Có bài đậm chất sử thi ngợi ca đất nước và con người Việt Nam như Rừng hồi, Ai đã về châu xưa, Đời rừng, Đứa con phù sa, Cồn Cỏ ngày thường; có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qu
Trang 1I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Là một nhà văn, nhà giáo từng tham gia tích cực các phong trào yêu nước chống Mỹ nguỵ
- Có PC độc đáo, có sở trường ở thể bút ký, tuỳ bút Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc thường gắn với tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đất nước và với truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời của dân tộc mà ông đã bỏ công tích luỹ một cách say mê và đầy trân trọng, đồng thời cố gắng truyền đạt bằng một ngòi bút tài hoa với những lời văn thật đẹp, thật sang Lối hành văn của ông thường phóng túng, nhân vật chính là cái tôi tác giả với chất trữ tình rất đậm đà
- Tác phẩm chính:
+ Văn xuôi: Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (1986), Hoa trái quanh tôi (1995), Bản di chúc của “ Cỏ lau”(1997), Ngọn núi ảo ảnh (1999)
+Thơ có: Những dấu chân qua TP (1976), Người hái phù dung (1992)
2 Tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?”
- Xuất xứ: Viết T1.1981, rút từ tập ký cùng tên (gồm 8 bài viết về nhiều đề tài Có bài đậm chất
sử thi ngợi ca đất nước và con người Việt Nam như Rừng hồi, Ai đã về châu xưa, Đời rừng, Đứa con phù sa, Cồn Cỏ ngày thường; có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước, đặc biệt là những bài kí viết về thiên nhiên và con người Huế: Hoa trái quanh tôi, Về cây Panhxô và khẩu súng của Trường, Ai đã đặt tên cho dòng sông ), XB năm 1984
3 Vài nét về những đặc trưng của thể Kí
+ Tính xác thực là đặc trưng cơ bản của Kí Những sự kiện, con người trong kí đều xác thực Kí cũng có khả năng hư cấu, nhưng liều lượng giới hạn và không thể xa rời thực tiễn
+ Kí là thể loại in đậm dấu ấn hình tượng tác giả
+ Ngôn từ trong kí chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả Nhà văn kể, phân tích, luận giải, đánh giá những sự việc Là thể loại nhanh nhạy, kí phản ánh kịp thời những vấn đề sôi bỏng của đời sống, ngôn ngữ gần với cuộc sống đời thường
+ Kí có nhiều tiểu loại: kí sự, bút kí, phóng sự, nhật kí, hồi kí, tùy bút
Bút kí là thể loại ghi chép các sự kiện, qua đó ghi lại những cảm xúc suy nghĩ của tác giả Tùy bút là một thể loại của kí, nhưng đó là thể giàu chất trữ tình nhất, khá tự do trong quá trình sáng tạo Ngôn ngữ trong tùy bút giàu hình ảnh, giàu chất thơ Trong thành tựu của kí không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, HPNT
4 Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
+ Kí HPNT bộc lộ một trí tuệ sắc sảo uyên bác
+ Kí HPNT thiên về tùy bút Thể loại chuyên ghi chép các sự việc xác thực qua ngòi bút HPNT lại thấm đẫm chất trí tuệ, nặng trĩu nỗi trầm tư
+ Kí HPNT thường có tính chất tự do tản mạn Cách tổ chức văn bản thường mang tính nghệ thuật cao, văn phong giàu chất thơ, hình ảnh gợi cảm
+ Nguồn mạch xuyên suốt các tác phẩm kí HPNT là lòng yêu quê hương đất nước, là tâm huyết với tinh hoa dân tộc
Dù viết về miền đất nào, trong năm tháng chiến tranh hay cuộc sống đương đại, đều lấp lánh tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước Viết về đất mũi, “ món quà tặng của biển cả dành cho đất nước” ( Rừng nước mặn ); về hương thơm nhẹ nhàng và quyến rũ của cây hồi “nó thân thiết và mơ hồ như một kỉ niệm”( Rừng hồi); Về Huế, mảnh đất cố đô trầm mặc với những khu vườn xanh ( Hoa trái quanh tôi); ngọn núi xanh ( Ngọn núi ảo ảnh), dòng sông xanh ( Ai
đã )
5 Bố cục tác phẩm, vị trí đoạn trích
Là bút kí dài, có nhân vật, có lời thoại, gồm có ba phần: Phần một nói về cảnh quan thiên nhiên của sông Hương Phần hai và ba là phương diện LS và VH của sông Hương
- Đoạn trích này nằm ở phần một, có lược bỏ một số đoạn Phần văn bản của đoạn trích thiên về tùy bút, với “nhịp điệu hết sức chậm rãi nghiêng hẳn về chất thơ thi vị ngọt ngào”( Trần Đình
Sử, Lí luận và phê bình văn học, NXB Hội Nhà văn, H, 1996, tr 254)
Trang 2- Thuộc phần một, nhưng đoạn trích không chỉ đề cập tới cảnh quan thiên nhiên sông Hương xứ Huế mà còn thấy được sự gắn bó với lịch sử và văn hóa của cố đô Huế Nó tiêu biểu cho văn phong của HPNT
II ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
Trong tim ai cũng có một dòng sông cho riêng mình, nhưng đến với Huế, với sông Hương, không mấy ai trong chúng ta không nhận ra cảm tình đặc biệt của mọi người dành cho dòng sông này Vì sao như vậy? HPNT đã cùng ta lý giải
1 Vẻ đẹp của sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên
- Sông Hương tự nó vốn đã đẹp trong những sắc thái đa dạng, nhưng bằng sự mẫn cảm của một trái tim thi sĩ, HPNT đã quan sát và miêu tả sông Hương dưới nhiều góc độ, với đủ mọi biến thái khác nhau
Nếu chỉ ngắm nhìn sông Hương hiền hòa chảy giữa lòng kinh thành Huế, hiền đến mức thi
sĩ Hàn Mặc Tử cảm nhận đó là “dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”, ít ai có thể hình dung dòng sông mang tên cô gái ấy đã phải vượt qua một cuộc hành trình gian khổ đến mức nào Bằng những bước chân rong ruổi đã từng lãng du qua những phố phường trời Âu hay dầm chân dưới những ruộng sình của quê nhà rơm rạ, yêu đến thắt lòng mỗi hạt bụi trần gian, HPNT đã dẫn ta ngược dòng chảy của sông Hương tìm về cội nguồn để cùng phát hiện ra vẻ đẹp muôn màu của con sông đã nhiều lần trăn trở, liên tục đổi dòng trong một cuộc kiếm tìm có ý thức Đó là vẻ đẹp còn ít người biết đến của sông Hương
- Trước hết, bằng sự am tường Địa lý và trải nghiệm lịch lãm của bản thân, tác giả đã phát hiện ra nét độc đáo của sông Hương, rằng nó chỉ “thuộc về một thành phố duy nhất” chứ không như sông Hồng, sông Cửu Long đã chảy qua các nước láng giềng và nối dài đến biển khơi Nói như vậy không có nghĩa là tất cả các dòng sông khác đều chảy qua nhiều thành phố,
mà chủ yếu là, trong cảm nhận riêng của HPNT, sông Hương đã gắn liền với không gian - địa lý, văn hóa lịch sử, của một thành phố duy nhất: đất cố đô Huế Nghĩa là sông Hương gắn liền với Huế Nếu tách riêng sông Hương ra khỏi thành phố Huế, nó chỉ còn là dòng nước đôi bờ chảy giữa vô tri Đây chính là Điểm nhìn nghệ thuật độc đáo của bài kí về sông Hương
a/ “Khuôn mặt rừng già” của sông Hương ở thượng nguồn, đoạn chảy qua Trường Sơn:
- Ở đoạn văn này, tác giả đã sử dụng thành công nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau:
So sánh: như một bản trường ca dài, đủ mọi chương đoạn, với những cung bậc cảm xúc mãnh liệt, vừa hào hùng, vừa say đắm (rầm rộ, mãnh liệt, cuộn xoáy, dịu dàng, say đắm…, gắn với đại ngàn Trường Sơn đầy những đáy vực bí ẩn, những ghềnh thác dữ dội, những dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên…)
- Nhân hoá: như một cô gái Digan: phóng khoáng và man dại, có bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do
và trong sáng
- Đối lập: ra khỏi rừng già, sông Hương như muốn giấu kín “một nửa cuộc đời và con người” mình, chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái, đóng kín cửa rừng, ném chìa khoá vào hang đá… để đến với đồng bằng, trở thành “người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở với một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ”…
Chặng đường gian truân trước khi đến với kinh thành Huế mới bộc lộ phần tâm hồn thẳm sâu của sông Hương, mới giúp ta hiểu đầy đủ bản chất của dòng sông này Đi giữa lòng Trường Sơn, sông Hương ở đầu nguồn có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại”, như là “bản năng của rừng già” với sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng cũng dịu dàng và say đắm Tác giả kết luận “Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng” Nếu không trằm
cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời sông nước của Huế, thật khó có thể viết được về sông Hương của Huế như HPNT với tất cả sự mê đắm hào hoa Những liên tưởng tự do phóng khoáng của một tâm hồn dạt dào chất thi sĩ, HPNT càng khiến dòng sông trở nên mạnh
mẽ và đắm say, dịu dàng và bí ẩn, vừa quyết đoán, bản lĩnh, vừa nhạy cảm và rất đỗi mơ
màng Bằng những con chữ lóng lánh “bụi vàng”( Pautốpxki), nhà văn vừa làm nổi rõ bản sắc của sông Hương, vừa cung cấp cho người đọc một lượng thông tin khá lớn về địa thế, dòng chảy,
và cả một phần đời kì lạ của dòng sông,
Trang 3b) Sông Hương trên hành trình đến với thành phố Huế: được miêu tả như là hành trình đến
với tình yêu, hành trình để dâng tặng và khám phá
- Sông Hương tìm đến với Huế như là một cô gái trong cuộc tìm kiếm có ý thức để đến với người tình trong mộng của mình Hiểu biết về địa lí đã giúp tác giả miêu tả tỉ mỉ về sông Hương với hình ảnh: “Chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”, “ dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi” Cảnh đẹp như bức tranh có đường nét, có hình khối: “Nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo”… “Dư vang của Trường Sơn” vẫn đọng lại ở cô gái – dòng sông này với nét tính cách can đảm “vượt qua lòng vực sâu, trôi đi giữa hai đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột…” Trên hành trình ấy, sông Hương phô diễn vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng, xinh xắn, mềm mại, đồng thời là vẻ đẹp của lòng can đảm, sự đắm say…
- Sông Hương không chỉ bộc lộ mình, mà còn khám phá vẻ đẹp của “thành phố tương lai của nó”, khi có sự gặp gỡ tiền định:
+ Đó là vẻ đẹp sống động, tươi tắn, lãng mạn của cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại (như người đẹp được người tình mong đợi đến đánh thức khỏi giấc ngủ mơ màng…một câu văn xuôi đẫm màu cổ tích, thấm đẫm chất thơ.)
+ Đó là vẻ đẹp đa màu mà biến ảo của nền trời Tây Nam thành phố: “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, được tạo thành do sự phản quang của dòng sông khi trôi qua những ngọn đồi sừng sững, gợi nhớ cái vẻ đa tình kín đáo của người con gái nơi đây, mãi mãi mời gọi ai kia còn phải kiếm tìm
+ Đó còn là vẻ đẹp dường như được phong kín trong giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa gắn với những rừng thông u tịch, trong niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ gắn với tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga…
- Đến với thành phố tương lai, soi mình trong gương mặt thành phố cổ kính này, sông Hương dường như cũng mang một vẻ đẹp mới: vẻ đẹp trầm mặc gợi liên tưởng đến triết lý, đến cổ thi…
Ở đây có nét gần gũi với liên tưởng của Nguyễn Tuân (như một bờ tiền sử, như một nỗi niềm cổ tích…) Song điểm độc đáo khác biệt là liên tưởng này vẫn gắn với vẻ đẹp của sông Hương như một cô gái trong tình yêu (dịu dàng, kín đáo và sâu lắng ), chứ không như Sông Đà có cả vẻ đẹp nam tính và cả “quái tính” khi gầm thét cuộn sôi
“Gương mặt kinh thành” của sông Hương khi đi qua thành phố Huế:
- Đó là dòng sông vui tươi và duyên dáng trong niềm hạnh phúc được sống trong tình yêu, rất tin tưởng vào người yêu, và gắn bó, giao hoà với người mình yêu:
+ Nó chảy qua những biền bãi xanh biếc
+ Nó kéo một nét thẳng thực yên tâm
+ Nó uốn mình khi nhìn thấy chiếc cầu trắng của Thành phố “ In ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non” - Một so sánh cho thấy hết vẻ yêu kiều của dòng sông, vẻ trắng trong duyên dáng đa tình của con người Huế Chợt nhớ “Mày ai trăng mới in ngần” trong câu thơ Kiều của Nguyễn Du
+ Giáp mặt thành phố ở cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, “như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu - Một so sánh đẹp đến nao lòng, trước và sau HPNT, chắc không ai nói được? Nó ngọt ngào êm dịu quá đỗi, mà cũng hư ảo và quá đỗi mong manh Có cảm giác như, tiếng vâng không nói kia, tay phàm chạm vào là tan mất, vĩnh viễn không bao giờ ta được thấy lại lần thứ hai trong đời Nó rất Huế, rất Việt Nam, của một thời chưa xa vẫn còn vang bóng, lẩn khuất đâu đây trong hồn con gái Việt dịu dàng
+ Đó còn là dòng sông mang tính cách Huế, với điệu chảy lặng lờ gợi liên tưởng đến “một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”: Ôi “Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”(Thu Bồn); Rồi “ Con sông nửa thực nửa mơ? Nửa mong Lí Bạch nửa chờ Khuất Nguyên” (Nguyễn Trọng Tạo); dòng sông cứ chùng chình như chờ, như đợi, làm thức dậy bao mong mỏi lặng thầm, trữ tình và êm ả như một điệu Van
Trang 4+ Liên tưởng tương phản: sông Hương qua Huế ( như một mặt hồ yên tĩnh) với sông Nêva qua cung điện Pêtecbua để ra bể Ban-tích (như một đoàn tàu tốc hành bằng thuỷ tinh, như những chiếc thuyền xinh đẹp đang băng băng – “một giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại”)
+ Liên tưởng tương đồng: tôi cuống quýt, tôi ngẩn ngơ…với Hê ra clit đã khóc suốt đời… vì dòng sông trôi nhanh
- Khoảnh khắc “chùng lại” của sông nước ấy khiến cho sông Hương như là hiện thân của vẻ đẹp Huế “trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”: tài hoa, sâu lắng, mang sức quyến rũ mãnh liệt, để lại ấn tượng không thể phai mờ
c) Quang cảnh chia tay của sông Hương với thành phố Huế trước khi ra với biển cả :
- Dòng sông lưu luyến ra đi “giữa màu xanh biếc của tre trúc và những vườn cau vùng ngoại ô
Vĩ Dạ”: Tình cảm vẫn vẹn nguyên, tươi tắn, trong sáng, tinh khôi
- Dường như sông Hương không muốn xa thành phố: “Rồi như sực nhớ lại một điều gì đó chưa kịp nói Nó đột ngột đổi dòng rẽ ngoặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố ở góc Bao Vinh…khúc quanh này thật bất ngờ…Đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”
- Sông Hương trở lại “để nói một lời thề trước khi về biển cả” Tác giả liên hệ “Lời thề ấy vang vọng khắp khu vực sông Hương thành giọng hò dân gian, ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở” Tác giả so sánh sông Hương với Huế giống như nàng Kiều với Kim Trọng trong đêm tình tự…Những câu văn đẹp hơn bất cứ bài thơ nào Tóm lại: Vẻ đẹp TN của sông Hương hiện lên với nhiều vẻ khác nhau, qua những phát hiện tinh
tế và cách diễn đạt tài hoa của tác giả Đặc biệt, nghệ thuật nhân hoá, trí tưởng tượng kì ảo… giúp tác giả nhìn sông Hương như một cô gái Huế với vẻ đẹp riêng, với nét tính cách, tâm hồn và nét duyên riêng (thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình mà kín đáo, lẳng lơ mà rất mực chung tình, thích trang sức mà không loè loẹt phô phang…)
2 Vẻ đẹp sông Hương được khám phá dưới góc độ văn hóa:
- Tác giả cho có một dòng thi ca về sông Hương Đó là dòng thơ không lặp lại mình:
- “Dòng sông trắng - lá cây xanh” (Chơi xuân - Tản Đà) – trên trang văn HPNT, câu thơ Tản Đà như một nét chấm phá gợi cảm, đa tình, tươi tắn và mơ mộng biết bao! Dường như giữa màu cỏ
lá xanh biếc của một nhà văn Huế và dòng sông trắng lá cây xanh của thi sĩ núi Tản sông Đà có
sự tương giao đồng điệu của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với từng màu xanh sắc biếc của thiên nhiên
- Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử trong thơ Cao Bá Quát Trường giang như kiếm lập thanh thiên …
- Tinh tế hơn, tác giả cảm nhận trong không gian Huế và dòng sông Hương “Nỗi quan hoài vạn cổ”; nỗi buồn của kẻ “ Dừng chân đứng lại trời, non, nước” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…
- Và một lần nữa, tác giả lại đặt sông Hương bên những câu Kiều, và từ thân phận nàng Kiều mà vặn mình gợi lại dòng Hương giang “Trời trong veo/ Nước trong veo” với những phận Kiều đã được phục sinh trong thơ Tố Hữu…
- Ngoài ra, tác giả không thể không gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế: “Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc Một hình ảnh vừa thể hiện được vẻ đẹp bí ẩn, âm vang của sông Hương và kinh thành Huế, vừa thể hiện vẻ tài hoa, sâu lắng của đất cố đô và chất tâm hồn con người cùng cuộc sống nơi đây “Quả đúng vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được hình thành trên mặt nước của dòng sông này” Với cách so sánh này, sông Hương còn có thêm vẻ trang trọng hào hoa cổ điển, bởi HPNT còn khiến ta không nguôi nhớ đến người con gái trên bến Tầm Dương thuở nào trong thơ Bạch Cư Dị
+ Tác giả tưởng tượng: “trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya” Phải có độ nhạy cảm về thẩm âm, hiểu biết về âm nhạc của xứ Huế, tác giả mới có sự liên tưởng này
+ Với ngòi bút tài hoa cộng với sự rung cảm mạnh mẽ, HPNT nhớ tới Nguyễn Du: “Nguyễn Du
đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu Và từ đó, những bản đàn đã
đi suốt đời Kiều” Có lẽ ông đã diễn tả điệu Tứ đại cảnh của Huế qua tiếng đàn của Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua ” Tuy nhiên, sự liên tưởng chủ yếu dựa trên sự tương đồng giữa cảnh sắc
Trang 5thiên nhiên và tính cách nàng Kiều trong thơ Nguyễn Du với cảnh và người nơi sông Hương núi Ngự
3.Vẻ đẹp sông Hương gắn liền với những sự kiện lịch sử:
- Tên của dòng sông Hương được ghi trong “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi; “Nó được ghi là Linh giang”
- Dòng sông ấy là điểm tựa, bảo vệ biên cương thời kì Đại Việt
- Thế kỉ XVIII, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, gắn liền với tên tuổi của người anh hùng Nguyễn Huệ
- Nó đọng lại đến bầm da, tím máu “nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX”
- Nó đi vào thời đại của Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển
- Nó chứng kiến cuộc nổi dậy tổng tiến công tết Mậu Thân 1968
Như vậy, sông Hương đã gắn liền với lịch sử của Huế, của dân tộc Sông Hương có đóng góp đối với lịch sử đấu tranh bảo vệ TQ và đối với di sản văn học NT của dân tộc
KẾT LUẬN
1 Giá trị ND: - Cảm nhận được vẻ đẹp, chất thơ của Huế từ cảnh sắc thiên nhiên của sông
Hương, từ bề dày lịch sử, văn hóa và vẻ đẹp tâm hồn con người vùng đất cố đô
- Hiểu được tình yêu, niềm tự hào tha thiết, sâu lắng của tác giả dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước
2 Giá trị nghệ thuật:
- Cái tôi HPNT:
+ Một nghệ sĩ có tâm hồn tinh tế, tính cách phóng túng, tài hoa, trí tưởng tượng lãng mạn, bay bổng
+ Một cái tôi thông minh, sắc sảo, có vốn tri thức văn hoá, lịch sử phong phú
+ Một tâm hồn đa cảm, say mê vẻ đẹp Huế
- PCNT của tác giả:
+ Sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, sự uyên bác về các phương diện địa lí, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật +Ngôn ngữ phong phú, giàu hình ảnh, bộc lộ cảm xúc, sử dụng nhiều biện pháp
tu từ như so sánh, ần dụ, nhân hóa
+ Có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và trí tuệ, chủ quan và khách quan (Chủ quan là sự trải nghiệm của bản thân Khách quan là đối tượng miêu tả - dòng sông Hương)
CỦNG CỐ: Bài tùy bút kết thúc bằng cách lí giải tên của dòng sông; sông Hương, sông thơm
Cách lí giải bằng một huyền thoại Đặt tiêu đề và kết thúc bằng câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ nhằm mục đích lưu ý người đọc về cái tên đẹp của dòng sông mà còn gợi lên niềm biết ơn đối với những người đã khai phá miền đất này Mặt khác không thể trả lời vắn tắt trong một vài câu mà phải trả lời bằng cả bài kí dài ca ngợi vẻ đẹp, chất thơ của dòng sông Một câu hỏi ngỡ như bâng quơ mà làm ngẩn ngơ bao tâm hồn người đọc Một câu hỏi đặt ra với đất với trời, đã đưa mỗi người chúng ta làm một cuộc hành hương, tìm về cội nguồn lịch sử của dòng sông, và cảm nhận nó từ góc nhìn huyền thoại- văn hoá- lịch sử: câu hỏi gợi sự khao khát kiếm tìm cái đẹp còn tiềm ẩn trong sông Hương và mảnh đất, con ngưồi xứ Huế Để trả lời cho câu hỏi này, HPNT đã khép lại bài kí bằng một huyền thoại lấp lánh chất thơ và chan chứa tình yêu với dòng sông Thơm quê nhà
- Đặc sắc của những ví von, so sánh:
+ Chiếc cầu trắng – vành trăng non: bừng sáng mà không chói gắt, vui tươi mà không ồn ào, màu sắc của chiếc cầu gợi vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát mà duyên dáng, tình tứ của chính người con gái Huế
+ “Như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”: biểu hiện sự thuận tình trong e lệ Đây là cách diễn đạt tinh tế về cái vẻ đẹp tình tứ mà kín đáo của những cô gái Huế
+ “Sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”: Sử thi là chiến công, là sự hùng tráng – thường đi với màu đỏ Nhưng sông Hương là bản hùng ca, cũng là bản tình ca dịu dàng tươi mát, sử thi mà cũng rất trữ tình – đó là nét độc đáo của Huế
- PC tác giả: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin, giàu chất thơ trữ tình lãng mạn