1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học đọc hiểu văn bản ai đã đặt tên cho dòng sông (ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực

60 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

RƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ĐINH THỊ DIỆU LINH VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?” NGỮ VĂN 12 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰ

Trang 1

RƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

ĐINH THỊ DIỆU LINH

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “AI

ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?”

(NGỮ VĂN 12)

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG

LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

ĐINH THỊ DIỆU LINH

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “AI

ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?”

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận với

đề tài “Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học đọc hiểu văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực”, tôi xin gửi lời

cảm ơn đến BGH trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng các thầy cô giáotrong nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có cơ hội thực hành nghiêncứu khoa học tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn nói chung

và các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học nói riêng Tôi xin bày tỏ sựcảm ơn sâu sắc tới cô giáo Ths Nguyễn Thị Mai Hương - người thầy đã dạy

dỗ và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã chia sẻ,động viên và ủng hộ hết mình giúp tôi vững tin hoàn thành công trình nghiêncứu này

Hà Nội, ngày… tháng 6 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Đinh Thị Diệu Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận với đề tài “Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học đọc hiểu văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực” là của tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn

Thị Mai Hương Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận có sự kế thừa cácnghiên cứu đi trước, là hoàn toàn thành thực Nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày… tháng 5 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Đinh Thị Diệu Linh

Trang 5

CÁC QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đềtài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp 4

9 Bố cục khóaluận 4

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC

TIỄN 61.1 Cơ sở lý luận về sơ đồ tư duy trong dạyhọc 61.1.1 Tư duy và sự phát triển tư duy của con người

61.1.1.1 Giới thiệu chung về tư duy conngười 61.1.1.2 Đặc điểm tư duy của học sinh trung học phổ

thông 91.1.2 Giới thiệu chung về sơ đồ tư duy 101.1.2.1 Sơ đồ tư duy một phương tiện dạy học thiết thực

101.1.2.2 Cấu tạo và phân loại sơ đồ tưduy 111.1.2.3 Ý nghĩa của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giáo

dục 141.2 Cơ sở lí luận về dạy học theo hướng phát triển năng

lực 14

Trang 7

1.2.1 Năng lực của con người 14

1.2.1.1 Khái niệm năng lực 14

1.2.1.2 Những năng lực cần phát triển 15

1.2.2 Dạy học phát triển nănglực 171.2.3 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn

bản

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng phủ Ngọc Tường

171.2.3.1 Năng lựcchung 17

1.2.3.2 Năng lực đặcthù 18

Trang 8

1.2.4 Phương hướng dạy học theo hướng phát triển nănglực 19

1.2.5 Ý nghĩa của việc dạy học theo hướng phát triển nănglực 19

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học văn bản “Ai đã đặt tên cho dòngsông?”

(Ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực có vận dụng sơ đồ tư duy 20

1.3.1 Điều tra, thăm dò ý kiến và dự giờ giáoviên 20

Trang 9

2.1.2.1 Tác giả và tácphẩm 25

302.3 Định hướng dạy học đọc hiểu “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của HoàngPhủ

Ngọc Tường có vận dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực cho học sinh 31

Trang 10

Tiểu kết chương 2 32 Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 34 KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 11

tế, chính trị, văn hóa - xã hội diễn ra hàng giờ trên toàn cầu Đây còn là một

kỷ nguyên của sự hội nhập, giao lưu, học hỏi giữa các quốc gia, các nền vănhóa và vùng lãnh thổ khác nhau Lĩnh vực giáo dục cũng không nằm ngoàidòng biến lưu đó Thậm chí, còn được đánh giá là ngành mũi nhọn của việcđổi mới một cách căn bản và toàn diện Nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dụcphải biết đi trước đón đầu và không ngừng đổi mới về kiến thức và phươngthức giảng dạy Nhà trường là sản phẩm của mô hình kinh tế tri thức Nhậnthức rõ tầm quan trọng, cấp thiết của vấn đề như vậy, tại Đại hội Đảng cộngsản Việt nam lần thứ IX nhiệm vụ hiện đại hóa giáo dục được đặt ra như mộttrong những nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng nhất của công tác phát triểngiáo dục Mỗi một môn học phải được đổi mới từ nội dung chương trình, hìnhthức thể hiện đến phương pháp giảng dạy và biết ứng dụng với công nghệthông tin trong dạy và học Môn Ngữ văn được coi là môn học nền tảng và cơbản xuyên suốt trong chương trình đào tạo từ cấp trung học cơ sở đến trunghọc phổ thông, không chỉ mang ý nghĩa cung cấp tri thức mà còn mang tínhgiáo dục tư tưởng nhân cách cho học sinh, gắn bó mật thiết với đời sống hằngngày Đổi mới trong dạy và học Ngữ văn là đòi hỏi cấp thiết của giáo dục đểphù hợp với xu hướng hiện đại hóa, hội nhập của xã hội hiện đại

Nhìn nhận vào tình hình thực tế khi dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung

và dạy học văn nói riêng hiện nay thì còn tồn đọng rất nhiều vấn đề cần đượcgiải quyết Trước hết là tâm lí ngại học môn xã hội, chán học, ít hứng thú đốivới học văn của học sinh, các em không có nhiều say mê cho môn Văn vàdành rất ít thời gian để đọc, tìm hiểu các tác phẩm văn học Chủ yếu chỉ học

để thi và đa phần hiểu biết bị giới hạn trong các tác phẩm được giới thiệu vàgiảng dạy trong chương trình Tiếp đến là về nội dung dạy học và hình thứctruyền đạt, phương pháp dạy học chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu và hứngthú học của học sinh, lối giảng dạy còn thụ động “một chiều”, thầy giảng trò

Trang 12

ghi chép Đưa vị trí người học làm trung tâm, được phát huy khả năng sángtạo và rèn luyện được các năng lực xã hội, thẩm mĩ khi học Ngữ văn.

Muốn việc học Ngữ văn cho hoc sinh đạt hiệu quả, người giáo viên cầnchủ động điều chỉnh phương pháp và tư duy Qua đề tài “Vận dụng sơ đồ tư

duy trong dạy học đọc hiểu văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn

12) theo hướng phát triển năng lực”, chúng tôi muốn sử dụng một cách dạykhoa học, phù hợp để học sinh tiếp thu và ghi nhớ kiến thức lâu hơn Đồngthời, chúng tôi cũng mong muốn đề tài sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việctìm hiểu văn bản trên như một tài tiệu tham khảo bổ ích cho giáo viên và các

Trên thực tế, “sơ đồ tư duy là phương pháp nhận thức và trình bày vấn đềtrên một bình diện phẳng, dựa vào mối liên hệ có tính logic giữa các yếu tố cấuthành vấn đề, thay cho cách thức cũ chủ yếu theo trình tự thời gian” Sử dụng

sơ đồ tư duy giúp chúng ta giải quyết và trình bày vấn đề nào đó một cách đồng

bộ và liên tục So sánh với những phương pháp khác thì nó đem lại một hiệuquả cao hơn nhiều về khả năng ghi nhớ, ngắn gọn “Ứng dụng bản đồ tư duy” -Wycoff, tác giả đã nêu lên mô tả chi tiết “trong hành trình khám phá khả năng

bộ não, khám phá bản thân, đồng thời cung cấp những gợi mở thiết thực, cóthể áp dụng tức thì, giúp bạn ghi nhớ, quản lí, thuyết trình, lập kế hoạch trongcuộc sống cũng như trong công việc bằng cách lập bản đồ tư duy”

Vài năm trở lại đây, SĐTD đã xuất hiện và trở nên gần gũi hơn tại ViệtNam Theo khảo sát, việc tìm hiểu và áp dụng đưa SĐTD vào trong dạy học ở

Trang 13

nước ta do hai tác giả là TS Trần Đình Châu và TS Đặng Thị Thu Thủy Haitác giả đã nghiên cứu và có được nhiều thành quả trong việc phân tích, ứngdụng SĐTD vào giảng dạy, có thể xem là các kinh nghiệm quý báu để họchỏi Một số công trình về việc vận dụng SĐTD vào dạy học Văn đem lại hiệu

quả tích cực như: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy Văn học sử ở trường THPT Ngọc Hồi” Lê Thị Anh Nguyệt, “Sử dụng bản đồ tư duy dạy học sinh cách tự học trong môn Ngữ văn THCS của giáo viên” Trần Thị Thu Hiền,

“Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy phần lí thuyết Tiếng Việt ở trường THPT”

để dạy học bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? mà còn đem lại niềm say mê học

tập và tinh thần ham học hỏi, muốn khám phá tri thức nơi HS ở cấp học THPT

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Song song với mục đích đề ra, khi tiến hành nghiên cứu đề tài trên sẽhướng đến những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Lý thuyết: Thế nào là năng lực? Thế nào là SĐTD? và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12).

- Đề xuất cách vận dụng SĐTD nhằm phát triển năng lực cho HS trong

dạy học đọc hiểu Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12).

- Tiến hành thực nghiệm, bước đầu đánh giá kết quả đề xuất

5 Đối tượng nghiên cứu

SĐTD trong giảng dạy và các năng lực của HS trong dạy học Văn làđối tượng nghiên cứu của đề tài này

Trang 14

6 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận sẽ đi vào nghiên cứu cách vận dụng SĐTD trong dạy học

đọc hiểu văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12) để phát triển

năng lực chung và các năng lực đặc thù cho HS

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Trên cơ sở tổng hợp, đánh giá và ghi nhận kết quả nghiên cứu từ các tàiliệu về SĐTD và ứng dụng SĐTD trong dạy học, các tài liệu về dạy học pháttriển năng lực, các vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy học,… chúng tôi sẽcăn cứ để làm cơ sở lý luận trong quá trình nghiên cứu

7.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Sử dụng SĐTD để phát triển năng lực cho HS ở trường THPT trong dạyhọc đọc hiểu môn Ngữ văn thông qua khảo sát thực tế trên một số đối tượng

Bên cạnh đó, khóa luận cũng mong muốn nâng cao chất lượng quá trình

đọc hiểu văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12) và giúp HS biết

cách đọc hiểu các văn bản văn học tương tự cùng thể loại

9 Bố cục khóa luận

Bố cục 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận

Trang 15

Riêng phần nội dung được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Tổ chức dạy học đọc hiểu Ai đã đặt tên cho dòng sông?

theo hướng phát triển năng lực có vận dụng sơ đồ tư duy

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC

TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận về sơ đồ tư duy trong dạy học

1.1.1 Tư duy và sự phát triển tư duy của con người

1.1.1.1 Giới thiệu chung về tư duy con người

Con người tồn tại và được xếp vào loài động vật bậc cao bởi vì conngười có tư duy Tư duy hiện hữu trong mọi hoạt động của con người Trướckhi con người bắt tay vào công việc thực, trong bộ não của họ đã có sẵn một

kế hoạch được lên cụ thể, chi tiết Đó chính là biểu hiện của sự tư duy Khảnăng tư duy, sắp xếp, phân tích dữ liệu ở mỗi người là hoàn toàn không giốngnhau Mọi câu lệnh từ bộ não sau khi được xử lí sẽ được chuyển hóa thànhcác hoạt động cơ học, gọi tên là “thao tác tư duy” Có thể hiểu theo một nghĩakhác, hoạt động tiếp nhận tri thức và chiếm lĩnh thế giới được xuất phát từ tưduy não bộ Chính vì thế, tư duy và hoạt động đóng vai trò chủ đạo đối vớimỗi cá thể Điều đó đặt ra câu hỏi: Thế nào là tư duy?

“Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặcbiệt - bộ não người” Rene Descarters khẳng định: “Tôi tư duy, vậy tôi tồntại” Tư duy của con được chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bộ não Từ kết quảnghiên cứu của rất nhiều thí nghiệm, thử nghiệm, các nhà khoa học đã nhậnthấy “sự chuyên biệt hóa chức năng của các bán cầu não” Theo ReneDescarters: “Bán cầu não trái phát triển hơn về ngôn ngữ, tính toán, phân tích

và phán đoán; còn bán cầu não phải thiên về nắm bắt không gian, cảm thụ âmnhạc, nghệ thuật, óc thẩm mĩ, lòng say mê và sự sáng tạo Theo đó bán cầunão trái có thói quen phân tích từng bước còn bán cầu não phải có khuynhhướng phân tích trực quan, khái quát tổng thể vấn đề Nhiều chức năng ưuthế, ở mức độ cao cấp đều tập trung ở bán cầu não phải chứ không phải báncầu não trái Bởi vậy người ta luôn tìm cách kích thích não phải để hai báncầu não có sự tương tác kích thích lẫn nhau đem đến cho con người khả năng

to lớn”

Trang 17

Theo các nhà khoa học, tư duy con người mang những đặc điểm cơ bản sau:

“Tính “có vấn đề” của tư duy” Trong các tình huống nảy sinh vấn đề

cần phải đưa ra lựa chọn, giải pháp thì tư duy mới xuất hiện Khi mà khả năngcùng những tài nguyên vốn có không đủ hoặc không đáp ứng được với “vấnđề” đặt ra thì buộc não bộ người phải tư duy để có được một giải pháp phùhợp Đây là yếu tố cần để não bộ tư duy

“Nhắc đến tư duy người ta nhắc đến một hoạt động có tính gián tiếp của tư duy” Thay vì đi đường thẳng sẽ lĩnh hội thế giới trực tiếp thì tư duy

con người lại chọn cách tiếp nhận gián tiếp “Tính gián tiếp của tư duy đượcthể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy Nhờ có ngônngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, khái niệm, côngthức, quy luật ) và kinh nghiệm của bản thân vào quá trình tư duy (phân tích,tổng hợp, so sánh, khái quát ) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của

sự vật hiện tượng” Một ví dụ cho thấy: Muốn viết một đoạn văn bản thì bảnthân nguời viết cần xác định rõ ràng: Viết cho ai? Viết cái gì? Viết để làm gì?Viết như thế nào? Để làm tốt nhiệm vụ đó còn phải dựa vào ý thức ghi nhớ,các hành động tượng tự trong quá khứ, tức là kinh nghiệm bản thân “Tínhgián tiếp của tư duy còn được thể hiện ở chỗ, trong quá trình tư duy con người

sử dụng những công cụ, phương tiện (đồng hồ, nhiệt kế, máy móc ) để nhậnthức đối tượng mà không thể trực tiếp tri giác chúng” Ví dụ: đo huyết áp củamột người sẽ sử dụng máy đo huyết áp

“Tính trừu tượng và tính khái quát hóa của tư duy”.

Tư duy là sự khái quát hóa những sự vật hiện tượng có nét chung trêncác khía cạnh như thuộc tính, bản chất thành một nhóm, một kiểu, một loại,một dạng, một phạm trù Chính đặc trưng này giúp cho tư duy có tính hệthống và sắp xếp dữ liệu một cách logic, rành mạch Dù là vấn đề nảy sinhtrong hiện tại hay sẽ xảy ra trong tương lai thì con người đều có thể kiểm soátđược Từ một công việc, một nhiệm vụ, một vấn đề cụ thể bất kì cũng có thểquy về một nhóm, một kiểu, một loại, một dạng, một phạm trù để có nhữngphương án, quy tắc, cách thức tháo gỡ tương tự Ví dụ: học tập rất quan trọngthì phải hiểu là việc học nói chung chứ không phải là môn học hay nghềnghiệp cụ thể nào cả

Trang 18

“Tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ”.

Tư duy được biểu hiện thông qua ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ mà người ta

có thể hiểu được ý đồ tư duy từ người này sang người khác Tư duy phải đượcbiểu hiện qua ngôn ngữ và ngôn ngữ là hình ảnh để biểu đạt sự tư duy “Nếukhông có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không thể diễn ra được,đồng thời các sản phẩm của tư duy (khái niệm, phán đoán ) cũng khôngđược chủ thể và người khác tiếp nhận”

“Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính và nhận thức

lí tính”.

Nhận thức cảm tính là tác nhân gây ra “tình huống có vấn đề” Đây là cơ

sở ban đầu khiến con người tư duy Tư duy của con người luôn luôn vận động

và không ngừng cải biến “Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệtrực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là chất liệu của những khái quát hiện thựctheo nhóm, lớp, phạm trù mang tính quy luật trong quá trình tư duy Ngược lại,

tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng mạnh mẽ và chi phối khả năngphản ánh của nhận thức cảm tính: làm cho khả năng của con người mang tínhlựa chọn, nhạy bén hơn làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn,tính ý nghĩa” Chỉ khi con người tự nhận thức được vấn đề và buộc phải giảiquyết vấn đề bằng cách tư duy để biểu đạt nó Đối chiếu vào trong quá trìnhgiáo dục đối với HS, người GV phải chú trọng vào việc làm sao để kích thíchkhả năng tư duy của HS, tạo ra nhiều tình huống “có vấn đề” và yêu cầu HSđưa ra giải pháp thích hợp Muốn vậy, chúng ta cần:

Tạo ra tình huống mang tính thực tế, gần gũi với chính môi trường HS

và đặt bản thân các em vào chỗ “có vấn đề” cần tháo gỡ

Thông qua các hoạt động tập thể, nêu cao tinh thần trách nhiệm để cùngnhau hoàn thành nhiệm vụ

Khuyến khích khả năng sáng tạo, tính tích cực, có chính kiến của bảnthân khi rơi vào hoàn cảnh cụ thể

Dạy học hướng đến rèn luyện và phát triển các năng lực chung cũng nhưnăng lực chuyên biệt, nâng cao nhận thức nhằm rèn luyện khả năng tư duychính xác, logic

Trang 19

Trải nghiệm để có kĩ năng, có kinh nghiệm, giảm sự đột ngột bất ngờkhi hoàn cảnh tác động đến nhận thức.

Trau dồi vốn ngôn ngữ thêm phong phú

1.1.1.2 Đặc điểm tư duy của học sinh trung học phổ thông

Ở lứa tuổi THPT, tất cả mọi hoạt động như học tập, thể dục thể thao, sựhoàn thiện của não bộ về mặt cấu trúc và chức năng khiến cho hoạt động tưduy của HS phát triển mạnh mẽ Trước một vấn đề đặt ra, HS có những suynghĩ, phân tích, lí giải khác nhau theo các chiều hướng một cách chủ động,sáng tạo Việc tiếp thu và tri nhận các khái niệm trừu tượng hoặc các thuậtngữ khoa học sẽ là điều kiện giúp HS phát triển các năng lực như: năng lựcphân tích, năng lực so sánh, năng lực tổng hợp Tất nhiên, kết quả của quátrình tư duy ở HS cũng có căn cứ xác đáng và nhất quán hơn Trong đó, HScũng được hình thành tính phê phán của tư duy Từ đó, các em sẽ nhìn nhận

và đánh giá về các sự vật hiện tượng đời sống, các mối quan hệ xã hội vàhành vi của những người xung quanh với ngưỡng gần đạt như người trưởngthành Năng lực thường thức và cảm thụ cũng được trau dồi, nâng cao hơn

Sự ghi nhớ cũng trở nên nhanh nhẹn và tốt hơn, không nhất thiết phải họcthuộc hoặc nhớ một cách gượng ép Trí nhớ về hình ảnh, dữ liệu sẽ được gắnvới một đặc điểm hoặc màu sắc, tính chất nổi bật, hình thù đặc biệt và trởthành một cách thức ghi nhớ thông minh Chính từ những yếu tố trên, đưa đếncho HS một kết quả đánh giá toàn diện và sâu sắc hơn, đặt ra quan điểm cánhân vào thực tế nhiều hơn

Mặc dù đang ở giai đoạn vàng cho sự phát triển tư duy nhưng do đặcđiểm tâm lí học thì HS ở lứa tuổi THPT cũng mang nét tính cách có phần nổiloạn Một bộ phận HS chưa ý thức được tầm quan trọng của sự tư duy hoặcchưa biết cách tư duy có hiệu quả, thậm chí là lười tư duy Kéo theo đó là kếtquả học tập chưa được tốt vì không tìm được một phương pháp tiếp thu vàhình thức học tập phù hợp với bản thân Một số khác thì tư duy còn thiên vềmặt cảm tính và chưa biết bao quát vấn đề, chỉ nhìn được một bề mặt rất nhỏhẹp, lầm tưởng giữa năng lực độc lập suy nghĩ với tư duy chủ quan phiến diệnnên đưa ra những phán đoán sai hoặc bất hợp lí Bởi vậy, xuyên suốt trong

Trang 20

quá trình giảng dạy kết quả của HS là quan trọng nhưng GV phải xác địnhđược mục tiêu thiết thực là làm sao để hướng dẫn cho HS biết cách tư duy độclập, có chính kiến, có hiệu quả Thành công lớn nhất trong cả quá trình học là

HS sẽ biết cách vận dụng tư duy vào các tình huống tương tự và các tìnhhuống phức tạp hơn khi các em ra ngoài đời sống Tư duy cần cân nhắc vàsuy xét kĩ càng trước khi đưa ra kết luận sau cùng Việc vận dụng phối hợpcác phương pháp và hình thức dạy học để giúp HS phát huy khả năng tư duy

là vô cùng quan trọng Đó cũng là nền tảng cơ sở để giúp cho người học thuđược kết quả tốt, mang lại những tín hiệu tích cực cho giờ dạy học Từ nhậnthức như đã nêu ở trên, chúng tôi đánh giá việc vận dụng SĐTD trong dạyhọc nhằm hướng đến các năng lực là rất cần thiết cho HS ở cấp học THPT

1.1.2 Giới thiệu chung về sơ đồ tư duy

1.1.2.1 Sơ đồ tư duy một phương tiện dạy học thiết thực

Có rất nhiều các khái niệm, các cách hiểu khác nhau khi bàn về SĐTD

Có ý kiến cho rằng “sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu,

mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc , chữ viết với sự tư duy tích cực” Hoặc hiểu là: “SĐTD là sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của một

cá nhân hay một nhóm về một chủ đề SĐTD có thể được viết trên bảng, trên giấy hay trên máy tính ”

Để có thể tìm một khái niệm thâu tóm hết các đặc trưng của phươngtiện dạy học này thì cần rất nhiều thời gian với sự tìm hiểu nghiêm túc Trongphạm vi của khóa luận này, chúng tôi xác định: SĐTD là sản phẩm ghi chépngắn gọn về mặt hình thức nhằm biểu hiện các nội dung bằng việc sử dụng sửdụng màu sắc và hình ảnh, kí hiệu, biểu tượng để mở rộng các ý tưởng Ở vịtrí trung tâm của sơ đồ là một từ khóa chính hoặc một hình ảnh, biểu tượngmang ý nghĩa then chốt Từ hình ảnh, biểu tượng, từ khóa chính này sẽ tiếptục được phát triển rộng khắp bằng các nhánh Các nhánh này tạm gọi là

“cánh tay nối dài” để cụ thể hóa các ý lớn phục vụ cho ý nghĩa trung tâm Cácnhánh chính sẽ tiếp tục được chia ra thành các nhánh nhỏ và nhỏ hơn Cácnhánh con này là biểu thị cho những vấn đề sâu hơn, có tính chất cụ thể, chi

Trang 21

tiết hơn khi đem so sánh với ý nghĩa trung tâm Tất cả các nhánh con, nhánhchính đều được nối với phần trung tâm Vô hình chung, giữa phần trung tâmvới các nhánh lớn, nhánh nhỏ sẽ tạo ra sự liên kết Chúng hỗ trợ bổ sung vàlàm sáng rõ nhau Mức độ liên kết có chặt chẽ hay lỏng lẻo rời rạc phụ thuộc

và khả năng tư duy phân tích tổng hợp của người xây dựng sơ đồ Một SĐTD

có khả năng bao quát sâu rộng và cho người học khả năng tiếp thu nhanh hơn

so với các phương tiện dạy học thông thường Sử dụng SĐTD là một hìnhthức mô phỏng sự truyền tin và tín hiệu trong não người Thông tin lan tỏatheo nhiều chiều hướng và tương tác với nhau, lưu trữ các thông tin quantrọng có ích với người theo sự phân bậc giống như các nhánh của SĐTD.SĐTD ra đời là kết quả của sự lao động trí óc và nhận thức của bộ não người

Để việc tư duy trở nên dễ dàng và có hiệu quả, cần thiết phải có một công cụ

có thể phản ánh được cấu trúc tư duy ấy Đó chính là cơ sở và nguồn gốckhiến SĐTD ra đời

1.1.2.2 Cấu tạo và phân loại sơ đồ tư duy

Cấu tạo của SĐTD có thể hình dung theo dạng cấu tạo của một cây.Gốc cây xem như trung tâm (ý tưởng chính) và các cành cây sẽ là các nhánhlớn của sơ đồ Tiếp đến là các nhánh cây nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa Nối tiếpnhau theo lớp lán tuần tự Ý tưởng chính sẽ được thể hiện bằng hình ảnh, từkhóa nào đó và nối với các nhánh lớn nhằm thể hiện ý tưởng Nhánh lớn tỏa

ra nhiều nhánh nhỏ hơn, bổ sung ý nghĩa cho nhánh lớn có liên quan đến chủ

đề chính Tùy vào mức độ và quy mô của từng trường hợp cụ thể, sự phânnhánh tiếp tục xảy ra nhỏ hơn, nhỏ hơn nữa nhằm đào sâu vấn đề Không chỉ

là liên kết về mặt nội dung mà hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu cũng phải có mốiquan hệ chặt chẽ Sản phẩm cuối cùng mà ta nhận được là một bức tranh toàncảnh thấy được tính tổng hợp, tính phân tích, tính so sánh và tính liên kết củanội dung Tất cả đề tập trung hướng đến vấn đề trung tâm và biểu thị logic, rõràng, rành mạch

Trang 22

Hình 1: Cấu tạo của bản đồ tư duy

Để xây dựng một SĐTD, có thể thực hiện với 5 bước như sau:

Bước 1: Lựa chọn ý tưởng cụ thể và tìm từ khóa thích hợp Cần xác định mục

tiêu lớn nhất và sử dụng từ khóa ngắn gọn

Bước 2: Biểu thị ý tưởng trung tâm lên mặt giấy khổ rộng Chọn hình ảnh,

biểu tượng, kí hiệu,… làm ý tưởng trung tâm

Bước 3: Từ ý tưởng trung tâm, nối thêm tạo các nhánh lớn 1, nhánh lớn 2,

nhánh lớn 3,… Các nhánh lớn này tương đương với các ý chính hướng đến ýtưởng trung tâm Ngoài ra, chúng còn mang ý nghĩa liên kết với nhau và liênkết với ý tưởng trung tâm Lựa chọn màu sắc nổi bật, bắt mắt, sử dụng cácđường cong để nối chúng lại sẽ khiếp sự tập trung và thu hút với não bộ caohơn rõ rệt Đặc biệt có ích với sự ghi nhớ

Bước 4: Triển khai đến các nhánh nhỏ 1, nhánh nhỏ 2, nhánh nhỏ 3,… để cụ

thể nội dung của các nhánh lớn đứng trước Nên thay đổi nét nối giữa các tầngnhánh lớn và tầng nhánh nhỏ, bằng việc sử dụng nét đứt hoặc mũi tên Điềunày đem lại lợi ích nhận diện cho mắt và sự ghi nhớ của não bộ Một lưu ýnữa là bạn hoàn toàn có thể bổ sung thêm từ khóa nhỏ, số đếm, ghi chúngắn… để biểu thị mức độ quan trọng của các ý

Bước 5: Hoàn thiện Để cho SĐTD ấn tượng, hấp dẫn thì có thể thêm vào các

hình ảnh minh họa kèm với màu sắc bắt mắt Việc này giúp tăng cường khả

Trang 23

năng ghi nhớ Tuy nhiên có giới hạn nếu bạn không muốn sản phẩm của mìnhtrở nên quá rối và không có điểm nhấn.

Có nhiều quan điểm về việc phân loại SĐTD Mỗi cách lại căn cứ vàohình thức biểu thị, tính chất, quy mô,… để có SĐTD phù hợp Trong khóaluận này, chúng tôi chia SĐTD thành 3 loại sau:

“SĐTD theo đề cương” là loại SĐTD có tính chất tổng hợp, thống kê

tiến trình học một bộ môn nào đó

“SĐTD theo chương” là loại SĐTD xây dựng trên cơ sở các kiến thức,

các kết quả cụ thể được trình bày và học trong phạm vi từng chương

“SĐTD theo đoạn văn” là loại SĐTD tóm lược nội dung chính mà một

đoạn văn biểu đạt

Ứng dụng SĐTD vào dạy học bước đầu đã thu nhận được nhiều tín hiệukhả quan Không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà trong cả quản lí kinh doanh,thiết kế, thống kê,… SĐTD cũng được sử dụng triệt để Điều này dễ hiểu bởilợi ích và hiệu quả ghi nhớ, sự ngắn gọn, tính bao quát mà nó đem lại là khôngthể phủ nhận Việc vận dụng SĐTD như là phương tiện giảng dạy hiện đại gópphần mở ra một hình thức dạy học sáng tạo, mới mẻ, có hiệu quả Lợi ích màSĐTD đem đến cho HS là cảm hứng học tập, tiết kiệm thời gian và phát huynăng lực sáng tạo không giới hạn để thể hiện ý tưởng bản thân

Hình 2: Lợi ích của SĐTD

Trang 24

1.1.2.3 Ý nghĩa của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giáo dục

Giữ mãi một lối truyền đạt cũ kĩ và không chịu cập nhật thông tin, côngnghệ giáo dục sẽ khiến cho chất lượng đào tạo giảm sút nghiêm trọng Khôngthể khơi lên niềm say mê học hỏi và khát khao muốn chiếm lĩnh tri thức nơi

HS có nghĩa là ta đã thất bại trong cách dạy của mình Kéo theo đó là khôngđáp ứng được nhu cầu hiện đại, năng động của kinh tế tri thức Chính vì thế,đòi hỏi chúng ta phải quyết tâm thay đổi, không ngừng nỗ lực học tập, sángtạo và áp dụng các phương pháp và phương tiện dạy học mới nhằm phát huykhả năng tự học tự sáng tạo cho HS SĐTD giúp phát triển cân bằng sự tươngtác giữa hai bán cầu não và tăng khả năng tư duy đa nhiều và tư duy sâu cho

HS Đây là công cụ học tập hiện đại đem lại hiệu quả rõ rệt Khéo léo đưaSĐTD vào trong dạy học sẽ thu được những kết quả tốt: ghi nhận kiến thứctheo hệ thống toàn diện, nâng cao khả năng ghi nhớ, nhớ lâu nhớ kĩ, tư duy rõràng rành mạch, tiết kiệm thời gian, phát triển năng lực thẩm mĩ,…Riêng vớidạy học đọc hiểu một văn bản văn học, HS sẽ tiếp nhận văn bản bằng cả hệthống hình ảnh lẫn ngôn từ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật Các ý lớn, ýnhỏ được thể hiện trên SĐTD sẽ giúp HS hình dung ra nội dung bài, từ đó cónhững phương hướng học tập riêng cho mình

1.2 Cơ sở lí luận về dạy học theo hướng phát triển năng lực

1.2.1 Năng lực của con người

1.2.1.1 Khái niệm năng lực

* Năng lực trong tâm lí học

Trên phương diện tâm lí học có thể hiểu “Năng lực là tổng hợp các đặcđiểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đạc trưng của mộthoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao”

Năng lực khả năng thực hiện một hành động, thao tác nào đó đến mứcthành thục và có khả năng giải quyết các vấn đề khó Năng lực phải trải quaquá trình rèn luyện mới có được

* Năng lực trong Chương trình dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực

Trang 25

Mục tiêu bài học hướng đến cần hình thành những năng lực nào?

Các hoạt động trong một giờ học nhằm hình thành những năng lựcnào cho HS

Năng lực là sự tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu các kiến thức, kĩnăng, kết quả

Mỗi bài học sẽ tùy chọn các mức độ khác nhau để sắp xếp trình tự cácnăng lực

Trong phát triển giáo dục, các năng lực chung luôn song song với cácnăng lực đặc thù

* Năng lực chung và năng lực chuyên môn theo quan điểm của tâm lí học

“Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khácnhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lựctưởng tượng”

“Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất địnhcủa xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hộihoạ, toán học”

Mỗi người đều có một số năng lực chung và năng lực chuyên môn nhấtđịnh phục vụ cho chính công việc lao động hay học tập của họ Hai nhómnăng lực này có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ cho nhau Con người sởhữu những năng lực này phải trải qua quá trình tiếp thu lĩnh hội, học tập vàrèn luyện nhiều lần mới có được Năng lực của mỗi người là không giốngnhau Nó chi phối bởi hoạt động trí óc, cơ thể và khả năng lĩnh hội đối vớitừng mục đích khác nhau

1.2.1.2 Những năng lực cần phát triển

* Năng lực tự chủ

Tự chủ là tự bản thân mình vận động cả về mặt trí óc và cơ thể Tựmình vươn lên những khó khăn gặp phải trong cuộc sống Sống tự lực

Năng lực tự chủ là biết và bảo vệ quyền, nghĩa vụ, nhu cầu bản thânphù hợp với chuẩn mực đạo đức và đúng với pháp luật

Trang 26

Năng lực tự chủ là ý thức tự kiểm soát lời nói, hành động, tình cảm, suynghĩ, của mình.

 Người có năng lực tự chủ là biết tự đánh giá những mặt tốt - xấu vềmọi phương diện của cá nhân Biết suy nghĩ tích cực, lạc quan

 Luôn giữ thái độ điềm đạm, bình tĩnh trước các sự cố để giải quyếtnhanh chóng và ứng xử khéo léo Tự điều hòa cảm xúc cá nhân đúng mực

 Tự chủ là không tham gia vào các tệ nạn như cờ bạc, buôn lậu, mạidâm, ma túy, trộm cắp,…

Năng lực tự chủ là biết tự định hướng nghề nghiệp

 Hiểu nhu cầu và năng lực bản thân, có mục đích lao động

 Chọn nghề nghiệp phù hợp với mong muốn, nguyện vọng bản thân.Phù hợp hoàn cảnh cá nhân

* Năng lực tự học

Tự học là tự hoàn thiện bản thân

 Coi việc học là quyền lợi, là trách nhiệm cần nghiêm túc thực hiện.Đặt ra mục tiêu cụ thể và thời hạn cụ thể để tiến hành thực hiện Thông quacác kết quả thu được, rút kinh nghiệm và tiếp tục cố gắng

 Tự học là biết tự sắp xếp, lên kế hoạch học tập, có phương pháp họctập phù hợp với bản thân

 Tự học là tinh thần cầu thị, say mê khám phá tìm tòi kiến thức, ghichép, ghi nhớ và vận dụng thành công vào thực tế

 Không ngừng rèn luyện, trau dồi kĩ năng, khả năng tiếp nhận và khảnăng ngôn ngữ

 Điều chỉnh thời gian biểu học tập khoa học, cân bằng

Tự học đối với HS ở trường THPT là hết sức cần thiết và cần phải đẩymạnh tuyên truyền Khi giáo dục đổi mới nhằm phát triển năng lực HS, vị tríngười học được quan tâm nhiều hơn thì vấn đề tự học là một năng lực cầnphải có đối với mỗi HS

Đối với HS THPT, tự học là sự tổng hợp của nhiều năng lực khác nhau

Tự học hướng đến mục đích giúp HS tự giác, chủ động trong quá trình học

Trang 27

tập HS học được cách học khi không có thầy cô bên cạnh Ngoài ra, các nănglực khác cũng được phát triển khi HS tự học là năng lực tìm và giải quyết vấn

đề, năng lực tư duy, năng lực phân tích,…

1.2.2 Dạy học phát triển năng lực

Dạy học phát triển năng lực (dạy học theo định hướng phát triển nănglực) là dạy học định hướng kết quả đầu ra Nhằm thực hiện mục tiêu:

 Nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học

 Nâng cao khả năng ứng dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tìnhhuống thực tiễn trong cuộc sống

 Giúp HS có kĩ năng biết xử lí các trường hợp tương tự

Dạy học phát triển năng lực còn thực hiện qua các hoạt động dạy học,các trò chơi học tập, kết hợp sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại vàphương pháp giảng dạy sáng tạo, hấp dẫn Chương trình này nhấn mạnh vaitrò của HS với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức

1.2.3 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng phủ Ngọc Tường

Thông qua các hoạt động giáo dục, năng lực chung và năng lực đặc thù

sẽ được hình thành và phát triển Theo Wikipedia “năng lực đặc thù vừa làmục tiêu, vừa là đơn vị thao tác trong các hoạt động dạy học, giáo dục gópphần hình thành và phát triển các năng lực chung”

1.2.3.1 Năng lực chung

Các hoạt động của con người trong đời sống được xây dựng và hoànthiện trên cơ sở các năng lực chung bao gồm năng lực trí tuệ, năng lực nhậnthức, năng lực vận động, năng lực giao tiếp, năng lực về ngôn ngữ và tínhtoán Trải qua một chuỗi liên tiếp nhìn - học - vận dụng - trải nghiệm đượcthực hiện bởi bản năng di truyền của người mà các năng lực trên dần hìnhthành và phát triển Năng lực chung đáp ứng các yêu cầu của từng loại hìnhhoạt động khác nhau

Dạy học đọc hiểu văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12)

hướng tới hình thành cho HS 4 năng lực chung như sau:

Trang 28

 Năng lực giải quyết vấn đề

Dạy học đọc hiểu văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12)

hướng tới hình thành cho HS 2 năng lực đặc thù như sau:

 Năng lực thẩm mĩ

Trong dạy học Văn năng lực thẩm mĩ thuộc phạm trù “cái đẹp” Nó baogồm hai loại năng lực nối tiếp nhau trong quá trình “tiếp xúc” với vẻ đẹp củatác phẩm văn học là năng lực khám phá cái đẹp và năng lực thưởng thức cáiđẹp

Phát triển năng lực thẩm mĩ là biết khơi cả về mặt cảm xúc và lí trítrong tình cảm của HS từ khi phát hiện cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, đánh giá cáiđẹp theo quan điểm cá nhân của mình Trước một tác phẩm văn học, nhữngdấu hiệu nào về mặt từ ngữ, hình ảnh gợi liên tưởng đến cái đẹp? GV sẽ địnhhướng cho HS để hỗ trợ các em trong khâu tìm hiểu, đánh giá

 Năng lực ngôn ngữ

Năng lực ngôn ngữ trong học môn Ngữ văn là năng lực vận dụng vàhiểu ngôn ngữ Tiếng Việt Để đánh giá một HS có năng lực ngôn ngữ tốt haychưa tốt thì cần căn cứ vào năng lực làm chủ ngôn ngữ (tiếng Việt) trong trìnhbày diễn đạt, năng lực giao tiếp bằng Tiếng Việt, năng lực tạo lập đoạn vănbản hay văn bản bằng Tiếng Việt

Để rèn luyện một mức độ năng lực ngôn ngữ tốt thì cần phải luôn làmmới, trau dồi thêm nhiều vốn từ, đa dạng thuộc các lĩnh vực khác nhau Có ýthức bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp vốn có của Tiếng Việt, nắm bắtcác quy tắc về câu, dấu câu, từ vựng, ngữ pháp Tiếng Việt…

Trang 29

Hai loại năng lực kể trên có mối quan hệ gần gũi, hỗ trợ nhau trong quá

trình học môn Ngữ văn nói chung và trong dạy học đọc hiểu Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12) nói riêng.

1.2.4 Phương hướng dạy học theo hướng p h á t tr i ển n ă ng l ực

Dạy học phát triển năng lực học sinh hướng đến sự đổi mới phươngpháp giáo dục

Theo quan điểm này, phương pháp dạy học đề cao tính “tích cực hoá”hoạt động học tập của HS bên cạnh việc phát triển năng lực giải quyết vấn đềthông qua hoạt động vận dụng cụ thể Người GV với vai trò định hướng, gợi

mở cho chủ thể của hoạt động học là HS sẽ đẩy mạnh sự tương tác giữa thầy

và trò, giữa các HS với nhau Các em HS sẽ cùng nhau giải quyết một tìnhhuống thử thách nào đó theo cặp đôi, theo nhóm, theo một team có cùng quanđiểm,… nhằm phát triển năng lực cá nhân, năng lực xã hội,

Dạy học nhằm phát triển năng lực người có kết hợp nhiều chủ điểm họctập khác nhau hoặc phối kết hợp kiến thức của nhiều phân môn vào một chủđiểm theo lối tích hợp Truyền đạt kiến thức thông qua các hoạt động của HS,nâng cao sự tự học nơi HS, đánh giá HS theo quá trình và có thể để HS tựđánh giá sản phẩm học tập của nhau và học hỏi lẫn nhau

Để thực hiện tốt phương hướng dạy học phát triển năng lực nên sửdụng kết hợp các phương pháp dạy học tích cực và các kỹ thuật dạy học hiệnđại như kỹ thuật khăn phủ bàn, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật mảnh ghép,…

1.2.5 Ý nghĩa của việc dạy học theo hướng p h á t t r i ển n ă n g l ự c

Dạy học theo quan điểm chú trọng đến năng lực là một sự đổi mớinhiều tiềm năng Nhờ quan điểm này mà ý nghĩa của công việc học tập vànghiên cứu được nhìn nhận đúng Nguời học sau khi kết thúc một chươngtrình học tập sẽ thu được kết quả là các năng lực chung và các năng lựcchuyên biệt liên quan trực tiếp đến chuyên môn Không chỉ biết lí giải cáckiến thức đã học mà quan trọng hơn cả là nắm được cách thức, phương pháp

để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình chiếm lĩnh các giá trị kháctrong đời sống Cách thức là thứ quan trọng cũng là đích đến sau cùng của

Trang 30

dạy học phát triển năng lực Giúp người học tự tin, nâng cao khả năng sáng tạo, tự tư duy trước mỗi vấn đề cần lí giải.

Riêng với học Ngữ văn, dạy học theo phát triển năng lực giúp HS từngbước hoàn thiện các năng lực học tập của môn học Bao gồm năng lực tiếpnhận văn bản (nghe, đọc), năng lực tạo lập văn bản (nói, viết), năng lực đọc -hiểu, năng lực thẩm mĩ, năng lực ngôn ngữ, năng lực sáng tạo…

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?

(Ngữ văn 12) theo hướng phát triển năng lực có vận dụng sơ đồ tư duy

1.3.1 Điều tra, thăm dò ý kiến và dự giờ giáo viên

Chúng tôi lựa chọn 10 GV trả lời 05 câu hỏi đã chuẩn bị sẵn để tiếnhành điều ta, thăm dò ý kiến Dưới đây là kết quả đã thống kê

Câu hỏi 1: Thầy (cô) thường sử dụng phương pháp dạy học nào?

Câu hỏi 2: Thầy (cô) cho rằng việc sử dụng SĐTD để phát triển năng

lực trong dạy đọc hiểu Ai đã đặt tên cho dòng sông? trong SGK Ngữ văn 12

có hợp lí không?

Câu hỏi 3: Nếu thầy (cô) sử dụng SĐTD nhằm phát triển năng lực cho

học sinh vào bài giảng thì thầy (cô) sẽ tổ chức vào khâu nào ?

Câu hỏi 4: Thầy (cô) đánh giá gì về hiệu quả của việc dạy học bài Ai

đã đặt tên cho dòng sông? (SGK Ngữ văn 12) có sử dụng SĐTD để phát triển

năng lực?

Ngày đăng: 29/08/2019, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tony Buzan (2007), Bản đồ tư duy trong công việc, NXB Lao động - xã hội Khác
2. Tony& Bary Buzan (2008), Sơ đồ tư duy, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Khác
3. Joyce Wycoff, Ứng dụng bản đồ tư duy để khám phá tính sáng tạo và giải quyết vấn đề, NXB Lao động - xã hội Khác
4. Bộ GD&ĐT, Sách giáo khoa Ngữ văn 12 (tập1), NXB Giáo dục Việt Nam Khác
5. Nguyễn Hải Hậu, Nguyễn Trọng Hòa (2006), Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, NXB Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thái Hòa (2004), Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc - hiểu, Thông tin khoa học Sư phạm số 5, Viện nghiên cứu Sư phạm - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
7. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phươg pháp dạy học, chương trình sách và giáo khoa, NXB Đại học Sư phạm Khác
8. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (1999), Phương pháp dạy học Văn, NXB Đại học Quốc gia Khác
9. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2012), Ngữ văn 12 (Tập 1), NXB Giáo dục Việt Nam Khác
10.Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng (1996), Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Quốc gia Khác
11. Trần Đình Sử (2003), Đọc văn, học văn, NXB Giáo dục Khác
14.h tt p s : // b a o m oi .c o m /ph a t - t r i e n - n a n g - lu c - n g uo i - h o c - q u a- m o n - n g u - v a n/ c / 2 31 8 19 48 . e p i Khác
15. ht t p s :/ / p h e b in h v a n h o c. c o m .v n/ m u c - t i e u - c u a - v i ec - d a y - ho c - n g u - v a n - t r o n g - t h o i - k y - m oi / Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w