Về nguyên tắc, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có liên quan đến tài sản ở nước ngoài thì việc chọn luật áp dụng cho quan hệ đó cũng được cân nhắc Khi điều chỉnh những tranh chấp

về tài sản trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài người ta thường áp dụng các quy phạm xung đột để giải quyết các vấn đề có liên quan đến tài sản này Đa số các quy phạm xung đột thường dựa vào quy tắc pháp luật của nước nơi có tài sản Như vậy các quyền về tài sản sẽ do pháp luật của nước nơi có tài sản điều chỉnh

Ví dụ: Vợ chồng là công dân Việt Nam đang cư trú tại Việt Nam nhưng tài sản chung của họ tồn tại tại Cu Ba Vậy nên quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản này được xác định theo pháp luật Cu Ba – pháp luật nơi tồn tại vật hoặc theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam – luật quốc tịch của vợ chồng Trong trường hợp này

nếu tài sản là bất động sản thì áp dụng theo nguyên tắc luật nơi có vật (Lex rei sitae) để

điều chỉnh Theo đó pháp luật của Cu Ba sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ và chồng

1.2.3 Sự kiện pháp lý trong pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Thứ nhất, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Sự kiện pháp lý làm phát

sinh quan hệ hôn nhân là trường hợp việc kết hôn được tiến hành ở nước ngoài Yếu tố này được áp dụng trong trường hợp các bên có cùng quốc tịch nhưng kết hôn với nhau trước cơ quan có thẩm quyền của nước mà các bên không mang quốc tịch

Trang 17

12

Ví dụ: Hai công dân Việt Nam đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, tại nước ngoài Trong trường hợp này, quan hệ vợ chồng của các bên chỉ được thừa nhận khi

họ tuân thủ điều kiện kết hôn của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước mà họ mang quốc tịch Đồng thời, pháp luật nước ngoài, pháp luật nơi tiến hành kết hôn cũng được áp dụng

để xem xét tính hợp pháp của hành vi kết hôn giữa hai chủ thể này Như vậy, trong trường hợp sự kiện làm phát sinh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã đòi hỏi phải chọn pháp luật để giải quyết

Thứ hai, sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân Thông thường, pháp luật

đề cập đến các vấn đề liên quan tới sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân là sự kiện ly hôn Trong trường hợp, các bên vợ chồng ly hôn với nhau ở nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì pháp luật được áp dụng điều chỉnh sẽ là pháp luật của nước mà các bên chủ thể mang quốc tịch và pháp luật nơi tiến hành ly hôn Trong trường hợp này, vấn đề chọn pháp luật để áp dụng cũng được đặt ra

Ví dụ: Hai công dân Việt Nam ly hôn với nhau ở Indonesia, trước cơ quan có thẩm quyền của Indonesia Để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan tới quyền và nghĩa vụ của các bên khi ly hôn, trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam và pháp luật của Indonesia cùng có thể được áp dụng Pháp luật Việt Nam được áp dụng trên cơ sở dấu hiệu quốc tịch của các chủ thể còn pháp luật của Indonesia sẽ có thể được áp dụng trên cơ

sở pháp luật nước có tòa án Trong trường hợp này áp dụng pháp luật nước nào để giải quyết, trước tiên phụ thuộc vào các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký với Indonesia, sau đó là quy định pháp luật của Indonesia Như vậy, khi sự kiện làm chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài thì việc chọn pháp luật áp dụng được đặt ra

1.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật và một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “ở nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”11 và “trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của

11 Khoản 1, Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 18

Thứ nhất, khi điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì các quy định

của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng

Thứ hai, quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc gia nhập sẽ

được ưu tiên áp dụng trong trường hợp pháp luật trong nước có quy định khác với điều ước quốc tế đó

Thứ ba, trong trường hợp pháp luật Việt Nam và trong điều ước quốc tế mà Việt

Nam đã kí kết hoặc gia nhập dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng pháp luật không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp Việt Nam và trong điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam

Tóm lại, việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam phải tuân theo một số nguyên tắc pháp lý nhất định Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này không chỉ bảo vệ lợi ích của quốc gia trong quan hệ quốc tế mà còn bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.3.2 Một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ pháp luật mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật có sự khác nhau Dựa trên các dấu hiệu như quốc tịch, nơi cư trú, nơi tiến hành kết hôn, ly hôn để xác định pháp luật áp dụng Tuy nhiên, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định để áp dụng hệ thống pháp luật đã được quy phạm xung đột dẫn chiếu nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì phải tuân theo một số điều kiện nhất định và việc xem xét, lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng đối với quan hệ hôn nhân

có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết qua một số hệ thuộc sau:

1.3.2.1 Hệ thuộc luật quốc tịch (Lex nationalis)

Hệ thuộc luật quốc tịch hay còn gọi là luật của quốc gia mà đương sự là công dân

Hệ thuộc này quy định áp dụng pháp luật nước mang quốc tịch khi quan hệ hôn nhân có

12 Khoản 1, Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 19

14

yếu tố nước ngoài phát sinh Mỗi cá nhân đều có mối quan hệ pháp lý mật thiết với một nhà nước, nên sẽ được hưởng những quyền và sự bảo hộ của quốc gia, cũng như phải chịu những nghĩa vụ pháp lý mà quốc gia qui định Cá nhân mang quốc tịch của quốc gia nào thì sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc gia đó Quy định này ghi nhận trong pháp luật của các nước đã thể hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia

Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định: “Trong việc kết hôn giữa công

dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”13 “Nước mình” được hiểu là nước mà người nước ngoài là công dân hoặc

cư trú nếu là người không quốc tịch hoặc nước mà người nước ngoài mang quốc tịch và

cư trú nếu là người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài Việc áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của đương sự sẽ đảm bảo một cách tốt nhất về quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản

Ví dụ: Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Khi đó, công dân Việt Nam là người mang quốc tịch Việt Nam nên sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật Việt Nam Còn người nước ngoài cũng phải tuân theo pháp luật của nước mình

về điều kiện kết hôn Trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc khi người nước ngoài kết hôn với nhau trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì người nước ngoài, bên cạnh phải tuân theo quy định pháp luật của nước mình thì còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn

Hệ thuộc luật quốc tịch được áp dụng rộng rãi và phổ biến nhất được nhiều nước áp dụng trong đó có Việt Nam để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói riêng

1.3.2.2 Hệ thuộc luật nơi cư trú (Lex domicilii)

Trong tư pháp quốc tế nói chung và trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói riêng, bên cạnh việc dùng dấu hiệu quốc tịch của đương sự, người ta còn dùng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định pháp luật áp dụng Hệ thuộc luật nơi cư trú được hiểu là luật của quốc gia mà ở đó đương sự có nơi cư trú ổn định (thường trú) Những quốc gia coi trọng quy chế lãnh thổ sẽ áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú: luật áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật sẽ là pháp luật của nước mà đương sự cư trú

13 Khoản 1, Điều 126 Luật hôn nhân và gia đình năm 20 14

Trang 20

15

Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định: “Trong trường hợp bên là công

dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam”14 Như vậy, pháp luật Việt Nam đã lấy dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài để xác định pháp luật áp dụng, giúp cho việc giải quyết vụ việc về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được nhanh chóng và thuận lợi hơn

Ví dụ: Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Nếu vào thời điểm yêu cầu ly hôn công dân Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Trung Quốc thì sẽ giải quyết theo pháp luật Trung Quốc, nếu công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Trung Quốc thì sẽ giải quyết theo pháp luật Việt Nam

Hệ thuộc luật nơi cư trú ngày càng được nhiều nước áp dụng khi có vấn đề phát sinh Thực tế trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, với chính sách mở cửa và hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, số lượng người nước ngoài, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam ngày càng tăng Do đó, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cũng tăng lên Vì vậy, việc áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú là hết sức cần thiết

1.3.2.3 Hệ thuộc luật nơi có vật (tài sản)

Hệ thuộc luật nơi có tài sản là cách thức áp dụng pháp luật dựa vào yếu tố tài sản: tài sản nằm ở đâu thì áp dụng pháp luật ở nơi đó để giải quyết Tại khoản 3 Điều 127 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước

ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” Như vậy tài sản

là bất động sản của hai vợ chồng nằm trên lãnh thổ của quốc gia nào thì sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia đó để giải quyết vấn đề tài sản trên Nếu tài sản là bất động sản nằm trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết quan hệ ly hôn trên

Ví dụ: Giữa công dân Việt Nam ly hôn với nhau có bất động sản ở nước ngoài Thì việc ly hôn sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó Nếu tài sản là bất động sản nằm trên lãnh thổ Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết vụ việc

ly hôn trên

1.3.2.4 Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi

Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi là một hành vi được thực hiện ở nước nào thì pháp luật nước đó sẽ điều chỉnh hành vi này Như hai bên nam, nữ tiến hành kết hôn ở

14 Khoản 2, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 21

16

nước nào thì pháp luật nước đó sẽ được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn Tại khoản

2 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn giữa những

người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn” Việc áp dụng hệ thuộc luật nơi

thực hiện hành vi nhằm đảm bảo cho người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam như quyền kết hôn

Khi quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phát sinh thì có nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng tham gia điều chỉnh Như vậy, để giải quyết xung đột pháp luật ta sẽ dựa vào các hệ thuộc trên để đưa ra nguyên tắc chọn luật áp dụng cho phù hợp Hoặc khi các bên chủ thể không cùng quốc tịch thì việc áp dụng hệ thuộc luật nơi có Tòa án là hợp lý nhất Ngoài ra, khi kết hợp các nguyên tắc áp dụng luật để giải quyết các

vụ việc về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài sẽ tránh được việc vi phạm trật tự công cộng, các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật quốc gia

Trang 22

17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, các vấn đề khoa học sau đây đã được người viết phân tích:

Thứ nhất là khái niệm và đặc điểm của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Trong phần khái niệm, người viết phân tích về mặt lý luận cũng như về pháp lý để đưa ra khái niệm về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như sau: Quan hệ hôn nhân có yếu

tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân được xác lập giữa các bên chủ thể khác quốc tịch hoặc

sự kiện làm nảy sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ hôn nhân ở nước ngoài Vì tính đặc thù của quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói riêng, ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của quan hệ này như sau:

Một là, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường chịu sự điều chỉnh của hệ

thống pháp luật quốc gia và cả hệ thống pháp luật quốc tế Việc chọn pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài vì thế không chỉ là nỗi trăn trở của giới nghiên cứu khoa học mà còn là vấn đề đáng lưu tâm của các cơ quan áp dụng pháp luật

Hai là, quan hệ hôn nhân là quan hệ dân sự đặc biệt vì thế quan hệ hôn nhân có yếu

tố nước ngoài cũng là một loại quan hệ dân sự có tính chất đặc biệt và được thể hiện ở mặt tình cảm giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ này

Ba là, tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài còn phải chịu sự

điều chỉnh riêng của các hệ thống pháp luật khác nhau nên việc xác định tài sản trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là việc rất khó khăn và phức tạp

Bốn là, theo các số liệu thống kê thì đa số các trường hợp xác lập hay chấm dứt quan

hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đều là nữ công dân Việt Nam

Thứ hai, dựa trên mặt lý luận cũng như thực tiễn, các dấu hiệu sau đây sẽ được áp dụng để xác định quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể: chủ thể, khách thể và sự kiện pháp lý

- Chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài là công dân Việt Nam, người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài

- Khách thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là tài sản, quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài

- Sự kiện pháp lý trong pháp luật hôn nhân có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó ở nước ngoài

Trang 23

18

Thứ ba, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế vì thế việc điều chỉnh quan hệ trên phải tuân theo một số nguyên tắc pháp lý nhất định Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này không chỉ bảo vệ lợi ích của quốc gia trong quan hệ quốc tế mà còn bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Ngoài ra người viết còn khái quát một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như:

- Hệ thuộc luật quốc tịch

- Hệ thuộc luật nơi cư trú

- Hệ thuộc luật nơi có vật

- Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi

Trang 24

19

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

2.1 Pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài

Tại Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định:

“1 Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn

2 Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”

Xuất phát từ khái niệm quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và khái niệm kết hôn

có yếu tố nước ngoài, có thể thấy việc kết hôn có yếu tố nước ngoài thường phát sinh giữa các chủ thể sau:

- Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam sẽ tiến hành việc đăng ký việc kết hôn cho họ Khi đó mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn và người nước ngoài còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn

- Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại nước ngoài như vậy họ vẫn

có thể tiến hành việc kết hôn với nhau tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước sở tại Khi đó, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn

và người nước ngoài còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn nếu việc đăng ký, giải quyết đó không trái với pháp luật của nước sở tại Nếu họ tiến hành việc kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài thì ngoài việc tuân thủ theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn mà họ còn phải tuân thủ theo pháp luật nước mà họ đăng ký kết hôn về điều kiện kết hôn

- Người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc kết hôn cho họ khi họ có yêu cầu Như vậy, họ sẽ tuân theo hai hệ thống pháp luật về điều kiện kết hôn đó là pháp luật của nước mà họ là công dân và pháp luật Việt Nam

Trang 25

20

- Công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài Việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì họ phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và họ còn phải tuân theo pháp luật của nước mà họ đăng ký kết hôn về điều kiện kết hôn khi đó việc kết hôn trong trường hợp này có thể công nhận tại Việt Nam nếu không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Nếu công dân Việt Nam đang công tác, học tập, lao động, du lịch có thời hạn ở nước ngoài mà kết hôn với nhau hoặc kết hôn với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước thì việc kết hôn trên không mang yếu

để xem xét tính hợp pháp của việc kết hôn

2.1.1 Điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài

Các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được

áp dụng cho bên nam hoặc nữ là công dân Việt Nam, người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài khi việc kết hôn có yếu tố nước ngoài và việc kết hôn này không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Theo đó, hai bên nam nữ muốn kết hôn với nhau phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

2.1.1.1 Điều kiện về nội dung

* Điều kiện về độ tuổi

Pháp luật Việt Nam quy định kết hôn phải tuân theo điều kiện “Nam từ đủ 20 tuổi

trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”15 Theo quy định trên tuổi kết hôn đối với nam là đủ 20

tuổi, với nữ là đủ 18 tuổi Tuổi đủ còn gọi là tuổi tròn, nghĩa là phải đủ 365 ngày tuổi mới tính đủ 1 tuổi Ví dụ: Chị Ngô Thị M sinh ngày 27/8/1998 thì đến 2/1/2016 chị mới được

17 tuổi 4 tháng (chưa đủ 18 tuổi) nên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật

Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn đã khắc phục nhiều điểm không hợp lý của Luật cũ16 như:

15 Điểm a, khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

16 Điểm a mục 1 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối

cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Nam từ hai mươi tuổi

trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên”

Trang 26

21

- Về tâm sinh lý: Khi người phụ nữ đủ 18 tuổi thì cơ thể hoàn thiện, việc mang thai

và sinh con sẽ an toàn hơn, mặt khác lúc này tâm lý đã hoàn thiện nên việc tiếp nhận khối lượng kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống sẽ tốt hơn, xử lý được các vấn đề trong cuộc sống

- Về mặt lập pháp: Sở dĩ có việc thay đổi này là vì nếu quy định tuổi kết hôn của nữ

là vừa bước qua tuổi 18 thì quy định này là không thống nhất với Bộ luật Dân sự

2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Theo Bộ luật Dân sự 2015 thì người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý17… Còn theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự18 Vì vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tuổi kết hôn từ đủ 18 tuổi giúp đồng bộ hóa hệ thống pháp luật, đảm bảo đầy đủ quyền, nghĩa vụ dân sự của người nữ

* Điều kiện về sự tự nguyện

Việc xác lập quan hệ vợ chồng bắt nguồn từ tình yêu và sự đồng thuận của hai bên nam nữ, nên Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định một nguyên tắc cơ bản, quan

trọng của chế độ hôn nhân và gia đình là “hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một

chồng, vợ chồng bình đẳng”19 Vì vậy, ngoài điều kiện về độ tuổi thì pháp luật hôn nhân

và gia đình còn quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”20

Tự nguyện kết hôn được hiểu là việc hai bên nam, nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ, chồng của nhau Mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi bên kia hay của bất kỳ người nào khác khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ Sự thể hiện ý chí phải thống nhất với ý chí Hai bên nam, nữ mong muốn trở thành vợ, chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng xây dựng gia đình với mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai người Sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài bền vững

* Điều kiện không rơi vào các trường hợp cấm

17 Xem thêm Điều 20, 21 Bộ luật Dân sự 2015

18 Xem thêm khoản 3, Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

19

Khoản 1, Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

20 Điểm b, khoản 1, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 27

22

Các trường hợp bị cấm kết hôn được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014: “Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết

hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này” Cụ thể:

- Kết hôn giả tạo21, ly hôn giả tạo22

- Tảo hôn23, cưỡng ép kết hôn24, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn25

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, xây dựng môi trường giáo dục và nhân cách con người tốt, phát huy vai trò gia đình tốt thì xã hội tốt nên pháp luật đã cấm người đang

có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có

vợ, có chồng một cách thường xuyên, công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình Như vậy, không chỉ những người đã kết hôn (đang có vợ hoặc có chồng) mới bị cấm kết hôn với người khác mà pháp luật còn cấm những người đó chung sống như vợ chồng với người khác Những quan hệ như vậy sẽ không được pháp luật công nhận, bảo vệ

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con

rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Nếu họ kết hôn với nhau sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nòi giống, chất lượng dân số Khoa học đã chứng minh kết hôn trong phạm vi ba đời, đặc biệt giữa những người cùng dòng máu trực hệ (thường gọi là kết hôn cận “huyết thống”) sẽ để lại hậu quả khôn lường, làm suy giảm sức khỏe, suy giảm chất lượng nòi giống, con cái sinh ra bị mắc bệnh dị tật, bệnh di truyền Vì vậy, những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi

ba đời bị cấm kết hôn

Còn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng tuy những người này không có quan hệ huyết thống với nhau

21 Xem thêm khoản 11, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

22 Xem thêm khoản 15, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

23 Xem thêm khoản 8, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

24

Xem thêm khoản 9, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

25 Xem thêm khoản 10, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 28

23

nhưng giữa họ có mối quan hệ gia đình nên có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đối với nhau Trong quan hệ nuôi con nuôi, việc nuôi con nhằm mục đích xác lập quan hệ cha mẹ và con lâu dài, bền vững vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trong môi trường gia đình Mặt khác, để phù hợp với truyền thống đạo đức, pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam, đảm bảo xây dựng, duy trì gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc, bền vững cho nên dù còn hay không còn quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc, những người đang hay đã từng có mối quan hệ cha, mẹ và con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng cũng không được kết hôn với nhau

* Điều kiện về năng lực hành vi dân sự

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự26 Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015, người mất năng lực hành vi dân sự là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và theo yêu cầu của người

có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần

Như vậy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã không công nhận và bảo vệ việc kết hôn mà trong đó có ít nhất một bên bị mất năng lực hành vi dân sự Bởi lẽ, kết hôn không chỉ đơn giản là hai bên nam nữ đủ độ tuổi, tự nguyện quyết định là có thể trở thành

vợ chồng Kết hôn là nhằm mục đích duy trì nòi giống, vợ chồng cùng nhau chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ trách nhiệm, nghĩa vụ đối với nhau Nếu một người bị mất năng lực hành

vi dân sự họ không thể nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình khi đó họ cũng không có điều kiện để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của người chồng, người vợ, người cha, người mẹ, đặc biệt hơn là họ không thể lo cho chính bản thân của mình Vì vậy, Luật không cho phép người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn

Mặt khác, người bị bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức và điều khiển hành

vi nhưng chưa bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự thì họ sẽ không thuộc trường hợp cấm kết hôn vì họ chưa được xem là người mất năng lực hành vi dân sự Khi đó, họ vẫn chưa đủ điều kiện kết hôn vì họ không đáp ứng điều kiện về sự tự nguyện (do không ý thức, điều khiển được hành vi nên không bày tỏ được ý chí của mình

26 Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 29

24

trong việc kết hôn) Hơn thế, trong hồ sơ đăng ký kết hôn yêu cầu giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình27, khi đó, không cần phải được Tòa án tuyên là người mất năng lực hành vi dân sự, người đó vẫn không đủ điều kiện để kết hôn

Việc áp dụng pháp luật để xác định người mất năng lực hành vi dân sự của cá nhân

là người nước ngoài (bao gồm: người có một quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch, người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài) cư trú tại Việt Nam thì tuân theo quy định tại điều 22 của Bộ luật Dân sự 2015 Trong trường hợp người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam thì việc xác định người mất năng lực hành vi dân sự nếu người nước ngoài là:

- Người có một quốc tịch nước ngoài thì sẽ tuân theo pháp luật của nước mà người

đó có quốc tịch.28

- Người không quốc tịch thì sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn

bó nhất.29

- Người có nhiều quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch

và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam.30

Ngoài ra tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nhà

nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Nhà nước Việt Nam

không cấm hôn nhân đồng giới nhưng cũng không thừa nhận quan hệ hôn nhân này Việc

27

Xem thêm khoản 1, Điều 38 Luật Hộ tịch 2014

28 Khoản 1, Điều 8 Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 Quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

29 Khoản 1, Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015

30

Khoản 2, Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 5 Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 Quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Trang 30

25

không thừa nhận này đồng nghĩa với việc các cặp đôi cùng giới sẽ không thể đi đăng ký kết hôn, không được cấp chứng nhận kết hôn, hay việc chung sống của họ sẽ không được pháp luật thừa nhận, và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ như vợ chồng giữa họ Như vậy, theo quy định trên thì hôn nhân đồng tính không còn bị cấm31 Người đồng tính

có thể tổ chức hôn lễ, chung sống với nhau nhưng dưới con mắt pháp luật thì không được coi như vợ chồng và không thể đăng kí kết hôn với cơ quan nhà nước Về mặt quyền thực

tế không có gì thay đổi, tuy vậy về mặt tác động tới xã hội, hôn nhân cùng giới không còn

bị coi là hành vi bị ngăn cấm hay gây nguy hại cho xã hội, và tiến tới sẽ cần được thừa nhận trong tương lai Tác giả nhận thấy điều này đã thể hiện sự thay đổi trong quan niệm của những nhà làm luật, và chắc chắn nó có tác động đến quan điểm xã hội nói chung

2.1.1.2 Điều kiện về hình thức

Nghi thức kết hôn là trình tự tiến hành kết hôn chính thức để công nhận một cách hợp pháp quan hệ vợ – chồng giữa hai bên đương sự Mỗi quốc gia đều có quy định về nghi thức kết hôn khác nhau, có quốc gia theo nghi thức dân sự, có quốc gia gia theo nghi thức và cũng có quốc gia kết hợp cả hai phương thức trên Các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết thường sử dụng nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi để điều chỉnh nghi thức kết hôn, theo đó, việc kết hôn được tiến hành ở đâu thì nghi thức kết hôn phải phù hợp với quy định pháp luật của nước đó Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1 Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý

2 Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn”

Như vậy, việc kết hôn theo nghi thức dân sự hay nghi thức tôn giáo đều phải đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn Khi đó, hai bên nam nữ cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn sẽ trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên thì nghi thức kết hôn mới có giá trị pháp lý

2.1.2 Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

2.1.2.1 Thẩm quyền đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân cấp huyện

31

Xem thêm khoản 5, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”

Trang 31

26

Tại khoản 1 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về thẩm quyền đăng ký hộ tịch liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch; theo đó, Luật Hộ tịch năm

2014 quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân cấp huyện cụ thể như sau:

“1 Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng

ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú

ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định

cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài

2 Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng

ký kết hôn.” 32

Với quan điểm thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền cơ sở nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm chú trọng, đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước và thuận lợi hơn cho người dân bằng những đổi mới trong quy định của pháp luật hộ tịch Luật Hộ tịch năm 2014 quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết toàn bộ các việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, thay cho thẩm quyền thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh như quy định trước đây33

Quy định này để nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của chính quyền

cơ sở; bảo đảm tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tiến tới mục tiêu lâu dài là phân cấp triệt để thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ

sở khi điều kiện cho phép…

2.1.2.2 Thẩm quyền đăng ký kết hôn tại Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài

Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc công dân Việt Nam với người nước ngoài mà phù hợp với pháp luật nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn Trường hợp vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm

32

Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014

33 Xem thêm Điều 6, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trang 32

27

yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam

2.1.3 Giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

2.1.3.1 Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam

*Hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về hồ sơ cần có khi đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Luật Hộ tịch 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một

số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, gồm những loại giấy tờ sau:

- Giấy tờ phải xuất trình34:

+ Hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng

để chứng minh về nhân thân của công dân Việt Nam

+ Giấy tờ chứng minh nơi cư trú để xác định thẩm quyền trong giai đoạn Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc chưa được xây dựng xong và thực hiện thống nhất trên toàn quốc (giai đoạn chuyển tiếp)

- Giấy tờ phải nộp35:

+ Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định

+ Giấy xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cho cơ quan đăng ký hộ tịch

+ Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy

tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sao hộ chiếu Nếu không có hộ chiếu để xuất trình thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú

Lưu ý:

+ Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn

+ Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan

có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì

Trang 33

* Thời hạn giải quyết đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam36

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp tiến hành nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ và xác minh nếu thấy cần thiết Trưởng phòng Phòng

Tư pháp chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra và đề xuất của Phòng Tư pháp trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn

Nếu hồ sơ hợp lệ, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân

và gia đình, không thuộc trường hợp từ chối kết hôn đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 33 của Nghị định này thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn

Căn cứ tình hình cụ thể, khi cần thiết, Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và hiệu quả quản lý Nhà nước

Được biết Nghị định 123/2015/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 đã bãi bỏ một phần của Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 15/2/2015 Quy định một số điều

và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, cụ thể từ Mục 1 đến Mục 6 Chương III gồm các điều từ Điều 19 đến Điều 50 và Điểm a Khoản 1 Điều 63 bị bãi bỏ, trong đó có quy định về thủ tục phỏng vấn đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài Quy định này bắt buộc hai bên trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải đến phỏng vấn tại Sở Tư

pháp nhằm “kiểm tra, làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn và

mức độ hiểu biết của hai bên nam, nữ về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau; về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước”37 Việc Chính phủ bỏ quy định bắt buộc có thủ tục phỏng vấn trong đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm tạo thuận lợi cho người dân, rút ngắn thời gian giải quyết đăng ký kết hôn chỉ còn khoảng 10 – 15 ngày so với quy định trước đó

Trang 34

29

* Tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

ký Giấy chứng nhận kết hôn, Phòng Tư pháp tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.38

Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân, công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.39

Lưu ý rằng: Nếu một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì có thể yêu cầu gia hạn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu40

*Hồ sơ đăng ký kết hôn tại đại sứ quán và Cơ quan đại diện42

Thứ nhất, tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu quy định); hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn;

Thứ hai, bên kết hôn là công dân Việt Nam, tùy từng trường hợp phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân sau đây:

- Trường hợp công dân Việt Nam có thời gian thường trú tại Việt Nam, trước khi xuất cảnh đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì

41 Xem thêm khoản 1, Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30/6/2016 Hướng dẫn việc đăng

ký và quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài

42

Khoản 2, Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30/6/2016 Hướng dẫn việc đăng ký và quản

lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài

Ngày đăng: 05/03/2021, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Quang Minh (2015). “Gỡ “rào cản” trong thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài”. Cập nhật ngày 30/7/2015. Nguồn: http://baophapluat.vn/tu-phap/go-rao-can-trong-thu-tuc-dang-ky-ket-hon-co-yeu-to-nuoc-ngoai-226106.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Gỡ “rào cản” trong thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài”
Tác giả: Quang Minh
Năm: 2015
14. Minh Thành (2013). “Không dễ kết hôn với nước ngoài!”. Cập nhật ngày 04/9/2013. Nguồn: http://www.baogiaothong.vn/khong-de-ket-hon-voi-nguoi-nuoc-ngoai-d61960.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Không dễ kết hôn với nước ngoài!”
Tác giả: Minh Thành
Năm: 2013
15. Hồng Thủy, Trần Lưu (2013). “Vụ cô dâu Việt tự tử ở Hàn Quốc: Những giọt nước mắt nơi xứ người!”. Cập nhật ngày 23/01/2013. Nguồn: https://laodong.vn/xa- Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vụ cô dâu Việt tự tử ở Hàn Quốc: Những giọt nước mắt nơi xứ người!”
Tác giả: Hồng Thủy, Trần Lưu
Năm: 2013
16. Mai Vy (2017). “Hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Mảnh đất màu mỡ cho những kẻ buôn người”. Cập nhật ngày 30/12/2017. Nguồn: http://hoinhabaovietnam.vn/Hon-nhan-co-yeu-to-nuoc-ngoai-Manh-dat-mau-mo-cho-nhung-ke-buon-nguoi_n29300.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Mảnh đất màu mỡ cho những kẻ buôn người”
Tác giả: Mai Vy
Năm: 2017
17. Theo http://phunuvietnam.vn/ (2017). “Vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài”. Cập nhật ngày 01/08/2017. Nguồn:http://www.hoilhpn.org.vn/newsdetail.asp?CatId=159&NewsId=25473&lang=VN B. Tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước "ngoài”
Tác giả: Theo http://phunuvietnam.vn/
Năm: 2017
19. J.G Collier (1994), Conýĩỉct of Laws, Second Edition, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Conýĩỉct of Laws
Tác giả: J.G Collier
Năm: 1994
20. J.G Castel (1994), Canadian Conýỉict of Laws, 3rd Edition, Butterworths, Toronto and Vancouver Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canadian Conýỉict of Laws
Tác giả: J.G Castel
Năm: 1994
7. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Khác
8. Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Khác
9. Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Khác
10. Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình Khác
11. Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch Khác
12. Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-BNG-BTP ngày 30/6/2016 của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.II. Tài liệu các bài viết trên trang web Khác
18. Switzerland’s Federal Code on Private International Law of 18 September 1987- CPIL (ngày 18/12/1987, có hiệu lực từ ngày 01/01/1989) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w