+ Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính vườn ươm và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
Trang 2PHẦN A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất đai được xem là tài sản của một Quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, đồng thời cũng là đối tượng của lao động và là sản phẩm của lao động Khoa học
về sinh thái Môi trường cũng xem đất như là một “cơ thể sống”
Trong giai đoạn hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhu cầu khác nhau ngoài nhu cầu ăn
ở, sinh hoạt ngày càng tăng, dân số lại lại tăng cao…đã gây áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên đất Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ quan trọng giúp nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và kế hoạch Dựa vào quy hoạch sử dụng đất để phân bổ hợp lý đất đai cho các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, hình thành cơ cấu sử dụng đất đai phù hợp với cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đúng mục đích
Triệu Phong là một huyện nghèo của tỉnh Quảng Trị, nền nông nghiệp giữ
vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thu nhập chủ yếu từ nông – lâm – ngư, chất lượng nguồn lao động còn nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng còn yếu kém Đồng thời vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên nhất là nguyên đất chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao Để đưa nền kinh tế huyện ngày càng đi lên, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân thì vấn
đề sử dụng hợp lý, tiết kiệm tạo sự cân bằng sinh thái trong môi trường đặc biệt
là hình thành một nền nông nghiệp bền vững là vấn đề cấp bách của tỉnh Quảng Trị nói chung và huyện Triệu Phong nói riêng
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, với mong muốn góp một phần công sức của mình vào sự phát triển của quê hương, đây cũng là cơ hội giúp cho bản thân
có thêm hiểu biết về điều kiện tự nhiên phục vụ cho việc giảng dạy địa lý địa
phương sau này Đây chính là lý do tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu hiện trạng sử dụng
đất huyện Triệu Phong – Quảng Trị Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đến năm 2020” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 32 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất của huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị
- Đưa ra một số định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đến năm 2020
2.2 Nhiệm vụ
- Tìm hiểu tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội ở huyện
- Nghiên cứu tài nguyên đất đai và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn của huyện
- Trên cơ sở đó đưa ra các định hướng sử dụng đất của huyện và đề xuất một số giải pháp
3 Phạm vi nghiên cứu
- Về lãnh thổ: Phạm vi huyện Triệu phong tỉnh Quảng Trị
- Về nội dung: Tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất, định hướng và đề xuất một số giải pháp đến năm 2020
4 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề tìm hiểu hiện trạng và định hướng sử dụng đất là vấn đề được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm đặc biệt là tổ chức an toàn lương thực thế giới (FAO)
Ở Việt Nam do có vị trí và địa hình đặc biệt làm cho thổ nhưỡng nước ta
có tính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây Vì thế mà vấn đề tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất, định hướng phục vụ phát triển kinh tế phù hợp với từng địa phương được nhiều người chú ý và tiến hành nghiên cứu
Triệu Phong là một huyện gồm chủ yếu là đồng bằng ven biển, với một ít
gò đồi thấp thuộc các xã Triệu Thượng và Triệu Ái ở phía Tây, địa hình phía Đông huyện là cồn cát, đụn cát trắng Cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của tỉnh Quảng Trị nói chung và huyện Triệu Phong nói riêng thì việc tìm hiểu tài nguyên đất của huyện là rất cần thiết, giúp cho việc định hướng và quy hoạch
Trang 4lãnh thổ, không gian kinh tế và sử dụng tối đa cho quỹ đất trồng của huyện Tuy nhiên vấn đề này chỉ mới được quan tâm trong những năm gần đây
5 Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm hệ thống
Khi tìm hiểu về hiện trạng sử dụng đất thì phải xem xét nó theo quan điểm
hệ thống Vì tất cả các yếu tố hợp thành một đơn vị đất đai là một bộ phận của cấu trúc có mối liên hệ mật thiết đối với cấu trúc khác để tạo nên một hệ thống Giữa chúng có mối tương tác qua lại lẫn nhau, khi một phần nào đó của hệ thống
bị biến đổi sẽ kéo theo sự biến đổi của các thành phần khác Qua đó để thấy rõ được vấn đề hiện trạng sử dụng đất cũng như xem xét những định hướng trong tương lai có ý nghĩa rất lớn đối với môi trường sinh thái và sự phát triển kinh tế của huyện Trên cơ sở tính toán sẽ đưa ra những giải pháp trong việc khai thác
và sử dụng tài nguyên đất hợp lý
5.2 Quan điểm tổng hợp, lãnh thổ
Có thể nói đây là quan điểm đặc trưng của khoa học địa lý vì mọi sự vật, hiện tượng địa lý đều có sự phân hóa lãnh thổ theo không gian Đặc biệt đối với vấn đề sử dụng đất thì việc nghiên cứu theo không gian lãnh thổ càng có ý nghĩa
vì nó chuẩn bị cho việc quy hoạch, thiết kế không gian sản xuất và sinh sống trong các hoạt động của lãnh thổ với một cấu trúc hợp lý nhất
5.3 Quan điểm sinh thái
Đây là quan điểm được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng đến mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên và con người, đặc biệt trong địa hệ sinh thái tài nguyên đất nó càng chịu ảnh hưởng sâu sắc hoạt động khai thác của con người Vì vậy, công tác nghiên cứu phải khám phá ra các hiện thực, tìm ra bản chất, quy luật phát triển để cải tạo chúng phục vụ cho toàn xã hội Thấy được ảnh hưởng giữa con người với việc khai thác tài nguyên đất nói riêng và tự nhiên nói chung
5.4 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Để tìm hiểu, đánh giá về các sự vật, hiện tượng một cách khách quan và chính xác thì phải đặt nó trong trạng thái vận động và phát triển Do đó, sử dụng
Trang 5quan điểm này trong khi nghiên cứu đề tài sẻ thu thập được tài liệu trong nhiều năm, nhìn nhận được cả quá trình phát triển của đối tượng từ đó mới đưa ra được những hướng giải quyết đúng đắn
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thực địa
Ngoài việc thu thập các thông tin sẵn có ở các phòng Nông nghiệp, phòng hành chính, phòng Tài Nguyên và Môi Trường…và một số tài liệu liên quan thì khảo sát thực tế từng địa điểm, chọn vài nơi cụ thể để nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề sử dụng đất của huyện để đưa ra mô hình sử dụng đất hiệu quả hơn
6.2 Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này đóng vai trò quan trọng quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài này vì thời gian và năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, không thể trực tiếp theo dõi và điều tra Sau khi khảo sát thực địa và tiến hành thu thập tài liệu từ các tổ chức, cơ quan, ban ngành có liên quan tại địa phương: Phòng Nông nghiệp, phòng hành chính, phòng Tài Nguyên và Môi Trường…để
có sự nhận xét, đánh giá chính xác về điều kiện tự nhiên của huyện cần phải xử
lý số liệu thô thành số liệu tinh, thống nhất tư liệu, lập bảng số liệu theo yêu cầu nghiên cứu
6.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Từ tỉ lệ bản đồ phân bố đất, bản đồ hiện trạng sử đất và bản đồ địa hình đã tạo điều kiện cho việc quy hoạch tìm ra hướng sử dụng đất hợp lý theo ngành, chọn giống cây trồng, vật nuôi thích hợp cho từng vùng cụ thể Bên cạnh đó giúp cho việc tìm ra những định hướng, giải pháp nhằm chống ô nhiễm và suy thoái đồng thời bảo vệ tài nguyên đất
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị thì nội dung chính của đề tài được triển khai ra ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Triệu Phong
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đến năm 2020
Cuối cùng là phần phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 6PHẦN B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát chung về tài nguyên đất
1.1.1 Khái niệm đất
Theo Docutraev: “ Đất là một vật thể tự nhiên độc lập, có lịch sử riêng, được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 nhân tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian”
Đến năm 1993 tại Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil
đã đưa ra khái niệm đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất hiện nay về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định
cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa )
Luật đất đai hiện hành đã khẳng định:“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết
Trang 7+ Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm
+ Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và nước ngọt
+ Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
+ Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, đất
để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
b Đất phi nông nghiệp
Khoản 2, Điều 13 Luật Đất đai 2003, quy định: “Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất:
+ Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sửu dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục
vụ lợi ích công cộng, đất có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ
+ Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng
Trang 8+ Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ
+ Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa
+ Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng
c Đất chưa sử dụng
Luật đất đai 2003 căn cứ vào mục đích sử dụng để phân loại đất Nhóm đất chưa sử dụng là loại đất chưa xác định mục đích sử dụng
1.1.3 Vai trò của tài nguyên đất
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, kinh tế càng phát triển, nhu cầu dùng làm đất cư trú, làm tư liệu sản xuất…ngày càng tăng Vì vậy phải nghiên cứu, tìm hiểu quy mô, đặc điểm đất đai để bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp
nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau Trong công nghiệp và các ngành khác ngoài nông nghiệp, trừ công nghiệp khai khoáng, đất đai nói chung làm nền móng, làm địa điểm, làm cơ sở để tiến hành các thao tác Trái lại, trong nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng trọt đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân bố của ngành nông nghiệp
Sự khẳng định vai trò của đất đai như trên là hoàn toàn có cơ sở Đất đai
là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc doanh và hoạt động của con người Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Bởi vậy việc sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả và bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia
Trang 91.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiện trạng sử dụng đất
1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Việc sử dụng đất đai luôn chịu sự ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên, do vậy khi sử dụng đất đai ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản trong lòng đất Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu tác động đến việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa
hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác
- Điều kiện khí hậu:
Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp
và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân cao hay thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, thời gian có sương dài hoặc ngắn trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh Cường
độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn cũng có tác dụng
ức chế đối với sinh trưởng, phát dục và quá trình quang hợp của cây trồng Chế
độ nước vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều hay
ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất cùng khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sự sinh trưởng của động thực vật Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các yếu tố khí hậu có các đặc trưng rất khác biệt
giữa các mùa trong năm cũng như các vùng lãnh thổ khác nhau
- Yếu tố địa hình:
Địa hình là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng đất của các
ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp Đối với sản xuất nông nghiệp, sự sai
khác giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc,
sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn đến sự khác nhau về đất đai
và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông - lâm nghiệp, hình thành sự phân biệt địa giới theo chiều thẳng đứng đối với nông
Trang 10nghiệp Bên cạnh đó, địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp từ đó đặt ra yêu cầu phải đảm bảo thủy lợi hóa và cơ giới hóa cho đồng ruộng nhằm thu lại hiệu quả sử dụng đất là cao nhất Đối với ngành phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng đến giá trị công trình và gây khó
khăn cho thi công
- Yếu tố thổ nhưỡng:
Mỗi loại đất đều có những đặc tính sinh, lý, hóa học riêng biệt trong khi
đó mỗi mục đích sử dụng đất cũng có những yêu cầu sử dụng đất cụ thể Do vậy, yếu tố thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Độ phì của đất là tiêu chí quan trọng về sản lượng cao hay thấp Độ dày tầng đất và tính
chất đất có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng
- Yếu tố thủy văn:
Yếu tố thủy văn được đặc trưng bởi sự phân bố của hệ thống sông ngòi, ao hồ với các chế độ thủy văn cụ thể như lưu lượng nước, tốc độ dòng chảy, chế
độ thủy triều sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cung cấp nước cho các yêu
cầu sử dụng đất
Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả của việc sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt được hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh
tế
1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, điều kiện tự nhiên của đất cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Còn sử dụng đất như thế nào, được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế xã hội, kỹ
thuật hiện có Trong một vùng hoặc trên phạm vi một nước, điều kiện vật chất tự
nhiên của đất thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau Nhưng với điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được
Trang 11khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời và đã đem lại những hiệu quả kinh tế xã hội rất cao nhưng có nơi đất đai bị bỏ hoang hóa hoặc khai thác với hiệu quả kinh tế
rất thấp
Trình độ phát triển kinh tế và xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Nền kinh tế càng phát triển, yêu cầu về đất đai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ càng được nâng cao
Ảnh hưởng của nhân tố kinh tế xã hội đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Song cũng cần phải chú ý rằng sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai bị sử dụng không hợp lý, không chú ý đến việc xử lý nước thải, chất thải và khí thải đô thị, công nghiệp sẽ làm mất đi vĩnh viễn diện tích lớn đất canh tác
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp đối với sản xuất nông nghiệp, điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất, điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và
tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội, cũng như căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai, mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thế hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng
cao và sử dụng đất đai được bền vững
1.2.3 Nhân tố không gian
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất hay phi vật chất đều cần đến đất đai như điều kiện không gian (bao gồm cả vị trí và mặt bằng) để hoạt động Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho loài người Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất Vị trí và không gian của đất không tăng thêm cũng không mất đi trong quá trình sử dụng Chính điều này đã tác dụng hạn
Trang 12chế của đất sẽ thường xuyên xảy ra khi dân số và xã hội luôn phát triển Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính là không thể gia tăng, không thể hủy diệt cũng không thể vượt qua phạm vi quy mô hiện hữu Do vậy, theo đà phát triển của dân số và kinh tế xã hội tác dụng ức chế của không gian của đất sẽ thường xuyên xảy ra Vì vậy, cần phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất
hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả kết hợp với việc bảo vệ đất và bảo vệ môi trường
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng và có giá trị kinh tế rất cao
1.3 Khái quát chung về huyện Triệu Phong
1.3.1 Vị trí địa lý
Triệu Phong là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Trị, có toạ độ địa lý từ
16039’06” đến 16054’29” vĩ độ Bắc và từ 106059’57” đến 107018’26”độ kinh Đông,
với 18 xã và 1 thị trấn Địa giới hành chính của huyện được giới hạn như sau: Phía
Bắc giáp thành phố Đông Hà, huyện Gio Linh, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp huyện Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, phía Tây giáp huyện Cam Lộ,
huyện Đakrông
Thị trấn Ái Tử là trung tâm chính trị, kinh tế-xã hội của huyện cách thành phố Đông Hà 7km về phía Bắc và cách thị xã Quảng Trị 1km về phía Nam Quốc lộ 1A chạy qua trung tâm thị trấn huyện lỵ và có đường bờ biển dài 18 km
Với vị trí tiếp giáp với trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh là thành phố Đông Hà và thị xã Quảng Trị Đây là lợi thế lớn để Triệu Phong phát triển sản xuất hàng hóa mở rộng giao thương với các vùng miền trong nước và với quốc tế
1.3.2 Điều kiện tự nhiên
a Địa hình
Đặc trưng địa hình Triệu Phong nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc và bị chia cắt bởi các sông, suối, đồi núi và các cồn cát, bãi cát tạo ra 3 vùng sinh thái khác nhau: Vùng gò đồi, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển
Trang 13+ Vùng gò đồi: Chiếm khoảng 51,08% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Khu vực gò đồi chủ yếu tập trung ở phía Tây của huyện, bao gồm các xã: Triệu Thượng, Triệu Ái và một phần của xã Triệu Giang, có độ độ dốc trung bình 8-
250
+ Vùng đồng bằng: Chiếm khoảng 38,39% diện tích tự nhiên toàn huyện, thuộc các xã: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, T riệu Hòa, Triệu Tài, Triệu Đông, Triệu Trung, Triệu Phước, Triệu Sơn, Triệu T rạch
Độ cao trung bình của vùng đồng bằng vào khoảng 1-5 m
+ Vùng cát ven biển: Chiếm khoảng 10,53% diện tích tự nhiên toàn huyện,
thuộc các xã Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng một phần Triệu Sơn và Triệu Trạch Độ cao trung bình của vùng cát ven biển từ 4-7 m
Địa hình bị chia cắt phức tạp đã gây không ít khó khăn, trở ngại cho phát triển cho giao thông, vấn đề giao lưu giữa các vùng còn nhiều hạn chế nhất là các vùng gò đồi và vùng cát
b Khí hậu
Triệu Phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 25,5oC Lượng mưa trung bình hàng năm 2300-2500mm cao hơn mức trung bình cả nước Tổng lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 Độ ẩm không khí độ ẩm không khí bình quân năm tương đối thấp (68-75%)
Triệu Phong được coi là vùng có khí hậu khá khắc nghiệt: Từ tháng 3 đến tháng 9 chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh thường gây nên hạn hán; từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa lớn nên thường xảy ra lũ lụt Có thể nói, đây là nơi hội tụ nhiều yếu tố bất lợi về thời tiết đã gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp, giao thông thủy lợi và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Trang 14Đặc điểm khí hậu cũng có tác động mạnh đến quá trình hình thành và tính chất đất đai trong vùng Đây là yếu tố làm giảm thiểu đáng kể độ màu mỡ và tầng dày của đất, hạn chế không nhỏ đến quá trình canh tác
c Thủy văn
Hệ thống sông ngòi: Trên địa bàn chủ yếu chỉ có hệ thống sông Thạch Hãn chảy qua, với tổng chiều dài 150 km, sông Thạch Hãn gồm các nhánh sông Hiếu, sông Vĩnh Phước, sông Vĩnh Định và sông Ái Tử Diện tích toàn bộ lưu vực khoảng 2.500 km2 Hệ thống sông Thạch Hãn có vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện như cung cấp phù sa, nước tưới và phát triển giao thông đường thủy
Nguồn nước ao hồ: Trên địa bàn có một số hồ đập quan trọng có ý nghĩa trữ nước phục vụ cho phát triển sản xuất và đời sống dân sinh đồng thời góp phần cải tạo môi trường như: Đập dâng Nam Thạch Hãn, đập ngăn mặn Việt Yên, hồ Triệu Thượng I, hồ Triệu Thượng II, đập dâng Bà Huyện
Nguồn nước ngầm: Khá phong phú, chất lượng khá tốt, riêng vùng ven biển nhiều nơi bị nhiễm mặn
d Địa chất – thổ nhưỡng
Triệu Phong nằm trên một nền địa chất có đủ 3 nhóm chính (macma, biến chất và trầm tích), qua quá trình phong hóa và bồi tụ đã hình thành nhiều loại đất với tính chất và tiềm năng khác nhau Có thể chia thành các vùng thỗ nhưỡng và địa hình như sau:
+ Tiểu vùng 1: Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, đất vàng nhạt trên
đá cát xen lẫn với đất phong hóa trên phù sa cổ, phần lớn nằm trên vùng đồi từ đường sắt Bắc-Nam đến hết địa giới phía Tây, thuộc các xã: Triệu Ái, Triệu Thượng và một phần thị trấn Ái Tử Đây là vùng đất phù hợp phát triển rừng và cây cao su
+ Tiểu vùng 2: Đất phù sa không được bồi hàng năm và phù sa glay, phân
bố tập trung ở đồng bằng gồm thị trấn Ái Tử và 11 xã: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đông, Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Phước, Triệu
Trang 15Trung, Triệu Tài, Triệu Giang Đây là loại đất đã thuần thục với cây lúa từ lâu đời
+ Tiểu vùng 3: Cồn cát trắng vàng và cát biển, tập trung ở các xã nằm phía đông sông Vĩnh Định thuộc các xã: Triệu Sơn, Triệu Trạch, Triệu Lăng, Triệu Vân, Triệu An
Sự đa dạng, phong phú về các loại hình đất đai, thỗ nhưỡng tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất Không chỉ đa dạng về thỗ nhưỡng mà địa chất công trình khá tốt là điều kiện cơ bản để tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo thuận lợi trong việc xây dựng các khu - cụm công nghiệp, khu đô thị, thị tứ, khu vui chơi giải trí là cơ sở làm thay đổi đáng kể bộ mặt của huyện trong những năm tới
e Sinh vật
Theo thống kê năm 2011, diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 16.549,79
ha, chiếm 41,3% diện tích đất tự nhiên Triệu Phong là một trong số huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất của tỉnh Quảng Trị Đáng chú ý là diện tích rừng trồng đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây (từ 13.278 ha năm 2007 lên 13.982 ha năm 2008) chủ yếu ở các xã: Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Sơn, Triệu An, Triệu Trạch, Triệu Vân, Triệu Lăng với các loại cây chủ yếu là thông, bạch đàn, keo lai Rừng tự nhiên, hiện nay đang được huyện đưa vào khoanh nuôi, bảo vệ phục hồi một cách tích cực
Triệu Phong có chiều dài bờ biển 18 km, chạy dọc theo 3 xã Triệu An, Triệu Vân và Triệu Lăng Vùng biển Quảng Trị nói chung và biển Triệu Lăng nói riêng là nơi trú ngụ của nhiều loại hải sản quý như: Các loại tôm, cua, cá hồng, cá mú, cá thu, cá nục, cá ngừ, mực ống, mực nang
Tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản của địa phương là khá lớn, với diện tích đất, mặt nước có khả năng sử dụng lên đến 5.640 ha, có thể nuôi được các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: tôm sú, tôm càng xanh, tôm he chân trắng, cua xanh và một số loại cá là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến
Trang 161.3.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân cư - lao động
Dân số huyện Triệu Phong có 94.851 người (tính đến 31/12/2011) Mật độ dân số trung bình 265 người/km2 Dân cư tập trung chủ yếu khu vực nông thôn chiếm 96,12% tổng dân số toàn huyện (93.956 người), khu vực thành thị chiếm 3,88% dân số huyện (3.647 người) Dân số phân bố không đều ở 19 xã, thị trấn (tập trung đông nhất ở xã Triệu Thành 1.332 người/km2 và thấp nhất là xã Triệu
Ái 42 người/km2)
Với số dân như trên cho thấy huyện Triệu Phong có nguồn nhân lực tương đối dồi dào đáp ứng nhu cầu lao động trên địa bàn huyện trong tương lai Người lao động lại có đức tính cần cù, chịu khó Đồng thời, nhờ chính sách phổ cập giáo dục, chính sách an sinh xã hội, đào tạo nghề, giải quyết việc làm được thực hiện tốt mà chất lượng lao động ngày càng được nâng cao có khả năng đáp ứng được nhu cầu trong thời kỳ mới
b Đặc điểm kinh tế
Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả tỉnh Quảng Trị và cả nước, kinh tế của huyện Triệu Phong đã và đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Trong hơn 10 năm phát triển, tổng giá trị gia tăng bình quân đã tăng dần 2,2 lần từ 165.694 tỷ đồng năm
2000 đã tăng lên 361.806 tỷ đồng vào năm 2011
Đặc biệt trong năm năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Đảng bộ và nhân dân toàn huyện đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều kết quả quan trọng Kinh tế có bước phát triển khá, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 10,3% Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 10,2 triệu đồng Trong cơ cấu kinh tế, ngành nông nghiệp chiếm 53,4%; công nghiệp 19,6%; dịch vụ 27,0%
Trang 17Bảng 1.1: Cơ cấu kinh tế huyện Triệu Phong năm 2005 và 2011
Đơn vị: %
Chỉ tiêu cơ cấu Năm 2005 Năm 2011
Nông – Lâm nghiệp – Thuỷ sản 50.7 45.8
Công nghiệp - TTCN - Xây dựng 17.5 19.6
Nguồn: Phòng thống kê huyện Triệu Phong, năm 2012
Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa của huyện chưa phát triển mạnh, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế lại tăng trưởng chưa vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động còn chậm, cơ sở vật chất hạ tầng nghèo nàn, khả năng thu hút vốn đầu tư bên ngoài bị hạn chế… là những thách thức lớn đối với huyện trong giai đoạn tới
c Đường lối chính sách
Trong những năm gần đây do khó khăn chung của suy thoái kinh tế Thế
giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển KT–XH của đất nước, tỉnh
và địa phương, trong đó đã tác động không nhỏ đến việc triển khai xây dựng
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu kinh tế huyện Triệu Phong
năm 2011
45.8%
19.6%
34.6%
Nông – Lâm - Ngư
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Dịch vụ
Trang 18CSHT của huyện do nguồn ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm bị cắt giảm đáng kể
Trước tình hình đó, huyện đã tập trung chỉ đạo vận động, thu hút các nguồn vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước để xây dựng các công trình phục vụ kinh tế dân sinh, công trình văn hóa lịch sử Đồng thời tích cực triển khai lồng ghép thực hiện các chương trình theo chủ trương của Đảng, Nhà nước như xây dựng nông thôn mới, xây dựng làng, đơn vị văn hóa, chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn…Nhờ đó, tổng giá trị đầu tư trên địa bàn huyện năm 2012 tăng 41% so với năm 2011
Nhìn chung, cơ chế chính sách đầu tư cũng có nhiều thay đổi theo hướng thông thoáng và cởi mở hơn, được sự quan tâm của UBND tỉnh Quảng Trị cùng với các Bộ, ngành Trung ương trong việc thực hiện các công trình đầu tư tại địa phương, đặc biệt là trong các lĩnh vực giao thông, thủy lợi
Tóm lại, từ thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện cho thấy những năm gần đây nền kinh tế của Triệu Phong tuy chuyển dịch chậm nhưng đã có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã được cải thiện đáng kể; các chương trình hỗ trợ của Đảng và Nhà nước đã thực sự đi vào cuộc sống làm thay đổi bộ mặt của cư dân nông thôn Vấn đề đặt ra là trong quá trình phát triển việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhất là đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp ngày càng nhiều và sẽ gia tăng trong những năm tới Từ nay đến năm 2020 việc khai thác sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, theo hướng khoa học, mang lại hiệu quả kinh tế cao là một yêu cầu bức thiết cần được xem xét nghiêm túc
Trang 19CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN TRIỆU
PHONG-TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1 Đặc điểm tài nguyên đất huyện Triệu Phong
Huyện Triệu Phong có diện tích tự nhiên 35.377,38 ha, chiếm 7,45% diện tích tự nhiên của tỉnh Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm và sự phân bố của mỗi
loại đất mà có thể chia ra 3 tiểu vùng:
- Tiểu vùng 1: Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất vàng nhạt trên đá cát xen lẫn đất phong hóa trên phù sa cổ Nhóm này có 17.689,32 ha, chiếm 50% diện tích tự nhiên, phần lớn nằm trên vùng đồi từ đường sắt Bắc-Nam đến hết địa giới phía Tây, thuộc các xã: Triệu Ái, Triệu Thượng và một phần thị trấn Ái Tử Đây là vùng đất phù hợp phát triển mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi và trồng cây cao su
- Tiểu vùng 2: Đất phù sa không được bồi hàng năm và phù sa glay, được hình thành do hệ thống sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định bồi đắp với 10.498
ha, chiếm 30% diện tích tự nhiên, chúng được phân bố ở 12 xã vùng đồng bằng bao gồm: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đông, Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Phước, Triệu Trạch, Triệu Sơn, Triệu Trung, Triệu Tài Đất
có thành phần cơ giới thịt nặng, ít chua, hàm lượng đạm, mùn trên tầng mặt ở mức trung bình khá Hướng sử dụng các loại đất này là trồng các cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai và các loại cây công nghiệp ngắn ngày
- Tiểu vùng 3: Cồn cát trắng vàng và cát biển, chủ yếu tập trung ở các xã ven biển như: Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng, Triệu Trạch, Triệu Sơn với 6.904 ha, chiếm 20% DTTN Hướng phát triển của vùng này là trồng rừng và trồng một số loại cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày như: rau, khoai, lạc, đỗ, vừng, dâu, tằm
Ngoài ra, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, đất đai huyện Triệu Phong được chia thành các nhóm đất chính sau:
- Nhóm cồn cát, bãi cát và đất cát ven biển – C (Arenosols – AR): Có diện tích 6.203 ha, chiếm 17.57% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, phân bố chủ yếu
ở các xã Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng Loại đất này chủ yếu trồng rừng
Trang 20phòng hộ, nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây rau, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày nơi thấp có thể trồng lúa Tuy nhiên đất cát biển có độ phì thấp, song nếu đầu tư cải tạo tốt vẫn cho năng suất cây trồng cao
- Nhóm đất mặn – M (Salic Fluvisols – FLs): Theo phân loại, nhóm đất mặn chủ yếu là đất mặn ít được phân bố ở xã Triệu Phước được sử dụng trồng lúa 1 vụ
- Nhóm đất phèn – Sj (Sali Orthi Thionic Fluvisols – FLt-o-s): Được phân
bố
ở cửa sông Thạch Hãn có diện tích 80ha, chiếm 0.23% diện tích tự nhiên Phần lớn diện tích này được sử dụng để trồng lúa nhưng năng suất thấp
- Nhóm đất phù sa – P (Fluvisols – FL): Nhóm đất phù sa có diện tích 5.215ha chiếm 14.77% tổng diện tích đất tự nhiên, phân bố ven sông Thạch Hãn
và các sông suối khác trong huyện Do đặc trưng của các con sông thường ngắn, dốc (bị chi phối bởi yếu tố địa hình) nên mức độ bồi đắp phù sa của các con sông rất khác nhau, không có những bãi phù sa lớn
- Đất đỏ vàng – AC (Acrisols): Loại đất này hình thành trên các sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu chất khác nhau Đặc điểm chung của nhóm đất này là chua, độ no bazo thấp, khả năng hấp thụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hòa tan dễ bị rửa trôi Nhóm đất này phân bố trên vùng gò đồi thuộc các xã Triệu Ái, Triệu Thượng, thích hợp cho trồng các loại cây ăn quả, trồng cây công nghiệp lâu năm
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ - D (Dystric Gleysols): Nhóm đất này chiếm diện tích nhỏ, phân bố ở hầu hết các xã trong huyện
- Đất xói mòn trơ sỏi đá – E (Dystric Leptosols): Diện tích 487.78ha, chiếm 1.38% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, tập trung ở các xã Triệu Ái, Triệu Thượng
Nhìn chung, có thể phân chia đất đai huyện Triệu Phong theo 3 tiểu vùng
và 7 loại đất chính với đặc điểm riêng về khí hậu, thuỷ văn và thổ nhưỡng thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Trong những năm gần đây, một số mô hình nông - lâm - thuỷ sản kết hợp đã được xây dựng và mang lại hiệu quả kinh
Trang 21tế khá cao Các mô hình này cần được nhân rộng để góp phần khai thác hợp lý
và hiệu quả tài nguyên đất Có thể nói rằng, Triệu Phong là địa phương có tiềm năng đất đai cho sự phát triển trong tương lai và đây cũng là một thế mạnh của huyện
2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Triệu Phong
Trong quá trình quản lý, khai thác sử dụng đất luôn có sự biến động do sự tác động khách quan cũng như các hoạt động chủ quan của con người, nó phản ánh đúng xu thế phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Theo số liệu thống kê đất đai năm 2000 huyện Triệu Phong có tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 35.286,66 ha và kết quả kiểm kê đất đai năm 2005 có tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 35.491,99 ha, so với năm 2000 tăng 205,33 ha
Đến năm 2011 tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 35.377,38 ha giảm so với kết quả kiểm kê đất đai năm 2005 là 114,61 ha, nguyên nhân do điều chỉnh một phần diện tích của xã Triệu Thượng chuyển sang để mở rộng địa giới hành chính thị xã Quảng Trị Trong đó, diện tích sử dụng các loại đất như sau:
Bảng 2.1: Hiện trạng sử đất huyện Triệu Phong năm 2011
Trang 22Nhìn chung, cơ cấu sử dụng đất của huyện đang chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và nhu cầu của nhân dân, đặc biệt chuyển đổi theo khuynh hướng chương trình xây dựng nông thôn mới Song diện tích đất nông nghiệp vẫn còn chiếm tỉ trọng quá cao, đất phi nông nghiệp lại chiếm tỉ trọng thấp Điều này phản ánh thực trạng nền kinh tế của huyện, nông nghiệp vẫn giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, công nghiệp-dịch vụ còn kém phát triển Đồng thời, cho thấy còn chậm đổi mới các chủ trương, chính sách cũng như công tác quản lý quy hoạch đất đai chưa phù hợp với quá trình CNH-HĐH đất nước
2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Triệu Phong là một huyện thuần nông nên ngành nông nghiệp thu hút đa
số người dân tham gia và đóng vai trò quan trọng trong thu nhập của họ Chính
vì vậy mà quỹ đất dành cho phát triển nông nghiệp cũng lớn nhất Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2011, tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 35.377,38 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 27.005,72 ha chiếm 76,34% diện tích đất tự nhiên Bình quân đất nông nghiệp đạt 12.172 m2/hộ
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện hiện trạng sử đất huyện Triệu Phong
Trang 23Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng một số loại đất nông nghiệp năm 2011
(ha)
Cơ cấu (%)
604.79 8.8
4225.04
16.9 0
Biểu đồ 3: Biểu đồ hiện trạng sử dụng
một số loại đất nông nghiệp năm 2011
Đất lúa nước Đất trồng cây lâu năm
Đất rừng phòng hộ Đất rừng sản xuất Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối Đất trồng cây hàng năm
Đất nông nghiệp khác
ha
Trang 24Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ ta thấy rằng diện tích đất nông nghiệp so với tổng diện tích tự nhiên của huyện là rất lớn và được sử dụng chủ yếu làm đất rừng, đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm Như vậy, trồng trọt chiếm vị trí trọng yếu trong sản xuất nông nghiệp Trong nội bộ đất nông nghiệp có sự phân chia khá hợp lý, đất rừng sản xuất và rừng phòng hộ chiếm tỉ trọng lớn nhất nhằm bảo vệ được cảnh quan sinh thái môi trường, chống thoái hóa đất, ngăn chặn lũ lụt, hạn hán, nạn cát bay, cát chạy đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Ngoài ra, đất trồng lúa và trồng cây hàng năm cũng chiếm tỉ trọng khá lớn để đáp ứng nhu cầu lương thực cho xã hội và cũng để sử dụng hợp
lý thế mạnh đất đai của huyện
a Đất trồng lúa:
Đất trồng lúa 5.214,82 ha, chiếm 14,74% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Diện tích đất chuyên trồng lúa của huyện phân bố rộng rãi khắp các xã nhưng tập trung nhiều ở các xã Triệu Phước, Triệu Độ, Triệu Trạch, Triệu Thuận, Triệu Đại, Triệu Hòa, Triệu Sơn, Triệu Long, Triệu Tài , bình quân diện tích đất trồng lúa trên hộ đạt 2.350 m2/hộ Như vậy, trong các loại cây lương thực thì cây lúa chiếm diện tích lớn nhất và được duy trì trồng trọt Trong những năm qua, người dân trong huyện đã rất quan tâm đến việc sử dụng các giống lúa mới để tăng năng suất, tăng cường đầu tư thâm canh, áp dụng có hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tăng sản lượng lúa cho toàn huyện
b Đất trồng cây hàng năm:
Ngoài cây lúa thì cây trồng hàng năm cũng có diện tích khá lớn, chiếm 11,94% đất tự nhiên của huyện, trong đó cây lương thực chiếm tỷ trọng cao, cây công nghiệp chiếm trọng lệ thấp hơn Với diện tích này, người dân đã mạnh dạn đầu tư trồng một số cây cho giá trị kinh tế cao như lạc, dưa hấu, ngô Song sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp kém phát triển, cần chuyển diện tích trồng cây hàng năm khác trên địa bàn đồi núi dốc (>150) sang trồng câu công nghiệp lâu năm, vườn rừng…
Trang 25c Đất trồng cây lâu năm:
Đất trồng cây lâu năm có diện tích rất nhỏ 385,58 ha, chiếm 1,09% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm 330,09 ha, đất trồng cây lâu năm khác 55,49 ha Diện tích cây lâu năm tập trung nhiều ở các xã phía Tây của huyện như xã Triệu Ái, xã Triệu Thượng Đây là những xã có địa hình gò đồi chiếm trên 50% diện tích tự nhiên toàn xã, dạng địa hình này rất thuận lợi cho phát triển trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cây cao su tiểu điền Hiện nay, toàn xã đã trồng được 263,36 ha, diện tích đưa vào khai thác
là 30 ha
Năm 2010, huyện Triệu Phong đã ban hành đề án phát triển cao su tiểu điền vùng gò đồi đến năm 2015 Với đề án này, huyện đã quyết tâm thực hiện chủ trương mở rộng diện tích cây cao su nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng phát triển bền vững, tận dụng được lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá nghèo cho nông dân
Mặc dù huyện đã áp dụng nhiều biện pháp như đầu tư về khoa học kĩ thuật, các chương trình hỗ trợ về giống, phân bón thông qua các dự án nhưng giá trị sản xuất còn hạn chế Do đó trong những năm tới cần đầu tư cải tạo xây dựng thành các vùng thâm canh, chuyên canh các loại cây có giá trị kinh tế cao
d Đất rừng phòng hộ:
Địa bàn huyện Triệu Phong có dãi cồn cát ven biển kéo dài từ xã Triệu An đến xã Triệu Lăng nên vấn đề trồng rừng phòng hộ chống nạn cát bay, cát nhảy rất được quan tâm Ngoài ra, diện tích rừng tự nhiên phòng hộ ở các vùng đồi cũng được khoanh nuôi, bảo vệ nghiêm ngặt Đất rừng phòng hộ có 3.874,32 ha, chiếm 10,95% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, gồm đất có rừng trồng phòng hộ 1.902,70 ha, đất có rừng tự nhiên phòng hộ 1.097,62 ha, còn lại là đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 54,70 ha Phân bố chủ yếu ở các xã Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Lăng, Triệu Sơn, Triệu Ái và xã Triệu Thượng Ở đây các loại cây chủ yếu là thông, bạch đàn, keo lai Đây là vùng nguyên liệu lớn cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, nhựa thông phát triển trong thời gian tới
Trang 26e Đất rừng sản xuất:
Đất rừng sản xuất 12.675,47 ha, chiếm 35,83% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, phân bố chủ yếu ở các xã Triệu Vân, xã Triệu Ái và xã Triệu Thượng Việc rà soát, quy hoạch và quản lý đất rừng bước đầu được chú trọng Trồng rừng đã trở thành một ngành kinh tế mang lại hiệu quả khá cao Nhiều hộ nông dân đã sinh sống ổn định và giàu lên từ rừng Công tác tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được đẩy mạnh Tuy nhiên, diện tích này đang ngày càng bị suy giảm do phải chu chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác
f Đất nuôi trồng thuỷ sản:
Thực hiện mục tiêu đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong những năm qua huyện Triệu Phong đã chú trọng phát triển mạnh diện tích nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, mang hiệu quả kinh tế cao Đất nuôi trồng thuỷ sản 604,79 ha, chiếm 1,71% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, gồm: đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn 457,14 ha, đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt 147,65
ha Diện tích thuỷ sản tập trung nhiều ở các xã Triệu An, Triệu Phước, Triệu Lăng Đây là một tiềm năng lợi thế khá lớn để huyện triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân Thực tế trong những năm qua cho thấy các xã vùng cát ven biển đã đẩy mạnh khai thác đưa vào nuôi trồng, chủ yếu là nuôi tôm sú, tôm chân trắng, tôm he tuy nhiên do thiếu sự quy hoạch, phong trào nuôi tôm còn mang tính tự phát nên hiệu quả mang lại thiếu tính bền vững
g Đất làm muối:
Đất làm muối có 8,8 ha, nằm toàn bộ trên địa bàn xã Triệu An, chiếm 0,02% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, các diêm dân phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm, cơ sở vật chất phục vụ sản xuất muối bắt đầu xuống cấp, với công nghệ sản xuất truyền thống, không đủ sức cạnh tranh với các loại muối hiện có trên thị trường Đầu ra không ổn định,
để đảm bảo cuộc sống, các lao động trẻ đành bỏ nghề đi tìm công việc khác Vì
Trang 27vậy, so với trước đây thì diện tích muối giảm đi rất nhiều và chỉ còn chiếm một diện tích rất nhỏ trên toàn bộ diện tích tự nhiên của huyện
Như vậy, tính đến năm 2011 diện tích nông nghiệp trên toàn huyện đã sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai vào sản xuất Bên cạnh đó người dân còn chú trọng đầu tư nông nghiệp phát triển theo chiều sâu đem lại năng suất, sản lượng cao hơn và để sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên đất, dành một phần đất nông nghiệp chuyển đổi sang các loại đất khác
Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn 2005-2011 tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện có nhiều biến động để đáp ứng nhu cầu đổi mới kinh
tế huyện nhà và nâng cao đời sống nhân dân Thời kỳ 2005 - 2011, diện tích đất nông nghiệp của huyện Triệu Phong tăng 4.225,67 ha, trung bình mỗi năm tăng khoảng 704,28 ha Diện tích đất nông nghiệp tăng chủ yếu do khai thác đất chưa
sử dụng đưa vào sử dụng cho các mục đích trồng cây lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.3: Biến động diện tích đất nông nghiệp thời kỳ 2005 – 2011
Trang 28Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy từ năm 2005 - 2011 diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng 864,24 ha, chủ yếu là tăng diện tích trồng cây hàng năm, đất rừng sản xuất và đất nuôi trồng thủy sản
Những năm qua do thực hiện tốt chủ trương chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp phù hợp, nên nội bộ đất nông nghiệp chu chuyển một phần cho nhau, một
số diện tích đất lúa sản xuất kém hiệu quả đã chuyển sang trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản…Ngoài ra, huyện còn đưa diện tích đất vườn tạp được cải tạo để vào trồng các loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao
Nhìn chung diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng dần theo từng năm, song trong những năm gần đây đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm nhẹ chủ yếu là cho các mục đích khác như xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, đất ở Theo dự báo cho thấy, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới vẫn có xu hướng giảm, tập trung ở các khu công nghiệp, đô thị, thuỷ lợi, giao thông
Còn đối với diện tích đất lâm nghiệp, theo thống kê đất đai năm 2011 của ngành Tài nguyên và Môi trường, của huyện có 16.549,79 ha tăng 2980,87 ha so với năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 496,81 ha, trong đó:
+ Đất rừng sản xuất tăng 3111,49 ha
Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp khác của huyện tăng 16,90 ha, ở các
xã Triệu Hòa, Triệu Ái và xã Triệu Giang
Như vậy, phần lớn diện tích đất đai của huyện đã được đưa vào khai thác,
sử dụng phục vụ đời sống của người dân Sản xuất nông - lâm nghiệp từng bước
Trang 29đã có những chính sách hợp lý để khuyến khích việc khai hoang cải tạo đất chưa
sử dụng để mở rộng diện tích đất nông nghiệp; phủ xanh đất trống đồi núi trọc; bảo vệ và phát triển rừng nên diện tích đất nông nghiệp đã tăng lên đáng kể; môi trường sinh thái từng bước được cải thiện
Thực hiện giao đất nông nghiệp ổn định cùng với các chính sách đẩy mạnh sản xuất hàng hoá đã làm cho nông dân năng động hơn, bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển nhiều vườn cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tăng đáng kể Giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác toàn huyện năm 2011 đạt 45,38 triệu đồng Phát triển nuôi trồng thuỷ sản đã tạo ra hiệu quả cao trong sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời
đã hạn chế được việc chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng cũng như chất lượng đất và môi trường đất nông nghiệp của huyện đã và đang bị đe dọa, tổn thương do nhiều nguyên nhân khác nhau Cơ cấu sử dụng đất vẫn còn nhiều tồn đọng gây khó khăn trong việc quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Đất nông nghiệp vẫn còn chiếm tỉ lệ cao trong diện tích đất tự nhiên chưa phù hợp với xu thế phát triển kinh tế-xã hội
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp
Trong những năm qua, việc bố trí quỹ đất đáp ứng nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, chỉnh trang và xây dựng mới các khu dân cư nông thôn, đã tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng bình quân 10,3% năm Thu nhập bình quân đầu người đạt 10,2 triệu đồng thời kỳ năm 2005 - 2011 Đồng thời tạo điều kiện cho người dân định cư ổn định và điều kiện sống được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, số hộ nghèo giảm khá nhanh qua từng năm
Tính đến năm 2011, đất phi nông nghiệp có diện tích là 6.468,56 ha, chiếm 18,28% diện tích đất tự nhiên Việc sử dụng đất phi nông nghiệp nhìn chung có hiệu quả và tiết kiệm
Trang 30Bảng 2.4: Hiện trạng sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp năm 2011
(ha)
Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 35.377,38 100,00
Đất xây dựng trụ sở cơ quan, CTSN CTS 10,15 0,03
Đất sản xuất vật liệu xây dựng gốm sứ SKX 7,20 0,02 Đất xử lý, chon lấp chất thải nguy hại DRH 2,23 0,006
Nguồn: Phòng Tài Nguyên & Môi Trường huyện Triệu Phong, năm 2012
Biểu đồ 4: Biểu đồ hiện trạng sử dụng
một số loại đất phi nông nghiệp năm 2011
Đất ở Đất XD cơ quan Đât quốc phòng Đất an ninh Đất KCN Đất SX kinh doanh Đất VLXD Đất xử lý chất thải
Đất tôn giáo, tín ngưỡng
Đất nghĩa trang Đất mặt nước chuyên dùng Đất hạ tầng Đất phi nông nghiệp khác
ha
Trang 31Qua bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ cho thấy trong diện tích đất phi nông nghiệp thì đất mặt nước chuyên dùng, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, đất nghĩa trang và đất ở chiếm hơn 90% Tong những năm qua, cùng với việc vận động nguồn lực đầu tư, huyện đã tập trung chỉ đạo có hiệu quả việc triển khai xây dựng các công trình trên địa bàn, đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ kế hoạch đề nhằm tạo bộ mặt nông thôn và đô thị của huyện ngày càng phát triển, giải quyết việc làm cho nhân dân
Diện tích các loại đất phi nông nghiệp của huyện như sau:
a Đất ở: Diện tích đất ở của huyện năm 2011 là 501,87 ha, chiếm 1,42%
diện tích đất tự nhiên Trong 501,87 ha đất ở thì phần lớn diện tích này tập trung
ở khu vực nông thôn Điều này ta dễ dàng giải thích được bởi Triệu Phong là một huyện thuần nông, kinh tế còn kém phát triển, quá trình đô thị hóa diễn ra còn chậm Với tình hình gia tăng dân số như hiện nay nhu cầu đất ở sẻ tăng trong những năm tới, nhất là đất ở đô thị sẻ tăng nhanh so với giai đoạn trước
b Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: Quỹ đất dành
cho trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp bị thu hẹp do bị lấn chiếm để sử dụng vào các mục đích khác Mặt khác, vấn đề quản lý, chuyển đổi mục đích sử dụng đất của các cấp, các ngành chưa được quan tâm đúng mức và nhiều khi còn sai quy định Hiện nay, diện tích đất này chỉ có 10,15 ha, chiếm 0,03% diện tích đất
tự nhiên và chiếm 0,16% diện tích đất phi nông nghiệp Bao gồm đất trụ sở các cơ quan sở, ban, ngành và các tổ chức chính trị, xã hội, các công trình sự nghiệp của cấp huyện, xã Nhìn chung đất này còn thiếu nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện và cần tiếp tục mở rộng thêm
c Đất quốc phòng: Đất quốc phòng 23,99 ha, chiếm 0,07% diện tích đất
tự nhiên và chiếm 0,37% diện tích đất phi nông nghiệp
d Đất an ninh: Đất an ninh có diện tích 0,66 ha chiếm một diện tích rất
nhỏ trong diện tích đất phi nông nghiệp (0,001%)
Là địa bàn có vị trí tiếp giáp với cả thị xã Quảng Trị và thành phố Đông
Hà lại có đường bờ biển kéo dài nên vấn đề an ninh-quốc phòng của huyện luôn được quan tâm xây dựng Tuy nhiên, ngoài đầu tư về nhân lực thì vấn đề dành
Trang 32quỹ đất cho xây dựng các trụ sở công an, đồn biên phòng còn hạn chế và cần đẩy mạnh đầu tư hơn nữa nhằm đảm bảo tốt an ninh trật tự trên địa bàn huyện
e Đất khu công nghiệp: Đất khu công nghiệp 7,40 ha, chiếm 0,02% diện
tích đất tự nhiên và chiếm 0,11% diện tích đất phi nông nghiệp Điều kiện kinh
tế - xã hội của huyện còn khó khăn, cơ sở vật chất hạ tầng yếu kém chưa thu hút được sự đầu từ của các doanh nghiệp nên nhìn chung công nghiệp của huyện còn kém phát triển Do đó, so với tình hình phát triển hiện tại thì diện tích này chỉ
chiếm một phần rất nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu
f Đất cơ sở sản xuất kinh doanh: Trong điều kiện kinh tế ngày càng
phát triển và đồng hành cùng xu thế phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Trị thì huyện Triệu Phong cần dành một quỹ đất đáng kể để sản xuất kinh doanh Tính đến nay, đất sản xuất kinh doanh chỉ có 32,60 ha chiếm 0,09% tổng diện tích tự nhiên và 0,50% diện tích đất phi nông nghiệp Để thực hiện quá trình CNH_ HĐH theo chủ trương của nhà nước và chính sách xây dựng nông thôn mới huyện Triệu Phong cần thúc đẩy ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển Vì vậy, muốn mở rộng quy mô kinh doanh buôn bán cho các thương nghiệp, cũng như tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các hộ phát triển ngành thương mại-dịch vụ cần thực hiện chính sách miễn giảm phí thuê mặt bằng, tăng cường đầu tư vốn xây dựng, tăng diện tích đất cơ sở sản xuất kinh doanh
g Đất làm nguyên vật liệu xây dựng, gốm sứ: Đất làm nguyên vật liệu
xây dựng, gốm sứ 7,20 ha chiếm 0,02% tổng diện tích tự nhiên và 0,11% diện tích đất phi nông nghiệp Với diện tích này chưa đủ để quy hoạch các khu vực làm gạch gói, vật liệu xây dựng ở một số xã có tiềm năng như xã Triệu Thượng, Triệu Thuận
h Đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại: Chỉ có diện tích là 2,23 ha,
chiếm một diện tích không đáng kể so với diện tích đất tự nhiên toàn huyện (0,006%) và chiếm 0,03% diện tích đất phi nông nghiệp Với mức độ phát triển kinh tế - xã hội của huyện như hiện nay diện tích đất này quá ít, dẫn đến việc môi trường bị ô nhiễm, các chất thải không được xử lý là nguồn gây bệnh rất lớn
Trang 33cho người dân Do đó trong phương án quy hoạch cần phải mở rộng thêm nhiều bãi thu gom, tập trung và xử lý chất thải hơn nữa
i Đất tôn giáo, tín ngưỡng: Có diện tích là 126.26 ha, chiếm 0,36% diện
tích đất tự nhiên và chiếm 1,95% diện tích đất phi nông nghiệp
j Đất nghĩa trang, nghĩa địa: Đất nghĩa trang, nghĩa địa có diện tích
1.085,94 ha, chiếm 3,07% diện tích tự nhiên và chiếm 16,79% diện tích đất phi nông nghiệp, trong quy hoạch sử dụng đất cần bố trí mở rộng thêm đất nghĩa địa trên địa bàn toàn huyện
k Đất có mặt nước chuyên dùng: Có diện tích là 2.591,57 ha, chiếm
7,33% diện tích tự nhiên Đây là loại đất có diện tích lớn nhất, chủ yếu là các hồ thủy lợi, kênh mương, hồ phục vụ nước tưới nông nghiệp kết hợp nuôi trồng thủy sản
l Đất cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng có thể được hiểu là hệ thống giao
thông vận tải; Hệ thống liên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, nước, v.v… Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm bảo các quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đất nước… Chính vì tầm quan trọng như vậy, nên các quốc gia phát triển đã ngay từ đầu ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại trong một thời gian ngắn 20-30 năm, tạo ra những tiền đề cho sự bứt phá phát triển
Trên địa bàn huyện Triệu Phong đất dành cho phát triển cơ sở hạ tầng có diện tích là 2.089,99 ha chiếm 5,85% tổng diện tích tự nhiên Tuy nhiên, diện tích này còn quá ít so với nhu cầu thực tế cộng với chất lượng các công trình còn thấp gây khó khăn, cản trở tố độ tăng trưởng của các ngành kinh tế cũng như ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người dân
+ Đất giao thông: có 1.274,49 ha, chiếm 3,60% diện tích tự nhiên và chiếm 19,70% diện tích đất phi nông nghiệp Mạng lưới đường giao thông của huyện tương đối hoàn chỉnh đang ngày càng phục vụ đắc lực cho việc sản xuất
và đời sống của nhân dân trong huyện Đến nay cơ bản đã có đường ô tô đến