1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác giả và tác phẩm của Truyện Kiều

6 415 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 20,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời đại: Sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội, xã hội phong kiến VN bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, khởi nghĩa Tây Sơn một phen thay đổi sơn hà. Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. Những thay đổi lớn lao của lịch sử đã tác động sâu sắc tới tình cảm và nhận thức của Nguyễn Du khiến ông hướng ngòi bút vào hiện thực. Gia đình: Sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan to và có truyền thống về văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức tể tướng. Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới triều Lê Trịnh. Nhưng cuộc sống êm đềm tướng rủ mang che với Nguyễn Du không được bao lâu.

Trang 1

TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU

I Tác giả:

* Thời đại: - Sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội, xã hội

phong kiến VN bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, khởi nghĩa Tây Sơn "một phen thay đổi sơn hà" Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được

thiết lập Những thay đổi lớn lao của lịch sử đã tác động sâu sắc tới tình cảm và nhận thức của Nguyễn Du khiến ông hướng ngòi bút vào hiện thực

* Gia đình:

- Sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan to và có truyền thống về văn học Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức tể tướng Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới triều Lê - Trịnh Nhưng cuộc sống "êm đềm tướng rủ mang che" với Nguyễn Du không được bao lâu

* Bản thân:

- Nguyễn Du sinh năm 1765, mất năm 1820

- Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân,

Hà Tĩnh

- Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi và mồ côi mẹ năm 12 tuổi

- Trưởng thành:

+ Khi thành Thăng Long bị đốt, tư dinh của Nguyễn Khản cháy, Nguyễn Du đã phải lưu lạc ra đất Bắc (quê vợ ở Thái Bình) nhờ anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn 10 năm (1786-1796)

+ Từ một cậu ấm cao sang, thế gia vọng tộc, từ một viên quan nhỏ đầy lòng hăng hái phải rơi vào tình cảnh sống nhờ, 10 ấy tâm trạng Nguyễn Du vừa ngơ ngác vừa buồn chán, hoang mang, bi phẫn

+ Khi Tây Sơn tấn công ra Bắc (1786), ông phò Lê chống lại Tây Sơn nhưng không thành + Năm

1796, định vào Nam theo Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn nhưng bị bắt giam 3 tháng rồi thả + Từ năm 1796 đến năm 1802, ông ở ẩn tại quê nhà

Trang 2

+ Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, trọng Nguyễn Du có tài, Nguyễn Ánh mời ông

ra làm quan Từ chối không được, bất đắc dĩ ông ra làm quan cho triều Nguyễn

+ 1802: Làm quan tri huyện Bắc Hà

+ 1805-1808: làm quan ở Kinh Đô Huế

+ 1809: Làm cai bạ tỉnh Quảng Bình

+ 1813: Thăng chức Hữu tham tri bộ Lễ, đứng đầu một phái đoàn đi sứ sang Trung Quốc lần thứ nhất (1813 - 1814)

+ 1820, chuẩn bị đi sứ sang Trung Quốc lần 2 thì ông nhiễm dịch bệnh ốm rồi mất tại Huế (16-9-1802) An táng tại cánh đồng Bàu Đá (Thừa Thiên - Huế)

+ 1824, con trai ông là Nguyễn Ngũ xin nhà vua mang thi hài của ông về an táng tại quê nhà

- Cuộc đời ông chìm nổi, gian truân, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người Cuộc đời từng trải, vốn sống phong phú, có nhận thức sâu rộng, được coi là một trong 5 người giỏi nhất nước Nam

- Là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ, với những đau khổ của nhân dân Tác giả Mộng Liên Đường trong lời

tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến dứt ruột Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh cũng hệt, đàm tình đã thiết Nếu không phải con mắt trong thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”.

=> Những yếu tố trên đã góp phần tạo nên một Nguyễn Du - thiên tài văn học của

VN, được công nhận là “Danh nhân văn hóa thế giới”

II Sự nghiệp văn chương

- Chữ Hán: Ba tập thơ có tổng số 243: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm,

Bắc hành tạp lục

- Chữ Nôm: Có Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), Văn chiêu hồn (Văn tế thập

loại chúng sinh)…

III Tác phẩm Truyện kiều

1.- Thời gian sáng tác: Từ 1805 - 1809

2- Nguồn gốc: Dựa theo cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài

Nhân - TQ

3 - Sáng tạo của Nguyễn Du:

Trang 3

+ Nội dung: Từ một câu chuyện tình biến thành khúc ca đau lòng thương người

bạc mênhk, nói lên "những điều trông thấy" trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của VN cuối Lê đầu Nguyễn

+ Nghệ thuật:

- Chuyển thể từ văn xuôi sang thể thơ lục bát

- Lược bỏ một số chi tiết về mưu mẹo và một số chi tiết khác của nhân vật trong

"Kim Vân Kiều truyện"

- Sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tô đậm về tình người

- Biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể

- Chuyển trọng tâm của truyện từ sự kiện sang nội tâm nhân vật chính

- Ngòi bút tả cảnh, tả tình, tả người rát điêu luyện đã làm cho các nhân vật sống động hơn, sâu sắc hơn

4 Thể loại: Truyện Nôm: loại truyện thơ viết bằng chữ Nôm Truyện có khi được

viết bàng thể thơ lục bát Có hai loại truyện Nôm: truyện nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được viết trên cơ sở truyện dân gian; truyện Nôm bác học

phần nhiều có tên tác giả, được viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc hoặc do tác giả sáng tạo ra Truyện Nôm phát triển mạnh mẽ nhất ở nửa cuối thể ký XVIII và thế kỷ XIX

5 Ý nghĩa nhan đề:

Truyện Kiều có 2 tên chữ bán và 1 tên chữ nôm

- Tên chữ hán: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân: tên của 3 nhân

vật trong truyện: Kim Trọng, Thuý Vân, Thuý Kiều

Đoạn trường tân thanh: tiếng kêu mới về nỗi đau thương đứt ruột: bộc lộ chủ

đề tác phẩm (tiếng kêu cứu cho số phận người phụ nữ)

- Tên chữ nôm: Truyện Kiều: Tên nhân vật chính - Thuý Kiều (do nhân dân

đặt)

6 Tóm tắt Truyện Kiều.

a Phần thứ nhất : Gặp gỡ và đính ước.

Vương Thuý Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia

đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh "êm đềm trướng rủ màn che" bên cạnh

cha mẹ và hai em là Thuý Vân, Vương Quan Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Kiều gặp chàng Kim Trọng "phong tư tài mạo tót vời" Giữa hai người

Trang 4

chớm nở một mối tình đẹp Kim Trọng dọn đến ở trọ cạnh nhà Thuý Kiều Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng gặp Kiều bày tỏ tâm tình Hai người chủ động, tự do đính ước với nhau

b Phần thứ hai : Gia biến và lưu lực

Trong khi Kim Trọng về Liêu Dương chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng còn nàng thì bán mình chuộc cha Nàng bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh Sau

đó, nàng được Thúc Sinh – một khách làng chơi hào phóng – cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ Nhưng rồi nàng lại bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đầy đoạ Kiều phải trốn đến nương nhờ nơi cửa Phật Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà - một kẻ buôn người như Tú Bà, nên Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh Tại đây, nàng gặp Từ Hải, một anh hùng đội trời đạp đất Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán Do mắc lừa quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến Từ Hải

bị giết Kiều phải hầu đàn hầu rượu Hồ Tôn Hiến rồi ép gả cho viên thổ quan Đau đớn, tủi nhục, nàng trẫm mình ở sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu, lần thứ hai Kiều nương nhờ cửa Phật

c Phần thứ ba: Đoàn tụ:

Sau nửa năm về chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều Hay tin gia đình Kiều gặp tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng vô cùng đau đớn Tuy kết duyên với Thuý Vân nhưng chàng vẫn không thể quên mối tình đầu say đắm Chàng quyết cất công lặn lội đi tìm Kiều Nhờ gặp được sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn tụ Chiều theo ý mọi người, Thuý Kiều nối lại duyên cũ với Kim Trong nhưng cả hai cùng nguyện ước “Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”

7: Giá trị

7.1 Giá trị nội dung

a Giá trị hiện thực:

a1 Truyện Kiều phản ánh bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và thế lực hắc ám

chà đạp lên quyền sống của con người.

* Bọn quan lại :

- Quan lại xử kiện vụ án Vương Ông vì tiền chứ không vì lẽ phải

- Quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến là kẻ bất tài, nham hiểm, bỉ ổi và trâng tráo

Trang 5

* Thế lực hắc ám:

- Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… là những kẻ táng tận lương tâm Vì tiền, chúng sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm và số phận con người lương thiện

a2 Truyện Kiều phơi bày nỗi khổ đau của những con người bị áp bức, đặc biệt là

người phụ nữ.

- Vương Ông bị mắc oan, cha con bị đánh đập dã man, gia đình tan nát

- Đạm Tiên, Thuý Kiều là những người phụ nữ đẹp, tài năng, vậy mà kẻ thì chết trẻ, người thì đoạ đày, lưu lạc suốt 15 năm

=> Truyện Kiều là tiếng kêu thương của những người lương thiện bị áp bức,

bị đoạ đày.

a3- Lên án sức mạnh tác oai tác quái của đồng tiền là tha hóa con người Đồng

tiền làm đảo điên xã hội: "Dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì" Đồng tiền giẫm lên lương tâm con người "Có ba trăm lạng việc này mới xuôi"

b.Giá trị nhân đạo :

- Truyện Kiều là tiếng nói thương tâm, là niềm cảm thương sâu sắc, là tiếng khóc đau đớn trước số phận bi kịch của con người Thúy Kiều là nhân vật mà Nguyễn

Du yêu quý nhất Khóc Thúy Kiều Nguyễn Nguyễn Du khóc cho những đau đớn của con người : Tình yêu tan vỡ, cốt nhục lìa tan, nhân phẩm bị chà đạp, thân xác

bị đầy đọa

- Truyện Kiều đề cao con người từ phẩm giá đến hình thức, phẩm chất đến ước

mơ, những khát vọng chân chính

+ Ca ngợi Thúy Kiều với tài sắc vẹn toàn, hiếu hạnh đủ lường, là nhân vật lí tưởng tập trung vẻ đẹp của con người

+ Là bài ca về tình yêu tự do, trong sáng, thủy chung, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến, những quy tắc thánh hiền về sự cách biệt nam nữ

+ Là giấc mơ tự do và công lý Qua hình tượng Từ Hải Nguyễn gửi gắm ước mơ anh hùng "đội trời đạp đất" làm chủ cuộc đời, trả ân báo oán, thực hiện công lí ở đời

=> Phải là người giàu lòng yêu thương, biết trân trọng và đặt niềm tin vào con người Nguyễn Du mới sáng tạo nên Truyện Kiều với giá trị nhân đạo lớn lao như thế.

Trang 6

7.2 Giá trị nghệ thuật : TK là kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên

tất cả phương diện:

- Thể loại: Thể thơ lục bát đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ

- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong TK có sự kết hợp của ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ bác học để trở thành ngôn ngữ văn chương vô cùng tinh trong sáng và mĩ lệ,

đạt đến đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật vừa có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (bộc lộ cảm xúc) và thẩm mĩ (vẻ đẹp của ngôn từ)

- Nghệ thuật kể chuyện: Có bước phát triển vượt bậc.

+ Ngôn ngữ kể chuyện có 3 hình thức: trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả), nửa trực tiếp (lời tác giả mang suy nghĩ, giọng điệu nhân vật) Nhân vật trong truyện xuất hiện với cả con người hành động và con người cảm nghĩ, có biểu hiện bên ngoài và thế giới bên trong sâu thẳm

+ Thành công ở thể loại tự sự, có nhiều cách tân sáng tạo, phát triển vượt bậc trong ngôn ngữ thơ và thể thơ truyền thống

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc hoạ nhân vật qua phương thức tự sự,

miêu tả chỉ bằng vài nét chấm phá mỗi nhân vật trong Truyện Kiều hiện lên như một chân dung sống động Cách xây dựng nhân vật chính diện thường được xây dựng theo lối lý tưởng hoá, được miêu tả bằng những biện pháp ước lệ, nhưng rất sinh động Nhân vật phản diện của Nguyễn Du chủ yếu được khắc hoạ theo lối hiện thực hoá, bằng bút pháp tả thực, cụ thể và rất hiện thực (miêu tả qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động… của nhân vật)

- Nghệ thuật miêu tả tài tình, bên cạnh bức tranh thiên nhiên chân thực sinh

động (Cảnh ngày xuân), có những bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc (Kiều ở lầu Ngưng Bích)

Ngày đăng: 10/03/2016, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w