1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn dạy tập làm văn lớp 4 như thế nào để đáp ứng được yêu cầu đổi mới

31 2,8K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 398 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy so với các môn học khác, giáo viêndạy còn thiếu linh hoạt trong vận dụng các phương pháp và chưa sáng tạo trongviệc tổ chức các hoạt động học tập

Trang 1

A Đặt vấn đề

Nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học nói chung và chất lượng lớp 4 thaysách nói riêng đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục Đổi mới ph-ơng pháp dạy học là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi nhà trường để nâng caochất lượng giáo dục Dạy các môn học như thế nào để đáp ứng được yêu cầu đổimới ?

Trong các môn học của chương trình lớp 4 thay sách, Tập làm văn là phânmôn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành từ các phân môn khác của mônTiếng Việt Đồng thời, nó còn gắn bó mật thiết với tất cả các môn học khác trongchương trình lớp 4 cũng như cả bậc học và thể hiện được đậm nét dấu ấn cá nhân.Dạy Tập làm văn theo hớng đổi mới nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng sản sinhvăn bản dưới cả hai hình thức nói, viết Điều này đòi hỏi giáo viên giảng dạy phảivận dụng các phương pháp và cách tổ chức dạy học linh hoạt như thế nào, để mỗitiết dạy Tập làm văn đều đạt được hiệu quả như mong muốn Đây chính là động

lực để tôI nghiên cứu vấn đề “ Dạy Tập làm văn lớp 4 như thế nào để đáp ứng ược yêu cầu đổi mới”

đ-I Cơ sở lý luận:

Đổi mới phương pháp dạy học là: Đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phuơng pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số ph- ương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của ng- ười học Chính vì vậy mà giáo viên khi dạy phân môn Tập làm văn, phải coi trọng

yếu tố thực hành nói và viết trong suốt quá trình dạy ( chú trọng luyện nói ) Nghĩa

là, dạy cho học sinh kĩ năng trình bày văn bản Mỗi tiết dạy phải giảm sự giảnggiải của giáo viên, tăng thời gian hoạt động cho học sinh (đặc biệt là hoạt độnggiao tiếp) Dạy Tập làm văn phải giúp cho học sinh sản sinh văn bản có cảm xúc,chân thực thì khi nói và viết mới thuyết phục được người nghe, người đọc Cụ thểlà:

+ ở Tiểu học, các em học chủ yếu các kiểu bài tập làm văn thuộc thể loại: kểchuyện, miêu tả, viết thư Đây là thể loại văn thuộc phong cách nghệ thuật nên đòi

Trang 2

luôn luôn tạo cho các em có tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, tấm lòng nhânhậu qua việc chiếm lĩnh kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hoá, tự nhiên và xãhội ở cả 9 môn học

+ Mặt khác, mỗi bài Tập làm văn đòi hỏi phải có tính chân thực: Chân thực khi

kể chuyện, khi viết th, khi miêu tả Muốn vậy, giáo viên phải uốn nắn học sinhtránh (lối nói và viết), giả tạo, già trớc tuổi ( biểu hiện cụ thể là sao chép vănmẫu ) mà cần nhẹ nhàng chỉ cho học sinh những thiếu sót và hớng cho các em cáchsửa, cách làm bài phù hợp với tâm lý lứa tuổi

II Cơ sở thực tiễn:

1 Thuận lợi

Nhà trường luôn luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác thay sách đạt kết quảtốt, chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn được nâng cao, xây dựng được nềnếp tự học, bồi dưỡng thờng xuyên chu kỳ 3, các mô đun để thực hiện đổi mới ph-ơng pháp giảng dạy nâng cao tay nghề cho giáo viên Ban giám hiệu quan tâm vàtạo điều kiện cho giáo viên học tin học, tự làm đồ dùng dạy học để thực hiện cóhiệu quả đổi mới phơng pháp dạy học

Giáo viên giảng dạy đều được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, sáchtham khảo và các phương tiện phục vụ cho việc dạy học Đội ngũ giáo viên dạylớp 4 là những giáo viên có năng lực sư phạm, yêu nghề nên khi tiếp cận thay sáchgiáo viên đã áp dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của học sinh tương đối linh hoạt và ngày một hiệu quả Học sinh đã quen vớicách học mới từ các lớp 1,2,3 cho nên các em biết cách thực hành luyện tập dới sựhướng dẫn của giáo viên để tự chiếm lĩnh tri thức

2 Khó khăn.

Phân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy so với các môn học khác, giáo viêndạy còn thiếu linh hoạt trong vận dụng các phương pháp và chưa sáng tạo trongviệc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Việc cung cấp vốn sống, vốn hiểu

biết cho các em qua các phân môn của Tiếng Việt và các môn học khác chưa được

chú trọng Mặt khác, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học ham chơi,khả năng tập trung chú ý nhận thức các sự vật còn hạn chế, năng lực sử dụng ngônngữ chưa thật phát triển, nên việc học tập ở phân môn Tập làm văn gặp những khókhăn như : Thiếu vốn sống, vốn hiểu biết về đối tợng cần miêu tả, kể chuyện…hoặc không biết cách diễn đạt về đối tợng cần kể, cần tả

Trang 3

B Nội dung chuyên đề

I Nội dung chương trình, yêu cầu kiến thức, kỹ năng của phân môn Tập làm văn lớp 4:

1 Nội dung ch ương trình phân môn Tập làm văn lớp 4.

Chương trình TLV lớp 4 được thiết kế tổng cộng 62 tiết / năm Cụ thể như sau:

* Kể chuyện gồm có 19 tiết được dạy trong học kỳ I

* Văn miêu tả gồm có 30 tiết đợc phân bố như sau:

- Khái niệm văn miêu tả 1 tiết

+ Miêu tả đồ vật 10 tiết

+ Miêu tả cây cối 11 tiết

+ Miêu tả con vật 8 tiết

* Các loại văn bản khác :

+ Viết thư : 3 tiết

+ Trao đổi ý kiến : 2 tiết

+ Giới thiệu hoạt động : 2 tiết

+ Tóm tắt tin tức : 3 tiết

+ Điền vào giấy tờ in sẵn : 3 tiết

Như vậy chuơng trình Tập làm văn lớp 4 được chú trọng vào hai thể loại chính đólà: kể chuyện (19 tiết) và miêu tả (30 tiết) Điều này khẳng định lượng kiến thứctrọng tâm của Tập làm văn lớp 4 là văn kể chuyện và văn miêu tả

2 Yêu cầu kiến thức, kỹ năng phân môn Tập làm văn lớp 4.

2.1 Yêu cầu kiến thức:

+ Thể loại văn kể chuyện

- Học sinh phải hiểu như thế nào là kể chuyện?

- Hiểu được nhân vật trong truyện Kể lại hành động của nhân vật Tả ngoại hìnhcủa nhân vật trong bài văn kể chuyện Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật

- Bên cạnh đó học sinh phải hiểu cốt truyện

Trang 4

- Biết xây dựng đoạn văn, biết mở bài và biết kết bài trong bài văn kể chuyện Từ

đó, học sinh biết viết và nói một bài văn kể chuyện hoàn chỉnh

+ Thể loại văn miêu tả.

- Học sinh phải hiểu như thế nào là miêu tả?

- Miêu tả đồ vật : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả đồ vật

- Miêu tả cây cối : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả câycối

- Miêu tả con vật : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả convật

+ Các loại văn bản khác

- Viết thư : Nắm được mục đích của việc viết thư, nội dung cơ bản, cách xưng

hô và cách trình bày một bức thư

- Trao đổi ý kiến với người thân: Xác định được mục đích trao đổi, vai trong trao

đổi, lập được dàn ý của bài trao đổi và biết đóng vai trao đổi tự nhiên, tự tin, cử chỉthích hợp, lời lẽ có sức thuyết phục để đạt mục đích đề ra

- Giới thiệu hoạt động địa phương : Biết cách giới thiệu tập quán, trò chơi, lễ hội,

truyền thống của địa phương, quan sát và trình bày đuợc những đổi mới của quêhương, có ý thức đối với việc xây dựng quê hương

- Tóm tắt tin tức và điền vào giấy tờ in sẵn ( phiếu khai báo tạm trú, tạm vắng, thư

chuyển tiền, điện chuyển tiền…) : Biết cách tóm tắt tin tức, tự tìm tin, biết điền nộidung cần thiết vào giấy tờ in sẵn Qua đó học sinh biết ứng dụng trong cuộc sốnghàng ngày

2.2 Yêu cầu kỹ năng:

2.2.1 : Yêu cầu đối với hoc sinh

Kỹ năng định hướng hoạt động trong giao tiếp:

+ Nhận diện loại văn bản

+ Phân tích đề

Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:

+ Xác định dàn ý bài văn đã cho

+ Tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện

+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện + Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả

Kỹ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp:

+ Xây dựng đoạn văn

+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn

Trang 5

Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp.

+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầudiễn đạt

+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt

2.2.2 Yêu cầu đối với giáo viên.

- Giáo viên phải nắm được quan điểm đổi mới phơng pháp dạy học phân mônTập làm văn theo Chương trình và sách giáo khoa mới

- Xác định được các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinhtrong dạy Tập làm văn Lên lớp hội thảo tiết dạy và rút kinh nghiệm

- Phải thiết kế được một kế hoạch bài học thể hiện sự đổi mới của phương phápdạy học phân môn Tập làm văn

Đó là toàn bộ yêu cầu kiến thức, kỹ năng trọng tâm mà học sinh cần đạt ược và những yêu cầu đối với giáo viên lớp 4 cần nắm vững để áp dụng khi dạy phân môn Tập làm văn.

II Qui trình dạy tiết Tập làm văn lớp 4

Dạy bài lý thuyết

1 Kiểm tra bài cũ : 3-5 phút.

2 Dạy bài mới:

a) Giới thiệu bài : 1- 2 phút

b) Hình thành khái niệm :13 – 15 phút

Phân tích dữ liệu ở phần I , II để hình thành khái niệm cho học sinh

c) Hướng dẫn luyện tập :17 –19 phút.

- Từng bài tập tiến hành 4 bước :

+ Đọc và xác định yêu cầu bài tập

+ Hướng dẫn giải một phần bài tập mẫu

+ Học sinh làm bài tập

+ Chữa – Chấm – Nhận xét kết quả

d) Giáo viên dặn dò: 2-3 phút (cả ghi vở)

Dạy bài thực hành

1 Kiểm tra bài cũ: 3- 5 phút.

2 Dạy bài mới:

a) Giới thiệu bài : 1- 2 phút.

b) Hướng dẫn thực hành :28 30 phút.

Trang 6

- Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện từng bài tập trong sách giáo khoa theothứ tự chung.

- Từng bài tập hướng dẫn học sinh theo 4 bước:

+ Đọc và xác định yêu cầu bài tập

+ Hướng dẫn giải một phần bài tập mẫu

+ Học sinh làm bài tập

+ Chữa – Chấm – Nhận xét kết quả

c) Giáo viên dặn dò: 2- 4 phút (cả ghi vở)

Trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4, người giáo viên có nhiều cách thức, nhiều con đường và nhiều phương pháp để hình thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh Song theo tôi những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập cần được phát huy trong dạy Tập làm văn lớp 4 là:

1 Ph ương pháp thực hành giao tiếp.

1.1 Khái niệm : Phương pháp thực hành giao tiếp là phương pháp dạy học bằng

cách sắp xếp tài liệu ngôn ngữ sao cho vừa bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ trong

hệ thống ngôn ngữ, phản ánh được đặc điểm, chức năng của chúng trong hoạt độnggiao tiếp

1.2 Mục đích: Tận dụng vốn hiểu biết về ngôn ngữ nói của học sinh, để học sinh

cảm thấy nhẹ nhàng hơn trong việc tiếp nhận kiến thức và rèn luyện kỹ năng họctập mới Rèn cho học sinh tính tự tin khi đưa ra chính kiến của minh

1.3 Yêu cầu sử dụng : Khi sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp, giáo viên

phải tạo điều kiện tối đa để học sinh đợc giao tiếp (giao tiếp giữa giáo viên với họcsinh, giao tiếp giữa học sinh với học sinh) Thông qua giao tiếp, giáo viên cho họcsinh nhận thấy được cái đúng, cái sai để bổ sung hoặc sửa chữa nhằm nâng caochất lượng, hiệu quả giao tiếp Ngoài ra, giáo viên cần tạo không khí lớp học vui,thoải mái để học sinh có kỹ năng giao tiếp tự nhiên, tự tin

1.4 Ví dụ: Dạy tiết Tập làm văn “ Thể nào là miêu tả ? ” ( Tuần 14 )

Bài tập 2 : Em thích những hình ảnh nào trong đoạn trích dưới đây ? Hãy viết 1, 2câu miêu tả một trong những hình ảnh đó

Trang 7

Mưa

ù ù như xay lúa Lộp bộp

Lộp bộp Rơi Rơi Đất trời

Mù trắng nớcMưa chéo mặt sân Sủi bọt

Cóc nhảy chồm chồm Chó sủa

Cây lá hả hê

Bố em đi cày về Đội sấm

Đội chớp Đội cả trời mưa

Trang 8

Một số học sinh đã viết những câu văn miêu tả một trong những hình ảnh trong đoạntrích “ Mưa” như sau :

+ Anh chớp đùng đùng nổi giận rạch ngang bầu trời bằng một nhát kiếm chói loà.

Rồi cả góc trời sáng chói lên làm em giật nảy mình

+ Mưa mỗi lúc một nặng hạt, gió thổi càng mạnh hơn, những hạt mưa đan chéo

nhau tạo lên những “ hàng rào nớc ” kín cả mặt sân Mặt sân ngập nước, sủi bọt tạo thành muôn vàn cái bong bóng to nhỏ khác nhau

Qua bài làm của học sinh, giáo viên cho các em khác nhận xét, so sánh tìm ra cáiđúng cái hay, sửa chỗ chưa được đó chính là đã tạo cho các em được giao tiếp vớinhau

Tóm lại : Phương pháp thực hành giao tiếp là phương pháp đặc trưng để dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4 vì : Phân môn Tập làm văn 4 chỉ có 5 bài văn viết hoàn chỉnh còn chủ yếu là văn nói và viết đoạn Mặt khác, nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Tập làm văn là rèn kỹ năng tạo lập ngôn bản cho học sinh

2 Ph ương pháp phân tích ngôn ngữ:

2.1 Khái niệm : Đây là phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự tổ chức và

hướng dẫn của giáo viên tiến hành tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, quan sát vàphân tích các hiện tượng đó theo định hướng của bài học, trên cơ sở đó rút ra nhữngnội dung lý thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ

2.2 Mục đích : Giúp học sinh tìm tòi, huy động vốn hiểu biết của mình về từ ngữ của

Tiếng Việt và cách sử dụng Tiếng Việt trong những hoàn cảnh cụ thể, làm cho bàinói, bài viết của các em chân thực, giàu hình ảnh và sinh động hơn

2.3 Yêu cầu khi sử dụng : Giáo viên phải tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện và

sửa chữa lỗi diễn đạt Hướng dẫn học sinh cách sử dụng Tiếng Việt khi nói ( đúngngữ điệu ) và viết ( đúng ngữ pháp ) cho phù hợp với nội dung từng bài tập

2.4 Ví dụ : Học sinh làm bài tập 2 trong tiết tập làm văn : Luyện tập xây dựng đoạn

văn kể chuyện theo tranh ở bức tranh 5 một học sinh làm như sau:

Lần thứ ba, cụ già vớt lên lưỡi rìu bằng sắt và hỏi: “Lưỡi rìu này có phải của con không? ” Chàng trai nói : “ Đây mới chính là lưỡi rìu của cháu”

Học sinh nhận xét như sau:

+ Bạn dùng cụm từ “chàng trai nói” là chưa hay vì : Khi cụ già tìm được lưỡi rìu thì chàng trai phải hết sức mừng rỡ và phải reo lên, Theo em nên thêm, thay từ “ nói.”

bằng cụm từ “mừng rỡ reo lên”.

Trang 9

+ Cách xưng hô của chàng trai “cháu” mà bạn sử dụng là chưa hợp lý, vì cụ già gọi chàng trai là “con” Đoạn văn nên sửa như sau:

Lần thứ ba, cụ già vớt lên lưỡi rìu bằng sắt và hỏi: “Lưỡi rìu này có phải của con không?” Chàng trai vui mừng reo lên: “ Đây mới chính là lưỡi rìu của con”.

* Tóm lại : Phương pháp phân tích ngôn ngữ cũng là một trong những phương pháp quan trọng cho việc dạy Tập làm văn, bởi dạy Tập làm văn là dạy cho học sinh cách dùng từ, cách đặt câu , cách dựng đoạn một cách chân thực, hấp dẫn và phải phù hợp với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp Do đó giáo viên phải giúp học sinh nhận xét, điều chỉnh để bài làm đạt kết quả cao

3 Ph ương pháp gợi mở vấn đáp.

3.1 Khái niệm: Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực

tiếp đa ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bướcmột để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học

3.2 Mục đích : Phương pháp gợi mở vấn đáp nhằm tăng cờng khả năng suy nghĩ,

sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng như kinhnghiệm đã có của học sinh Giúp học sinh hình thành khả năng tự lực tìm tòi kiếnthức Qua đó học sinh ghi nhớ tốt hơn, sâu sắc hơn và còn biết chia sẻ hiểu biết, kinhnghiệm

3.3 Yêu cầu khi sử dụng : Giáo viên phải lựa chọn những câu hỏi theo đúng nội dung

bài học Những câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với mọi đối tượnghọc sinh trong cùng một lớp Giáo viên dành thời gian hợp lý cho học sinh suy nghĩ.Sau đó cho học sinh trả lời (tự nguyện hoặc giáo viên gọi) Các học sinh nhận xét bổsung và rút ra kết luận, giáo viên chốt lại kiến thức Kiến thức phân môn Tập làm vănlớp 4 cung cấp cho học sinh đều được hình thành dưới dạng bài tập Do đó phươngpháp gợi mở vấn đáp phù hợp với cả hai kiểu bài ( dạy lý thuyết và dạy thực hành )

3.4 Ví dụ: Dạy tiết Tập làm văn “ Nhân vật trong truyện ” (Tuần 1 ).

Nhận xét 1: Ghi tên các nhân vật trong những truyện mà em mới học vào nhóm thích

hợp

a- Nhân vật là người

b- Nhân vật là vật ( con vật, đồ vật, cây cối, )

Sau khi cho học sinh phân tích yêu cầu của nhận xét 1, giáo viên hỏi :

+ Các em vừa học những câu chuyện nào ? ( Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Sự tích

hồ Ba Bể )

Trang 10

+ Nêu những nhân vật là người ? ( Hai mẹ con bà nông dân, bà cụ ăn xin, nhữngngười dự lễ hội ).

+ Nêu những nhân vật là vật ( Dế Mèn, Nhà Trò, bọn nhện, giao long )

+ Để những con vật trở thành nhân vật trong truyện, ta phải dùng biện pháp nghệthuật gì ? (nhân hoá)

+ Nhân vật trong truyện có thể là ai ? ( nhân vật trong truyện có thể là người, là convật, đồ vật, cây cối, được nhân hoá)

Như vậy, chỉ qua 5 câu hỏi gợi mở, giáo viên vừa giúp học sinh hình thành đượckiến thức mới vừa kiểm tra được mức độ hiểu bài của học sinh

*Tóm lại: Phương pháp gợi mở vấn đáp đợc sử dụng trong tất cả các tiết học và nó phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của học sinh

4 Phơng pháp nêu và giải quyết vấn đề

4.1 Khái niệm : Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là giáo viên đưa ra tình

huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cựcchủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rènluyện kỹ năng để đạt được mục đích học tập

4.2 Mục đích :Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lý thuyết vào giải quyết

vấn đề của thực tiễn Nâng cao kỹ năng phân tích và khái quát từ tình huống cụ thể vàkhả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong giải quyết vấn đề

4.4 Ví dụ: Tiết Tập làm văn “ Nhân vật trong truyện ”

Bài tập :2 ( Phần luyện tập ) như sau:

Cho tình huống sau : Một bạn nhỏ mải vui đùa, chạy nhảy, lỡ làm ngã một em bé.

Em bé khóc.

Em hãy hình dung sự việc và kể tiếp câu chuyện theo một trong hai hướng sau đây: a) Bạn nhỏ nói trên biết quan tâm đến người khác

b) Bạn nhỏ nói trên không biết quan tâm đến người khác

Học sinh làm bài như sau:

+ Giờ ra chơi, Giang rủ tôi ra sân nhảy dây, các em học lớp một quây quanh xem

rất đông Đang chơi vui vẻ thì tôi nghe thấy tiếng khóc của một bé gái Thì ra không may Giang đã quật dây vào làm em bé ngã Giang vội chạy tới xin lỗi em và dìu em ngồi lên ghế đá, dỗ em bé nín

+ Giờ ra chơi, Tài và Đức cùng chơi trò đuổi bắt Mải chơi nên khi chạy Tài đã va

phải một em bé, làm em ngã Tài không đỡ em dậy mà nói:“Tại em va phải anh chứ”nói rồi Tài chạy tiếp.

Trang 11

Khi dạy học nêu vấn đề, giáo viên cần giúp học sinh hiểu được trong cùng một tình huống nhưng có nhiều cách giải quyết khác nhau, các em cần lựa chọn cách giải quyết hay nhất để ứng dụng trong học tập, trong cuộc sống

5 Ph ương pháp trực quan.

5.1 Khái niệm : Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó giáo

viên sử dụng các phương tiện trực quan nhằm giúp học sinh có biểu tượng đúng về sựvật và thu nhận kiến thức, rèn kỹ năng theo mục tiêu bài học một cách thuận lợi

5.2 Mục đích: Thu hút sự chú ý và giúp học sinh hiểu bài, ghi nhớ bài tốt hơn Học

sinh có thể khái quát nội dung bài và phát hiện những mối liên hệ của các đơn vị kiếnthức dễ ràng hơn

5.3 Yêu cầu khi sử dụng : Giáo viên phải hướng dẫn học sinh quan sát (bằng nhiều

giác quan) để học sinh hiểu và cảm nhận về đối tượng cần quan sát Hướng dẫn cáchquan sát từ bao quát đến chi tiết, từ tổng thể đến bộ phận, giúp học sinh hình thànhphương pháp làm việc khoa học Hơn nữa, trong quá trình giảng dạy, giáo viên phảiđưa đồ dùng trực quan đúng lúc, đúng chỗ cho tất cả học sinh có thể quan sát, tránhlạm dụng

5.4 Ví dụ : Dạy bài tập làm văn “ Quan sát đồ vật ”

- Giáo viên đưa tranh vẽ một số đồ chơi cho học sinh quan sát

- Giáo viên cho học sinh quan sát đồ chơi mà học sinh mang tới lớp Qua trực quanhọc sinh biết tả bao quát, tả từng bộ phận và nêu được những đặc điểm nổi bật củathứ đồ chơi mà học sinh cần miêu tả

Sử dụng phương pháp trực quan trong giảng dạy ở phân môn Tập làm văn là hết sức cần thiết (đặc biệt là dạy thể loại văn miêu tả) vì phân môn Tập làm văn lớp 4

có trên 50% số bài có sử dụng kênh hình Để học sinh tiếp thu bài tốt hơn, mỗi giáo viên giảng dạy ngoài việc phải biết cách sử dụng đồ dùng hợp lý trong từng tiết dạy, còn phải nâng cao kỹ năng sử dụng vi tính để sử dụng tốt đồ dùng dạy

Trang 12

học động, nhằm tiết kiệm thời gian ghi bảng, tạo điều kiện cho học sinh thực hành

và gây hứng thú học tập cho các em

6 Ph ương pháp rèn luyện theo mẫu.

6.1 Khái niệm : Phuơng pháp rèn luyện theo mẫu là phương pháp dạy học mà

giáo viên đưa ra các mẫu cụ thể về lời nói hoặc mô hình lời nói ( cũng có thể cùnghọc sinh xây dựng mẫu lời nói ) để thông qua đó hướng dẫn học sinh tìm hiểu các đặcđiểm của mẫu, cơ chế tạo mẫu Từ mẫu đó, học sinh biết cách tạo ra các đơn vị lờinói theo định hướng của mẫu

6.2 Mục đích : Giúp học sinh có điểm tựa để làm bài đặc biệt là học sinh trung

bình và học sinh yếu

6.3 Yêu cầu sử dụng : Để giúp học sinh làm những bài tập, dưới sự hướng dẫn của

giáo viên, học sinh phân tích các vật liệu mẫu để hình thành kiến thức(giáo viên cóthể làm mẫu một phần) Sau khi làm mẫu, giáo viên tổ chức cho học sinh quan sátmẫu và suy ra cách làm các phần tương tự còn lại

6.4 Ví dụ : (Tuần 14) Tập làm văn “ Thế nào là miêu tả”

Nhận xét 2: Viết vào vở những điều em hình dung được về các sự vật trên theo lờimiêu tả

Thứ

tự

Tên sự vật Hình dáng Màu sắc Chuyển động Âm

thanhM1 Cây sòi Cao lớn Lá đỏ chói lọi Lá rập rinh lay động

như những đốm lửa

2

Giáo viên hướng dẫn như sau:

- Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu - Đọc thầm mẫu

- Bước 2: Phân tích mẫu Em hãy quan sát mẫu và cho biết:

+ Tên sự vật đầu tiên được miêu tả là gì ? (cây sòi)

+ Cây sòi có đặc điểm gì nổi bật ? ( cao lớn, lá đỏ chói lọi, lá rập rình lay độngnhư những đốm lửa đỏ)

+ “cao lớn ”tả về đặc điểm gì của cây sòi? (hình dáng)

+ “lá đỏ chói lọi ”miêu tả đặc điểm gì? (màu sắc)

+ Theo em tác giả miêu tả lá của cây sòi đang ở trạng thái nào? (chuyển động) Học sinh nhận xét - Học sinh dựa theo mẫu làm tiếp các phần còn lại

Trang 13

tự thanh

chói lọi

Lá rập rình lay động nhưnhững đốm lửa đỏ

nguội

Lá vàngrực rỡ

Lá rập rình lay động nhưnhững đốm lửa vàng

nước

Trườn lên mấy tảng đáluồn dưới mấy gốc cây âmmuc

Róc ráchchảy

Bước 4: Học sinh trình bày – Học sinh nhận xét – Giáo viên nhận xét

Cũng có bài Tập làm văn không có mẫu in sẵn trong sách giáo khoa, trong khi dạygiáo viên cần hớng dẫn học sinh cùng xây dựng mẫu, để các em có thể làm tốt ở cácphần còn lại

+ Ví dụ: Tuần 6 tiết tập làm văn: “Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện”

Bài tập 2: Phát triển ý dới mỗi tranh thành một đoạn văn kể chuyện ( Ba lỡi rìu ).Dựa vào phần chú ý SGK/ 64, giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm mẫu ở bức tranh

1 như sau:

+ Em hãy quan sát tranh và cho biết chàng tiều phu đang làm gì? (Chàng tiều phu

đang đốn củi thì chẳng may lỡi rìu bị văng xuống sông).

+ Khi đó chàng tiều phu nói gì? ( Chàng tiều phu nói: “Cả gia tài nhà ta chỉ có lỡi

rìu này, nay bị mất không biết làm gì để sống” )

+ Hình dáng chàng tiều phu như thế nào? ( ở trần, đóng khố,nguời nhễ nhại mồ

hôi, đầu quấn chiếc khăn nâu – chàng tiều phu rất nghèo).

+ Lưỡi rìu của chàng trai như thế nào? ( Lưỡi rìu của chàng trai bóng loáng ).

1,2 học sinh kể đoạn chuyện - Học sinh nhận xét bài của bạn - Giáo viên nhận xét

*Tóm lại : Khi hướng dẫn học sinh thực hành theo mẫu giáo viên cần chú ý đến đối tượng học sinh trung bình yếu để giúp các em định hướng cách làm bài Đối với học sinh khá giỏi không bắt buộc phải theo mẫu để các em có thể phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo khi làm bài

7 Ph ương pháp đóng vai.

7.1 Khái niệm : Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực

hành “ làm thử ” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định

Trang 14

Đây là phương pháp giáo dục nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn

đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được

7.2 Mục đích: Cụ thể hoá bài học bằng sự diễn xuất để phân tích nội dung bài giảng

chi tiết hơn, sâu sắc hơn Làm cho giờ học sinh động Học sinh dễ dàng nắm bắt đượcnội dung bài học

7.3 Yêu cầu sử dụng : Giáo viên phải dành thời gian nhất định cho học sinh thảo luận

kịch bản

Bước 1 : Phân tích yêu cầu của để bài

Bước 2 : Học sinh đọc gợi ý

Bước 3 : Học sinh thảo luận nhóm (thống nhất nội dung, vai diễn)

Bước 4 : Học sinh đóng vai trình bày trước lớp (cả lớp nghe, nhận xét Giáo viênnhận xét)

7.4 Ví dụ: Dạy tiết Tập làm văn “ Luyện tập trao đổi với người thân ” (Tuần 9)

Em có nguyện vọng học bồi d ưỡng thêm một môn năng khiếu ( hoạ, nhạc, võthuật, ) Trước khi nói với bố mẹ, em muốn trao đổi với anh (chị) hiểu và ủng hộnguyện vọng của em Hãy cùng bạn đóng vai đóng vai em và anh (chị) để thực hiệncuộc trao đổi

Bước 1 : Phân tích yêu cầu của để bài

Bước 2 : Học sinh đọc gợi ý

Bước 3 : Học sinh thảo luận nhóm (thống nhất nội dung, vai diễn)

Bước 4 : Học sinh đóng vai trình bày trớc lớp (cả lớp nghe, nhận xét Giáo viên nhậnxét)

Ví dụ bài làm của học sinh:

- Em : Anh ơi, sắp tới trường em có mở lớp dạy võ thuật Em muốn đi học, anh ủng

hộ em nhé !

- Anh (kêu lên): Trời ơi ! Con gái sao lại học võ ? Em phải đi học nấu ăn hay học

đàn Học võ là của con trai anh không ủng hộ em đâu

- Em : Anh vẫn thường lo cho em là nhỏ bé thế này dễ bị bắt nạt Em đi học võ là để

tự bảo vệ mình cho anh khỏi lo nữa Mới lại sau này em muốn trở thành cảnh sát như

bố ấy

- Anh (gãiđầu): Nhưng anh thấy con gái mà học võ thì như thế nào ấy Chẳng ra con

gái đâu Thôi, em học đàn đi

- Em : Anh ơi, em giỏi võ như chị Thuý Hiền ấy! Anh vẫn thường chả khen chị Thuý

Hiền là gì ?

Trang 15

- Anh (cời) : Em khéo nói lắm Thôi được để tối anh sẽ thưa với bố mẹ.

- Em (vui mừng): Có thế chứ Đấy mới là anh trai tốt bụng của em !

Phương pháp đóng vai giúp cho học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ khi thực hành trong thực tiễn Nó gây hứng thú và

sự chú ý, tạo điều kiện để học sinh sáng tạo Khích lệ tình yêu, thái độ hành vi của các em trong giao tiếp

Trên đây là một số phương pháp thường được sử dụng trong dạy Tập làm vănlớp 4, giáo viên cần lưu ý một số yêu cầu sau:

+ Thực tế dạy học cho thấy không có một phương pháp dạy học nào là tối ưu Mỗi

phương pháp đều có những ưu điểm riêng Tính hiệu quả của mỗi phương pháp phụthuộc vào người giáo viên biết phát huy tính tích cực của phương pháp đó đến mức

độ nào Nếu các phơng pháp dạy học được kết hợp, bổ sung cho nhau thì tiết dạy sẽchống được sự nhàm chán và sẽ tạo ra sự năng động, sáng tạo trong cách nghĩ, cáchlàm của học sinh, nó sẽ phù hợp với nhiều đối tượng học sinh trong một lớp học.+ Việc lựa chọn phương pháp dạy học phải căn cứ vào từng loại bài, từng nội dung

và trình độ của học sinh ở từng lớp, phải căn cứ vào điều kiện, phương tiện dạy họccủa nhà trường

+ Phân môn Tập làm văn thực chất là rèn cho học sinh kỹ năng tạo lập lời nói tronggiao tiếp, trong những tình huống giao tiếp cụ thể Bởi vậy, khi dạy học Tập làm văn

ở bậc Tiểu học, giáo viên cần chú trọng đặc biệt đến phương pháp thực hành giao

tiếp, cùng với phương pháp luyện tập theo mẫu, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phơng pháp nêu và giải quyết vấn đề, bởi vì học sinh chỉ có thể tạo lập được

lời nói thực sự là của mình khi các em được đặt vào những tình huống giao tiếp cụthể, buộc các em phải bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, thái độ của mình trước một sự vật,

sự việc, hiện tượng nào đó

Với yêu cầu của việc đổi mới phơng pháp dạy học ở tiểu học nói chung, ở phân môn

TLV lớp 4 nói riêng là phát huy tính tích cực học tập của học sinh đòi hỏi mỗi ngời giáo viên cần vận dụng những phơng pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học nh thế nào để tạo điều kiện cho học sinh có nhu cầu đợc thể hiện mình, khích

lệ vai trò giao tiếp của các em, tăng cường khả năng thực hành ngôn ngữ để các

em biết diễn đạt nãưng suy nghĩ, cảm xúc của mình bằng lời nói, bài viết một cách mạch lạc, rõ ràng Đó chính là hiệu quả của việc đổi mới phương pháp dạy học

Trên cơ sở nhận thức vấn đề như vậy, tôi đã thực hiện một số biện pháp dạyTập làm văn để đáp ứng với yêu cầu đổi mới phương pháp ở trường tiểu học Tân Mainhư sau:

Ngày đăng: 16/11/2014, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w