1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu các tác phẩm hậu truyện kiều

137 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài “Tìm hiểu các tác phẩm Hậu Truyện Kiều”, chúng tôi mong muốn góp phần vào việc giới thiệu những tác phẩm này đến với người đọc đồng thời khám phá những giá trị trên phương diệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Phương Dung

TÌM HIỂU CÁC TÁC PHẨM

HẬU TRUYỆN KIỀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Phương Dung

TÌM HIỂU CÁC TÁC PHẨM

HẬU TRUYỆN KIỀU

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

TPHCM, ngày tháng năm 2020

Người viết luận văn

Lê Phương Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô của Khoa Ngữ văn đã tận tình giảng dạy và truyền cảm hứng cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin cảm ơn Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học

Em cũng vô cùng cảm ơn sự quan tâm, ủng hộ, góp ý của gia đình và bạn bè Đó chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để em theo đuổi và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, em xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Lê Thu Yến – người đã bằng tất cả tâm huyết để tận tình hướng dẫn và theo dõi sát sao trong suốt quá trình em thực hiện luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng hết khả năng của mình, song luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong quý Thầy, Cô và Hội đồng chấm luận văn góp ý

để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

TPHCM, ngày tháng năm 2020

Người viết luận văn

Lê Phương Dung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8

1.1 Khái quát về lý thuyết tiếp nhận văn học 8

1.2 Khái quát về lý thuyết sáng tạo văn học 15

1.3 Tác phẩm và tác giả 22

1.3.1 Tác phẩm 22

1.3.2 Tác giả 34

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 SỰ SÁNG TẠO VỀ NỘI DUNG CỦA CÁC TÁC PHẨM HẬU TRUYỆN KIỀU 41

2.1 Sáng tạo về đề tài 41

2.2 Sáng tạo về nhân vật 50

2.2.1 Những nhân vật trong Truyện Kiều được tái hiện 50

2.2.2 Những nhân vật do tác giả sáng tạo thêm 56

2.3 Sáng tạo về tư tưởng 60

2.3.1 Từ góc nhìn hệ tư tưởng phong kiến 60

2.3.2 Từ góc nhìn tư tưởng cách mạng 62

2.3.3 Từ góc nhìn tư tưởng Phật giáo 64

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 SỰ SÁNG TẠO VỀ NGHỆ THUẬT CỦA CÁC TÁC PHẨM HẬU TRUYỆN KIỀU 69

3.1 Sáng tạo về không gian và thời gian nghệ thuật 69

3.1.1 Sáng tạo về không gian nghệ thuật 69

Trang 6

3.1.2 Sáng tạo về thời gian nghệ thuật 75

3.2 Sáng tạo về ngôn ngữ 81

3.2.1 Ngôn ngữ ảnh hưởng bởi Truyện Kiều 81

3.2.2 Ngôn ngữ đời sống hiện đại 85

3.3 Sáng tạo về giọng điệu 87

3.3.1 Giọng điệu cảm thương, thiết tha, sâu lắng 87

3.3.2 Giọng điệu mỉa mai, châm biếm 90

3.3.3 Giọng điệu triết lí, chiêm nghiệm 91

Tiểu kết chương 3 94

Chương 4 Ý NGHĨA, GIÁ TRỊ CỦA CÁC TÁC PHẨM HẬU TRUYỆN KIỀU 95

4.1 Nhìn từ tác phẩm gốc Truyện Kiều 95

4.2 Nhìn từ một số tác phẩm kinh điển của thế giới 99

4.2.1 Với các tác phẩm văn học phương Đông 99

4.2.2 Với các tác phẩm văn học phương Tây 114

Tiểu kết chương 4 121

KẾT LUẬN 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Truyện Kiều là một tác phẩm kì lạ bậc nhất trong văn học Việt Nam Mỗi trang văn như chịu sức nặng của hàng trăm nghìn tranh luận chú thích lí giải Mỗi từ ngữ trong Kiều trĩu nặng bởi hàng vạn từ dùng để khai thác, tìm hiểu, suy ngẫm Gần 200 năm đã trôi qua nhưng tác phẩm chưa lúc nào ngớt lời bàn luận, phẩm bình từ tầng lớp bình dân cho đến các học giả Tác phẩm trở thành người bạn đồng hành với những ai yêu quý, giữ gìn và trân trọng ngôn ngữ Việt Sự kì lạ còn nằm ở chỗ, từ việc thưởng thức Truyện Kiều dẫn đến sự biểu hiện tác phẩm dưới nhiều hình thức khác nhau lan tỏa trong đời sống Trong lịch sử văn học Việt Nam chưa hề có một áng văn thơ nào được truyền tụng thấm đẫm nhân văn trong đời sống xã hội như thế Nó đã trở thành một dòng chảy văn hóa nhân văn trong tâm thức người Việt

Sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Truyện Kiều được bộc lộ qua sự nảy sinh nhiều loại hình nghệ thuật, văn chương như tập Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều, vịnh Kiều….; thậm chí còn dùng Truyện Kiều để bói toán vận hạn tốt xấu (bói Kiều) Truyện Kiều được dựng thành phim, đưa lên sân khấu tuồng, chèo, cải lương và cả hợp xướng Một số họa sĩ, kiến trúc sư còn minh họa tác phẩm bằng những thiết kế, tranh vẽ về các đoạn trích trong Kiều Người ta ứng dụng Truyện Kiều vào mọi ngõ ngách của đời sống tình cảm Hay nói cách khác Truyện Kiều chính là cuốn từ điển sống phản ánh đầy đủ con người Việt, tâm hồn Việt và gắn với nếp nghĩ nếp cảm của họ Ngoài những hình thức văn hóa khác nhau ấy, Truyện Kiều còn làm người đọc say mê đến độ cảm thông, đau xót cho số phận của người con gái tài hoa bạc mệnh và mong muốn thay đổi cuộc sống cho nàng Chính trên cơ sở đó, những tác phẩm

“Hậu Truyện Kiều” ra đời

Truyện Kiều được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, đóng góp một khối lượng kiến thức không nhỏ trong giai đoạn văn học trung đại thế kỷ

Trang 8

XVIII-XIX Trong quá trình giảng dạy, khi có sự liên hệ với các tác phẩm

“Hậu Truyện Kiều”, điều này sẽ hỗ trợ trong việc khẳng định tầm ảnh hưởng của tác phẩm Tuy nhiên, hiện nay, những tác phẩm Hậu Truyện Kiều vẫn chưa được phổ biến cũng như nhận được sự quan tâm đúng mức của giới học thuật Chính vì thế việc nghiên cứu các tác phẩm này vẫn còn là mảnh đất màu mỡ chưa khai phá Với đề tài “Tìm hiểu các tác phẩm Hậu Truyện Kiều”, chúng tôi mong muốn góp phần vào việc giới thiệu những tác phẩm này đến với người đọc đồng thời khám phá những giá trị trên phương diện nội dung và nghệ thuật để qua đó khẳng định sự ảnh hưởng của Truyện Kiều đến với việc sáng tác văn học hậu thế

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu vấn đề tìm hiểu các tác phẩm Hậu Truyện Kiều một cách bao quát mà chủ yếu nghiên cứu riêng lẻ một tác phẩm hoặc chỉ điểm qua những tác phẩm chứ chưa được đánh giá và phân tích cụ thể

Đầu tiên có thể kể đến bài viết “Đào Hoa Mộng ký trong quan hệ với Truyện Kiều” của Lại Nguyên Ân được in trên Tạp chí văn học Hà Nội số 8 năm 1999 Bài viết này đã giới thiệu, tóm tắt tác phẩm “Đào Hoa Mộng ký”

và chỉ ra mối quan hệ giữa tác phẩm với Truyện Kiều thông qua đề tài phong lưu tài tử, giai nhân tài tử

Trên cơ sở tổng hợp các tác phẩm có xu hướng viết tiếp từ Truyện Kiều, nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế đã dày công tổng hợp, biên tập đầu sách“ Lục bát Hậu Truyện Kiều” do Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành năm 2002 Tác giả đã dày công sưu tầm các tác phẩm để từ đó đưa ra kỉ lục Truyện Kiều là thi phẩm có nhiều người viết về phần tiếp theo nhất trên thế giới mà đặc điểm là tất cả đều viết bằng thơ Tuy nhiên, quyển sách này chỉ mới tổng hợp về thông tin của các tác giả, tác phẩm cũng như cung cấp văn bản nguyên tác của một số tác phẩm Hậu Truyện Kiều chứ chưa đi vào phân tích cụ thể

Trang 9

Ta bắt gặp ở bài viết “Yếu tố chiêm mộng trong truyện thơ Nôm” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhàn được đăng lên trang web toquoc.vn ngày 04/03/2010 cũng có giới thiệu đến tác phẩm “Đào Hoa Mộng ký” khi chỉ rõ rằng đề tài của tác phẩm là giấc mộng của hồn hoa đào để từ đó cho thấy vai trò của chiêm mộng trong việc thoả mãn khát vọng, ước mơ công lí của con người

Ở bài viết “Viền trăng vô tướng qua thi phẩm Đoạn Trường Vô Thanh” của Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm đăng trên website thuvienhoasen.org ngày 09/01/2013, tác giả bài viết cũng đã trình bày đôi nét cảm nhận về thi phẩm Đoạn Trường Vô Thanh của Phạm Thiên Thư

Kế đến là bài viết “Đào Hoa Mộng ký” tác phẩm viết tiếp “Truyện Kiều” của tác giả Hà Thanh Vân được đăng trên báo Văn nghệ ngày 05/12/2015 Tuy nhiên ở bài viết này, tác giả chỉ dừng lại ở việc giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm cho người đọc mà chưa đi sâu vào tìm hiểu những đặc sắc của tác phẩm

Trong một bài viết nghiên cứu“ Sự vận động về nội dung tư tưởng của tiểu thuyết chương hồi trung đại Việt Nam” của Võ Văn Thành được in trên Tạp chí Khoa học trường Đại học Hồng Đức số 36 năm 2017, “Đào Hoa Mộng ký” cũng chỉ được sơ lược điểm qua trong nhóm các tiểu thuyết ở mảng

đề tài viết về tình yêu

Một tác phẩm khác trong 7 tác phẩm Hậu Truyện Kiều cũng được đề cập nhiều chính là tác phẩm “Đoạn Trường Vô Thanh” của Phạm Thiên Thư

Ở bài phỏng vấn “Cõi tịnh độ Phạm Thiên Thư” đăng trên báo Văn nghệ ngày 27/01/2017 và “Thi sĩ Phạm Thiên Thư “văn xuôi hoá” thơ mình: Từ Hải là người Việt Nam” trên báo Tiền Phong ngày 01/07/2017, tác giả cũng đã giới thiệu đôi nét về nội dung cốt truyện, cấu trúc, bút pháp và giải đáp một số thắc mắc của độc giả về các nhân vật trong tác phẩm của mình

Trang 10

Cũng nhắc đến tác phẩm “Đào Hoa Mộng ký”, bài báo “Dấu hiệu biến đổi của kết cấu trần thuật trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII- XIX (qua khảo sát một số trường hợp) của tác giả Đàm Anh Thư được in trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, tập 15, số 5 năm 2018, ta thấy rằng tác phẩm của Mộng Liên Đình cũng được nhắc đến tên để làm ví dụ khi bài viết bàn luận về kết cấu truyện thơ được mở rộng nhờ những đoạn độc thoại nội tâm Thêm vào đó, bài viết cũng có phân tích về điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm thông qua việc so sánh ở hai điểm nhìn từ hai nhân vật chính Tuy nhiên, thông qua bài báo này, người đọc cũng nắm được nội dung cơ bản của tác phẩm Đào Hoa Mộng ký”

Điểm qua một số bài viết trên, có thể thấy, chưa có một công trình nào nghiên cứu bao quát hết tất cả 7 tác phẩm Hậu Truyện Kiều mà chỉ mới dừng lại ở việc tìm hiểu riêng lẻ từng tác phẩm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng khoa học của luận văn là “Tìm hiểu các tác phẩm Hậu Truyện Kiều”

Về phạm vi tư liệu, trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy hiện tại có 6 tác phẩm Hậu Truyện Kiều đã được công nhận và giới thiệu

Ở thế kỷ XIX, đã có hai tác phẩm khác nhau:

1 Đào Hoa Mộng ký, với khoảng 3000 câu thơ lục bát – Tác giả Mộng Liên Đình, mới phát hiện năm 1993, do giáo sư Trần Nghĩa dịch, in trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam – Tập 4 (Nxb Thế giới,1995)

2 Đào Hoa Mộng ký Diễn Ca, với 1190 câu thơ lục bát – Tác giả Hà Đạm Hiên, do Phạm Văn Phương dịch ra chữ Quốc ngữ từ bản chữ Nôm, Mạc Đình Tư xuất bản tại Hà Nội, năm 1917

Sang thế kỷ XX, chúng ta thấy có năm tác phẩm nữa là:

Trang 11

1 Kiều Tân thời, với 304 câu thơ lục bát – Tác giả Bạch Diện, Nhà in Trung Bắc, Hà Nội 1935

2 Kiều Bình dân học vụ, với 2050 câu thơ lục bát – Tác giả Nguyễn Văn Trinh, Sở Giáo dục Hà Nội, 1958-1985

3 Đoạn Trường Vô Thanh, với 3296 câu thơ lục bát – Tác giả Phạm Thiên Thư, Nhà xuất bản Nến Hồng, Sài Gòn, 1972 – Tái bản : Nhà xuất bản Đại Nam, Hoa Kỳ, 1993

4 Đoạn Trường Nhất Thanh, với 1036 câu thơ lục bát – Tác giả Trần Thanh Vân, Nhà xuất bản Kiên Giang, 1990

5 Truyện Kiều đọc ngược, với toàn bộ 3254 câu Kiều xếp ngược lại – Tác giả Phạm Đan Quế, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2002

Tuy nhiên, đối với luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu và phân tích 6 tác phẩm bao gồm: “Đào Hoa Mộng ký”, “Đào Hoa Mộng ký Diễn ca”,

“Kiều Tân thời”, “Kiều Bình dân học vụ”, “Đoạn Trường Vô Thanh” và

“Đoạn Trường Nhất Thanh” Do tác phẩm “Truyện Kiều đọc ngược” thực chất chỉ là sự sắp xếp lại các câu thơ trong nguyên tác “Truyện Kiều” cho nên

về phương diện nội dung và nghệ thuật, tác phẩm chưa có nhiều đặc sắc cần bàn đến

4 Phương pháp nghiên cứu

Triển khai đề tài “Tìm hiểu các tác phẩm Hậu Truyện Kiều”, chúng tôi vận dụng những phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: là phương pháp chính nhằm khảo sát, thống kê những tác phẩm tìm được để từ đó thấy được giá trị của các tác phẩm này

- Phương pháp phân tích: từ kết quả thống kê, người viết sẽ đi vào tìm hiểu, phân tích từng tác phẩm cụ thể để tìm hiểu sâu hơn giá trị của chúng

- Phương pháp tổng hợp: sau khi phân tích, người viết sẽ đưa đến những kết luận về các tác phẩm Hậu Truyện Kiều

Trang 12

- Phương pháp lịch sử: tác phẩm văn học là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Vì vậy, phương pháp hướng đến việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, xã hội, môi trường văn hóa,

tư tưởng chung của thời đại, sự ra đời của tác phẩm để lí giải sự hình thành tác phẩm ấy

- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: xem xét các yếu tố cấu tạo nên cấu trúc tác phẩm để tìm ra nguyên tác chi phối sự hình thành của chúng Từ đó rút ra kết luận về nguyên tác chi phối việc sáng tạo toàn bộ cấu trúc tác phẩm

- Phương pháp so sánh: thông qua việc so sánh các tác phẩm Hậu Truyện Kiều với nguyên tác Truyện Kiều để thấy rõ sự sáng tạo của các tác giả Bên cạnh đó là so sánh Hậu Truyện Kiều với một số tác phẩm viết tiếp trên thế giới như Hậu Thủy Hử, Hậu Tây Du ký, Hậu Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hậu Cuốn theo chiều gió, Hậu Những người khốn khổ,… để thấy được sự khác nhau trong tiếp nhận và sáng tác văn học lấy cảm hứng từ một tác phẩm kinh điển

5 Đóng góp của luận văn

Với luận văn “Tìm hiểu các tác phẩm Hậu Truyện Kiều”, chúng tôi mong muốn giúp người đọc có được sự quan tâm nhất định về những tác phẩm văn học được gợi cảm hứng từ nguyên tác Truyện Kiều để từ đó cho thấy được sức ảnh hưởng sâu rộng của Truyện Kiều Thêm vào đó, luận văn

sẽ đóng góp một phần tư liệu giảng dạy tác phẩm Truyện Kiều trong nhà trường trung học

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, nội dung luận văn “Tìm hiểu về các tác phẩm Hậu Truyện Kiều” gồm bốn chương:

Trang 13

Chương 1: Những vấn đề chung

Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày các vấn đề có liên quan như lý thuyết sáng tạo văn học, lý thuyết tiếp nhận văn học, thông tin về các tác giả của các tác phẩm Hậu Truyện Kiều

Chương 2: Sự sáng tạo về nội dung của các tác phẩm Hậu Truyện Kiều

Ở chương này, chúng tôi sẽ phân tích các đặc điểm sáng tạo về đề tài, nhân vật, tư tưởng của các tác phẩm Hậu Truyện Kiều

Chương 3: Sự sáng tạo về nghệ thuật của các tác phẩm Hậu Truyện Kiều

Ở chương này, chúng tôi sẽ phân tích các đặc điểm sáng tạo trên phương diện nghệ thuật của các tác phẩm Hậu Truyện Kiều

Chương 4: Ý nghĩa giá trị của các tác phẩm Hậu Truyện Kiều

Sau khi phân tích các tác phẩm Hậu Truyện Kiều về phương diện nội dung và nghệ thuật, chúng tôi sẽ so sánh chúng với tác phẩm nguyên gốc Truyện Kiều và so sánh với một số tác phẩm văn học nước ngoài cũng có xu hướng viết tiếp, lấy cảm hứng từ các tác phẩm kinh điển

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái quát về lý thuyết tiếp nhận văn học

Theo “ Từ điển thuật ngữ văn học”, Nxb Giáo dục, 1996, định nghĩa về tiếp nhận văn học được giải thích như sau: “Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc” (Trần Bình

Theo Wikipedia, “tiếp nhận văn học là sử dụng thế giới tinh thần (tư tưởng - tình cảm) trong văn chương Thế giới tinh thần tình cảm - tư tưởng đó toát ra từ những hình tượng cụ thể do chất liệu ngôn ngữ xây dựng nên” Như vậy nói đến tiếp nhận văn học là nói đến vai trò trung tâm của người đọc Tiếp nhận văn học vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Vấn

đề cốt lõi được xem xét ở đây là đứa con tinh thần ấy được tiếp nhận và thấu hiểu như thế nào Việc tiếp nhận văn học phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chủ quan của người tiếp nhận Cùng một tác phẩm văn học, với thị hiếu thẩm mỹ

và cảm xúc thẩm mỹ khác nhau, việc người đọc này cắt nghĩa theo phương diện chủ quan này, người đọc kia với trình độ văn hóa khác lại nhận định và phản ánh nội dung tiếp nhận theo một phương thức khác là điều hoàn toàn dễ hiểu Đây là cơ sở tạo nên tính sáng tạo trong tiếp nhận văn học Ví dụ, ở Việt Nam, những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng lúc mới ra đời được coi là một

“nguồn văn đen” Trong bài viết: “Ý kiến một người đọc: Dâm hay không

Trang 15

dâm?” đăng trên báo Ngày nay, số 51 ngày 14/3/1937 của mình, Nhất Chi

Mai đã không ngần ngại chỉ trích đích danh Vũ Trọng Phụng là một nhà văn

xã hội kỳ quặc "nhìn thế giới qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen nữa" Theo Nhất Chi Mai, bức tranh xã hội và đời sống con người trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thuần một màu đen tối, như một địa ngục với những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn Qua đó, không hé ra cho người ta thấy một tư tưởng lạc quan nào, một tia hy vọng nào Mà tệ hơn nữa, ông lại viết những câu văn sống sượng, trần truồng, mô

tả những cảnh nhơ nhớp một cách khoái trá, thích thú chẳng khác nào khiêu dâm người đọc Từ đó, Nhất Chi Mai chỉ trích loại văn nói trên không thể xem là “kiệt tác”, “đúng sự thực”, “can đảm” được, thực chất chỉ là một loại văn “dơ dáy, bẩn thỉu, nhơ nhớp” mà thôi – độc giả có lương tri không nên

để mình bị lừa mị mà tin theo những lời rỗng tuếch, huênh hoang, tâng bốc nhau của họ Thế nhưng bây giờ những sáng tác của Vũ Trọng Phụng được ghi nhận là những di sản đặc sắc của thế hệ vàng văn chương Việt Nam hiện đại Rất nhiều vấn đề được ông đề cập tới nay vẫn còn nguyên giá trị hiện thực Nhất Chi Mai có quan điểm của Nhất Chi Mai, đúng trong thời đại lịch

sử đó không có nghĩa là cách nhận định của người đọc cũng bất biến với thời gian Hoặc giả, cũng có thể Nhất Chi Mai mới là người chưa thấu hiểu hết dụng ý của chính Vũ Trọng Phụng Ngoài ra, tiếp nhận văn học chịu tác động của xu hướng tư tưởng thời đại Tuy nhiên, đa phần các tác phẩm văn học đều thành công ở một điểm, đó là tạo ra ấn tượng chung đồng nhất ở mọi người đọc Đây chính là cơ sở khách quan của việc tiếp nhận văn học Cách cảm thụ tác phẩm còn bị quy định bởi chính bản thân tác phẩm Tính đa nghĩa, nhiều lớp của tác phẩm văn học là cơ sở khách quan cho sự cảm nhận khác nhau về

nó và là điều kiện để phát huy tính sáng tạo của người đọc trong tiếp nhận văn học Nghĩa là, tuy tâm tư và ý đồ của tác giả có thể không được truyền tải một cách trọn vẹn nhất đến với người đọc, nhưng ấn tượng chung của người tiếp

Trang 16

nhận về một nhân vật tiêu biểu trong tác phẩm là bất biến Khi nhắc đến Trương Phi và Tào Tháo, người ta nghĩ ngay đến tính cách “nóng như Trương Phi” hay “đa nghi như Tào Tháo” Hoặc, những người đàn ông chuyên lừa đảo, lừa gạt tình cảm của phụ nữ gọi chung là Sở Khanh, ngược lại, Hoạn Thư

để ám chỉ chung những người phụ nữ có máu ghen Đó là lý do tại sao việc đánh giá sự thành bại, hay dở của một tác phẩm văn học, luôn cần soi chiếu nhiều phương diện và góc độ khác nhau trong nhìn nhận khách quan và đa chiều

Nếu chúng ta nhìn nhận hoạt động của văn học dưới góc độ của hai nền tảng chính là sáng tác và tiếp nhận thì bản thân sự tiếp nhận đã hàm chứa một nửa lý luận văn học Chính tính dân chủ của tiếp nhận văn học đã quyết định tính đa dạng và đa diện của tác phẩm văn học từ phía chủ thể tiếp nhận Mọi lứa tuổi, mọi giới tính, mọi nghề nghiệp, mọi giai cấp đều có thể tiếp nhận văn học theo một cách rất riêng Xét một nhân vật cụ thể thường được bàn luận từ xưa đến nay là cô Tấm trong truyện cổ tích Tấm – Cám, Tấm không phải là nhân vật phản diện nhưng sau tất cả các hành động của Tấm, vậy Tấm

có độc ác hay không? Đây vẫn là câu hỏi còn được bỏ ngỏ và gây ra nhiều tranh luận Ðối với người dân chân lấm tay bùn trong chế độ xã hội xưa, cô Tấm được xem là chuẩn mực cho quan niệm về đạo đức, thể hiện đức tin của người dân: ở hiền gặp lành Nếu nhà văn Phó Ðức Phương cho rằng cô Tấm

là đại diện cho vẻ đẹp trong lao động thì nhà văn Chế Lan Viên lại nhìn nhận

cô Tấm là hiện thân của phép màu:

“Ôi đất nước của vạn nghìn cô Tấm

Xé vỏ thị bà tiên ra mà làm chuyện bất ngờ”

Dù mang đậm dấu ấn cá nhân, hoạt động tiếp nhận văn học chưa bao giờ thoát ly khỏi điều kiện lịch sử, mang khuynh hướng xã hội mạnh mẽ Trên

cơ sở lợi ích xã hội và lập trường giai cấp, họ có thể hoặc lột tả được bản chất

và cốt lõi tác giả muốn truyền tải hoặc có thể không Yêu hay ghét cùng một

Trang 17

nhân vật, “chín người mười ý” là điều khó tránh khỏi Việc tiếp nhận cùng một tác phẩm văn học của các chủ thể khác nhau dẫn đến các tác phẩm hậu kỳ

có phương pháp đọc khác nhau, nội dung tiếp nối mới mẻ hơn, thể loại phong phú hơn, hình thức cũng đa dạng hơn Một tác phẩm có thể bị quên lãng trong chính thời đại mà nó sinh ra, nhưng lại trở thành hòn ngọc được nâng niu trên đôi tay người nghệ sĩ vào những thế kỉ sau đó

Thông qua quá trình tiếp nhận văn học, ý nghĩa của tác phẩm không đơn thuần chỉ là thông điệp sơ nguyên mà tác giả muốn truyền tải, chúng trở nên mới mẻ, phong phú và khác biệt hơn rất nhiều Với thuyết Mác hóa - tượng trưng, Roland Barthes đã bảo vệ quan điểm về tính đa nghĩa đến vô hạn của nghệ thuật và bảo vệ tính xác đáng của mọi cách đọc; “tác phẩm nghệ thuật là một sự chuyển hóa qua lại giữa đặc thù khách quan và chủ quan, một quan hệ xã hội, một tương quan với độc giả, một tổng thể gồm nhiều quá trình khác nhau, đa dạng, nhưng hệ thống” (Roland Barthes) Phải đến nửa sau thế

kỷ XX, nhờ công sức của hai nhà nghiên cứu người Đức Wolfgang Iser và Hans Robert Jauss, quá trình tiếp nhận văn học đã được nghiên cứu và được thừa nhận là khâu cuối của một tiến trình văn học Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương cũng giúp việc tiếp nhận văn học được đánh giá ở một tầm cao mới: “Ở Việt Nam khoảng hai thập niên gần đây, một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu văn học theo hướng lịch sử chức năng Trong nhiều bài viết trên các tạp chí và một số chuyên khảo xuất bản gần đây, lý thuyết tiếp nhận đã bước đầu được giới thiệu tới công chúng Việt Nam” (Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương, 1998, trang 140) Trong bài viết Ý kiến của Lê-nin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, Nguyễn Văn Hạnh viết “Giá trị của một tác phẩm thật ra không phải chỉ đóng khung lại trong phạm vi sáng tác

mà còn lan rộng ra đến phạm vi thưởng thức Chính ở khâu thưởng thức tác phẩm mới có ý nghĩa xã hội thực tế của nó Quan điểm này tất yếu sẽ dẫn đến

Trang 18

những tiêu chuẩn mới để đánh giá tác phẩm, đến một phương pháp nghiên cứu mới” (Tạp chí Văn học, 1971, số 6, trang 96) Bài viết của Nguyễn Văn Hạnh cho thấy sự nhạy cảm và ý nghĩa thời sự của vấn đề do tác giả đã đặt ra, khi lý thuyết tiếp nhận văn học mới chỉ thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới, ông đã nhạy cảm phát hiện ra nội hàm giúp tác phẩm trường tồn với thời gian,

đó chính là người đọc Ở một đoạn khác, ông khẳng định “trong khâu sáng tác giá trị là cố định và ở thế khả năng; ở trong khâu thưởng thức, trong quan hệ với quần chúng giá trị mới là hiện thực và biến đổi” (Tạp chí Văn học, 1971,

số 6, tr.96)

Sự tiếp nhận văn học bao gồm tiếp nhận của người đọc với tác phẩm hoặc tiếp nhận như một tác phẩm nghệ thuật,… được thể hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau như thể hiện trên vật liệu (hội hoạ, điêu khắc, tạo hình, nhiếp ảnh), thể hiện thông qua sân khấu (kịch), thông qua giọng hát, nhạc cụ (các bản nhạc) Việc dựng phim từ tiểu thuyết cũng là một cách cắt nghĩa tác phẩm văn chương Hiện tượng có những tác phẩm nào đấy mà số phận của nó thăng trầm qua các thời đại thì không phải lúc thăng là do công chúng thời đại đó thông minh còn lúc trầm là do công chúng thời đại đó dốt nát Ðiều chính yếu là do xu hướng tư tưởng thời đại tác động đến Quay lại với bối cảnh đầu thập niên 1930, văn hoá Việt Nam diễn ra làn sóng cách tân thơ ca mạnh mẽ với sáng tác độc đáo, gọi là Phong trào Thơ Mới Ngày mới

ra đời, Thơ Mới được thanh niên đón nhận nồng nhiệt Sau hơn 75 năm, phong trào Thơ Mới đã có chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn học dân tộc Tuy nhiên, giữa những năm kháng chiến chống thực dân Pháp – Mỹ, một

số tầng lớp lại cho rằng khuynh hướng lãng mạn, sự thẩm mỹ hóa cuộc sống rối ren, tâm trạng buồn sầu, lạc lõng giữa xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến

là ủy mị và không phù hợp Kharavchenko nói: “Mỗi thời đại riêng thường thích hợp với những sắc điệu khác nhau trong tác phẩm nghệ thuật với những phương diện khác nhau của khái quát hình tượng của nó”

Trang 19

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du được ghi nhận là tác phẩm có lịch sử tiếp nhận phong phú nhất, phức tạp nhất Trong đời sống lịch sử của mình, Truyện Kiều đã tạo ra một hệ thống những sinh hoạt văn hóa, một không gian văn hóa Kiều độc đáo Các bà, các mẹ, các

cô gái thuộc Kiều, ngâm Kiều hay được gọi một cách thân mật là bà Kiều, cô Kiều; các ông đồ giảng Kiều hay được gọi là thầy Kiều, đồ Kiều; các nhà nghiên cứu Truyện Kiều được gọi là nhà Kiều học rồi tranh Kiều, nhạc Kiều Truyện Kiều hàm chứa nhiều trầm tích văn hoá truyền thống Truyện Kiều thấm sâu trong tâm thức, tiềm thức người Việt trở thành “vốn tự có”, “của để dành” trong mọi gia đình Việt Nam Tình huống nào, hoàn cảnh nào Truyện Kiều cũng có thể được lấy ra, dùng đến, chẳng hạn: “Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta”, “Biết người biết mặt biết lòng làm sao”, “Chung lưng mở một ngôi hàng”, “Vội vàng lá rụng hoa rơi” Sự tiếp nhận của 7 quyển Hậu Truyện Kiều đưa tác phẩm Truyện Kiều vào danh mục kỷ lục thế giới chính là bằng chứng thuyết phục cho phương thức tiếp nhận giữa người đọc với tác phẩm

Theo tài liệu Lý luận văn học bạn đọc và tiếp nhận văn học đã viết:

“Ðứng về phía người tiếp nhận, người ta chia người đọc ra bốn loại Thứ nhất

là người đọc tiêu thụ Ðây thường là loại người đọc đọc ngấu nghiến cốt truyện, ham thích tình huống éo le gay cấn, nhiều khúc mắc cạm bẫy Loại này đọc lướt nhanh vào giờ nhàn rỗi, tìm thú giải trí, có những đánh giá dễ dãi Thứ hai là, loại đọc điểm sách Loại người này có ý thức tìm ở văn chương những thông tin mới về cuộc sống, đạo đức … để thông báo cho độc giả của các báo Thứ ba là loại người đọc chuyên nghiệp - những người giảng dạy nghiên cứu phê bình ở các trung tâm nghiên cứu Thứ tư là những người sáng tác - nhà văn, nhà thơ đọc theo cảm hứng bất chợt hoặc để tham gia viết những trang phê bình ngẫu hứng.”

Trang 20

Theo tác giả Trần Nho Thìn, liên quan đến “Các vấn đề tiếp nhận của Truyện Kiều qua lịch sử tiếp nhận hai thế kỷ” trên Báo văn hóa Nghệ An, lịch

sử tiếp nhận Truyện Kiều được chia thành bốn giai đoạn chủ yếu: “1) giai đoạn đọc mang dấu ấn của quan niệm mỹ học trung đại trong thế kỷ XIX; 2) giai đoạn đọc chịu ảnh hưởng của các lý thuyết phương Tây ở nửa đầu thế kỷ XX; 3) giai đoạn đọc chịu ảnh hưởng chủ yếu của lý luận văn học Nga Xô-viết; 4) giai đoạn đọc Truyện Kiều từ sau năm 1975” (Trần Nho Thìn, 2015) Đối tượng chính của sự tiếp nhận này là người đọc trung đại với cách đọc truyền thống và người đọc hiện đại chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học phương Tây

Những độc giả sớm nhất của Truyện Kiều chính là các nhà nho từ thế

kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX như Mộng Liên Đình, Hà Đạm Hiên, Phong Tuyết chủ nhân, Chu Mạnh Trinh, Thông qua những bài Vịnh Kiều, cái nhìn luân lí học của “kẻ khen người chê, kẻ yêu người ghét ồn ào” đã bộc lộ

rõ nét Khi đọc Truyện Kiều, Nguyễn Khuyến đã suy ngẫm về xã hội mà đồng tiền trở thành cán cân công lí:

“Có tiền việc ấy mà xong nhỉ Ðời trước làm quan cũng thế à?”

Từ đầu những năm 1930 đến Cách mạng tháng Tám (1945), những nhà bình giải Truyện Kiều lúc này phần lớn là các trí thức Tây học, tiêu biểu là Bạch Diện Ông nhìn thấy quốc hồn, quốc túy của Truyện Kiều, đề cao lĩnh hội tác phẩm nghệ thuật bằng trực giác theo cách tự nhiên nhất Tiếp đó đến đầu những năm 80, dưới cái nhìn đấu tranh xã hội của Nguyễn Văn Trinh, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Minh Tranh,… Truyện Kiều được nhìn nhận và đánh giá nhân văn hơn Đối với đại đa số người tiếp nhận trong giai đoạn này, Nguyễn Du đã nói giùm nỗi niềm cho tất cả những người bị ngạt thở trong cái khuôn phong kiến Từ Hải cũng được yêu thích bởi lối sống mạnh mẽ vượt qua rào cản và khuôn khổ xã hội Từ đầu những năm 80 đến nay, Truyện

Trang 21

Kiều được tiếp cận bởi nhiều phương pháp mới dưới góc độ là một văn bản nghệ thuật đáng trân trọng của các tác giả Phạm Thiên Thư, Trần Thanh Vân, Phạm Đan Quế,…

Đọc Truyện Kiều, người không tán thành quan điểm “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” của Nguyễn Du vẫn có thể chia sẻ với ông nỗi đau nhân thế; người không bằng lòng với việc tác giả để cho Từ Hải ra hàng vẫn

có thể tâm đắc với những trang ngợi ca người anh hùng: “Chọc trời khuấy nước mặc dầu – Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”…

Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cũng đã ghi nhận về hiện tượng tiếp nhận Truyện Kiều như sau: “Dù từ xưa đến nay, các thế hệ nhà văn, nhà thơ đều có thể đồng thanh về giá trị văn nghệ của Truyện Kiều, thì mỗi một thời đại, mỗi một giai tầng xã hội đều đã nhận xét tác phẩm của Nguyễn Du theo một quan niệm riêng biệt” (Đặng Thai Mai, 2002) Các tác giả, nhà phê bình văn học cũng biểu đạt quốc hồn, quốc tính của tác phẩm ấy theo các cách đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau Tuy nhiên, nhìn chung, họ đều đánh giá cao nghệ thuật văn chương của Nguyễn Du Đã chừng hai trăm năm

kể từ lúc ra đời, Truyện Kiều chưa khi nào thôi là đối tượng của sự luận bình, giải thích văn chương Bên cạnh các khuynh hướng phê bình chủ quan và phê bình khách quan, Truyện Kiều vẫn nhận được sự ưu ái và đề cao của một khối lượng không nhỏ các tác giả lúc bấy giờ, hoàn thiện trọn vẹn quá trình tiếp nhận Truyện Kiều, đó là tiếp tục sáng tạo Truyện Kiều, tạo nên Hậu Truyện Kiều

1.2 Khái quát về lý thuyết sáng tạo văn học

Quy luật của văn học là phản ánh hiện thực đời sống Trong mối quan

hệ tác giả - tác phẩm - người đọc, tác giả - với tư cách một chủ thể sáng tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu Nhìn nhận và khai thác cuộc sống từ xã hội hiện thực, mỗi tác giả sẽ sáng tạo nên một thế giới riêng qua lăng kính chủ quan và tình cảm cá nhân Huygo đã từng nói: “Cái tầm thường là cái chết của văn

Trang 22

chương nghệ thuật” Thiên chức của mỗi người nghệ sĩ là sáng tác, và sứ mệnh cao cả của họ là sáng tạo Sáng tạo không ngừng, ấy chính là bổn phận của mỗi nhà văn, nhà thơ trong quá trình làm nên tác phẩm Đề cao cá tính sáng tạo trong mỗi người nghệ sĩ, đồng thời cũng là đề cập đến vấn đề tư tưởng trong văn chương nghệ thuật Tính sáng tạo trong tiếp nhận văn học mở

ra một khả năng mới trong việc thẩm định các tác phẩm văn học, cho phép người nghiên cứu văn học không chỉ đóng khung ở hai phương diện tác giả và tác phẩm

Trong lý luận phê bình “Mối quan hệ tương tác trong sáng tạo và tiếp

nhận văn học hiện nay ở nước ta”, Hồ Thế Hà đã nhận định rằng: “Có sáng

tạo văn học là có tiếp nhận văn học, dĩ nhiên là sáng tạo phải đi trước một bước để tạo thành văn bản Sau đó, văn bản được chuyển đến người đọc, được người đọc tiếp nhận, bình giá thì nó mới trở thành tác phẩm Cứ như vậy, tác phẩm văn học liên tục được làm đầy những giá trị chỉnh thể của chúng từ những tầm đón nhận và tầm đón đợi của nhiều thế hệ người đọc Có nghĩa là người đọc đồng sáng tạo từ nhiều góc nhìn, nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau và từ bản chất tự trị vốn có của tác phẩm, họ có thể cung cấp nhiều ý nghĩa và giá trị mới khác cho tác phẩm Những ý nghĩa và giá trị mới ấy, quả thật trong khi sáng tác, tác giả chưa nghĩ đến hoặc chưa tin rằng, chúng lại được người đọc phát hiện thú vị như vậy” (Hồ Thế Hà, 2019)

Sáng tạo văn học là một quá trình song song: vừa sáng tạo ra thế giới, vừa kiến tạo nên bản thân mình Nghĩa là, tác giả phản ánh lại cuộc đời với bao nhiêu nỗi đau, cũng chính là tác giả đang khỏa lấp những thiếu sót trong tâm hồn, bồi dưỡng chân – thiện – mỹ của người đọc và chính bản thân mình Chỉ tác phẩm được xây dựng nên từ những giọt nước mắt chân thành tin yêu cuộc đời mới là những tác phẩm chân chính, mới có thể “vượt qua mọi bờ cõi

và giới hạn, trở thành tác phẩm chung cho loài người”, mới có thể “vượt qua

sự băng hoại của thời gian”, để phủ nhận cái chết Nam Cao đã từng nói:

Trang 23

“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm nên một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao, 1943) Sự sáng tạo là yếu tố sống còn của một nhà văn đối với nghệ thuật Nam Cao đề cao những tác giả tạo dựng nên những tác phẩm mang đậm dấu

ấn riêng biệt với hình thức nghệ thuật độc đáo, toàn vẹn và có chiều sâu

Trước hết, để sáng tạo được văn học, chủ thể sáng tác phải là nhà văn/nhà thơ có tư tưởng lớn, có Tâm, Tầm, Tài của người viết Tố chất không thể thiếu là phải có cá tính sáng tạo giữa làng văn chương Sáng tạo trong nghệ thuật đã là điều không hề dễ, sáng tạo để người khác thấy hay và nể phục lại càng khó hơn Ví dụ, trong quá trình tiếp thu văn hóa Pháp, giới trí thức trẻ Việt Nam nhanh chóng nhận ra vần luật, niêm luật của cổ thi đã quá

gò bó trong việc thể hiện tiếng thơ của con người Trong văn học thời kỳ này, thơ cũng như văn xuôi, cá nhân tự khẳng định, tự biểu hiện ra niềm vui, mơ ước, khát vọng Cảm hứng sáng tác gắn liền với ý thức cá nhân; thơ mới là thơ của cái tôi, một cái tôi chưa bao giờ được biết đến trong thơ cổ điển Cái tôi bấy giờ không làm việc “tải đạo” nữa mà vượt lên những công thức ước lệ, khuôn khổ nhất định Những từ ngữ như “hơn một”, “dăm bảy” xuất hiện trong các tác phẩm lúc bấy giờ đều là cách nói học từ nước ngoài Đó là lý do tại sao Phong trào Thơ Mới xuất hiện đầu thập niên 1930 lại gây được tiếng vang như vậy Từ đó có thể thấy, sự sáng tạo góp phần làm nên một nền văn học phát triển và đa dạng phong phú hơn

Phương pháp sáng tác là thành tố bên sâu trong tác phẩm, với nguyên tắc tư tưởng – nghệ thuật chịu sự chi phối của một thế giới quan nhất định Tiến trình văn học gắn với lịch sử đã làm nảy sinh nhiều trào lưu, nhiều trường phái xoay quanh các phương pháp sáng tác bao gồm chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực thế kỷ, chủ nghĩa tự nhiên Chẳng hạn, chiếm ưu thế tuyệt đối thời kỳ 1930 – 1936 là văn

Trang 24

học lãng mạn, 1936 – 1945 là văn học hiện thực phê phán,… Giới hạn của sáng tạo còn đến từ những nhận thức, quan niệm về giá trị Tác giả thường xây dựng dựa trên hai nguyên tắc khác nhau Có thể là lấy đề tài từ đời sống thực và tái hiện hình tượng như nó vốn có Hoặc là lấy đề tài từ đời sống thực

và tái tạo hiện thực như mình mong muốn Mỗi kiểu sáng tác chứa đựng nhiều phương pháp sáng tác, và tất nhiên, cũng nhiều trào lưu văn học

Tương tự như khi bàn về sự tiếp nhận, hoạt động tiếp nhận văn học chưa bao giờ thoát ly khỏi điều kiện lịch sử, mang khuynh hướng xã hội mạnh

mẽ Hoạt động sáng tạo văn học cũng vậy Chủ thể sáng tạo ra những tác phẩm đó cũng sẽ bị giới hạn trong những điều kiện chật hẹp của tư tưởng, tri thức, học vấn, kinh nghiệm và lối sống,… Do đó, ở những thời đại tiếp nhận văn học khác nhau, người đọc sẽ không ngừng hoài nghi về giá trị nghệ thuật,

tư tưởng của một tác phẩm, có thể nhận đúng hoặc sai về ý đồ sáng tác, dấy lên những tranh cãi, bài xích và khuynh hướng phê bình xoay quanh tác phẩm

đó Nội dung tác phẩm được viết ra có thể là duy nhất, song ý nghĩa của tác phẩm khi được tiếp nhận sẽ được nhân lên và mở rộng ra rất nhiều lần với những người đọc khác nhau, thuộc các thế hệ khác nhau Một tác phẩm lớn như Truyện Kiều cũng không ngoại lệ Suốt một thời gian dài Truyện Kiều của Nguyễn Du bị coi là “cuốn dâm thư” đầu độc tâm hồn và hủy hoại nhân cách của người đọc Hoài Thanh quan niệm, phê bình cũng là một dạng sáng tác văn học Ông khẳng định: “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật Tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình Nói một cách khác, nghệ thuật là phê bình tự nhiên mà phê bình là một lối nghệ thuật gián tiếp, một lối nghệ thuật lấy nghệ thuật làm tài liệu” “Nhà báo chỉ mong thay đổi một thời, nhà văn có

hy vọng ảnh hưởng đến lòng người mãi mãi; nhà văn muốn trao mĩ cảm cho người xem, nhà báo nếu cũng có ước muốn ấy sẽ trở thành nhố nhăng rồ dại” (Hoài Thanh, 1935) Đây cũng là quan điểm của ông về sự khác biệt giữa nhà văn và nhà báo Nếu quan niệm truyền thống từng đề cao vai trò của chủ thể

Trang 25

sáng tạo thì đến nay, người đọc được xem là nhân tố quan trọng trong quá trình tạo nghĩa cho tác phẩm Cả tác giả và độc giả đều mang trên mình trách nhiệm cộng hưởng quan trọng trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học Những tác phẩm kinh điển, hiện tại trở nên rất gần gũi với mỗi chúng ta là do

nó đã phải trải qua một quá trình đấu tranh để tự tìm kiếm chỗ đứng, tự khẳng định những giá trị của mình hết sức khó khăn và quyết liệt vì không nhận được sự đồng cảm của người tiếp nhận đương thời “Người làm văn nhờ xúc cảm dồi dào, mà viết thành văn, thì người đọc cũng phải biết rẽ văn mà thâm nhập vào tình cảm” (Lưu Hiệp) Do đó, để tạo được những chuyển biến có tính cách mạng trong nền văn học giai đoạn ấy, muốn cảm nhận đúng “thông điệp thẩm mĩ” của tác giả, người đọc phải nhập vào thế giới hình tượng trong tác phẩm Bằng vốn sống, vốn tri thức và sự từng trải của cuộc đời để sống với tác phẩm như người trong cuộc, trở thành người đồng sáng tạo cùng với tác giả

Sáng tạo văn học bao gồm sáng tạo mới hoàn toàn, tự tưởng tượng, phóng tác dựa trên câu chuyện có thật, sáng tạo dựa trên văn bản hoặc góp nhặt từ cuộc sống,… Tác phẩm văn học có thể được thể hiện dưới hình thức chữ viết nhưng cũng có thể được thể hiện thông qua hình thức khác như truyền miệng (các tác phẩm văn học dân gian) Mặt khác, tác phẩm văn học

có rất nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi (bao gồm tiểu thuyết, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, bút kí, kí sự, tự sự, tuỳ bút, hồi kí …); thơ (bao gồm bài thơ, bài trường ca với các thể thơ khác nhau như lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, tự do…) Tác phẩm phát sinh là tác phẩm được tạo

ra trên cơ sở nội dung đã có của một hoặc nhiều tác phẩm trước đó bằng cách sáng tạo trong việc thay đổi hình thức diễn đạt, loại hình biểu diễn hoặc ngôn ngữ trình bày nội dung tác phẩm Các tác phẩm phát sinh bao gồm: tác phẩm dịch thuật, tác phẩm phóng tác, tác phẩm cải biên, tác phẩm chuyển thể Trong đó, tác phẩm phóng tác chỉ dựa vào chủ đề tư tưởng được thể hiện

Trang 26

trong nội dung của tác phẩm có trước và được thể hiện bằng một cách hoàn toàn riêng và độc đáo; tác phẩm cải biên có thể hiểu là tác phẩm có nội dung sửa đổi một phần nội dung, chuyển thể loại, thay đổi hình thức thể hiện, đặt lại các chất liệu gốc trong bối cảnh phù hợp; tác phẩm chuyển thể được sáng tạo trên cơ sở tác phẩm gốc bằng cách thay đổi từ loại hình này sang loại hình khác, ví dụ một tác phẩm gốc thuộc loại hình văn học được một người khác viết kịch bản và chuyển sang tác phẩm thuộc loại hình điện ảnh Truyện Kiều

đã trở thành chất liệu sáng tác dồi dào, vừa tham dự như một chất liệu cải biên vừa tồn tại dưới các dạng thức kịch bản văn học: chèo, tuồng, cải lương, Hiện nay, các phiên bản chuyển thể Truyện Kiều sang cải lương ở cả kịch bản

và vở diễn chiếm số lượng áp đảo Ví dụ, các soạn giả Trương Quang Tiền, Phạm Minh Kiên, Quy Sắc, Nguyễn Thúc Khiêm đã cải biên gần như toàn bộ cốt truyện Truyện Kiều và tuân thủ theo mạch tự sự của tác phẩm gốc Tuy nhiên, ở một số kịch bản, các soạn giả đã chọn lựa chỉ một trường đoạn ấn tượng, mấu chốt, giàu kịch tính, có ý nghĩa bước ngoặt để cải biên, như: Kiều

du thanh minh, Hoạn Thư tróc Kiều, Kiều ngộ Từ Hải (Trương Quang Tiền); Trăng thề vườn thúy, Má hồng phận bạc, Kiều Từ li hận (Quy Sắc)… Ví dụ, kịch bản Kiều du thanh minh diễn từ đoạn Kiều đi thanh minh cho đến đoạn Kiều theo Mã Giám Sinh đến lầu xanh của mụ Tú Bà Kịch bản Hoạn Thư tróc Kiều diễn từ đoạn Sở Khanh lừa gạt Kiều trốn khỏi lầu xanh cho đến đoạn sư Giác Duyên gửi Kiều đến nhà họ Bạc Các tác phẩm Hậu Truyện Kiều chính là các tác phẩm được sáng tạo theo hình thức phóng tác hoặc cải biên Với tình cảm da diết đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du và tâm lý muốn tiếp tục lưu giữ quốc hồn của tác phẩm, các tác giả đã tìm tòi, sáng tạo nên “Hậu Truyện Kiều” với những góc nhìn mới mẻ, giúp người đọc cảm thụ được rõ hơn nét đẹp tinh túy từ nội dung đến hình thức của tác phẩm Truyện Kiều Họ là Mộng Liên Đình với “Đào Hoa Mộng ký”, Hà Đạm Hiên với

“Đào Hoa Mộng ký Diễn Ca”, Bạch Diện với “Kiều Tân thời”, Nguyễn Văn

Trang 27

Trinh với “Kiều Bình dân học vụ”, Phạm Thiên Thư với “Đoạn Trường Vô Thanh”, Trần Thanh Vân với “Đoạn Trường Nhất Thanh” và Phạm Đan Quế với “Truyện Kiều đọc ngược” Các tác phẩm này được sáng tạo về đề tài (viết tiếp Truyện Kiều, cải biên Truyện Kiều phục vụ cho các lĩnh vực đời sống), sáng tạo cách đọc mới, sáng tạo về nhân vật, sáng tạo về ngôn từ và

tư tưởng

Kế thừa và sáng tạo là kiểu tác động thể hiện sự tiến hóa của tiến trình văn học Tư duy sáng tạo của tác giả bao giờ cũng là sản phẩm của quá trình tích lũy, kế thừa từ thuở ấu thơ trong đời sống gia đình, từ trường lớp, xã hội tạo nên vô thức, tiềm thức và sống dậy ý thức khi bước vào hoạt động sáng tạo Trong hoạt động sáng tạo, kế thừa là quy luật tất yếu Sáng tác văn học là một hoạt động có ý thức, nhằm thể hiện thái độ nhân sinh Người viết phải đối thoại, nối lời, tiếp lời, thậm chí tranh biện với ý kiến của người cùng thời và tiền nhân Cái làm nên sự vĩ đại của Nguyễn Du là Truyện Kiều đã chịu ảnh hưởng về ý đồ tự sự từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, đã tạo ra một quan niệm nghệ thuật về con người hoàn toàn mới mẻ và không thể thay thế Tuy xuất phát cùng một thế giới quan, nhưng mỗi người có một cá tính sáng tạo khác nhau, mới có thể tạo ra sự đa dạng của màu sắc thẩm mỹ Tác phẩm văn chương tự thân nó chỉ như là một bộ xương, sẽ được người đọc

bổ sung và bù đắp ở một vài phương diện, nhưng trong một số trường hợp, nó cũng bị biến đổi hoặc bóp méo Mỗi tác giả, với những suy nghĩ và cách nhìn tâm hồn khác nhau, đều có một mục tiêu chung là truyền tải vào trang viết những phong cách riêng biệt, những tư tưởng mới mẻ và ấn tượng nhất Trước biển lớn hiện thực, bằng sự sáng tạo không ngừng nghỉ, các nhà văn đã trải rộng tâm hồn, hòa mình vào những đau thương mà các nhân vật trong Truyện Kiểu đã trải qua, để những số phận lấm lem ấy ùa vào con tim, tràn ra nơi đầu ngọn bút, viết nên những cuộc đời mới tràn đầy hi vọng hơn cho Truyện Kiều

Họ biến “Hậu Truyện Kiều” thành thứ vũ khí thanh cao và đắc lực, vừa thay

Trang 28

đổi xã hội giả dối, vừa tạo dựng niềm tin về thế giới nơi người đọc “Hậu Truyện Kiều” với diện mạo mới, đầy đủ và cụ thể hơn trở thành đối tượng của tiếp nhận và khoái cảm thẩm mĩ Có thể thấy, sáng tạo văn học là một nghĩa

cử tri ân cao đẹp của hậu thế đối với tiền nhân, không chỉ giúp tác phẩm, tác giả có được chỗ đứng, mà còn giúp người đọc trải nghiệm được thêm nhiều cuộc đời mới lạ, cung cấp thêm tri thức và vốn sống

1.3 Tác phẩm và tác giả

1.3.1 Tác phẩm

Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc Nội dung chính của truyện xoay quanh cuộc đời của Thúy Kiều, một cô gái có tài sắc nhưng bạc mệnh

Từ nhân vật này cùng tương quan với các nhân vật xung quanh Kiều, Nguyễn

Du thể hiện nhân sinh quan về cuộc đời, về thời cuộc, đồng thời bộc lộ tiếng nói nhân đạo sâu sắc Tác phẩm được chia thành ba phần: Gặp gỡ và đính ước

- Gia biến và lưu lạc - Đoàn viên Nguyễn Du tự nhận về “đứa con tinh thần” của mình là những “lời quê”, “chắp nhặt”, “dông dài”, chỉ là để “mua vui” nhưng 3.254 câu Kiều đã thành công vượt bậc hơn cả nguyên bản của nó từ Trung Quốc Truyện Kiều gắn liền với 5 kỷ lục thế giới và 7 kỷ lục Việt Nam

Suốt hai thế kỷ qua, Truyện Kiều đã trở thành quyển sách “gối đầu giường”, thậm chí được xem là quyển “thánh kinh” của người Việt Ngôn từ trong Truyện Kiều được dùng rộng rãi trong các sinh hoạt văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân như ngâm Kiều, vịnh Kiều, bình Kiều, lẩy Kiều, trò Kiều, chèo Kiều, cải lương Kiều, tranh Kiều, bói Kiều… và cả trong những làn điệu

ví giặm đặc sắc của người dân địa phương Từ mê truyện Kiều, thuộc lòng những câu Kiều đến sáng tạo mà phát triển hình thức nhại Kiều Trong sinh hoạt hàng ngày, cũng có những người vợ ghen tuông mà nhại Kiều để răn đe những ông chồng có tính trăng hoa, “Anh mà giở thói Thúc Sinh; Thì đừng có

Trang 29

trách vợ mình Hoạn Thư” Đặc biệt trong ví giặm, lối hát giao duyên Truyện Kiều cũng được vận dụng nhiều câu chữ trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nhiều lời ca điệu ví đậm đà lấy chàng Kim, nàng Kiều làm bối cảnh gặp gỡ trao duyên, “Vừa ra vừa gặp người xinh; Cũng bằng Kim Trọng tiết thanh minh gặp Kiều” Trong lời ví phường nón, “Đêm trăng hò hẹn”, câu hát ví bên liễu yếu đào tơ thách đố cánh mày râu: “Truyện Kiều các anh thuộc làu;

Đố anh đọc được một câu năm người” Cánh mày râu tỏ ra hiểu biết lấy giọng ngâm Kiều: “Này chồng, này mẹ, này cha; Này là em ruột, này là em dâu” Trong lời ví phường nón ở Nghi Xuân con gái thi nhau đọc lật Truyện Kiều Tuy đọc lật ngược nhưng người ta vẫn hiểu được đó là Truyện Kiều và có câu hay hơn đọc xuôi: “Người ta trong cuộc trăm năm; Trăm năm tài mệnh khéo

là ghét nhau; Ghét nhau một cuộc bể dâu; Bể dâu một cuộc mà đau đớn lòng” Không phải ngẫu nhiên mà Phạm Quỳnh đã nhận xét: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” (Hoài Thanh, 1942) Đến nay, sự yêu thích Truyện Kiều cũng chưa bao giờ dừng lại, cậu bạn lớp 10 chuyên Toán Phạm Quốc Đạt đã gây thích thú đối với cộng đồng mạng khi tóm tắt lại Truyện Kiều qua 38 câu thơ theo thể thơ lục bát giống với phiên bản gốc bằng giọng điệu trong trẻo, hóm hỉnh và dễ thuộc:

“Mình xin thay mặt tổ hai, Bàn về tác phẩm của ngài Nguyễn Du

Thúy Kiều tuy chẳng ở tù Nhưng mà hồn đã ngàn thu giấc tròn Sắc, tài sánh lại nước non, Đây người con gái chẳng còn điểm chê

Gặp Kim, như trúng bùa mê, Hai người đính ước hẹn thề Đạm Tiên

Bỗng đâu oan lớn ập liền, Thuý Kiều buộc phải kiếm tiền chuộc cha

Trang 30

Chẳng may mắc bẫy Tú Bà, Biến Kiều bỗng chốc thành quà thanh lâu

Đương cơn nhục nhã tủi sầu, Thúc Sinh xuất hiện, phép mầu nhuộm lên

Tưởng rằng Kiều đã gặp hên, Hoạn Thư đày đoạ như tên ngục tù Nàng đau trong nỗi căm thù, Phận đời sóng gió mây mù xa trông Bạc Bà giết những kiếp hồng, Lầu xanh Kiều lại vào tròng lần hai Chẳng còn nhờ vả được ai,

Kể như nàng đã tương lai mịt mù

Từ Hải khí phách trời thu, Kiều được giúp đỡ trả thù bấy lâu Ngỡ chăng chấm dứt nỗi sầu, Lại Hồ Tôn Hiến hiểm sâu đánh lừa

Từ Hải chết đứng không thưa, Thuý Kiều lại kiếp ngày xưa quay về

Nỗi đau, nhục nhã ê chề, Nàng nay chẳng muốn quay về nhân gian

Tiền Đường kết liễu kiếp oan, Giác Duyên sư phụ cứu đàn con thơ

Rời xa thực tế bẩn dơ, Nương nhờ cửa Phật đợi chờ tương lai Ngày kia Kiều đã gặp ngài Tái duyên Kim Trọng, cả hai đều mừng Đến đây xin phép được ngừng, Cảm ơn cả lớp chẳng ngừng lắng nghe!”

Trang 31

Sức lan tỏa của Truyện Kiều không chỉ dừng lại ở đó Truyện Kiều còn được biến tấu lại theo phong cách hài hước tạo nên những quyển Truyện Kiều Chế, Thơ chế Thúy Kiều ngồi bắn Half Life hay Truyện Kiều thời hiện đại theo ngôn ngữ tuổi teen hoặc lồng tiếng Anh vào trong thơ:

“Trăm năm trong cõi người ta Nguyễn Du được gọi là cha truyện Kiều

………

Bán thân mới được một tuần Vân kiếm được kẻ chuộc thân cho mình Chàng tên là Mã Giám Sinh

Xuất thân từ chốn võ lâm truyền kì Thanh niên trai tráng đôi mươi Nhiều tài lắm của là người đẹp trai

Cò kè bớt một thêm hai Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm

……… ”

Trong lịch sử văn học Phương Đông, việc viết tiếp hoặc viết thêm tác phẩm là điều phổ biến Những tác phẩm kinh điển của văn học Trung Quốc đều nảy sinh các tác phẩm “hậu” của nó Ví dụ như Hậu Tam Quốc, Hậu Tây

Du Ký, Hậu Thuỷ Hử, … Bàn về khái niệm “hậu”, ta nhận thấy rằng có hai cách xác định một tác phẩm có được xem là “hậu” của tác phẩm gốc hay chăng Với cách hiểu đầu tiên, một tác phẩm “hậu Truyện Kiều” là một tác phẩm ra đời sau Truyện Kiều, viết thêm vào phần sau cái kết của tác phẩm gốc Điều này có nghĩa là một tác phẩm “hậu Truyện Kiều” là một tác phẩm viết tiếp từ Truyện Kiều Nhưng cũng có một cách xác định thứ hai, đó chính

là những tác phẩm văn học có xuất hiện các nhân vật trong Truyện Kiều nhưng được sáng tạo với những nét tính cách khác, hoàn cảnh khác so với

Trang 32

nguyên gốc Ở đây, luận văn xác định đi theo cả hai cách hiểu để phân tích đánh giá những đặc sắc trong cách sáng tạo văn chương của người đời sau

Truyện Kiều cũng là nguồn cảm hứng cho biết bao bài thơ của các nhà thơ Việt Nam “Truyện Kiều là thi phẩm duy nhất chắp nhặt những câu thơ thành nhiều bài thơ mới”, gọi là hiện tượng Tập Kiều, đã thu hút thi sĩ văn nhân nhiều thế hệ tham gia từ thời vua Tự Đức (1847) đến Phan Mạnh Danh, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Hoàng Trung Thông… với hàng trăm thi phẩm đủ loại từ lục bát, ngũ ngôn, tứ tự, thất ngôn, đến văn tế, hoặc Tập Kiều để dịch Hán thi, Đặc sắc hơn là hàng loạt tác phẩm dùng Truyện Kiều của Nguyễn Du làm bản nguồn để soạn lại, như Ca phả của tác giả khuyết danh, Kim Vân Kiều Hán tự diễn âm ca của Lê Dụ; Kim Vân Kiều trò của tác giả khuyết danh, Kim Vân Kiều phú của tác giả khuyết danh, Kim Vân Kiều hợp tập của tác giả khuyết danh, Thuý Kiều truyện tường chú của Chiêm Vân thị, Kim Vân Kiều Lục của Phạm Quý Thích, Chúng ta khó mà

kể hết được những tác phẩm xưa nay viết về Truyện Kiều vì chúng quá nhiều

và quá đa dạng: về văn bản, về nhà văn và thời đại, tư tưởng và nghệ thuật văn chương, ý nghĩa xã hội và văn hóa,…Tuy nhiên, xét về độ nổi tiếng và sức ảnh hưởng sâu sắc của các tác phẩm viết tiếp Truyện Kiều, không thể không kể đến 6 quyển Hậu Truyện Kiều Truyện Kiều được ghi nhận là kỷ lục thế giới với 6 cuốn “hậu”, bao gồm Đào Hoa Mộng Ký (1) của tác giả Mộng Liên Đình, với khoảng 3.000 câu thơ lục bát và Đào Hoa Mộng Ký diễn ca (2) chưa rõ bản gốc, ông Phạm Văn Phương dịch ra quốc ngữ (Nhà Mạc Đình Tư xuất bản năm 1917) gồm 1.910 câu thơ lục bát Đây là 2 cuốn hậu Truyện Kiều được viết vào thế kỷ thứ 19, tuy cùng một câu chuyện về giấc mộng hoa đào nhưng nội dung lại khác Kiều Tân thời (3) (Hài văn) gồm 304 câu lục bát của Bạch Diện (Nhà in Trung Bắc, Hà Nội 1935) mang tính châm biếm hài hước, đả phá các thói xấu của xã hội ở thập kỷ ba mươi của thế kỷ trước Kiều-Bình dân học vụ (4) gồm 2.050 câu lục bát của tác giả Nguyễn Văn

Trang 33

Trinh, Sở Giáo dục Hà Nội 1985) nhằm phục vụ cho phong trào xóa nạn mù chữ Đoạn Trường Vô Thanh (5) gồm 3.296 câu lục bát (Truyện Kiều dài 3.254 câu) của Phạm Thiên Thư là cuốn hậu Truyện Kiều đúng nghĩa và thành công hơn cả, tác phẩm này đã được trao giải nhất văn chương tại miền Nam năm 1973 Đoạn Trường Nhất Thanh (6) với 1.028 câu lục bát của Trần Thanh Vân (Nxb Kiên Giang) viết về Từ Hải xây dựng triều đình riêng, Kiều

là hoàng hậu Kim Trọng thi đỗ Trạng võ, được triều đình nhà Minh cử đi đánh dẹp Từ Hải Ngoại trừ tác phẩm “Đoạn Trường Vô Thanh” của Phạm Thiên Thư được xuất bản thành sách riêng thì hiện tại các tác phẩm còn lại chỉ được ghi nhận trong quyển “ Lục bát Hậu Truyện Kiều” của Tác giả Phạm Đan Quế được nhà xuất bản Thanh Niên phát hành năm 2002

300 câu thơ

Câu chuyện được kể như sau: Nguyên Sinh (Kim Trọng, người Giang Bắc, tổ tiên nhiều đời làm quan to cho nhà Lê Vợ đầu của Sinh là Trần Thị (Thuý Vân) vốn con nhà trâm anh thế phiệt, tính tình nhã nhặn, ôn hoà nhưng

vợ chồng ăn ở gắn bó với nhau đến bốn năm trời mà chưa có con Mẹ chồng thương thường bảo nàng tìm kiếm cho chồng một người vợ lẽ, nàng rất vui lòng Một hôm chàng đi săn với hai con chó (Ưng Khuyển), tiện đường ghé vào chùa trò chuyện cùng nhà sư Đương lúc chuyện tròm thì có tiểu đồng vào

Trang 34

báo nơi quán trà trước cửa tam quan có hai đào nương nhan sắc tuyệt đẹp đang nghỉ chân Thì ra đó là ba mẹ con Lan Mẫu (Giác Duyên) và hai người con gái: Kiều Lan (Thuý Kiều) là chị có cái đẹp vô cùng quyến rũ lại thạo về đàn nguyệt, cứng cỏi tự tin và em là Kiều Huệ (Đạm Tiên) thì khéo chiều đón

ý người Gặp Lan, Sinh đem lòng ái mộ nên muốn đưa về làm thiếp Mẹ và vợ vốn vẫn đang muốn nạp thiếp cho Sinh nên chấp thuận và chọn ngày làm lễ Sau lễ cưới, Lan sang nhà mới là Trường Xuân viện Được ít lâu Sinh có lệnh gọi tới phủ đường nhận nhiệm vụ Nguyên tại vùng sâu Tuyên Quang có một con cáo già đã biến thành Hồ tinh (Hồ Tôn Hiến) lập một cái động để quấy rối trong vùng Nó có bốn con yêu làm đệ tử là Trư tinh (Tú bà, Bạc bà), Hầu tinh (Sở Khanh), Mã tinh (Mã Giám Sinh), Dương tinh (Bạc Hạnh) Tù trưởng Dư Mỗi (Từ Hải) diệt bọn yêu tinh nhưng bị bọn xấu ghen ghét vu oan và bị bắt giam Nguyên Sinh hay tin đã dâng sớ xin cho Dư Mỗi lập công chuộc tội Dư Mỗi (Từ Hải) sau lấy Mã Kiều (Mã Kiều) mà chàng cứu được Chàng lại có một người bạn là Giải Sinh (Thúc Sinh) phong lưu giàu có bèn làm mối cho Kiều Thư (Hoạn Thư) Sau hai ba năm cai quản, Nguyên Sinh quyết định từ quan Sinh và Lan sớm tối vui vầy, bất giác đã qua nhiều năm tháng Một hôm ngủ trưa dậy, mặt Lan đầm đìa nước mắt Sinh thấy lạ hỏi Lan sụt sùi nói:

“Thiếp hồi còn trẻ ra chơi dưới gốc cây anh đào trong vườn, có nghịch bẻ một cành hoa vừa ngắm vừa than thở Khi vào nhà, đem truyện Tân thanh ra đọc thổn thức hồi lâu Tối hôm đó ngủ, thấy có mấy chục cô bạn gái lượn tới Hỏi

ra mới biết họ đều là Thần Hoa đào Họ bảo kiếp trước thiếp là Thuý Kiều, chàng là Kim Trọng Vì duyên xưa chưa trọn vẹn nên kiếp này sẽ gặp nhau, nhưng chỉ được đoàn tụ mười lăm năm thôi, để bù lại thời gian chia lìa trong kiếp trước Khi mãn hạn, phải vào nương cửa Phật, không được lần khần, cũng không được tiết lộ Bởi vậy từ khi hội ngộ tới giờ, thiếp không dám nói cho chàng hay” Ít lâu sau, nàng xuống tóc, đến trụ trì ở chùa Vọng Nguyệt trên Đảo Sơn, rồi không biết đi đâu

Trang 35

1.3.1.2 Tác phẩm “Đào Hoa Mộng ký Diễn ca”

Đầu năm 2000, trong khi lục tìm kho sách quốc ngữ đầu thế kỷ XX, tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, các nhà văn phát hiện được một quyển Đào Hoa Mộng ký khác Đó là quyển “Đào Hoa Mộng ký diễn ca”, do Phạm Văn Phương phiên âm ra chữ Quốc ngữ từ bản chữ Nôm, Nhà in Mạc Đình Tư xuất bản, in lần thứ nhất năm 1917 Sách gồm 1.910 câu thơ lục bát kể lại câu chuyện về Lan Nương và Nguyên Sinh - hậu thân của Thuý Kiều và Kim Trọng Do đó, “Đào Hoa Mộng ký diễn ca” còn được gọi là “Kim Vân Kiều Hậu Thân” Trong Bài tựa viết năm 1917 ở quyển diễn ca này, ông Phạm Văn Phương khi phiên âm từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ không thấy nói gì nhiều

về bản gốc mà ông sử dụng, ngoài một nội dung như sau: “…Tôi có xem bộ tiểu thuyết nước ta gọi là Đào Hoa Mộng ký, (có người gọi là Kim Vân Kiều hậu thân) của ông Hà Đạm Hiên làm ra, truyện này nguyên là truyện Kim Vân Kiều bên Tầu kiếp trước, giáng sinh sang nước ta như: Nguyên Sinh, kiếp trước là Kim Trọng; Lan Nương, kiếp trước là Thuý Kiều, cho đến Đạm Tiên,Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Thuý Vân, Bạc Hạnh, Bạc Bà, chẳng sót một người nào, thần Đào hoa báo mộng cho vợ chồng Nguyên Sinh biết, nên gọi là Đào Hoa Mộng ký” Truyện diễn ca này có cùng cốt truyện với quyển trên: Đào Hoa Mộng ký của Mộng Liên Đình nhưng lời văn vẫn có nét riêng khác biệt nên hoàn toàn được đánh giá trên cơ sở hai tác phẩm độc lập

1.3.1.3 Tác phẩm “Kiều Tân thời”

Trong các bản Hậu Truyện Kiều, “Kiều Tân thời” của Bạch Diện, biên tập viên báo Tin Mới lại là một quyển sách mang tính châm biếm hài hước, đúng hơn là một kiểu nhại Kiều: Dựa theo truyện Kiều, dùng các nhân vật của Truyện Kiều để đưa ra một câu chuyện cười mang tính chất trào lộng, đả phá các thói xấu ngoài xã hội hồi thập kỷ ba mươi thế kỷ trước Cũng như trong thời kỳ kinh tế thị trường ngày nay, nhiều cậu ấm cô chiêu con nhà có của đua đòi chơi bời lêu lổng Tác giả đã cho các nhân vật Thuý Kiều, Thuý Vân,

Trang 36

Vương Quan, Kim Trọng đều thuộc loại con nhà ăn chơi phá gia chi tử này nhưng là của những năm 30 thế kỷ XX với những lối sống mới học đòi theo Tây thời bấy giờ Gia đình Thuý Kiều cũng bị nạn, rồi nàng lại phải gặp những Mã, Tú, Sở Khanh Sau này, Thúy Kiều cũng gặp Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến,… trong những hoàn cảnh khác nhau Đây là quyển sách mà tác giả ghi ở bìa là Hài văn, chỉ có 310 câu thơ lục bát với những biến cố dựa theo Truyện Kiều để kết thúc bằng những câu:

“Trúc mai xum họp một nhà, Truyện Kiều chỉ có thế là xong xuôi

Nhời quê góp nhặt dông dai, Mua vui cũng được một vài sơ – gông (giây)!”

1.3.1.4 Tác phẩm “Kiều Bình dân học vụ”

Cũng là bản Hậu Truyện Kiều mang tính hài hước như “Kiều Tân thời”, nhưng “Kiều Bình dân học vụ” lại phục vụ một nhiệm vụ chính trị cụ thể là phong trào Bình dân học vụ, thanh toán nạn mù chữ sau Cách mạng tháng Tám (1945) và sau khi giải phóng Miền Bắc (1954), rồi giải phóng Miền Nam (1975) Sách được viết bằng 2.050 câu thơ lục bát chia làm 27 hồi với những tiêu đề theo lối truyền thống trong các truyện thơ Nôm Mỗi hồi được tóm tắt bằng hai câu biền ngẫu, tác giả đã theo sát diễn biến câu chuyện trong Truyện Kiều Các nhân vật Thuý Kiều, Thuý Vân, Vương Quan là con

cụ Vương Ông Tổng Mít (Mít: dốt đặc cán mai) giàu có nhưng cả nhà mù chữ Họ ăn chơi theo kiểu của những năm 40, 50, 70 thuộc thế kỷ XX với những lối sống mới học đòi khi nước ta vừa thoát ách đô hộ hay trong những vùng mới giải phóng khỏi ách tạm chiếm Mở đầu hồi 1 và hồi 2, tác giả miêu

tả gia đình ông bà Tổng Mít khấm khá, nhưng chị em Thuý Kiều chữ nghĩa lại

lơ mơ Trong dịp Tết Thanh Minh, Kiều phải lòng “vô danh chiến sĩ” Kim Trọng nên đành “nhờ Học vụ đưa duyên” Vì Kim Trọng, Kiều đành quyết tâm học tập Lúc này, truyện đã bắt đầu cao trào khi cụ Tổng Mít bị gã bán tơ

Trang 37

lừa điểm chỉ, “nợ vàng chục lạng, lụa là trăm vuông” nên bị bắt giam Để cứu cha, Thuý Kiều bị Mã Giám Sinh lừa rơi vào tay Tú Bà Khổ nỗi khi Tú Bà giao sổ sách cho Kiều, nàng đánh vần còn chưa thạo, sao đã biết cộng trừ Vì

bị Tú Bà trách mắng, Kiều đành chọn quyên sinh Tú Bà thấy thế bèn dùng lời ngon tiếng ngọt dỗ dành Tưởng thế là xong, Kiều lại bị Sở Khanh giả nhân giả nghĩa, lừa vào cạm bẫy Câu chuyện lại tiếp diễn với sự xuất hiện của gia đình Thúc Sinh và Hoạn Thư hóa ra cũng “dốt đặc cán mai”, nhờ vậy mà tầm quan trọng của cái chữ được nhấn mạnh Ngoài ra, các tình tiết khác đều tương tự như trong Truyện Kiều: Thuý Kiều tự vẫn ở sông Tiền Đường trong Truyện Kiều thì ở đây nàng chết đuối ở sông Hồng và cũng được Giác Duyên cứu Đến hồi 16, sau khi đã thoát khỏi cảnh tôi đòi, dưới sự động viên của sư Giác Duyên, Kiều tiếp tục dùi mài kinh sử Đến lúc bọn bất lương bị công an phạt thì mới biết cả bọn còn mù chữ Bởi dốt nát làm càn, cả Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Sở Khanh,… đều bị bắt phải học Bình dân cưỡng bách và nhận được sự khoan hồng của pháp luật Âu cũng do mù chữ mà nên Khi chưa tìm được Kiều, ông bà Vương định gả Thuý Vân cho Kim Trọng Nhưng sau này khi Kiều trở về với gia đình, Kim Trọng thành hôn với Thuý Kiều thì Vương ông lại muốn tìm cho nàng một chiến sĩ Bình dân học vụ Kết truyện, cụ Tổng Mít nhận ra “số lượng mù chữ hiện nay còn nhiều” nên đã quyết định góp công sức vào việc “thanh toán mù chữ càng nhiều càng hay”

1.3.1.5 Tác phẩm “Đoạn Trường Vô Thanh”

Nhắc đến Hậu Truyện Kiều không thể không nhắc đến “Đoạn Trường

Vô Thanh” Đây là một tập truyện thơ lục bát được đánh giá cao về lời lẫn ý của nhà thơ Phạm Thiên Thư, ra mắt lần đầu năm 1969, gồm 3290 câu thơ lục bát “Đoạn Trường Vô Thanh” là quyển Hậu Truyện Kiều thành công theo đúng nghĩa nhất bởi tác phẩm viết đúng đoạn đời tiếp theo của Kim, Vân và Kiều trong “Đoạn Trường Vô Thanh” sau “Tái hồi Kim Trọng”, gồm 27 chương Câu chuyện bắt đầu bằng lời tâm sự của Thuý Kiều sau cuộc Đoạn

Trang 38

trường và miêu tả mối tình Kim - Kiều sau khi tái hợp Trong cuộc du xuân lên núi của gia đình Kim Trọng cùng Vương bà, Thuý Vân và con gái Tiểu Nguyện, Thuý Kiều nhớ lại cuộc sống đã qua, nàng ngộ ra mọi cuộc tìm kiếm

bi đát của kiếp người Ngẫm lại những ngày qua, Kiều ngồi tựa hiên trăng mơ thấy bay lên như cánh hạc trời trong âm đàn chưa tắt của lòng nàng Tình cờ nàng được Kim kể lại cái chết kiêu trung của một dư đảng của Từ Hải với cây đàn của Từ mà chàng vừa nhận được và được biết đó là cây đàn của Trần Mai Nguyên - người yêu đã khuất của Từ ở đất Châu Phong (Việt Nam), Kiều nhớ lại những ngày cuối bên Từ Nàng đi thăm am xưa – nơi Giác Duyên dựng lên

để nàng đi tu Nay am đã bị đốt Nàng nhớ lại lời thầy Văn giảng kinh Kim Cương, nhớ đến nhà sư Giác Duyên và Tam Hợp Đạo cô xưa Đêm đến, nàng ngồi đọc thơ bên cây đàn của Từ, cây đàn cũ tự bật lên một tiếng não lòng Rồi Kiều nằm võng đọc Thơ Kinh, khi vừa nhập diệu thì cây đàn cũng tự vỡ tan Sau đó, Kiều chôn cây đàn bên nấm mộ người nghĩa sĩ và trồng lên trên

mộ đàn một cây đông mai Hồ Tôn Hiến xuất hiện tại chương 11 khi hắn thanh tra đất cũ và nhớ lại mình đã hèn hạ lừa giết Từ Hải như thế nào Nghe một kỹ nữ gảy đàn, hắn nhớ đến tiếng đàn của Thúy Kiều Rồi Hồ đến thăm Kim Trọng và được nghe lại tiếng đàn của Kiều Nhờ tiếng đàn của Kiều, Hồ Tôn Hiến thoát khỏi con mắt ám ảnh của Từ Hải Trong một lần xử án, Kim Trọng giải oan cho một chàng trai là Ngô Khôi, sau mới biết là học trò của thầy giáo dạy học cũ của mình Nhớ ơn cứu mạng, Ngô Khôi tới dâng Kim Trọng đôi chim Đại Hồi, nhờ vậy Vương Quan đã tìm được tung tích Hồ Ông tức thầy giáo cũ của chàng Tiếp nối câu chuyện, đến chương 18, Kiều gặp lại

gã bán tơ đã vu oan cho gia đình nàng Gã cho biết Vườn Thúy bây giờ đang rao bán nên Vương Ông quyết định cho lão hầu về chuộc lại Sau khi đã chuộc lại được Vườn Thúy, cả gia đình quyết định về quê hương Vương Quan ghé thăm thầy và gặp lại người yêu cũ là Ẩn Lan Kiều hồi tưởng lại buổi tối đánh đàn cho Kim Trọng và sư thầy Văn Chương nghe Nhà sư trợ

Trang 39

điện giúp Thúy Kiều tỉnh thức khỏi nghiệp đàn, hòa tâm cảnh vào thiên nhiên đại đạo Nàng mới ngộ ra chính hoàn cảnh thiên nhiên thân thuộc ban đầu đã tạo nên tâm thức nàng: Chỉ có quê hương mới mang lại cho nàng thứ hạnh phúc chân thật nhất – viên ngọc báu trong sáng mà con người hay quên lãng Kim Trọng về thăm Kiều Bốn người ngồi canh nồi bánh chưng, lẩy Kiều vào đêm ba mươi Tết nơi thôn Bạch Vân - quê hương Trạng Trình Nhà sư kể chuyện vui chờ xuân - huyền thoại một bài thơ nơi chùa Hương Tích, vì nghiệp lụy thử thách đã nhập vào đời Kiều đi suốt đoạn trường rồi thăng hoa trong Việt Tính Dân Tộc

1.3.1.6 Tác phẩm “Đoạn Trường Nhất Thanh”

Được viết dưới hình thức truyện Nôm, với hai quyển “Đoạn Trường Vô Thanh” và “Đoạn Trường Nhất Thanh” thì các tác giả lại muốn cho ta biết số phận các nhân vật trong Truyện Kiều sẽ ra sao ngay trong đoạn đời tiếp theo Trong quyển Lục bát Hậu Truyện Kiều gồm 314 trang, được xuất bản vào năm 2002 bởi Nhà xuất bản Thanh niên, Phạm Đan Quế đã tóm tắt “Đoạn Trường Nhất Thanh” như sau: “Sau khi bình định được phương Nam, Từ Hải

ra quân nhằm chiếm nốt phần đất còn lại, thống nhất giang sơn về một mối Triều Minh cử Hồ Tôn Hiến chống cự nhưng Hiến bị đại bại Trên đường đào vong, Hiến sa vào ổ phục binh của Từ, được Từ tha chết Hiến và quân còn lại cảm động nên tất cả buông gươm trở lại cố hương chờ đón đại binh Từ cứu muôn dân thoát khỏi gông cùm của nhà Minh Lúc bấy giờ Từ đã lập riêng một triều đình ở phương Nam Khi Từ Hải ra trận, Thuý Kiều ở nhà nhớ Từ, hướng về chàng dạo mấy cung tơ Kim Trọng thi đỗ Trạng Võ, được vua Minh cử ra trận Kim biết mình không phải là đối thủ của Từ, nên thảo một phong thư chiêu hàng gửi Thuý Kiều, lúc đó nàng đang là đương kim Hoàng hậu giữ quyền nhiếp chính trong khi Từ Hải xông pha nơi trận mạc Thuý Kiều đọc thư Kim, lòng bồi hồi cảm động, nàng suy nghĩ và quyết định mang quân ra trận cùng chồng chiến đấu Nhưng khi đến sông Tiền Đường, nàng

Trang 40

được tin Từ đã chết vì bị một viên tùy tướng là Vũ Hoàn bội phản ám sát Kim cho quân mang xác Từ Hải giao cho Kiều kèm theo một phong thư khuyên nàng truyền lệnh cho toàn quân của Từ hãy hạ vũ khí đầu hàng Kiều không chấp nhận, nàng lập đàn tế chồng bên sông Tiền Đường rồi rút đoản đao tự tử, viên tướng Nguyễn Hữu cũng tự vẫn theo”

Truyện Kiều ra đời đã được hai thế kỷ và trong khoảng 200 năm ấy, không riêng gì Văn học Việt Nam mà trong văn học thế giới cũng hiếm có tác phẩm nào chinh phục được rộng rãi tình cảm của đông đảo người đọc từ già đến trẻ từ người có học đến quần chúng bình dân trước đây phần lớn bị thất học như Truyện Kiều Bên cạnh việc tranh luận về tác phẩm, cùng với thời gian, nhờ những con người dù “tuy khác đời mà chung một dạ”, Truyện Kiều

và sáu quyển Hậu Truyện Kiều càng sáng trong:

“Gương trong chẳng chút bụi trần”

1.3.2 Tác giả

1.3.2.1 Nguyễn Du

Nguyễn Du (1766–1820) quê tại Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh,tên tự

Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ, là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là “Đại thi hào dân tộc” Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng Sau khi mẹ mất vào năm 13 tuổi, ông ở với người anh Nguyễn Khản – con người tài hoa phong nhã ảnh hưởng lớn đến Nguyễn Du

Thơ văn của Nguyễn Du đề cao xúc cảm, đa phần được sáng tác theo chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực trong văn học

Về nội dung, ông đề cao quyền sống của con người, thương cảm cho số phận bất hạnh của phụ nữ trong xã hội cũ, lên án bản chất tàn bạo của chế độ phong kiến, hướng đến tự do – khát vọng – công lý Về nghệ thuật, bên cạnh việc

Ngày đăng: 28/04/2021, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w