LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nộiphục vụ phương thức đào tạo theo t
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI NÓI ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Phương pháp nghiên cứu 7
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Bố cục khoá luận 8
CHƯƠNG 1 TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VỚI PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 9
1 1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm 9
1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của Trung tâm 10
1.2.1 Chức năng 10
1.2.2 Nhiệm vụ 10
1.2.3 Cơ cấu tổ chức 12
1.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị 14
1.3 Phương thức đào tạo tín chỉ với hoạt động thông tin – thư viện của Trung tâm 15
CHƯƠNG 2 NHỮNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ CỦA TRUNG TÂM PHỤC VỤ PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 18
2.1 Nguồn thông tin và hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm 18
2.2.Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm trong Đại học Quốc gia Hà Nội 20
Trang 22.3 Sản phẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm với phương thức
phục vụ đào tạo tín chỉ 23
2.3.1 Sản phẩm thông tin – thư viện tại Trung tâm 23
2.3.2 Dịch vụ thông tin – thư viện 38
2.4 Đánh giá chung 48
2.4.1 Ưu điểm 48
2.4.2 Nhược điểm 49
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN CỦA TRUNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI 52
3.1 Phát triển nguồn tin và nguồn lực thông tin 52
3.2 Phát triển hoàn thiện các sản phẩm thông tin – thư viện 52
3.2.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm hiện có 52
3.2.2 Tổ chức xây dựng các sản phẩm mới có gía trị thông tin cao .53 3.3 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện 56
3.3.1 Nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có 56
3.3.2 Phát triển các dịch vụ thông tin – thư viện mới 58
3.4 Nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thông tin – thư viện 59
3.5 Phát triển và hoàn thiện hạ tầng cơ sở thông tin 62
3.6 Đào tạo đội ngũ người dùng tin sử dụng sản phẩm và dịch vụ thông tin………63
3.7 Hợp tác, chia sẻ nguồn lực thông tin trong và ngoài nước 65
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 3Bảng thống kê các từ và thuật ngữ viết tắt
AACR2: Anglo – American Cataloging Rules (Các quy tắc biên mụcAnh – Mỹ)
CDS/ISIS: Computerized Documentation System/Intergrated Set ofInformation System
KHXH&NV: Khoa học Xã hội và Nhân văn
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
Liên hiệp: Liên hiệp Thư viện đại học phía Bắc
MaRC: Machine Readable Cataloging (Mục lục đọc máy)
NCKH: Nghiên cứu khoa học
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu các sản phẩm và dịch
vụ thông tin tại Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nộiphục vụ phương thức đào tạo theo tín chỉ” là công trình nghiên cứu của riêngtôi và không trùng với đề tài các khóa luận tốt nghiệp trước
Bản khóa luận được thực hiện sau quá trình học tập tại lớp K50, khóahọc 2005 – 2009, Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, dưới sự hướng dẫn của Th.S.Trần Hữu Huỳnh Những kiếnthức thu được trong học tập, sự chỉ dẫn của thầy hướng dẫn cùng sự hỗ trợ vềthông tin – tư liệu của các cán bộ công tác tại Trung tâm Thông tin – Thư việnĐại học Quốc gia Hà Nội nơi tôi thực tập đã giúp tôi hoàn thành bản khóaluận này
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến toàn thể các thầygiáo, cô giáo trong khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, đặc biệt là Th.S.Trần Hữu Huỳnh đã hết lòng truyền đạtnhững kiến thức và tri thức cho tôi và toàn thể sinh viên K50 hoàn thành khóahọc và viết khóa luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban Giám đốc cùng các cán bộ công táctại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đã cung cấpcho tôi những tài liệu và thông tin hết sức cần thiết và quý báu; đã góp ý,nhận xét và trao đổi với tôi về nội dung của bản khóa luận
Với thời gian nghiên cứu và sự hiểu biết còn có hạn, trong khi vấn đềnghiên cứu lại rộng lớn, tôi tin rằng những nội dung được trình bày trongkhóa luận này không tránh khỏi sự khiếm khuyết Kính mong các thầy cô giáochỉ dẫn, góp ý để bản khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trang 5Nguyễn Thị Thu Phượng
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã làm thay đổisâu sắc toàn bộ các quá trình thông tin, tạo nên những sản phẩm và dịch vụthông tin thích hợp giúp cho con người ở mọi lúc, mọi nơi có thể dễ dàng truynhập khai thác thông tin Những sản phẩm và dịch vụ thông tin có vai tròngày càng quan trọng đối với mọi lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó
có giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội là một trongnhững đơn vị luôn đi đầu trong công tác phát triển các sản phẩm và dịch vụthông tin của mình nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Do đặc thù củaTrung tâm có đối tượng người dùng tin chủ yếu là giảng viên và sinh viên, dovậy các sản phẩm và dịch vụ của Trung tâm đều gắn liền với công tác giáodục đào tạo và nghiên cứu khoa học
Hiện nay, đào tạo theo hình thức tín chỉ đã cho thấy nhiều điểm ưu việthơn so với hình thức đào tạo theo niên chế Do vậy, đào tạo theo tín chỉ đã trởthành một xu hướng chung trên thế giới cũng như ở các trường đại học ViệtNam Hiện nay các trường thành viên trong Đại học Quốc gia Hà Nội đangđổi mới phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Trước tình hình đó, Trungtâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội cũng có những biện phápđổi mới hệ thống sản phẩm và dịch vụ của mình để phục vụ tốt công tác đàotạo theo tín chỉ Tuy vậy đến nay, vấn đề khảo sát và nghiên cứu hệ thống sảnphẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm phục vụ đào tạo theo phương thứctín chỉ vẫn chưa được thực hiện Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu” Tìmhiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại
Trang 6học Quốc gia Hà Nội phục vụ phương thức đào tạo theo tín chỉ” làm khoáluận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu có hệ thống các sản phẩm và dịch vụthông tin của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội(gọi tắt là Trung tâm) phục vụ đào tạo theo phương thức tín chỉ, sẽ giúpnhững người làm công tác thông tin có một cái nhìn khách quan, đúngmức hơn về vai trò và vị trí của một trung tâm thông tin – thư viện đạihọc, xác định được mức độ đóng góp của trung tâm vào quá trình pháttriển của kinh tế - xã hội nói chung và của sự nghiệp giáo dục đào tạo
và nghiên cứu khoa học nói riêng Qua đó đưa sản phẩm và dịch vụthông tin của Trung tâm có chất lượng và phát triển hơn đáp ứng yêucầu ngày càng cao của người dùng tin
Như vậy, mục đích là khảo sát hệ thống các sản phẩm và dịch vụthông tin của Trung tâm phục vụ đào tạo theo phương thức tín chỉ, đồngthời đề xuất các biện pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng các sảnphẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Tôi hy vọngmang tới một cách nhìn về các hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tincủa Trung tâm phục vụ đào tạo theo phương thức tín chỉ
3 Phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập thông tin qua cácvăn bản pháp quy, các giáo trình, tài liệu về sản phẩm và dịch vụ thôngtin và phương thức đào tạo theo tín chỉ trong đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 7- Phương pháp quan sát và phỏng vấn: Tìm hiểu thông tin quacác cán bộ làm công tác thông tin – thư viện; người dùng tin; các ấnphẩm, xuất bản phẩm, danh mục, trang web của Trung tâm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại họcQuốc gia Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Các sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Trung tâmThông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội phục vụ đào tạo theo phươngthức tín chỉ
Chương 2 Những sản phẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm phục
vụ phương thức đào tạo theo tín chỉ.
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm trong thời gian tới.
Trang 8CHƯƠNG 1.
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VỚI PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ
1 1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm.
Trung tâm Thông tin -Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội tên gọi tiếng Anh: Library and Information Center Vietnam NationalUniversity, Hanoi Tên giao dịch viết tắt: LIC Trung tâm Thông tin - Thưviện ĐHQGHN được thành lập theo quyết định số 66/TCCB ngày 14 tháng 2năm 1997 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở hợp nhất các thưviện của các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm làmột đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, có tư cách phápnhân, có con dấu và tài khoản riêng Địa chỉ: C1, 144 Đường Xuân Thuỷ,quận Cầu Giấy, Hà Nội
Mục tiêu, nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất mà Trung tâm được giaophó là: tổ chức, quản lý và cung cấp tin, tài liệu phục vụ tối đa nhu cầu thôngtin - thư viện của đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên, học sinh trong toànĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm 1999, sau khi tiếp nhận khu nhà 7 tầng tại Cầu Giấy làm trụ sởchính, Trung tâm đã nhanh chóng thiết lập hệ thống các phòng phục vụ bạnđọc đặt tại các khu làm việc, học tập và ký túc xá của Đại học Quốc gia HàNội Do nắm bắt được chủ trương, kế hoạch phát triển và những nhiệm vụchính của Đại học Quốc gia Hà Nội cũng như nhận thức về xu thế phát triểncủa ngành thông tin - thư viện trong nước và trên thế giới, con đường pháttriển của Trung tâm đã được định hướng đúng đắn Đó là: một mặt củng cố,
Trang 9hoàn thiện các phương pháp xử lý nghiệp vụ và phục vụ truyền thống; mặtkhác từng bước áp dụng công nghệ thông tin đưa Trung tâm trở thành một cơquan thông tin - thư viện đại học hiện đại, nhằm thoả mãn tối đa nhu cầuthông tin phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của thầy và tròĐại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm luôn chú trọng đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn độingũ cán bộ, là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng năm trong mụctiêu, chiến lược phát triển lâu dài Qua các khoá đào tạo, cán bộ nhân viênTrung tâm đã đạt được những kết quả đáng kể: kiến thức chuyên ngành vềthông tin- thư viện được nâng cao; kỹ năng, tay nghề được rèn luyện và củngcố; tiếp cận và áp dụng khá thành thạo những quy trình, nguyên tắc, phươngpháp mới đạt chuẩn về thông tin- thư viện và tin học hoá trong các khâunghiệp vụ và phục vụ bạn đọc
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của Trung tâm
- Xây dựng kế hoạch ngắn hạn và chiến lược phát triển; tổ chức và điềuphối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong ĐHQGHN
Trang 10- Thu thập, bổ sung - trao đổi, phân tích - xử lí tài liệu và tin Tổ chứcsắp xếp, lưu trữ, bảo quản kho tư liệu ĐHQGHN bao gồm tất cả các loại hình
ấn phẩm và vật mang tin
- Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin thích hợp; thiết lập mạng lưới truynhập và tìm kiếm thông tin tự động hoá; tổ chức cho toàn thể bạn đọc trongĐHQGHN khai thác, sử dụng thuận lợi và có hiệu quả kho tin và tài liệu củaTrung tâm và các nguồn tin bên ngoài
- Thu nhận lưu chiểu những xuất bản phẩm do ĐHQGHN xuất bản,các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ bảo vệ tại ĐHQGHN hoặc người viết làcán bộ, sinh viên ĐHQGHN; Những báo cáo tổng kết của các đề tài nghiêncứu cấp ĐHQGHN và cấp Nhà nước đã được nghiệm thu đánh giá do các đơn
vị thuộc ĐHQGHN chủ trì hoặc do cán bộ ĐHQGHN thực hiện Xây dựngcác cơ sở dữ liệu đặc thù của ĐHQGHN, xuất bản các ấn phẩm thông tin tómtắt, thông tin chuyên đề phục vụ công tác quản lí, nghiên cứu khoa học và đàotạo
- Nghiên cứu khoa học thông tin, tư liệu, thư viện, góp phần xây dựng
lý luận khoa học chuyên ngành ứng dụng những thành tựu khoa học và kỹthuật mới vào xử lí và phục vụ thông tin, thư viện
- Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ tổ chức, xử lí,cung cấp tin và tài liệu của đội ngũ cán bộ thông tin, tư liệu, thư viện Trang
bị kiến thức về hình thức cấu trúc cung cấp tin, về phương pháp tra cứu, tìmkiếm tin và sử dụng thư viện cho cán bộ và sinh viên ĐHQGHN
- Phát triển quan hệ trao đổi, hợp tác trực tiếp với các trung tâmthông tin, thư viện, các tổ chức khoa học, các trường đại học trong và ngoàinước Tham gia tổ chức và điều hành Liên hiệp thư viện các trường đại học vàHiệp hội Thông tin - Thư viện Việt nam Tham gia các hiệp hội thư viện quốc
Trang 11tế Làm đầu mối nối mạng hệ thống thông tin - thư viện ĐHQGHN và ngànhđại học vào mạng quốc gia, khu vực và thế giới
- Tổ chức và quản lí đội ngũ cán bộ, kho tài liệu, cơ sở hạ tầng và cáctài sản khác của Trung tâm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao theoquy định của ĐHQGHN
1.2.3 Cơ cấu tổ chức
Trung tâm được tổ chức theo quyết định số 947/TCCB của Giám đốcĐại học Quốc Gia Hà Nội (ĐHQGHN) ngày 21/04/1998 với sơ đồ tổ chứcnhư sau:
Trang 12Sơ đồ tổ chức của Trung tâm Thông tin-Th viện ĐHQG Hà Nội
XHNV
P.PV ĐHKH KHTN
P.PV Cầu giấy
Phũng tài
vụ
Phũng Hành chớnh-
Tổng hợp
Phũng
Bổ sung- Trao đối
Phũng Phõn loại- Biờn mục
Phũng Thụng tin Thư mục
Phũng tra cứu Online
Phũng đọc chủ đề
Phũng CSDL hồi cố
Phũng mượn
Phũng đọc truyền thống
Phũng đọc TL đặc biệt
Phũng đọc kho mở
Phũng bảo quản
Phũng đọc Multimedia
Phũng truy cập internet, intranet
NGƯỜI
DÙNG
TIN
Phũng mỏy tớnh &
mạng
Hội đồng khoa học
Trang 131.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị
Cơ sở vật chất trang thiết bị là một trong những điều kiện quan trọngtác động trực tiếp đến mọi hoạt động của cơ quan thông tin Hiện nay Trungtâm đã có phòng đọc khang trang, thoáng mát với hệ thống điều hòa hoạtđộng liên tục, có đủ khả năng phục vụ cho bạn đọc trong các ngày làm việc.Đây không chỉ là môi trường thuận lợi cho việc bảo quản nguồn lực thông tin,trang thiết bị, nơi làm việc của cán bộ mà còn là nơi khai thác thông tin lýtưởng cho mọi đối tượng người dùng tin
Hầu hết cán bộ ở Trung tâm đã được trang bị máy tính để phục vụ côngviệc, đây là một thuận lợi mà không phải cơ quan thông tin nào cũng có được.Ngoài ra để phục vụ nhu cầu sao chụp tài liệu cho người dùng tin cũng như tàiliệu để lưu trữ, Trung tâm đã trang bị máy photocopy và các phương tiệntruyền tin khác như điện thoại, fax,…
Trung tâm hiện có đội ngũ cán bộ gồm 130 người, trong đó có 01 tiến
sĩ, 09 thạc sĩ, 83 cử nhân, 37 cao đẳng và trung cấp Đội ngũ cán bộ củaTrung tâm được phân bổ như sau:
Để đội ngũ cán bộ có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cơ chế thịtrường, Trung tâm đã thực hiện việc đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ cả ở trong
và ngoài nước Các cán bộ của Trung tâm sau khi được tập huấn phần lớn đều
Trang 14đã có đủ kiến thức và năng lực thực tiễn đưa hoạt động thông tin-thư viện củaTrung tâm tiếp tục phát triển, hội nhập với quốc tế và khu vực.
1.3 Phương thức đào tạo tín chỉ với hoạt động thông tin – thư viện của Trung tâm.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, lần đầu tiên được tổ chức tại trường đạihọc Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thếgiới Đây là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xemngười học là trung tâm của quá trình đào tạo” Theo đánh giá của Tổ chứcngân hàng thế giới (World Bank), thì đào tạo theo hệ thống tín chỉ, không chỉ
có hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nướcđang phát triển Trong “Chương trình hành động của chính phủ” thực hiệnnghị quyết số 37/2004/QH 11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáodục đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học, caođẳng, trung học chuyên nghiệp …” Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Namgiai đoạn 2006 -2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định:
“… Xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục đại học ở nước ta vàvạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục đại học chuyển sang đàotạo theo học chế tín chỉ…” Cho đến nay, cả nước đã có hơn 20 trường trongtoàn quốc chuyển đổi sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ với lộ trình và bước
đi hợp lý Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng tri thức, kỹ năng củamột môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhấtđịnh thông qua các hình thức:
Trang 15Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong mộtthời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn Hình thức đàotạo theo học chế tín chỉ là hình thức đào tạo cho các sinh viên đạt được vănbằng đại học qua việc tích lũy các loại kiến thức giáo dục khác nhau được đobằng một đơn vị xác định căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bìnhcủa một sinh viên.
Theo hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, vai trò của người học đượcphát huy tích cực tối đa dựa trên sự trợ giúp của người giáo viên và ảnhhưởng của môi trường xung quanh chi phối
Trong đào tạo theo học phần – niên chế, sinh viên phải học theo tất cảnhững gì nhà trường sắp đặt, không phân biệt sinh viên có điều kiện, năng lựctốt, hay sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, năng lực yếu Ngược lại, đào tạotheo hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện
và năng lực của mình Những sinh viên giỏi có thể học theo đúng hoặc họcvượt kế hoạch học tập toàn khóa, kế hoạch học tập từng học kỳ theo gợi ý củanhà trường, để tốt nghiệp theo đúng thời gian chuẩn của chương trình hoặcsớm hơn Những sinh viên bình thường và yếu có thể kéo dài thời gian họctập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn Vì thế, sinh viên phải tự lập kếhoạch học tập toàn khóa và từng học kỳ cho phù hợp với năng lực và điềukiện cụ thể của bản thân dưới sự giúp đỡ của cố vấn học tập
Toàn bộ hệ thống quản lý đào tạo, quản lý sinh viên vì thế phải vậnhành theo yêu cầu riêng của từng sinh viên làm cho quá trình quản lý trở nênhết sức phức tạp so với đào tạo theo học phần - niên chế Chương trình đàotạo của tất cả các ngành đều phải cấu trúc lại theo hướng mô đun hóa thànhnhững học phần; Lịch trình giảng dạy phải thực hiện hết sức chính xác, khôngđược đổi giờ hoặc bỏ giờ; mỗi giảng viên, mỗi sinh viên đều có thời khóabiểu riêng, không theo một quy luật Đào tạo theo tín chỉ còn đòi hòi cả
Trang 16người dạy và người học phải thay đổi cách tư duy, đổi mới phương pháp dạy
và học từ bị động sang chủ động một cách nghiêm túc
Các trường thành viên trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đãchuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ Phương pháp đàotạo thay đổi kéo theo nhu cầu sử dụng sản phẩm và dịch vụ thông tin củangười dùng tin Đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi người học phải chủ động, năngđộng, sáng tạo, tự vạch ra phương pháp cũng như nội dung, trình tự nghiêncứu cho riêng mình Do vậy, nhu cầu tin của người dùng tin cũng có nhiềuthay đổi, trở nên hết sức đa dạng và phức tạp Sự thay đổi này đặt ra một thửthách to lớn đối với các nhà cung cấp thông tin trong đó có Trung tâm, buộc
họ phải có biện pháp phát triển, mở rộng, nâng cao chất lượng những sảnphẩm và dịch vụ thông tin sẵn có, đồng thời không ngừng tạo ra những sảnphẩm và dịch vụ thông tin mới nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.Trên thực tế, Trung tâm đã có những biến đổi vô cùng tích cực và hiệu quảđối với hệ thống sản phẩm và dịch vụ của mình, phục vụ ngày càng tốt hơncông tác đào tạo theo phương thức tín chỉ
Trang 17CHƯƠNG 2.
NHỮNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ CỦA TRUNG TÂM PHỤC VỤ
PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 2.1 Nguồn thông tin và hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm.
Nguồn tài liệu bổ sung được đảm bảo về chất lượng nội dung đã đượcđông đảo bạn đọc đánh giá cao Trong 10 năm qua, Trung tâm đã bổ sungđược 207.000 bản sách (12.752 đầu sách), đưa tổng số sách lên 750.000 bảnvới 128.000 đầu sách, 2.145 tên báo/tạp chí (cập nhật 415 tên), giáo trình của
88 ngành đào tạo, 4.000 luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ Nhằm tăng cườngcông tác phát triển nguồn tin cũng như quản lý, lưu trữ và đưa ra các sảnphẩm thông tin mới, Trung tâm đã từng bước xây dựng và phát triển nguồntin điện tử Từ năm 1999 đến nay nguồn tin điện tử của Trung tâm bao gồm 5
Cơ sở dữ liệu (CSDL) trên đĩa CD-ROM chứa hàng trăm nghìn bài đăng tạpchí dưới dạng biểu ghi thư mục, tóm tắt và toàn văn, được cập nhật hàngtháng, hàng quý về các lĩnh vực: khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xãhội và nhân văn, khoa học giáo dục, kinh tế và quản trị kinh doanh Đặc biệtCSDL trực tuyến (nguồn tin online) của Trung tâm rất phong phú, đa dạng.Trung tâm hiện đang lưu trữ và phục vụ một số tạp chí điện tử như: ACMDigital Library on eBridge, IEEE Computer Sciences, Proquest, SDOL(Science Direct Online), Tạp chí Việt Nam trực tuyến,… Về sách điện tử,Trung tâm có một số sách tiêu biểu sau: EBrary Academic Coplete gồm37.759 sách điện tử toàn văn, International Engineering Consortium, SIAMeBooks,… Ngoài ra, nguồn lực thông tin điện tử của Trung tâm còn bao gồmcác bài giảng điện tử (Giáo trình môn học được chuyển dạng số hóa vàSynthesis: The digital Library of Engineering and Computer Sciences) Gần
Trang 18đây, Trung tâm còn tiếp tục bổ sung thêm nhiều CSDL trực tuyến nhưOmnifile, EBSCO, BLACKWELL-SYNERGY có giá trị khoa học cao.
Về công tác phân loại - biên mục, Trung tâm đã triển khai nghiên cứu,xây dựng và hoàn chỉnh, từng bước đưa vào áp dụng chuẩn nghiệp vụ quốc tếtiên tiến như chuẩn biên mục MARC21, quy tắc mô tả Anh - Mỹ AACR2,bảng phân loại Dewey (DDC) trong công tác xử lý tài liệu
Trung tâm cũng là đơn vị đi đầu trong cả nước về áp dụng phần mềmtích hợp trong các khâu công tác chuyên môn và phục vụ bạn đọc Đặc điểmnổi bật trong thời gian hơn 10 năm qua đối với hệ thống phục vụ bạn đọc làphương thức phục vụ luôn được cải tiến, mở rộng và nâng cao chất lượng cácloại hình dịch vụ từ truyền thống đến hiện đại Đó là các loại hình: tra cứu tàiliệu (trên máy tính và mục lục truyền thống); đọc; mượn; thông tin chọn lọc;
đa phương tiện và Internet Thực tế cho thấy phòng đọc mở là một trongnhững loại hình dịch vụ thư viện tiên tiến mang lại hiệu quả cao nhất chongười đọc, do đó tại tất cả các phòng phục vụ bạn đọc của Trung tâm đến nayđều đã triển khai phục vụ loại hình này Theo thống kê, số lượt bạn đọc đếnphòng đọc mở tăng 1,5 lần và số lượt tài liệu phục vụ tăng gần 10 lần so vớiphòng đọc kho đóng Với hình thức phục vụ thông tin chọn lọc, Trung tâm đãcung cấp được nhiều thông tin chất lượng cho các đề tài, các chương trìnhnghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp ĐHQGHN của cán bộ giảng dạy,cán bộ nghiên cứu và cán bộ lãnh đạo ĐHQGHN
Trên cơ sở kế thừa kết quả của các thư viện đại học thành viên cũ, pháthuy sức mạnh của Trung tâm trong vị thế mới Đến nay Trung tâm đã có quan
hệ hợp tác và trao đổi với gần 60 thư viện và cơ quan thông tin của các trườngđại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế khác ở hầu hết các châu lục,tiêu biểu như: Đại học Cornell, Đại học Hawaii, Thư viện Quốc hội Mỹ, QuỹChâu Á (Mỹ), Đại học Cambridge, Hội đồng Anh (Anh), Thư viện Quốc gia
Trang 19Australia, Ngân hàng Thế giới, các trường đại học và cơ quan thông tin củaPháp, Nhật, Đức Trao đổi là một hoạt động quan trọng trong công tác bổsung nguồn tin của các thư viện nhằm tăng cường nguồn lực thông tin từ các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Hoạt động trao đổi của Trung tâm trongnhiều năm qua chủ yếu là hoạt động nhận tài liệu dưới hình thức tặng, biếucủa các trường đại học và các tổ chức quốc tế Trong điều kiện nguồn ngânsách được cấp hạn chế trong khi kinh phí để bổ sung tài liệu nước ngoài lạikhá cao, thì hoạt động trao đổi tài liệu là một hoạt động mang lại nhiều ýnghĩa thiết thực Gần 30.000 cuốn sách và chục ngàn tờ báo/ tạp chí nhận tặngbiếu trong thời gian qua đã giúp Trung tâm giải quyết phần nào khó khăn này
để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng tin (NDT) Ngoài ra, Trung tâmcòn quan hệ với nhiều nhà xuất bản và nhà phân phối để được cung cấp cácdạng tài liệu điện tử trực tuyến và phi trực tuyến ở khu vực và trên thế giớinhư Euromonitor, Blackwell, Absco, Proquest Những đợt truy cập cơ sở dữliệu trực tuyến miễn phí từ các nhà phân phối này đã tạo điều kiện cho Trungtâm đa dạng hoá nguồn tin, giúp NDT tiếp cận với các nguồn thông tin tiêntiến, chất lượng cao
Về hợp tác quốc tế, Trung tâm đã cử nhiều lượt cán bộ đi học tập ngắnhạn hoặc tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế chuyên ngành thông tin - thưviện tại các nước như: Thái Lan, Đài Loan, Philippines, Singapore, Áo,Australia, Mỹ Trung tâm đã tham gia hội nghị sáng lập và là thành viên của
Hệ thống thư viện trực tuyến các đại học quốc gia các nước Đông Nam Á,Hội đồng thư viện đại học quốc gia các nước Đông Á
2.2.Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm trong Đại học Quốc gia Hà Nội.
Sản phẩm và dịch vụ thông tin là kết quả của việc thực hiện các quátrình cơ bản trong hoạt động thông tin Nghiên cứu các sản phẩm và dịch vụ
Trang 20thông tin là cơ sở để cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin được tốthơn, hiệu quả hơn, làm cho các sản phẩm và dịch vụ thông tin đáp ứng yêucầu và nhu cầu của NDT
Sản phẩm và dịch vụ có mối quan hệ tương hỗ với nhau, làm cơ sở cho
sự liên hoàn Muốn cho sản phẩm được mở rộng phát triển thì phải đa dạnghóa các loại hình dịch vụ, muốn phát triển dịch vụ thì phải không ngừng nângcao chất lượng và khả năng thích nghi của sản phẩm
Trong bất kể thời điểm nào, mỗi sản phẩm và dịch vụ ra đời các nhàsản xuất đều mong muốn đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu của người sửdụng sản phẩm và dịch vụ đó Nhất là trong nền kinh tế thị trường như hiệnnay, các sản phẩm và dịch vụ luôn được quan tâm cải tiến, đổi mới khôngngừng trước những đòi hỏi ngày càng khắt khe của người sử dụng Nhữngđiều trên đây cũng hoàn toàn đúng với lĩnh vực hoạt động thông tin – thưviện Khi tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin, các Trung tâm thông tin-thư viện luôn nỗ lực hết mình với mong muốn được phục vụ mang lại hiệuquả cao nhất cho người dùng tin Mỗi người dùng tin khác nhau lại có nhucầu sử dụng sản phẩm và dịch vụ thông tin khác nhau tùy theo trình độ họcvấn, lĩnh vực chuyên môn, lứa tuổi khác nhau,… Do vậy, một cơ quan thôngtin muốn xây dựng và tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ thông tin để thịtrường chấp nhận và đem lại hiệu quả kinh tế cho mình là một vấn đề khôngđơn giản mà phải trải qua một quá trình vận động tích cực, bằng những biệnpháp thiết thực luôn phải nghiên cứu, hoàn thiện hay nói cách khác là khôngngừng nâng cao chất lượng của sản phẩm và dịch vụ thông tin cả về nội dung
và hình thức
Trung tâm có đối tượng người dùng tin chủ yếu là cán bộ giảng viên vàsinh viên các trường thành viên trong Đại học Quốc gia Hà Nội Những sảnphẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm có vai trò vô cùng to lớn đối vớicông tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 21Ngay từ khi thành lập, Trung tâm đã khẳng định vai trò của mình là nơicung cấp thông tin, tư liệu phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập vànghiên cứu trong phạm vi Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm không ngừng
mở rộng giao lưu hợp tác phát triển nguồn tin, đổi mới hình thức lưu trữ và tracứu thông tin, tăng cường các dịch vụ hỗ trợ, giúp cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội có thể tra cứu tìm tin đượcthuận lợi và dễ dàng nhất
Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong hoạt động thông tin – thư viện Chúng được xem làcông cụ, phương tiện hoạt động do Trung tâm tạo ra để xác định, truy nhập,khai thác, quản lý các nguồn tin và các hệ thống thông tin nhằm đáp ứng nhucầu của người dùng tin, là cầu nối giữa người dùng tin và các nguồn tin trong
hệ thống thông tin của Trung tâm Chất lượng sản phẩm và dịch vụ là thước
đo hiệu quả hoạt động, là yếu tố cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của Trungtâm
Do nhu cầu thông tin của người dùng tin trong Đại học Quốc gia HàNội không ngừng thay đổi, ngày càng phát triển nên các sản phẩm và dịch vụthông tin – thư viện của Trung tâm cũng phải không ngừng thay đổi, hoànthiện, phát triển để đáp ứng kịp những nhu cầu đó
Với đặc thù là trung tâm thông tin – thư viện trường đại học, Trung tâmluôn theo sát những thay đổi trong công tác giáo dục đào tạo nói chung và nhucầu của người dùng tin nói riêng Từ đó, xây dựng cho mình một chính sáchphát triển vốn tài liệu sao cho phù hợp nhất với nhu cầu của người sử dụng vànguồn kinh phí đầu vào Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi phương thứcđào tạo theo tín chỉ đang được áp dụng rộng rãi trong các trường đại họcthành viên trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, nhu cầu tin của NDT cũng cónhiều chuyển biến: phong phú hơn, đa dạng hơn và đòi hỏi cao hơn cả về nộidung và hình thức Trước những thay đổi đó, Trung tâm cũng đã có những
Trang 22biện pháp đổi mới và phát triển nguồn tin, xây dựng hệ thống sản phẩm vàdịch vụ thông tin – thư viện phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của người sửdụng Trung tâm đã trở thành nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy, có vaitrò vô cùng quan trọng đối với tập thể cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinhviên Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong hoạt động của Trung tâm sản phẩm và dịch vụ thông tin – thưviện luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thôngtin – thư viện là một hệ thống hết sức năng động, luôn luôn phát triển Hiệuquả hoạt động của hệ thống này phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều yếu tố có tínhđặc trưng như: nhu cầu thông tin của NDT, nguồn kinh phí của Trung tâm,trình độ của cán bộ thư viện,… Các nội dung của sản phẩm và dịch vụ thôngtin – thư viện cũng vô cùng đa dạng và phong phú, thay đổi theo điều kiệnkhông gian và thời gian ở tất cả các phạm vi có thể Sự phát triển sản phẩm vàdịch vụ thông tin – thư viện phụ thuộc vào nguồn lực thông tin và sự lựa chọnkhuynh hướng phát triển của Trung tâm
2.3 Sản phẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm với phương thức phục
vụ đào tạo tín chỉ.
2.3.1 Sản phẩm thông tin – thư viện tại Trung tâm
Sản phẩm thông tin – thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin,
do một cá nhân hay tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu người dùng tin.
Sản phẩm được hình thành là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thông tin(bao gồm cả nhu cầu tra cứu thông tin và nhu cầu về chính bản thân thôngtin) Như vậy, sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu, cũng như sựvận động biến đổi của nhu cầu Tương tự như mọi loại sản phẩm khác, sảnphẩm thông tin – thư viện trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, cần
Trang 23không ngừng được hoàn thiện để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới (cả
về nội dung và hình thức)
Trung tâm là một trong những cơ quan đầu ngành về hoạt động thưviện trường đại học ở Việt Nam Sản phẩm thông tin - thư viện của Trung tâmtương đối đa dạng và phong phú Những sản phẩm này do các phòng Bổ sung– Trao đổi, phòng Phân loại – Biên mục, phòng Thông tin – Nghiệp vụ vàphòng Máy tính đảm nhiệm Trung tâm đã xây dựng được một số sản phẩmthông tin- thư viện chính như sau:
2.3.1.1 Hệ thống mục lục
Hệ thống mục lục (hay thường gọi là mục lục) là tập hợp các đơn vị/ phiếu mục lục được sắp xếp theo một trình tự nhất định, phản ánh nguồn tin của một hoặc một số cơ quan thông tin, thư viện.
Mục lục thư viện được xây dựng nhằm mục đích cho phép NDT xácđịnh được vị trí, địa chỉ lưu trữ tài liệu trong kho của cơ quan thông tin – thưviện; đồng thời phản ánh trữ lượng, thành phần của kho tài liệu Ngoài ra,mục lục còn trợ giúp thêm cho việc lựa chọn tài liệu bằng việc kết hợp và sửdụng các thông tin khác về tài liệu mà chúng không được sử dụng làm dấuhiệu xây dựng mục lục
Phiếu mục lục chính là phiếu miêu tả thư mục về tài liệu và tạo nên mộtđiểm truy nhập tới tài liệu được phản ánh Phạm vi bao quát hay đối tượngphản ánh của một hệ thống mục lục là tài liệu dưới những hình thức khácnhau của một hay nhiều cơ quan thông tin – thư viện
Hệ thống mục lục bao gồm hai bộ phận chính là mục lục truyền thống
và mục lục hiện đại Trung tâm hiện nay có cả hai hình thức mục lục trên
- Hệ thống mục lục truyền thống
Trang 24Hệ thống mục lục truyền thống của Trung tâm là dạng mục lục phiếu.Đây là sản phẩm của quá trình xử lý tập trung tài liệu, được in ra từ cơ sở dữliệu.
Riêng hệ thống mục lục phiếu của Trung tâm đã có hơn 120.000 phiếumục lục Nếu xét theo ý nghĩa sử dụng, hệ thống mục lục của Trung tâm đượcchia thành mục lục phòng đọc và mục lục phòng mượn Còn xét theo cấu tạocủa hệ thống mục lục, Trung tâm có mục lục chữ cái và mục lục phân loại
Hiện tại, hệ thống mục lục phân loại của Trung tâm được cấu tạo trên
cơ sở cấu trúc của 3 bảng phân loại: BBK cho kho tài liệu của thư viện trườngĐại học Tổng hợp cũ nay là phòng phục vụ bạn đọc KHXHNV & KHTN.Bảng phân loại thập tiến tổng hợp 19 lớp của Thư viện Quốc gia Việt Namdùng cho một phần của kho sách thư viện trường Đại học Ngoại ngữ.Bảng phân loại DDC dùng cho tất cả các kho tài liệu tra cứu của Trungtâm và kho tài liệu tham khảo của phòng phục vụ bạn đọc chung
Trung tâm được thành lập trên cơ sở sát nhập các thư viện của cáctrường đại học thành viên trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, mỗi thư việndùng một bảng phân loại khác nhau Nếu thay đổi chỉ áp dụng một bảng phânloại nào đó thì toàn bộ các kho sách cũ với hàng trăm ngàn bản phân loại khácnhau phải phân loại lại, tốn rất nhiều thời gian công sức và đòi hỏi một khoảnkinh phí vô cùng lớn Vì vậy, hiện nay, tất cả các kho tài liệu tổ chức dướihình thức kho kín có từ trước vẫn dùng các bảng phân loại đã sử dụng Riêngđối với kho tài liệu của phòng phục vụ bạn đọc ngoại ngữ có sự thay đổi: tất
cả các tài liệu đã có từ trước đến năm 2002 dùng bảng phân loại thập tiến tổnghợp 19 lớp, còn các tài liệu sau năm 2002 đến nay được thay bằng bảng phânloại DDC Tất cả các kho tài liệu được tổ chức dưới dạng kho mở của Trungtâm đều sử dụng khung phân loại DDC
Hệ thống mục lục là sản phẩm thông tin – thư viện quan trọng củaTrung tâm, được tổ chức quy mô, chi tiết, và đầy đủ ở tất cả các phòng phục
Trang 25vụ bạn đọc Hệ thống mục lục phiếu của Trung tâm cho phép người dùng tinxác định được vị trí, địa chỉ lưu trữ tài liệu trong kho nếu người dùng tin biếtmột số thông tin về tài liệu như tên tác giả, nhan đề,… Bên cạnh đó, hệ thốngmục lục còn trợ giúp người dùng tin trong việc lựa chọn tài liệu, và trong việcquyết định có sử dụng tài liệu đó hay không.
Hệ thống mục lục phiếu của Trung tâm hiện vẫn được sử dụng songsong với hệ thống mục lục tra cứu trực tuyến, đóng vai trò quan trọng trongviệc tra tìm thông tin
- Hệ thống mục lục hiện đại
Trung tâm đã ứng dụng công nghệ thông tin vào hầu hết các bộ phận,các phòng ban Trung tâm đã xây dựng được hệ thống mục lục trực tuyếnOPAC (Online Public Access Catalog) Trung tâm sử dụng phần mềm Libol5.5 Có thể nói, việc ứng dụng công nghệ thông tin và sự ra đời của OPAC làmột bước tiến lớn, tạo ra sự thuận lợi to lớn cho người sử dụng trong quá trìnhtìm kiếm và khai thác thông tin, đồng thời cũng giúp Trung tâm dễ dàng hơntrong công tác quản lý tài liệu
2.3.1.2 Thư mục
Thư mục là một sản phẩm thông tin – thư viện mà phần chính là tập hợp các biểu ghi thư mục (có thể có hoặc không có tóm tắt, chú giải đi kèm) được sắp xếp theo một trật tự xác định phản ánh các tài liệu có chung một hoặc một số dấu hiệu chung về nội dung và/ hoặc hình thức
Đối tượng chủ yếu được phản ánh trong thư mục là tài liệu nói chung,trong đó có tài liệu bậc 1 hoặc tài liệu bậc 2
Trung tâm đã xây dựng được một số thư mục chính như sau:
- Thư mục luận án
Trang 26Bao gồm tập hợp các biểu ghi thư mục mô tả hệ thống luận án tiến sĩ
và luận văn thạc sĩ do các tác giả và các cơ quan, tổ chức nộp lưu chiểu vềĐại học Quốc gia Hà Nội Thư mục này giúp người sử dụng nắm bắt được hệthống các đề tài và các công trính nghiên cứu khoa học sau bảo vệ
Thư mục tóm tắt luận án, luận văn sau đại học của Trung tâm được inthành quyển Bản thư mục này được xây dựng hoàn chỉnh gồm 2 tập, hiện naymới xuất bản được 1 tập năm 2000
Thư mục luận án của Trung tâm là một bản thư mục độc lập, có cấutrục các phần như sau:
Phần 1: Mục lục
Lời giới thiệu
Hướng dẫn sử dụng thư mục
Phương pháp phân loại
Phần 2: Nội dung tài liệu
Tài liệu được sắp xếp theo vần chữ cái tên tác giả
Tài liệu được phân loại theo bảng phân loại BBK
Phần tóm tắt nội dung của tài liệu
Phần 3: Bảng tra cứu
Phần nội dung của bản thư mục tập hợp 385 luận án, luận văn sau đạihọc Phần tóm tắt được trình bày cô đọng và chính xác giúp người dùng tin cóthể nắm bắt được nội dung tài liệu mà không cần đến tài liệu gốc Hệthống bảng tra thư mục bao gồm bảng tra chữ cái tên đề tài và tên tácgiả giúp người dùng tin dễ dàng tìm thấy tài liệu trong thư mục Phươngpháp sắp xếp tài liệu được tuân thủ theo khung phân loại BBK
Trang 27Thư mục luận án của Trung tâm là công cụ hữu ích cho ngườidùng tin trong việc tra cứu các luận văn sau đại học của Đại học Quốcgia Hà Nội.
-Thư mục chuyên đề
Bao gồm tập hợp các biểu ghi thư mục mô tả tài liệu theo chuyên
đề, phục vụ các đề tài nghiên cứu của cá nhân hoặc tổ chức khi đượcyêu cầu Loại hình sản phẩm thông tin – thư viện này giúp ích rất nhiềucho người sử dụng trong quá trình tiến hành nghiên cứu khoa học.Trung tâm đã xây dựng rất nhiều thư mục chuyên đề Ví dụ: Thư mụctập hợp tài liệu về đào tạo chất lượng cao trong Đại học Quốc gia HàNội,
Ví dụ: Thư mục về đạo đức Hồ Chí Minh
Là thư mục tập hợp những tài liệu nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệpcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, rút ra bài học cho toàn thể dân tộc Việt Nam.Thư mục được xây dựng nhằm cung cấp rộng rãi các thông tin thư mụcphục vụ thiết thực cuộc vận động chính trị to lớn trong toàn Đảng, toàndân “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Bộ Chínhtrị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam phát động,nhân kỷ niệm 117 năm ngày sinh nhật Bác Ngoài lời giới thiệu, lời chúgiải, mục lục và phần tra cứu, Thư mục về đạo đức Hồ Chí Minh đượcchia thành 3 phần chính:
Phần 1: Tác phẩm của Hồ Chí Minh viết về đạo đức
Phần 2: Các tác giả khác viết về đạo đức Hồ Chí Minh
Bao gồm: Sách của tác giả khác viết về đạo đức Hồ Chí Minh và Bàiđăng trong sách, báo, tạp chí của tác giả khác viết về đạo đức Hồ Chí Minh
Phần 3: Đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trong lòng bạn bè quốc tế
Trang 28- Thư mục giới thiệu sách mới
Loại thư mục này nằm trong bản tin điện tử của Trung tâm Đây là loạithư mục được tổ chức biên soạn thường xuyên theo định kỳ hàng tháng, trong đóphản ánh toàn bộ tài liệu mới được bổ sung về Trung tâm Công việc biên soạnthư mục này do phòng Thông tin – Nghiệp vụ phụ trách
Các loại tài liệu trong thư mục này được sắp xếp theo chủ đề của bảngphân loại DDC Trong mỗi môn loại, tài liệu lại được sắp xếp theo vần chữ cáicủa tên tác giả hoặc tên sách
Các yếu tố được mô tả trong thư mục bao gồm:
Tên tài liệu
Tên tác giả
Năm xuất bản, nơi xuất bản
Ký hiệu phân loại
2.3.1.2 Tạp chí tóm tắt
Tạp chí tóm tắt là một loại sản phẩm thông tin – thư viện, được thể hiện dưới dạng ấn phẩm định kỳ, trong đó có các bài tóm tắt về các công trình khoa học và các thông tin bậc hai khác.
Trang 29Tạp chí tóm tắt do Trung tâm biên soạn và xuất bản có tên gọi là Tạpchí Bản tin điện tử Đây là tạp chí ra hàng tháng (mỗi tháng 1 số) và đượcxuất bản dưới cả hai dạng: dạng in giấy và dạng điện tử.
Tại Trung tâm bản tin điện tử là sản phẩm của sự lao động nghiêm túc,năng động sáng tạo, nhanh nhạy trong công việc sưu tầm, biên dịch và tổngthuật thông tin chọn lọc mới nhất về các lĩnh vực thông tin - thư viện,kinh tế, khoa học công nghệ, môi trường,… Bản tin đã được xuất bảnliên tục từ năm 1997 đến nay
Sau một thời gian phát hành, đến tháng 6/2003, bản tin điện tử đã cónhiều đổi mới, như đã có thêm mục điểm sách nhằm giới thiệu nội dungnhững cuốn sách mới nhất về các lĩnh vực khoa học đầu ngành của Trungtâm Ưu điểm nổi bật của bản tin điện tử là khả năng cập nhật thông tin, giúpngười dùng tin có thể theo dõi và nắm bắt kịp thời
Ngoài dạng in ấn, bản tin điện tử của Trung tâm cũng đã được số hóa
và chuyển thành cơ sở dữ liệu trên mạng, địa chỉ của bản tin điện tử là:http://lic.vnn.edu.vn
2.3.1.3 Kỷ yếu hội thảo khoa học về Thông tin –Thư viện
Trung tâm đã biên soạn và xuất bản 2 kỷ yếu hội thảo khoa học Năm 2002, Trung tâm xuất bản “Kỷ yếu hội thảo khoa học và thực tiễn hoạtđộng Thông tin – Thư viện nhân dịp 5 năm thành lập Trung tâm (1997-2002)” Cuốn kỷ yếu này dày 121 trang, được chia thành 3 phần: Thư việnhọc, Thông tin – Thư viện, và Kỷ yếu hội thảo khoa học
Năm 2007, Trung tâm xuất bản cuốn “Khoa học và thực tiễn hoạt độngthông tin – thư viện: Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâmThông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội (1997-2007)” Cuốn kỷ yếunày dày 242 trang, được chia thành 4 phần: Thư viện, Thông tin, Kỷ yếu, vàThư viện đại học
Trang 30CSDL được quản lý bởi một hệ quản trị CSDL Đó là một phần mềmbao gồm các chương trình giúp cho việc quản lý và khai thác CSDL.
Xây dựng CSDL là một trong những ứng dụng quan trọng của việc tinhọc hóa hoạt động thông tin – thư viện tại Trung tâm Tháng 1/1998, Trungtâm bắt đầu xây dựng CSDL Những năm đầu, các biểu ghi của CSDL đượclưu giữ và quản lý bằng phần mềm CDS/ISIS Phần mềm này chỉ có khả năngquản lý tài liệu, không có khả năng quản lý tích hợp các khâu trong công tácthư viện như bổ sung, biên mục, quản lý bạn đọc Do vậy, đến tháng 3/2002,Trung tâm đã tiến hành nghiên cứu và cài đặt phần mềm quản trị thư việnLibol 5.0 Phần mềm này bao gồm 10 phân hệ chức năng, có khả năng quản
lý được các tài liệu đa dạng, có sự hỗ trợ tiếng việt và có khả năng chuyển đổi
dữ liệu từ CDS/ISIS Đến nay, phần mềm Libol 5.0 đã được nâng cấp thànhLibol 5.5
CSDL của Trung tâm bao gồm 2 loại chính là CSDL do Trung tâm xâydựng và CSDL từ bên ngoài
- CSDL do Trung tâm xây dựng:
Bao gồm CSDL tích hợp tài liệu và CSDL bạn đọc
* CSDL tích hợp tài liệu.
Trang 31CSDL này được xây dựng nhằm quản lý toàn bộ nguồn lực thông tincủa Trung tâm đáp ứng yêu cầu tìm kiếm và khai thác thông tin của ngườidùng tin, liên thông trao đổi thông tin với các thư viện trong và ngoài nước,cung cấp thông tin trực tuyến thông qua trang web của Trung tâm.
Những tiêu chí xây dựng CSDL:
Thân thiện, dễ sử dụng, dễ khai thác
Tìm tin hiệu quả, chính xác
Dễ dàng tạo lập CSDL khi có nhu cầu phát sinh
Quản lý được nhiều loại hình tài liệu
Khai thác trực tuyến trên mạng
Chuẩn mô tả CSDL là MARC 21, ISBD và bước đầu áp dụng AACR2
Hệ quản trị CSDL là Libol 5.5
Các chuẩn về tin học ISO 2709, Z39.50
CSDL này gồm 66.538 biểu ghi với trên 271.172 bản
Trong đó CSDL sách là 52.319 biểu ghi
CSDL tạp chí 2.359 biểu ghi
CSDL bài báo 1.773 biểu ghi
CSDL giáo trình 754 biểu ghi
CSDL luận án, luận văn 1.406 biểu ghi
CSDL Đề tài nghiên cứu khoa học 378 biểu ghi
CSDL bản đồ 196 biểu ghi
Nội dung của CSDL bao gồm tất cả loại tài liệu liên quan đến các lĩnhvực khoa học cơ bản, công nghệ, giáo dục hiện có trong kho tài liệu củaTrung tâm
Trang 32Biểu ghi của CSDL được mô tả theo chuẩn MARC 21 với tập hợp cácthông tin cơ bản như sau:
Thông tin liên quan đến nhan đề
Thông tin trách nhiệm
Thông tin liên quan đến xuất bản
Thông tin liên quan đến nội dung tài liệu
Thông tin tùng thư, phụ chú
Thông tin liên quan đến địa chỉ tài liệu, …
* CSDL quản lý bạn đọc.
CSDL quản lý bạn đọc của Trung tâm được xây dựng từ năm 1998,song đến tận năm 2003 CSDL này mới thực sự đưa vào sử dụng có hiệuquả nhờ phần mềm quản trị thư viện Libol 5.5 và cũng chính từ thời giannày Trung tâm đã áp dụng công nghệ mã vạch vào công tác quản lý mượntrả tài liệu
Hiện nay, CSDL này gồm 14.746 biểu ghi
CSDL này quản lý bạn đọc với các yếu tố chính như sau:
Trang 33Thông tin liên lạc
Nhờ có những thông tin này, việc cấp thẻ thư viện cho bạn đọc trở nên
dễ dàng hơn Đồng thời CSDL này còn hỗ trợ việc sử dụng mã vạch trong quátrình lưu thông tài liệu, tiết kiệm thời gian công sức cho cả cán bộ thư viện vàbạn đọc
- CSDL nhập khẩu.
Năm 1999, Trung tâm đã nhập 5 CSDL từ công ty Info AccessSingapore Những CSDL này chứa hang nghìn bài báo ở dạng toàn văn vớinhiều lĩnh vực khác nhau như: khoa học ứng dụng và công nghệ, công nghệsinh học, khoa học xã hội và nhân văn,…
Năm 2001, Trung tâm mua CSDL Omnifile chứa 1.420 bài tạp chí ởdạng toàn văn, cập nhật hàng tháng về các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoahọc xã hội, khoa học giáo dục, quản trị kinh doanh,…
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin, Trung tâm cònmua thêm 2 CSDL Ebsco và Blackwell Synergy từ nhà cung cấp INASP.CSDL Ebsco với hơn 1.500 tạp chí toàn văn trong 8 CSDL bao gồm hầu hếtcác ngành khoa học công nghệ, xã hội nhân văn, giáo dục, y tế, kinh tế CSDLBlackwell Synergy với hơn 750 tạp chí toàn văn bao gồm các lĩnh vực khoahọc sự sống, sinh thái học, kinh tế, kế toán,…
Tháng 7- 2005, Trung tâm tăng cường thêm 2 CSDL trực tuyến vềkhoa học tự nhiên, công nghệ và máy tính, đó là Project Euclid của đại họcCornel – Mỹ (là CSDL toàn văn về toán lý thuyết và ứng dụng thống kê) vàSIAM của hội toán học Mỹ Full Text Journal (là CSDL toàn văn về chủ đềtoán tin và ứng dụng)
Những nguồn thông tin từ CSDL của Trung tâm có gía trị thông tincao, đáng tin cậy, đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin
2.3.1.5 Trang chủ
Trang 34Trang chủ là một cẩm nang bách khoa giới thiệu các thông tin và cách thức truy nhập tời thông tin về một cơ quan, tổ chức, cá nhân hay một đơn vị hành chính nào đó trên mạng máy tính.
Trang chủ của Trung tâm được xây dựng và đưa vào sử dụng từ tháng9/2001 bao gồm 4 phần chính:
Giới thiệu về Trung tâm
Bản tin điện tử
Phần góp ý
Phần tra cứu
Trang chủ của Trung tâm có chức năng chủ yếu là giới thiệu về cơ cấu
tổ chức, chức năng nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ của Trung tâm, vai trò và vị trícủa mỗi phòng ban trong cơ cấu chung của Trung tâm
Ngoài ra, trang chủ còn giới thiệu tiềm năng, nguồn lực thông tin củaTrung tâm, đặc biệt là nguồn thông tin trên CSDL để người dùng tin có thể dễdàng truy cập và khai thác
2.3.1.6 Nguồn học liệu trực tuyến
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những đơn vị đi đầu trong côngtác chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ Phương thức đàotạo thay đổi kéo theo sự thay đổi của nhu cầu người dùng tin, ngày càng trởnên đa dạng và phức tạp hơn, đòi hỏi được đáp ứng ở mức độ cao hơn
Hiện nay, ngoài các chương trình đào tạo chuẩn dành cho sinh viên các
hệ thông thường, các đơn vị đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội còn có cácchương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao và các chương trình đào tạo liênkết quốc tế
Năm 2009, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức xây dựng và thực hiện
đề án “ Nghiên cứu, thiết kế mô hình và xây dựng thử nghiệm nguồn học liệu