Người ta thường tổ chức các tốp từ năm đến bảyngười, nhiều thì có đến vài chục người, tay xách cồng, hát xong một bài, phường bùa lạiđánh một đoạn nhạc cồng theo những giai diệu nhất địn
Trang 1DÂN TỘC MƯỜNG
Dân tộc Mường là một trong những dân tộc thiểu số đông nhất ở miền Bắc nước ta,ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, dân số khoảng 1.200.000người Cư trú chủyếu ở Hòa bình, Thanh Hóa, vĩnh phúc
Kinh tế : Người Mường biết làm ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư Nghề
nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thực chủ yếu Lúanếp được trồng nhiều hơn lúa tẻ Đồng bào làm mương, phai để lấy nước, vừa canh tácnương rẫy, vừa canh tác ruông bậc thang.Về chăn nuôi người Mường chăn nuôi trâu bò làchủ yếu để làm sức kéo
nghề thủ công thường gặp là dệt, gia đình có bao nhiêu người đàn bà con gái thì cóbấy nhiêu khung cửi dệt vải, dệt đủ vải mặc trong mỗi gia đình Ngoài ra Săn bắn và hái
lượm, đánh cá bổ sung thêm nguồn thức ăn Người Mường có nhiều kinh nghiệm làm
Khi dọn lên nhà mới có tục đặt bếp mới 3 hòn nục, cạnh cột bếp đặt một quả bí ngô
to, cắt 3 con cá bằng bẹ chuối treo lên cột bếp, mời thấy mô đến nhóm lửa ở bếp mới, ýnghĩa bếp luôn có cá nấu nướng nhà mới luôn sinh sôi, nhà luôn đỏ lửa
2.Trang phuc : Bộ trang phục truyền thống của người phụ nữ Mường gồm có
khăn, áo, yếm, dây lưng, váy, đồ trang sức
Người Mường Thanh hóa: không dùng khăn trắng mà dùng khăn màu đen hoặcchàm, áo ngắn chui đầu, cổ tròn hoặc cài khuy ở 1 bên vai,váy quấn ngoài áo
Mường Hòa bình: đội khăn trắng trên đầu, áo cánh ngắn xẻ ngực, cổ tròn hoặc cổ thìa,không có khuy cài, quấn váy
Phần quan trọng nhất trên váy Mường là cạp váy, là nơi duy nhất người phụ nữ
Mường dụng công trang trí, khi mặc phải quấn quanh thân, phần thừa gập lại thành nếpsuốt chiều dài thân váy phía trước
Trang 2thắt lưng: thắt đứng giữa eo trên nền cao váy, hai đầu dây thắt lưng để thả mối ở haibên hông , đồ trang sức như khuyên tai, trâm cài đầu, vòng cổ, vòng tay, xà tích.
Phụ nữ Mường dùng 2 loại nón: Trong các đám hội, họ mặc áo chùng, tay cầmnón lá, giống như kiểu nón lá quai thao của phụ nữ Kinh xưa kia Mặt ngoài nón phẳng,mặt trong nón gắn vành tre đan nhỏ, khi đội ôm gọn lấy khuôn đầu Tuy nhiên, loại nónnày không phải bao giờ cũng để đội Thường ngày, khi đi làm đồng, ngoài chiếc khăn độiđầu, những ngày nắng gắt, mưa dầm, phụ nữ Mường còn đội nón thúng Nón đan bằngtre, phết thêm sơn cho bền, phía ngoài hơi khum, mặt trong phẳng, nhưng giữa nón có cái
đế đội lọt vào chỏm đầu cho chắc
Các đồ trang sức như khuyên tai, trâm cài đầu, vòng cổ, vòng tay và xà tích, vàonhững ngày lễ tết, hội hè, cưới xin, phụ nữ mới mang ra dùng
Trang phục nam : Áo cánh ngắn bốn thân may từ vải bông hay vải tơ tằm, vạt dài gần
chấm mông, hai bên hông áo xẻ tà Nẹp áo ngực đơm khuy cài cúc, ba túi, hai túi to phíadưới hai vạt trước và túi nhỏ trên vạt ngực trái tay nối liền với cầu vai.Xưa có tục để tócdài búi tóc Trong lễ hội dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoácđôi áo chúng đen dài tới gối, cái cúc nách và sườn phải
Quần dài: Quần vải chàm may chân què rộng đũng, rộng ống, cạp to Khi mặcdùng cái khăn quần thắt ngoài cạp, đầu khăn buông dài tới đầu gối
3 ẩm thực : Món cá chua: cá về mổ bụng moi ruột, cắt khúc nhỏ bằng hai ngón
tay, bỏ đầu đuôi, ướp muối, đem xôi, sau đó thêm một ít cơm nguội, ít men rượu, trộn đềurồi cho vào hũ, được 15 ngày thì bỏ thính vào.Cá ướp chua để từ 3 đến 6 tháng
Lợn muối chua : Đây là món ăn độc đáo, đặc biệt của người Mường là món truyền
thống đồng bào Mường chỉ dùng dể tiếp khách quý Gia vị: giềng, và nhiều muối Cácloại gia vị trên cùng với rượu nếp cái ướp chung với thịt lợn sau đó cho vào hũ lớn, cáchmỗi lớp thịt rải một lớp gạo rang Công đoạn cuối cùng chỉ là ủ kín, gác trên bếp củi,khoảng 1-2 tuần là dùng được
Ngoài ra ,còn một số món: Rượu cần , Cá nướng Cơm lam
II.TCXH: Đơn vị cơ sở của xã hội là bản, nhiều bản hợp lại mường Đứng đầu mỗi
mường thường được gọi là Lang Cun Quyền lợi kinh tế của nhà Lang là đời đời ănruộng Lang, gồm những ruộng tốt nhất trong mỗi mường Sự phân biệt đẳng cấp giữanhà Lang với nhà dân rất ngặt nghèo Dân dù có khả năng gì cũng không thể trở thànhnhà Lang, trai nhà dân không được phép lấy con gái nhà Lang, ngược lại trai nhà Lang
có thể lấy gái nhà dân nhưng dù cưới trước thì gái nhà dân vẫn là vợ lẽ, nàng hầu NhàLang tuyệt tự không có con trai nối dõi thì dân phải đón nhà Lang ở mường khác đến caitrị gọi là Lang bảo hộ, lâu dần Lang bảo hộ trở thành Lang chính thức
Tổ chức gia đình: Gia đình người Mường mang chế độ phụ quyền rất rõ rệt, Người
chủ gia đình có những quyền hạn rộng rãi và quyết định mọi công việc quan trọng trong
Trang 3nhà,con cái sinh ra lấy họ cha, quyền con trưởng được coi trọng, người con trai là ngườiđược kế thừa gia sản trongđó người con trưởng được hưởng phần nhiều hơn.
III.VHTT:
Tôn giáo tín ngưỡng : Trước kia cũng có chùa thờ phật (còn gọi là thờ bụt) nhưng
không có sư sãi, không có cầu kinh niệm phật, việc cúng bái đều do ông sãi đảm nhiệm
Có nơi cũng gọi là chùa, song lại thờ bà chúa rừng
Thờ cúng tổ tiên, họ tin rằng người chết sang thế giới bên kia vẫn có cuộc sống tương tựnhư ở trần gian
Nhiều nơi thành hoàng thờ Tản Viên, nhất là những vùng gần đất Ba Vì
Lễ hội:
1 Lễ hội pôồn pôông.( tục chơi hoa của người Mường- Thanh Hóa)
Lễ hội bắt nguồn từ “Sử thi đẻ đất đẻ nước” của người Mường Pồn Pôông là lễthưởng hoa, chơi hoa, thường được tổ chức vào mùa xuân Tổ chức lễ hội Pồn Pôông,người Mường mong muốn mùa màng bội thu, bản Mường no ấm, ngô lúa đầy bồ, conngười hạnh phúc Vào mùa lễ hội, chung quanh cây hoa nhiều màu sắc, người hát múa,người đứng xem kín cả một vùng, những lời hát trữ tình trong sáng ngân lên quyện vớichín trò diễn: Xin vào chơi hoa, gieo bông, trồng hoa Lễ hội thường tổ chức từ tối đếnsáng và kéo dài đến 2,3 ngày
Tháng 3 âm lịch, mùa hoa bông trăng nở báo hiệu mùa lễ hội Pồn Pôông trở về trêncác bản vùng cao Hoa bông trăng tượng trưng cho tình yêu lứa đôi, vì thế đây còn là lễhội giao duyên gắn với nhiều câu chuyện tình lãng mạn
1 Hội Hát xéc bùa(sắc bùa).(hát cầu chúc, chúc mừng)
Căn cứ vào lịch Mường thì tết Mường chậm hơn tết của người Kinh 1 ngày.Tổ chứcngày mùng 1,2 Tết.Người Mường vào các ngày hội vui như về nhà mới, cưới xin hay TếtNguyên đán đều mở hội hát sắc bùa Người ta thường tổ chức các tốp từ năm đến bảyngười, nhiều thì có đến vài chục người, tay xách cồng, hát xong một bài, phường bùa lạiđánh một đoạn nhạc cồng theo những giai diệu nhất định, kéo đến một gia chủ nào đó hátmừng Người hát chúc mừng chủ nhà giàu sang Nhà chủ thường mời họ ăn uống hoặctặng tiền, gạo
Văn học nghệ thuật : người Mường có nền văn học dân gian khá phong phú ,Bài mo
“đẻ đất đẻ nước”, truyện thơ Hồ Liêu, nàng Nga hai mối…
Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích Thường(có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹpphong tục dân tộc Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu Ví đúm cũng là loạidân ca phổ biến
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mođọc và hát trong đám tang
Nhạc cụ: cồng là loại nhạc cụ đặc sắc của dân tộc Mường
IV PTTQ:
Trang 4Hôn nhân:
hôn nhân một vợ một chồng và cư trú bên nhà chồng Do tính chất phụ quyền củagia đình nên việc hôn nhân của con gái chủ yếu do cha mẹ quyết định
Thanh niên nam nữ đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu bạn đời, nhưng thường
bố mẹ hỏi vợ cho con trai qua ông mối gọi là ông mò Hôn nhân gồm 4 bước: lễ ướm hỏi,
lễ bỏ trầu, lễ xin cưới, lễ cưới.không thể thiếu bó mía có 4 cây, mía được người Mườngcoi như cây bất tử, ngọn mía sinh bụi nhiều cây mía mới, như người mẹ sinh con đàncháu đống sau lễ cưới người con gái chưa về nhà chồng ngay, người con rể đi lại làmgiúp nhà vợ, đồng thời nhà trai phải sêu tết nhà gái ; lễ đón dâu: mang lễ vật sang nhàgái , từ đây người con gái mới về hẳn nhà chồng
Tang ma : hình thức thổ táng
Người Mường quan niệm: người chết chưa được đọc mo thì chưa thể chôn cất Vì thế
kể mo có vai trò đặc biệt trong tang lễ Mo “đẻ đất đẻ nước” đã trở thành tang ca ở ngườiMường,được diễn xướng lại mỗi khi có người lìa bỏ cõi đời nghĩa là cái sống và cái chếtcần phải được nhắc lại Trong tang lễ Mường có người phải đóng vai trò quạt ma và cótang phục riêng cho người này trong khi thày mo làm lễ mời cơm, mời bánh cho hồnngười quá cố Người được chọn mặc đồ tang quạt ma thường là em dâu, con dâu, cháudâu thuộc bên nội hay ngoại Trên tay đeo nhiều vòng, tay phải cầm quạt múa, tay cáicầm cành cây vót tròn, trên đeo chiếc kéo và mảnh lá hình bàn tay “bàn tay ma“
Người quạt ma đội khăn bên trong và mũ ở ngoài Các góc mũ có treo những dâytua, rủ thấp, trên đó treo các mảnh vải nhiều mầu, những hạt cườm
Tang phục của nam giới gồm : Quần, áo cánh ngắn, áo chùng, khăn bịt đầu, bằngvải bông màu trắng, mày kiểu lộn trái ra ngoài để mặc Các con trai của người quá cốphải mặc đầy đủ bộ tang phục, riêng con trai cả phải đeo thêm vỏ dao
Xưa kia, bố mẹ chết, con trai, con gái phải cắt tóc nay chỉ cắt một ít mang tính tượngtrưng, sau một trăm ngày mới được sửa tóc và nhuộm màu tang phục Trong đám tang,thày mo giữ vai trò rất quan trọng và có trang phục riêng Thày mo mặc áo chùng xanh,may kiểu cài cúc bên nách phải, gấu áo phủ gót, gấu đáp thêm vải màu đỏ phía trong, tayrộng, áo may rộng, không xẻ tà, đội mũ xanh hình chóp Tay trái cầm quạt long hay quạtgiấy vẽ hình rồng, tay phải cầm chuông nhỏ, lắc điểm nhịp cho bài mo đưa hồn Khi đưa
ma, thày mo đi trước tay cầm kiếm, dẫn hồn người quá cố đi tới huyệt, chỉ cho hồn ở đó,rồi cởi tang phục, quay về bản theo con đường khác
DÂN TỘC MÔNG
Dân số khoảng 760 nghìn người, cư trú chủ yếu ở Hà Giang, Lào cai, Sơn la, Thuộcngữ hệ Hmông- dao Chia thành các nhóm: mông xanh, mông trắng, mông hoa, môngđen( Mộc Châu gọi mông hoa là mông đỏ)
Kinh tế: Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy định canh và du
canh, trồng ngô, trồng lúa, ở một vài nơi có ruộng bậc thang Cây lương thực chính là ngô
và lúa nương, lúa mạch Ngoài ra đồng bào còn trồng lanh: nguyên liệu chính để dệt vải
Trang 5của Mông Là một dân tộc trồng nhiều thuốc phiện nhất ở Việt Nam Săn bắn và háilượm: dùng súng kíp là phổ biến
Chăn nuôi: trâu, bò , ngựa, lợn, gà nhà nào cũng có.Trâu bò cho sức kéo, ngựa thồhàng, cưỡi đi chợ là nét văn hóaphổ biến ở người Mông Mỗi gia đình nuôi ít nhất từ 5-7con lợn,Ai không nuôi lợn đều bị coi là không phải người Mèo, trong tương truyền lợn đã
có công giúp người , là cha của vua Mèo
Thủ công nghiệp: dệt, rèn( khoan nòng sung, lưỡi cày) , làm đồ gỗ, làm giấy, làm đồtrang sức…
Công cụ sản xuất: cối xay ngô, lò rèn
I.VHVC:
Nhà cửa: nhà đất
Gồm ba gian hai chái: gian giữa đặt bàn thờ, hai bên là bếp và buồng ngủ, buồng ngủthường không bố trí ngang hàng cùng với bàn thờ Mái nhà lợp cỏ tranh, ngói âm dươnghoặc bằng ván xẻ, tường trình hoặc tường xếp bằng đá, tường trình dày có khi 70-80 cm,nền nhà cao xung quanh được kè đá Nhà được làm bằng gỗ Bơ mu(dùng rìu đẽo, thớthẳng- gỗ nhẹ có dầu, ít cong vênh mối mọt , khi chuyển nhà chỉ cần tháo gỗ) Trong nhàCột giữa ngăn 2gian là “cột thiêng” & được coi là cột chính.Không có bàn thờ cố định,khi có việc mới bày ra (có nhà chỉ có một mảnh giấy đỏ dán trên vách) Mỗi nhà đềuđược mở từ 2-3 cửa, mọi người trong nhà nhất là phụ nữ thường đi lại hàng ngày chủ yếuqua cửa phụ Cửa chính có ma cửa canh gác để bảo vệ sức khỏe cho thành viên trong giađình, nếu người phụ nữ khôn g được sạch sẽ mà đi vào cửa chính thì sẽ làm ma cửa ngã .Gian có bếp lò được coi là gian gốc của ngôi nhà và buồng ngủ của chủ nhà bao giờ cũng
ở gian này Bếp chỉ được dùng để nấu sáng và cám lợn Nó được đắp sau khi dựng nhà,đàn ông đắp lò phụ nữ chuẩn bị đất Bếp đắp bằng cách đổ đất vào một khuôn gỗ rồi nệnchặt hôm sau khi đất gần khô người ta tháo bỏ khuôn rồi khoét miệng lò đặt chảo gangvào và khoét cửa lò Chảo gang có ý nghĩa rất quan trọng vì nó được coi là vật giữ víacủa chủ nhà Họ không bao giờ cho ai mượn chảo nếu cho mượn họ phải đặt một hòn đávào bếp Trước nhà có cối xay ngô.Chuồng trâu bò được làm ở trước mặt nhà và chỉ cáchnhà vài mét
Trang phục: trang phục của người phụ nữ Mông gồm: áo xẻ ngực có yếm lưng, tấm
xiêm che trước bụng, thắt lưng,,khăn quấn đầu to xù, xà cạp quấn hai bụng chân Váyhình nón cụt, xếp nếp xòe rộng Tuy nhiên, mỗi nhóm Mông khác nhau, váy áo cũng cónhững điểm khác nhau
Mông trắng: cạo tóc xung quanh và chỏm lớn ở đỉnh đầu, quấn khăn vành rộng , áo
xẻ ngực có thêu hoa văn ở cánh tay và yếm lưng, váy làm bằng lanh trắng , có thêu chỉmàu sặc sỡ quanh gấu
Mông xanh:khi còn con gái để xõa tóc ngang vai,khi lấy chồng quấn tóc lên đỉnh đầu
dùng lược gỗ móng ngựa cặp ngược về phía giữ tóc, khi chùm khăn đầu có hai đầu nhọnchìa ra phía trước, áo mở chếch ngực về phía bên trái, cài một khuy, hò và cánh tay, cổ áođều thêu hoa văn váy may bằng vải chàm, ở sát gấu có thêu hoa văn hình chữ thập trongcác hình vuông
Trang 6Mông hoa: để tóc dài quấn quanh đầu và sau đó quấn thêm tóc giả, áo xẻ nách , trên
vai và ngực có nẹp thêm vải màu thêu hình hoa văn thường là hoa văn con ốc, váy màuchàm có thêu hoặc in hoa văn trên thân váy và gấu váy
Mông đen: áo giống áo của mông trắng nhưng thêu ở cánh tay và hò áo, vaý cùng kiểu
vời mông trắng và mông hoa nhưng ngắn hơn, màu chàm, hoa văn màu trắng
Đồ trang sức: hoa tai,vòng, xà tích,…
Trang phục của đàn ông Mông giống như đàn ông Nùng:
áo ngắn, chỉ dài đến thắt lưng, cổ áo có một cánh nhiều cúc để cài và kéo chéo từ trên
cổ xuống nách bên phải
Mông hoa và Mông trắng : áo thường là màu đen, không trang trí hoa văn và đượcmay với hai lớp vải Lớp bên ngoài màu đen nhuộm chàm, lớp bên trong áo là vải màuxanh da trời hoặc màu xanh nước biển
Mông đen: hai ống tay áo và phía trước ngực được trang trí bằng nhiều hoa văn vớinhiều màu sắc khác nhau
Quần dài, đũng chân què, cạp lá tọa, quần áo đều màu chàm
Thỉnh thoảng cũng thấy nam giới Mông dùng khăn, nhất là nhóm Mông Trắng, , đó làtấm khăn vải màu chàm dùng để chít lên đầu
Âm thực:
Mèn mén: được làm từ hạt ngô tẻ Để có được món mèn mén, các gia đình người
Mông thường phải đồ mèn mén vào sáng sớm để dành cho ăn cả ngày Việc chuẩn bị làmmèn mén đòi hỏi tốn nhiều thời gian để thực hiện với các công đoạn: bóc vỏ, tách hạt rakhỏi lõi ngô, xay hạt ngô thành bột và sàng bỏ bớt vỏ Sau khi có bột ngô vừa ý, người tacho vào chõ và đặt chõ trong một cái chảo có nước vừa đủ để đồ
Để thành món mèn mén người ta phải đồ hai lần Đồ lần đầu để tẩm nước vào bộtngô, đồng thời cũng là để làm cho bột ngô tơi, không dính vào nhau Sau khi làm tơi và
để nguội, người ta lại cho ngô vào chõ đồ lần hai và lần này phải đồ cho chín thật kỹ
Thắng cố: Ngày xưa, người Mông nấu thắng cố bằng thịt ngựa giờ thắng cố thường
không được nấu với thịt ngựa nữa mà chủ yếu là thịt trâu, thịt bò, thịt dê, thịt heo, nhưng
có lẻ ngon nhất vẫn là thịt bò Khi con vật được giết mổ, rữa sạch và để riêng từng bộphận, lấy xưong chân và xương ống đem ninh đến khi nhừ thì cho thịt vào, miếng thịtchín tái thì cho lòng, gan, tim, dạ dày vào
Ngoài ra, còn một số món như rượu ngô, Canh rau cải mèo
Phương tiện vận chuyển :chủ yếu là ngựa thồ, dùng để cưỡi đi chợ đi xa vận chuyển
hàng hóa
II.Tổ chức xã hội: đơn vị cư trú là giao, mỗi giao gồm một vài dòng họ, cũng có giao chỉ
có một dòng họ, mỗi giao có thể gồm từ một vài nóc nhà cho đến hàng trăm nhà trên mộtđịa điểm hoặc nhiều địa điểm Mỗi giao có một hoặc hai người đứng đầu theo chế độluân phiên gọi là sùng thầu hay sống thầu Tổ chức xã hội có phạm vi rộng hơn giao gồm
nhiều bản hay nhiều xã, thấy ở một vài nơi gọi là giồng.
Người H’mông cũng quan niệm rằng các dòng họ của mình cùng sinh ra từ một ông
tổ, tuy ông tổ đó được gọi không thống nhất Mỗi họ có một trưởng họ đảm nhiệm các
Trang 7công việc chung Trưởng họ thường là những người có khả năng, không kể tuổi tác, ngôithứ và được mọi người tôn trọng ủng hộ và nghe lời Họ là linh hồn của dòng họ.
Tổ chức gia đình: là gia đình nhỏ phụ hệ, con trai được quí trọng , có nhiều con trai
là điều mong ước của mọi người Những gia đình không có con trai sau khi chồng chết ítquan tâm đến việc thờ cúng tổ tiên Để trở thành người lớn thực sự có thể cúng tổ tiêntham gia các việc họ hàng, người con trai còn phải thay tên cũ đặt tên mới bằng một nghilễ
Con trai được chia tài sản đều nhau, con út nếu chưa lấy vợ được phần tài sản nhiều
hơn
III.VHTT:
1.Tôn giáo và tín ngưỡng
Quan niệm vạn vật hữu linh Con người có ba hồn ở đỉnh đầu và hai tay, kiêng xoađầu trẻ con Có nơi người ta quan niệm hồn trú ngụ ở hai bên tay nên trẻ em kiêng chơihoa và vỗ tay Do quan niệm người có hồn nên khi trẻ em sinh được 3 ngày người ta đốtlửa ở cửa để gọi hồn trẻ Ngoài tổ tiên,rất nhiều ma được cúng trong nhà Người Mông
có hệ thống ma: ma nhà coi như thần tài phù hộ sự giàu có, tiền bạc, của cải; ma cửa ẩntrong miếng vải đỏ treo ở cửa, là ma canh giữ cửa nhà; ma lợn thờ ma lợn ở cột chínhtrong nhà , cột tượng trưng cho sự thịnh vượng của cả gia đình…
2.Lễ hội:
Lễ hội “gầu tào”: Gầu Tào (hội cầu phúc) Hội Gầu Tào nhằm với mục đích
chính là cầu tự, cầu phúc, cầu sức khoẻ, tạ ơn tổ tiên về mùa màng, súc vật, tổ chức vàonhững ngày tết Địa điểm mở hội là khu đất tương đối trống, , có trồng 1 hoặc 3 cây nêucao, trên buộc 3 mảnh vải lanh màu đen, trắng và đỏ Khách xa gần đến hội đều được giachủ đón tiếp thân tình với những bát rượu ngô nồng ấm và các làn điệu khèn tha thiết, ântình Song thơ mộng nhất trong hội Gầu tào chính là những đám hát giao duyên của nam
nữ thanh niên Giữa lãng đãng của mây ngàn xứ núi, bóng áo chàm của các chàng trai quấnquýt bên những bộ váy áo rực rỡ của các cô gái Họ hát với nhau không chỉ thi thố tài nghệ
mà còn để tìm hiểu nhau với ước mong nên vợ nên chồng sau những đêm hội đầu xuân.Hội có thể kéo dài 3 ngày nếu 1 năm tổ chức một lần hoặc 9 ngày nếu 3 năm tổ chức mộtlần
Lễ hội “Nào sồng” ( ao ước đầu năm): được tổ chức vào ngày thìn tháng ba âm lịch
hàng năm mà ngày thìn của tháng này thường tập trung vào ngày mồng ba, nhằm nộidung khấn cầu cho mưa thuận gió hoà nguồn nước dồi dào cho mùa màng tươi tốt câyrừng xanh tươi Thành phần dự hội là các chủ gia đình, người chủ trì hội là “lùng thầu”được bầu mỗi năm một lần Người chủ lễ Chứ Sồng( chủ sồng), chứ lồng(chủ lồng), hoặcthờu sồng( đầu sồng), thờu lồng( đầu lồng) chỉ có vai trò đứng ra tổ chức buổi lễ và trựctiếp hành lễ Hương, giấy tiền, giấy bản cắt thành sải, cơm gạo trắng, trứng luộc, raungon đều chuẩn bị sẵn từ các nhà mang đến Trong khi chủ lễ don dẹp sắp xếp đồ lễ thìnhững người giúp việc mổ gà dùng tiết và lông cổ gà dán vào một số thân cây to xungquanh Chủ lễ đã tắm rửa sạch sẽ từ đêm hôm trước lúc này bắt đầu thắp hương cắm lên
Trang 8mâm cỗ cúng Nội dung bài khấn đầu tiên là gọi thần thổ địa rồi đến thần cây cỏ, thầnrừng rú, thần núi đá, thần mưa, thần gió, thần lương thực chứng giám cho lòng thànhcủa con người, cầu mong các thánh thần không nắng gắt không mưa to gió lớn khôngphát sinh nhiều sâu bọ, ban nước điều hoà người khoẻ mạnh gia súc gia cầm đầychuồng thông thường xích mích dễ xảy ra trong các trường hợp tranh giành nguồn nướchoặc sơ ý thả trâu bò ăn lúa ngô nếu có ý kiến phản bác thì sẽ đưa ra thảo luận lấy ýkiến chung Sau khi bàn luận đi đến thống nhất mọi người cùng vui ăn uống Con gà đư-
ợc dâng cúng thuộc về chủ lễ nên chủ lễ có thể cho mọi người cùng hưởng hoặc mang vềnhà tuỳ tâm còn con vật hiến tế là lợn hoặc dê chỉ chọn một phần để luộc hoặc liên hoanchung số còn lại chia đều cho các hộ tính theo nóc nhà Sau phần lễ có thêm phần hội,đàn ông tham gia các trò chơi như bắn nỏ, võ gậy, đánh quay, đi cà kheo, phụ nữ nấu cácmón ăn đặc sắc và khoe những bộ váy áo sặc sỡ nhất
3.Tết của dân tộc Mông: Người Mông có một hệ lịch riêng Theo đó, người Mông tổ
chức Tết vào khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch ngày nay đa số các vùngngười Mông đã ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh Với họ, ba món không thể thiếu làthịt, rượu và bánh ngô
Người Mông không đón giao thừa Đối với họ, tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùngMột mới là cái mốc đánh dấu một năm mới bắt đầu Tối hoặc nửa đêm 30, người ta cúng
ma nhà (tổ tiên) bằng một con lợn sống, một con gà còn sống (và phải là gà trống, mà tốtnhất là gà trống tơ) Từ mùng Một trở đi họ mặc quần áo mới đi chơi Ném pao là mộttrong những trò chơi ngày Tết mà người Mông rất thích; ngoài ra còn múa khèn, múa ô,chơi cầu lông gà, hát ống, hát dân ca, đua ngựa, bắn nỏ
Văn học nghệ thuật: truyện cổ dân gian: khúa kê Câu đố cũng khá phổ biến.
Âm nhạc: , dân ca chiếm vị trí đáng kể, hát giao duyên Một số dụng cụ âm nhạc nhưkhèn, kèn lá, đàn môi
Trong những ngày hội đầu xuân, nam nữ thanh niên ca hát, chơi các trò chơi cổtruyền: ném pao…
IV PTTQ:
1.Hôn nhân: Với hôn nhân mua bán xưa kia , thịt rượu, bạc trắng là những vật định
giá gả bán người con gái, con dì con già con cô, con cậu được lấy nhau, con trai cậu lấycon gái cô được coi là điều tốt Vì tài sản và con cái, tục em chồng lấy chị dâu đã tồn tại
từ lâu, trường hợp em chồng đã có vợ thì chị dâu làm lẽ, không có em chồng thì lấy emhọ
Tục “cướp vợ” trước đây khá phổ biến Thanh niên tổ chức đón đường kéo người congái về, dù người đó không bằng lòng Sau khi cướp được hai hôm nhà trai cho người báotin cho nhà gái và bàn việc cưới(khi bị cướp bố mẹ không được cứu) Ngày nay tục cướp
vợ gọi là kéo tay người con gái theo cách dắt tay một đoạn
Hôn lễ người Mông tiến hành theo3 bước:
-Lễ dạm hỏi: nhà trai nhờ ông mối đem lễ vật đến nhà cô gái dạm hỏi, bàn bạc đi đếnnhất trí làm lễ “ buộc dâu” vào tay cô gái bằng sợi chỉ hồng do nhà trai mang đến
Trang 9- Lễ trao vật cưới
- Lễ cưới:gồm tổ chức đón dâu, lễ nhập môn, lien hoan ăn uống Đòan đón dâu phải là
số lẻ, đoàn đưa dâu về nhà traigộp lại phải là số chẵn Khi đón dâu về đến cửa ông chúcủa chú rể cầm con gà ma quay trên đầu cô dâu 3 vòng gọi là nhập hồn cô dâu về nhàchồng Cô dâu vào làm lễ lạy bàn thờ tổ tiên nhà chồng gọi là lễ nhập môn, sau đó côdâu ra mời rượu họ hàng nhà trai
2.Tang ma: hình thức thổ táng
Trong đám ma chỉ những người cùng họ mới được khiêng quan tài Khi nhà có đám
ma thì mọi người cầm cuốc, xẻng, …chạy xung quanh nhà với ý xua đuổi tà ma để hồn
ma về với tổ tiên ở một số nơi có tục đưa xác ra ngoài trời để trên một sàn nhỏ có hoặckhông có mái che một thời gian, tại đó còn phải giết bò cúng (cúng ma bò) và ăn uốngxong mới chôn cất, trường hợp không đưa xác vào quan tài ngay , người ta cho quan tàixuống huyệt trước rồi mới đưa xác xuống sau trước khi đậy nắp quan tài quần áo ngườichết được cắt nhiều chỗ và cạnh xác được đặt những sợi lanh thái nhỏ trộn cơm
để làm hạt giống Ngoài ra còn trồng ngô, khoai lang
Chăn nuôi:nuôi gà vịt ngan ngỗng, nuôi trâu,bò không lấy sức kéo mà làm vật địnhgiá, nhà nào nhiều trâu bò là nhà giàu, số ít nhà khá giả nuôi voi gia đình đó được coi là
1 Nhà cửa: Ngôi nhà dài của người Ê đê là nhà sàn, làm bằng tre gỗ, lợp tranh Khi
nói tới chiều dài thì đồng bào nói tới số lượng dầm ngang (đê) tương ứng với một đôicột Nhà bao nhiêu đê là bấy nhiêu gian Đáng chú ý là nhà chỉ có vì cột, không có vìkèo, do đó khung nhà và mái nhà là hai bộ phận tách rời nhau ghép lại Đồng bàokhoét ngoàm để đặt đôi xà dọc lên hàng cột cái, quàng quá giang lên đôi xà dọc, đểdầm ngang và cột ốp vào nhau Bộ xương mái gồm một lớp kèo giả, những hàng đòntay, rui, mè và trên cùng là tranh Tranh lợp từng cum, ngọn thả xuôi mái, gốc bẻ gậpxuống để cây đòn tay chèn giữ phía trên
Nhà ở của người Ê đê làm theo hướng Bắc-Nam, khác với nhà mồ của họ dựng theohướng Đông-Tây, mái nhỏ ở hai đầu hồi, che cột hiên Phên dựng ở hai đầu hồi thẳng
Trang 10đứng, còn phên ở dọc theo chiều dài nhà thì ngả ra hai bên, nên nhìn từ xa ngôi nhà
có hình dáng một cái thuyền
Nhà có hai cửa: cửa phía trước dành cho khách và nam giới, cửa sau dành cho phụ
nữ Sát với hiên là sàn, nhưng sàn khách dài gấp đôi sàn sau Cầu thang phía sànkhách đối với nhà dân, chỉ là một khúc gỗ tròn đẽo bậc: đối với nhà giàu là những tấmván có bậc đầu đẽo uốn về phía trước như đầu một con thuyền với những hình khắc nổinhư trăng khuyết, đôi vú đàn bà Có nhà dựng ba cầu thang ở phía trước, một chínhhai phụ Có khi cầu thang phụ khắc hình ngà voi thay cho đôi vú đàn bà
Không gian trong nhà theo chiều dọc gồm hai phần rõ rệt: từ cửa chính đi vào làmột phần rộng, chiếm 1/3 gọi là gah, phần còn lại là ôk:
Gah là nơi tiếp khách, có bếp cho khách và là nơi sinh hoạt chung của gia đình, nơicúng thần, chỗ ngủ cho con trai chưa vợ, nơi đặt nhiều đồ vật quý Gah và ôk đượcngăn bởi vì cột có khắc hình, trong đó cột phía Đông là cột chủ, bên cạnh kê một phảnđộc mộc để người đứng đầu gia đình ngồi khi có hội họp; cột phía Tây là cột trống, nơiđặt trống cái sát vách sau hàng cột phía Đông là nơi để một hàng ché Bên cạnh bếpkhách, có một bếp dùng nấu ăn khi có lễ nghi
Diện tích ôk theo chiều dọc phía Đông là những buồng ngủ cho từng cặp vợ chồng,
có phên ngăn, theo thứ tự: buồng thứ nhất từ cửa sau vào là của vợ chồng người đứngđầu gia đình, tiếp đến là buồng để đồ dùng, cũng là buồng dành cho con gái út, ngườithừa kế gia đình khi lấy chồng thì sử dụng, rồi mới là buồng của các cô gái cả, thứ.Phía trước buồng chủ nhà có bếp nấu ăn chung, nơi để nước Những cặp vợ chồng ăn
riêng cũng có bếp ở phía trước buồng mình Khi ngủ, người Ê đê chỉ quay đầu về hướng Đông, hướng của mặt trời mọc của mọi sự sinh sôi nảy nở
Phía sau nhà dài là kho lúa, thường dựng cao hơn nhà ở, mặt sàn hình vuông, có thểchứa 2-3 tấn thóc trở lên
Các gia đình lớn mẫu hệ Ê đê sống trong các nhà sàn-dài Tùy theo số lượng ngườitrong mỗi gia đình mà nhà dài, ngắn khác nhau Những ngôi nhà dài của người Ê đêngày nay chúng ta còn thấy chỉ dài khoảng 20 – 30m những nhà dài hàng trăm méthầu như không còn
2.Trang phục:
Nữ giới: Cách để tóc là búi tóc, xưa kia còn đội nón duôn bai Thường ngày,phụ nữ
người Ê Đê quấn váy, ở trần
Áo ngắn cánh ngắn chui đầu, ống tay dài hoặc ngắn, có thêu hoa văn ở vai, nách, cổtay, gấu áo
Váy quấn dài đến gót chân, quấn theo chiều ngang khổ vải nên cạp và gấu váy cónhững đường dệt hoa văn chỉ trắng đỏ trên nền vải chàm
Nam giới: áo cánh dài quá mông, cổ tròn kiểu chui đầu,xẻ tà, có hoa văn dệt dọc bên
nách, ở gấu, vai và cổ tay,trước ngực áo có mảng hoa văn “ đại bàng dang cánh” Namgiới người Ê Đê đóng khố ,khố có hoa văn ở hai bên mép vải và hai đầu khố, hai đầu khố
có nhiều tua
Nam nữ đều đeo trang sức bằng bạc hay đồng khi đi xa họ thường mang gùi ở saulưng
Trang 11Phương tiên vận chuyển :chủ yếu bằng cách cõng gùi trên lưng, ngoài ra vận chuyển
bằng voi nhưng không phổ biến
II.Tổ chức xã hội:
Đơn vị cư trú là buôn(làng) Hợp thành buôn là những gia đình , thường thấy là giađình lớn mẫu hệ Các thành viên trong buôn đều là than thuộc của nhau hoặc cùng huyếtthống hoặc do quan hệ hôn nhân do đó quan hệ cộng đồng buôn được duy trì khá bềnvững ngôi nhà chung cuả cộng đồng là nhà dài, nhà rông
Tổ chức gia đình:
Chế độ mẫu hệ, người phụ nữ đứng đầu gia đình Con mang họ mẹ và hôn nhân cư trúbên nhà vợ Thừa kế tài sản theo dòng nữ vai trò người cậu được đề cao
II VHTT:
1 Tôn giáo tín ngưỡng: đồng bào quan niệm đất và nước là do các thần Aê Diê và
thần Aê Du sáng tạo ra, còn trên mặt đất có thần Pô lăn trông nom đất đai thần Pô pin ca
là chủ nguồn nước có những tục kiêng kỵ như khi có trận mưa đầu mùa người ta đem hết nông cụ ra khỏi nhà bày trên sân sàn hứng nước mưa để cầu may , hôm đầu tiên đilàm rẫy họ kiêng gặp huou, nai…
bà con trong những ngày làm Kơ Pan, mà theo tục lệ còn phải là người đã tổ chức đượccác lễ hiến sinh, cầu sức khỏe có nhiều cuộc khoản đãi cộng đồng và có một số lượngchiêng ché lớn
Lễ hội Mùa xuân hay Lễ hội mừng lúa mới : là lễ hội mà người Êđê tổ chức sau mùa
gặt hái, đón năm mới Vào dịp này, mọi gia đình đều khẩn trương đưa lúa về chòi và rướchồn lúa về nhà, đồng thời tổ chức lễ ăn cơm mới để tạ ơn trời đất, thần lúa, ông bà tổ tiên
đã cho một mùa lúa bội thu và cầu mong một mùa mới thóc lúa đầy nhà Là mùa “ănnăm, uống tháng”, Mùa mà cả cộng đồng nghỉ ngơi, vui chơi thỏa thích
Sau lễ ăn cơm mới, các buôn làng tổ chức lễ cúng bến nước, để cầu mong mưa thuận,gió hòa, nguồn nước dồi dào, trong lành, mọi người khỏe mạnh, nhà nhà nhiều lúa, bắp,trâu, bò, heo, gà
Lễ hội đâm trâu :là một lễ hội nhằm mục đích tế thần linh hoặc những người đã có
công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bội thu hay
ăn mừng các sự kiện quan trọng khác
Tổ chức ở ngôi nhà chung của buôn làng như nhà dài, nhà rông,
Người chủ trì lễ hội là một già làng
Dân làng chọn một con trâu khỏe mạnh đưa đi tắm rửa sạch sẽ và cho ăn uống no nêrồi đem buộc bằng dây mây vào một cây cột cao trên 5 m Đây là một cây cột gỗ hoặc tređặc biệt được trang trí bằng các hoa văn, hoa rừng, cờ thật đẹp Trên đỉnh cột thường đặtmột biểu trưng chẳng hạn như chim phượng hoàng tạc bằng gỗ
Trang 12Chủ trì đọc lời khấn cầu xin hay tạ ơn thần linh và mời thần linh xuống ăn thịt trâu,uống rượu cần Chủ trì khấn xong thì các đội cồng chiêng bắt đầu diễn tấu Cả làng nhảymúa, ca hát, uống rượu, biểu diễn võ thuật.
Nghi lễ đâm trâu là phần quan trọng bậc nhất của lễ hội Các tráng sĩ được trang bị laodài sẽ phóng lao giết trâu, vừa phóng lao vừa biểu diễn các bài võ thuật
Con trâu bị giết được đem xẻ thịt nhỏ chia cho các nhà trong buôn làng cùng liênhoan
3 Văn nghệ dân gian: người Ê Đê có kho tàng truyện thần thoại rất phong phú, bên
cạnh đó còn nhiều sử thi ( còn gọi là khan) nổi tiếng : Đăm San, Xinh Nhã, Đăm Di… Nhạc cụ: cồng chiêng là loại nhạc chính
III PTTQ:
1.Hôn nhân: hôn nhân chị em vợ và hôn nhân anh em chồng tương đối phổ biến
mà người Êđê gọi là nối nòi(chuê nuê) Chồng chết người đàn bà góa có quyền đòi hỏi
nhà chồng một người em chồng thay thế và cũng như vậy đối với người đàn ông , khôngđược lấy anh hay chị người quá cố Họ còn có tục nối nòi khác là cháu lấy mợ, ông lấycháu , bà lấy cháu, nhưng là cháu nội , không thể là cháu ngoại tức con của con gái ông hay bà hoặc con rể của con gái ông hay bà
Chế độ mẫu hệ chi phối nên trong hôn nhân người con gái chủ động tòm chồng.Người con trai và gia đình nhà trai đồng ý, thì hôn lễ được tiến hành như sau:
- lễ “trao vòng” (ăn hỏi) Nhà gái trao cho ông mối mang đến nhà trai một vòngđồng(hoặc chuỗi hạt cườm) và một ghè rượu ngon để làm lễ Ngược lại nhà trai tặng nhàgái một vòng đồng để đính ước Sau lễ này, nhà trai làm cỗ thết nhà gái
Thách cưới: Thường thì nhà trai thách một trâu, một thanh la, một gà, 10 ghè rượu….-Lễ cưới được tiến hành trong 2 ngày Ngày đầu tiên nhà gái làm thịt bò, thịt lợn thếtđãi, rồi làm lễ “rước rể” về Đây là buổi lễ long trọng, có múa hát thâu đêm
Bước vào nhà gái, chàng rể phải rửa chân bằng bát nước lễ Chú rể cùng cậu và anhruột mình uống ba bát rượu và đeo ba vòng đồng Cô dâu cùng cậu và anh ruột mìnhcũng làm động tác tương tự Việc làm này tượng trưng cho sự chứng kiến của thánh thần
và toàn thể buôn làng
Ngày thứ hai, khi các lễ đã xong mọi người tụ họp vật bò, mổ lợn, ăn mừng chú rể côdâu, trong khi đó, 2 người đổi chén rượu hợp cẩn và nghe giáo huấn của cha mẹ cùng haihọ
Sau hôn lễ, chàng trai phải “tòng thê”, nghĩa là vợ ở đâu phải theo đó, muốn về thămcha mẹ phải xin phép về Đặc biệt là mỗi khi vợ ra khỏi nhà thì người chồng phải manggùi đựng các vật dụng theo vợ
Nếu ở người Kinh có tục ở rể, thì ở người Êđê lại có tục “ở dâu”:cô dâu phải sang ở
và làm việc cho nhà trai, đôi khi tới vài ba năm
Tục Chuê nuê: Đây là một luật tục cổ truyền, tồn tại đã khá lâu và bền vững trong
hôn nhân của người Êđê Tục Chuê nuê không những tìm lại sự trọn vẹn của gia đìnhmẫu hệ, tạo điều kiện cho con trẻ không bị khủng hoảng về tình cảm, tâm lý mà còn bảo
vệ của cải vật chất, bảo vệ gia đình mẫu hệ Theo họ, gia đình như vậy mới không bị
“đứt dây”, người còn lại “không bị lẻ đôi đơn chiếc” Hiện nay trong hôn nhân của ngườiÊđê, tục Chuê nuê vẫn còn tồn tại và vẫn được bà con áp dụng ở mức độ đậm nhạt khác