1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DAY TAP LAM VAN 3 4 5

14 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 144 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các lớp bồi dưỡng, tôi đã chỉ đạo giáo viên phụ trách, thực hiện một biện pháp giúp học sinh rèn kĩ năng kể chuyện và tổng hợp được nhiều yêu cầu của kể chuyện vào bài viết mà ít m[r]

Trang 1

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

MỜI CÁC BẠN ĐẾN VỚI CÂU LẠC BỘ TOÁN TIỂU HỌC

(violet.vn/toantieuhoc)

NƠI GIAO LƯU – TRAO ĐỔI VỀ CHUYÊN MÔN TOÁN TIỂU HỌC

NƠI CUNG CẤP CÁC TÀI LỆU VỀ TOÁN TIỂU HỌC TỪ A ĐẾN Z

Đề tài:

Chỉ đạo việc dạy học bồi dưỡng phân môn

Tập làm văn cho HS khối 3,4 5.

Nội dung chính

Chương I Đặt vấn đề.

1.1 Lý do chọn đề tài.

a Cơ sở lí luận

b Cơ sở thực tiễn

Chương II

Thực trạng việc dạy bồi dưỡng phân môn tập làm văn cho học sinh giỏi ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.

2.1 Thực trạng giảng dạy của giáo viên

2.2 Thực trạng học tập của học sinh

2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy học trên

Chương III Giải quyết vấn đề

3.1 Một số biện pháp chỉ đạo giúp giáo viên dạy bồi dưỡng nâng cao chất lượng học tập phân môn tập làm văn khối 3,4,5.

3.1.1 Dựa vào các bài thơ để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng kể chuyện.

3.1.2 Dựa vào các dạng bài tập nâng cao để luyện tập kể chuyện phát huy tính sáng tạo

3.1.3 Dựa vào câu chủ đề để giúp học sinh viết đoạn văn miêu tả đúng trọng tâm 3.1.4 Dựa vào nội dung hoặc dàn ý của bài để tả ngoại hình, tả nội tâm, tả hoạt động nhân vật

Trang 2

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

3.2 Kết quả đạt được.

3.3 Bài học kinh nghiệm.

Chương IV Kết luận

Đề tài: Chỉ đạo việc dạy học bồi dưỡng phân môn Tập làm văn cho

HS khối 3,4 5.

*************

Chương I Đặt vấn đề.

1 Lý do chọn đề tài.

a Cơ sở lí luận :

Trong bậc học tiểu học, bốn kĩ năng quan trọng mà bộ môn Tiếng Việt, môn học cơ bản nhất của bậc học cần đạt là : nghe, đọc , nói, viết Trong đó kĩ năng viết là kĩ năng quan trọng nhất và cũng khó rèn luyện cho học sinh nhất

Để rèn kĩ năng viết cho học sinh, người dạy phải dạy tốt các phân môn như chính tả , luyện từ và câu, tập viết và tập làm văn Để viết đẹp và viết đúng, người thầy phải chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh khi dạy tập viết và chính

tả Còn muốn dạy cho học sinh viết đúng và hay thì chúng ta phải đặc biệt chú

ý dạy tốt hai phân môn là luyện từ và câu và tập làm văn Trong hai phân môn này, nhiều giáo viên cho rằng tập làm văn là môn khó dạy nhất, khó rèn kĩ năng cho học sinh nhất vì đòi hỏi học sinh phải có năng khiếu mới viết văn hay được Nội dung bồi dưỡng làm văn nhằm trau dồi vốn sống vốn văn chương, nâng cao năng lực cảm nhận và diễn tả ở học sinh Học sinh luyện viết văn theo theo kiểu bài đã học Các kiểu bài cơ bản ở tiểu học là kể chuyện, miêu tả, viết thư Trong các lần kiểm tra định kì hay hội thi học sinh giỏi cấp trường, thi học sinh giỏi giải Nguyễn Hiền dành cho HS lớp 4 , học sinh giỏi bậc tiểu học cấp thành phố hằng năm, phần tập làm văn luôn giữ một

Trang 3

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

điểm số rất cao nhưng ít có học sinh đạt điểm tối đa về bài làm văn, số học sinh đạt điểm giỏi bài văn viết khá ít, chỉ chiếm khoảng 10 % hội thi HS giỏi các cấp , có khi còn thấp hơn Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân tôi,

là một giáo viên dạy văn hoá nhiều năm và đảm nhận công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều năm, thì dạy tập làm văn cũng không quá khó hoặc chỉ có học sinh năng khiếu mới viết văn hay được Tất cả đều có thể rèn luyện được nếu chúng ta có biện pháp và cách thức giảng dạy phù hợp Sau khi đảm nhận chức vụ phó hiệu trưởng ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc , tôi đã dùng những kinh nghiệm trong giảng dạy của mình để chỉ đạo giáo viên phụ trách mảng bồi dưỡng học sinh giỏi cách dạy tập làm văn hiệu quả hơn

b Cơ sở thực tiễn

Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc chỉ có 18 lớp với số học sinh khoảng 500

em, trong đó học sinh khối 3,4,5 khoảng 340 em Toàn trường tổ chức được 3 lớp học bồi dưỡng cho đối tượng học sinh giỏi của 3 khối lớp này Trước đây, nhà trường tổ chức bồi dưỡng cho các em vào chiều thứ bảy hoặc sáng chủ nhật nhưng sau khi có công văn hướng dẫn công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của Sở

GD & ĐT thành phố Đà Nẵng thì nhà trường đã sửa đổi lịch bồi dưỡng cho phù hợp và việc dạy đã trở thành công việc chung của mọi giáo viên , không tập trung vào một số ít như trước nữa Chính vì thế mà kịp thời chỉ đạo công tác dạy và học mảng bồi dưỡng học sinh giỏi là một yêu cầu cấp thiết của bộ phận chuyên môn hiện nay Đó là lí do tôi chọn đề tài này để thực nghiệm việc chỉ đạo chuyên môn trong trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc

Chương II

Thực trạng việc dạy bồi dưỡng phân môn tập làm văn cho học sinh giỏi ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc. 2.1 Thực trạng giảng dạy của giáo viên

Trang 4

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

Qua kiểm tra việc dạy học của các giáo viên trong các tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt , tôi nhận thấy giáo viên còn vướng mắc các hạn chế sau :

* Chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức khai thác kiến thức môn học , giúp học sinh lĩnh hội được cách viết văn theo theo kiểu bài

* Chưa giúp học sinh thấy được mối liên kết giữa các kiểu bài , sự hỗ trợ lẫn nhau của các dạng bài được học để viết một bài văn hay

* Đề bài luyện tập của giáo viên ra cho học sinh rèn luyện cũng thiếu sự sáng tạo, còn lệ thuộc vào sách giáo khoa , chưa biết tạo cơ hội cho học sinh phát huy óc tưởng , trí sáng tạo của mình

2.2 Thực trạng học tập của học sinh.

Học sinh của trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc nhìn chung chăm chỉ học tập nhưng do xuất thân từ tầng lớp lao động nghèo, ít có sự hướng dẫn bảo ban của cha mẹ nên chất lượng đầu vào nói chung không cao như các trường lân cận như Trần Cao Vân hay Hoa Lư Cũng với sự nỗ lực như nhau, cũng với nội dung bài giảng như nhau nhưng kết quả của học sinh Nguyễn Bá Ngọc đạt được lại thấp hơn rất nhiều so với học sinh trong những năm tôi dạy ở đấy Học sinh thường lệ thuộc vào dàn ý của cô giáo, thiếu sự sáng tạo Bài làm của các em thiếu nét riêng,

ít cảm xúc và chưa vận dụng tốt các ngữ liệu mẫu ở sách giáo khoa để thực hành Khâu đọc đề và xác định yêu cầu của đề, học sinh thường bỏ qua nên bài làm chưa

đi đúng yêu cầu trọng tâm, cách diễn đạt còn vụng, câu liệt kê, lủng củng, không có

sự vận dụng từ các bài tập rèn kĩ năng của luyện từ và câu vào bài viết Vì thế, trong các hội thi học sinh giỏi , kết quả của các em còn hạn chế, chưa đạt được như mong muốn

2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy học trên

Tôi có thể đánh giá các tồn tại nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây :

Trang 5

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

a Thời gian triển khai nội dung chương trình thay sách chưa lâu, đặc biệt là

khối 4 và 5 nên giáo viên chưa nắm bắt hết các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cần đạt, đặc biệt là ở phân môn tập làm văn

b Từ quan điểm biên soạn sách là tích cực hoá hoạt động học tập của học

sinh và phương pháp giảng dạy chủ yếu là coi trọng phần thực hành, qua luyện tập thực hành, học sinh rút ra kiến thức chủ yếu của bài học Phần bài học không có định nghĩa, không có quy tắc nên GV còn lúng túng khi nâng từ kiến thức cụ thể lên thành kiến thức tổng quát

c Nội dung chương trình tập làm văn ở tiểu học được biên soạn theo kiểu

kết hợp giữa văn chương nghệ thuật và văn bản nhật dụng để học sinh học tập và thực hành Cứ vài tiết học về miêu tả hay kể chuyện thì có 1 tiết điền vào đơn từ, viết đơn, tranh luận hay thuyết trình Việc đan xen giữa hai đơn vị kiến thức có mặt ưu nhưng cũng có mặt hạn chế Nhiều giáo viên chưa xâu chưỗi được kiến thức cho học sinh, học sinh nhớ cái này , quên cái kia là điều thường thấy trong các bài văn nói và viết

d Mỗi tuần , giáo viên chỉ dạy cho học sinh khối 3,4,5 khoảng 2 tiết về các

nội dung nâng cao ở môn Tiếng Việt Thời gian đó, giáo viên tập trung luyện chính tả , luyện từ và câu, thời gian dành cho luyện tập làm văn rất

ít Do đó chất lượng học tập làm văn không được nâng cao

Chương III Giải quyết vấn đề

3.1 Một số biện pháp chỉ đạo giúp giáo viên dạy bồi dưỡng nâng cao chất lượng học tập phân môn tập làm văn khối 3,4,5.

3.1.1 Dựa vào các bài thơ để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng kể chuyện.

Văn kể chuyện , ở tiểu học, được giảng dạy từ lớp 3 nhưng trọng tâm của thể loại này được học ở lớp 4 Kiểu bài kể chuyện được xây dựng với những đề bài cụ

Trang 6

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

thể và những kĩ năng thực hành đặt ra cho từng đề bài cụ thể đó Ở các tiết học chính khoá, GV đã dạy cho học sinh một số kĩ năng kể chuyện như cốt chuyện, nhân vật trong câu chuyện, tả ngoại hình nhân vật, tả hoạt động, tả nội tâm, Thông qua một số dạng đề bài như : Kể lại chuyện đã nghe, đã học, kể lại chuyện được chứng kiến tham gia, kể chuyện thay lời nhân vật, kể chuyện dựa vào cốt chuyện có sẵn, kể chuyện theo các nhân vật cho sẵn, viết tiếp câu chuyện cho hoàn chỉnh học sinh được rèn kĩ năng kể chuyện khá cụ thể cho từng kiểu , từng dạng Tuy nhiên thời gian dành cho luyện tập của từng dạng không nhiều Các dạng bài

kể chuyện này còn mờ nhạt trong học sinh , đặc biệt là học sinh trung bình và yếu Trong các lớp bồi dưỡng, tôi đã chỉ đạo giáo viên phụ trách, thực hiện một biện pháp giúp học sinh rèn kĩ năng kể chuyện và tổng hợp được nhiều yêu cầu của kể chuyện vào bài viết mà ít mất thời gian đầu tư Đó là dựa vào một số bài thơ có tính chất tự sự để yêu cầu học sinh kể chuyện Giaó viên có thể dùng một bài thơ nhiều lần để củng cố luyện tập nhiều kĩ năng, mỗi bài tập 1 yêu cầu khác nhau, sau

đó mới yêu cầu học sinh kể toàn bộ câu chuyện bằng lời của mình

Ví dụ 1 : Dựa vào bài thơ Qua Thậm Thình của Nguyễn Bùi Vợi, em hãy kể lại câu chuyện nhằm giải thích nguyên nhân sinh ra tên gọi của làng

Nội dung bài thơ như sau: Qua Thậm Thình.

Đi qua xóm núi Thậm Thình

Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm

Vua Hùng một sáng đi săn

Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này

Dân dâng một quả xôi đầy

Bánh chưng mấy cặp , bánh dày mấy đôi

Đẹp lòng vua phán bầy tôi

Tìm đất kén thợ định nới xây nhà

Trăm cô gái tựa tiên sa

Múa chày đôi với chày ba rập rình.

Trang 7

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

Đêm đêm tiếng Thậm tiếng Thình

Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non

Để học sinh làm tốt đề bài luyện tập này, giáo viên nên chẻ nhỏ các yêu cầu ra

để học sinh thực hành Cụ thể là :

Bài tập 1: Dựa vào bài thơ, hãy tả ngoại hình nhân vật Vua Hùng trong câu chuyện Bài tập 2: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cuộc nói chuyện của Vua Hùng với các quan

và dân xóm Núi bàn về việc làng giã gạo nuôi quân

Bài tập 3: Dựa vào bài thơ , hãy tả nội tâm nhân vật Vua Hùng khi được dân chúng tiếp đón nồng nhiệt

Bài tập 4 : Dựa vào bài thơ , em hãy tả cảnh các cô gái xóm núi say sưa giã gạo nuôi quân

Sau các bài tập nhỏ trên, giáo viên mới yêu cầu học sinh về nhà làm lại cả bài Có như thế, các em mới áp dụng được các kĩ năng đã học vào bài làm văn viết

Ví dụ 2: Dựa vào bài thơ Gọi bạn , em hãy kể lại câu chuyện về tình bạn thật xúc động của Bê Vàng và Dê Trắng

Nội dung bài thơ là : Gọi bạn

Tự xa xưa thuở nào

Trong rừng xanh sâu thẳm Đôi bạn sống bên nhau

Bê Vàng và Dê Trắng

Một năm trời hạn hán Suối cạn , cỏ héo khô Lấy gì nuôi đôi bạn Chờ mưa đến bao giờ

Bê Vàng đi tìm cỏ

Lang thang quên đường về

Dê Trắng thương bạn quá.

Chạy khắp nẻo tìm Bê

Trang 8

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

Đến bây giờ Dê Trắng Vẫn gọi hoài : Bê ! Bê !

Để học sinh làm tốt đề bài luyện tập này, giáo viên nên chẻ nhỏ các yêu cầu

ra để học sinh thực hành Cụ thể là :

Bài tập 1: Dựa vào bài thơ, hãy tả ngoại hình 2 nhân vật Bê Vàng Và Dê Trắng trong câu chuyện

Bài tập 2: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cuộc chia tay của Bê Vàng Và Dê Trắng trước khi Bê Vàng đi tìm cỏ

Bài tập 3: Dựa vào bài thơ , hãy tả nội tâm nhân vật Dê Trắng khi chờ mãi không thấy Bê Vàng trở về

Bài tập 4 : Dựa vào bài thơ , em hãy tưởng tượng và kể lại phần kết của câu chuyện theo suy nghĩ của em

Các bài thơ có tính chất tự sự trong chương trình tiểu học có nhiều như bài Nàng Tiên ốc, Tiếng Vọng, Ê- MI-LI, con Ngoài ra giáo viên nên sưu tầm thêm các bài thơ của Trần Đăng Khoa như : Đám ma bác giun, Em kể chuyện này, của Bác Hồ như Con Cáo và tổ ong để cho học sinh luyện tập

3.1.2 Dựa vào các dạng bài tập nâng cao để luyện tập kể chuyện phát huy tính sáng tạo

Hiện nay, theo chương trình mới, hệ thống bài tập phân môn tập làm văn kiểu bài kể chuyện được liệt kê , miêu tả theo nhiều cách khác nhau Để phats huy trí tưởng tượng cho HS giỏi, giáo viên có thể đưa ra những dạng bài như sau:

a/ Kể lại chuyện đã nghe, đã học bằng cách mượn lời Ví dụ : Mượn lời chú Sẻ non trong câu chuyện “ Con Sẻ ” của Tuộc ghê nhi ép, em hãy kể lại câu chuyện đó

b/ Dựa vào cốt chuyện có sẵn sau đây , hãy kể lại sự tích con ong mật.

( GV ghi cốt chuyện sự tích con ong mật cho theo sinh theo dõi làm bài)

c/ Tưởng tượng để viết tiếp đoạn văn sau đây thành câu chuyện hoàn chỉnh

( GV ghi đoạn chuyện còn thiếu, cho học sinh tưởng tượng và viết thêm Đoạn

viết thêm có thể là phần đầu, phần diễn biến hoặc phàn kết thúc)

Trang 9

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

d/ Dựa vào ý nghĩa sau đây để kể một câu chuyện

Ví dụ : Ý nghĩa : Câu chuyện kể về một chú bé thấy bàn chân ông nội quá to đã tìm hiểu nguyên do Câu chuyện giáo dục chúng ta yêu thương quan tâm chăm sóc những người thân yêu trong gia đình

3.1.3 Dựa vào câu chủ đề để giúp học sinh viết đoạn văn miêu tả đúng trọng

tâm.

Trong bậc tiểu học, văn miêu tả là thể loại quan trọng nhất , được giảng dạy chủ yếu ở lớp 4 và 5 Trong nội dung sách giáo khoa mới đang hiện hành , kiến thức

về câu chủ đề trong ngũ pháp văn bản được đưa vào một cách nhẹ nhàng giúp học sinh vận dụng khá nhanh để làm văn miêu tả Đây là điểm mới hợp lí và cần thiết so với sách giáo khoa cũ Vì thế giáo viên phải tận dụng tối đa hình thức luyện tập viết đoạn văn theo câu chủ đề để học sinh thực hành Như ta đã biết câu chủ đề còn gọi là câu chốt là câu nêu lên toàn bộ ý chính của một đoạn văn, thường đứng ở đầu hoặc ở cuối đoạn văn Sau câu chủ đề ( hoặc trước ) là những câu văn nhằm giải thích ý cho câu chủ đề Vì vậy, nếu giáo viên có định hướng câu chủ đề tốt sẽ giúp cho học sinh viết bài văn tả đúng trọng tâm hơn

Ví dụ 1: Ở kiểu bài tả cảnh với đề bài cụ thể là :

Em hãy tả vẻ đẹp của vườn hoa trong một buổi sáng mùa xuân.

Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 2 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển thành 2 đoạn văn tả cảnh

a/ Buổi sáng, vườn hoa rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hương thơm

b/ Vườn hoa nhộn nhịp, tươi vui với biết bao ong bướm rập rờn và tiếng chim

ca hát

Ví dụ 2: Ở kiểu bài tả đồ vật với dề bài cụ thể là :

Hãy tả một đồ dùng học tập của em.

Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 2 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển thành 2 đoạn văn tả đồ vật

a/ Cái cặp của em mới đẹp làm sao

Trang 10

Trần Thị Tuyết - Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - Quận Thanh Khê – Đà Nẵng

b/ Cặp của em đã đẹp lại còn tiện lợi biết bao!

Ví dụ 3: Ở kiểu bài tả người với đề bài cụ thể là :

Hãy tả người mà em yêu quý nhất

Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 3 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển thành 3 đoạn văn tả người

a/ Mẹ em không đẹp nhưng rất dễ nhìn

b/ Chẳng có ai vừa giỏi giang lại vừa thông minh như mẹ của em

c/ Mẹ yêu em không sao kể hết

Các câu chủ đề phải gói gọn 1 nội dung chính của bài văn Giaó viên có thể sử dụng nhiều câu chủ đề khác để hướng dẫn học sinh luyện tập, không nhất thiết phải

cứ áp dụng một ý chung nhất Ở đối tượng học sinh năng khiếu, giáo viên cũng nên khuyến khích các em phá bỏ những cách diễn đạt thông thường để có những bài viết

có cách diễn đạt bức phá , thực sự hấp dẫn người đọc mà không theo khuôn mẫu nào

3.1.4 Dựa vào nội dung cốt chuyện hoặc dàn ý của bài kể chuyện để tả ngoại

hình, tả nội tâm, tả hoạt động nhân vật

Đối với văn kể chuyện, xây dựng cốt chuyện, dàn bài là quan trọng nhưng nếu học sinh không biết vận dụng các yêu cầu về tả ngoại hình, tả nội tâm , tả hoạt động.v v vào kể chuyện thì câu chuyện chẳng thể sinh động hấp dẫn mà chỉ là liệt

kê các ý chính Vì vậy, giáo viên phải hướng dẫn học sinh thật kĩ , khi nào phải tả ngoại hình, khi nào phải tả nội tâm, khi nào phải thể hiện hành động ngôn ngữ Thông thường các các tả này xen với kể hiệu quả và gây được sự chú ý cho người nghe, tăng hiệu quả của chuyện kể là :

a/ Tả ngoại hình: Khi nhân vật chính hay phụ xuất hiện thì phải tả ngay ngoại hình của nhân vật đó Nhân vật chính phải tả nhiều hơn nhân vật phụ Phải chọn lọc chi tiết về ngoại hình để tả sao cho chi tiết đó thể hiện được tính cách nhân vật

b/ Tả nội tâm : Nội tâm của nhân vật thường bộc lộ khi xuất hiện tình huống có vấn

đề Vì vậy, khi kể chuyện, đến đoạn chuyện xuất hiện tình huống có vấn đề thì giáo

Ngày đăng: 01/05/2021, 06:59

w