cùng với đó là xà rông màu trắng • Trong lễ cưới, trang phục của chú rể gồm khăn trắng dài đến thắt lưng, đội vòng ykal hình tròn, bằng gỗ, kim loại or vải để giữ khăn, áo kơ-roong màu t
Trang 1Đề 1:
1 Khái quát về nguồn gốc lịch sử dân số và phân bố dân cư của các dân cư ngữ
hệ Nam đảo ở Vn.
- Nguồn gôc lịch sử: các tộc người hệ ngôn ngữ Nam Đảo ở VN gồm : Chăm, Ê
đê, Gia Rai, Ra Glai, Chu Ru
• Nhiều học giả cho rằng các tộc người này có nguồn gốc ở Chiết Giang,Phúc Kiến (Trung Hoa) Họ di cư đến dyteen hải trung và nam Trung
Bộ từ khi nào và bằng cách nào thì vẫn chưa sáng tỏ, chỉ biết rằng họ
đã ở khu vực Miền Trung VN từ hàng ngàn năm trước nhiều người cho rằng khi mới đến, cộng đông này chỉ có một, đến khoảng thế kỷ XV- XVI thì chia thành 5 tộc ng riêng biệt như bây giờ
• Theo một số truyền thuyêt, cổ tích, nhất là truyền thuyết về tranh giànhchiếc gươm thần, có thể thấy tổ tiên các tộc người Nam Đảo có quan
hệ lâu đời với các tộc người nói ngôn ngữ Khơ me, người Lào… một
số di tích cho thấy từ thế kỷ XI về trước, nhiều vùng có ảnh hưởng Chawmpa
• Đến thể ký X tộc danh Ê Đê được ghi trên bia ký Chàm ở phía Nam, truyền thuyết về hang Adrenh rất phổ biến ở người Ê Đê và người Mnong Một số dòng họ tuy thuộc về 2 tộc người Ê Đê và Mnong, nhưng vẫn coi là anh em và cấm ko đc kết hôn
- Dân số và phân bố dân cư:
• Chăm: vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, ở VN có khoảng
76000 người Chăm, chủ yếu ở Ninh Thuận và Bình Thuận (Thuận HẢicũ), ngoài ra số ít người Chăm ở An Giang, Đồng Nai, Tây Ninh, HCM…đến năm 2009, toàn quốc có 161729 người Chăm, chủ yếu ở Ninh Thuận Bình Thuận, Phú Yên, An Giang và rải rác ở các tỉnh Tây Nguyên và ĐBSCL
• Ê ĐÊ: 2009, toàn quốc có 331194 người, chủ yếu ở Đăk Lak, Phú Yên,Đăk Nông, Khánh Hòa
• Gia Rai: năm 2009, có 411274 người, chủ yếu ở Gia Lai, Kom Tum, Đăk Lak và rải rác ở các tỉnh Bình Thuận, Phú Yên, Đồng Nai, Bình Định…
• Ra Glai: 2009, có 122245 chủ yếu ở Ninh Thuận Bình Thuận, Khánh Hòa LÂm Đồng
• Chu Ru: 2009, có 19314 người chủ yếu ở Lâm Đồng
2 Nêu đặc điểm chính về trang phục của người Ê Đê và Chăm.
Trang 2Trang phục người Chăm:
trang phục người chăm ở ninh thuận, bình thuận
- Nữ phục
+Phụ nữ chăm đội khăn có trang trí hoa văn màu tươi vui Họ chít khăn từ sau ra trước rồi vắt chéo 2 đầu khăn, 1 đầu khăn quấn vào thái dương bên trái, đầu kia thả múi khăn xuống thái dương bên phải Phụ nữ chăm bà ni lại quấn khăn từ trước đầu ra phía sau, 2 đầu khăn hất lên đỉnh đầu và vắt 2 múi ngược ra sau
+Áo dài bít tà, cổ chui đầu, cổ có nhiều loại: hình tròn, hình quả tim, hình lá trầu, áo gồm 4 mảnh vải ghép dọc chiều đứng thân ng, ngoài ra có 2 mảnh nhỏ ghép 2 bên sườn Áo dài có 2 loại, dài đến đầu gối hoặc quá gối 1 chút, có hàng khuy bấm hoặc cúc đính Phụ nữ trẻ mặc áo dài phủ chùm gót chân, phủ chùm lên váy, 2 bên hông có 1 đường may mở ngay eohông, áo thường có màu xanh lục, hồng hay chàm Ngoài ra họ mặc 1 áo lót bên trong áo dài
có dải dây vải buộc qua vai và vòng phía sau lưng
+Khăn (váy): có 2 loại Váy mở là loại váy quấn bằng 1 tấm vải, 2 mép vải k khâu Váy kín thì 2 mép khâu lại thành hình ống tròn Váy có loại 1 màu, or có hoa văn hay pha thêm sợikim tuyến khi dệt các hoa văn
+Đồ trang sức: phổ biến là bằng bạc như vòng cổ, khuyên tai Trang sức còn bằng cái thắt lưng, là dây vải hẹp có nhiều hoa văn, màu sắc rực rỡ, có tua chỉ màu 2 đầu
+Xà rông: là 1 tấm vải khổ rộng, có dùng 1 thắt lưng dệt bằng chỉ màu buộc lại và thả chùng xuống phía trước
b.trang phục ng chăm ở đồng bằng sông cửu long
- nữ phục
+khăn đội đầu (khănh pum): đây là 1 bộ phận k thể thiếu trong bộ nữ phục Khăn có hình chữ nhật dài, thường dệt bằng vải mịn mỏng, màu trắng, thêu viền quanh bằng họa tiết hoa dây leo bằng chỉ màu
Trang 3+áo dài cổ truyền (áo táh): là kiểu áo chui đầu, dài quá gối, rộng, may bít tà, cổ hình trái tim khoét rộng Tay áo dài đến cổ tay, bó chặt ngày nay, kiểu áo cổ truyền này chue yếu được các cụ già mặc với màu trắng ngà của lụa tơ tằm, màu chàm, màu đen, màu gụ, xanh sậm+váy (khănh): gồm váy mở và váy kín dài tận gót chân Ng già thường mặc váy mở (hay váy quấn), ng trẻ mặc váy kín Hoa văn trang trí trên váy có 2 loại: 1 là dệt nổi họa văn kỷ hà
or cách điệu hoa lá trên toàn mặt vải, 2 là có các dải hoa văn phân bố song song với nhau theo chiều ngang của váy Từ gấu váy lên trên 25-30cm là nơi tập hợp nhiều hoa văn trang trí được dệt cong phu, phức tạp, màu sắc váy khá đặc sắc
+trang sức: xưa chủ yếu là bạc, nay chủ yếu là vàng Một số nữ trang như hoa tai, nhẫn, vòng bạc, trâm tóc, thắt lưng bạc
+lễ phục: khi cầu nguyện thánh allah, họ mặc váy trắng mà áo măh than trắng có mũ dínhliền áo để che kín than, trừ đôi mắt
-nam phục
+thường phục: gồm mũ, áo và xà rông
• Mũ: mũ kapeak juk (kiểu như mũ cano làm bằng nỉ or nhung đen)
• Áo: trẻ em và thanh niên thường mặc áo sơ mi trawsngorr áo thun ngắn tay Các
vị trung niên trở lên mặc áo cheva, là áo rộng màu trắng, dài quá mông, cổ cao 4cm, từ cổ xẻ dọc xuống tới ngực áo và cài khuy đồng tay áo dài và hơi rộng, 2 bên sườn và nách có thể nối thêm vải, phía dưới áo có thể may thêm 2 túi
3-• Xà rông: dài tới cổ chân và làm bằng vải mềm, thường dệt họa tiết hoa văn kẻ sọc.phổ biến nhất là hoa văn ô vuông to màu nâu, đỏ, tím, xanh và dệt dọc 1 đoạn hoavăn có họa tiết khác biệt
+lễ phục:
• Các vị tăng lữ Islam và Hadji thường mặc lễ phục gồm khăn, áo và xà rông Khăn hình vuông, màu trắng, có tua chỉ màu Áo abachu màu trắng, dài quá gối cùng với đó là xà rông màu trắng
• Trong lễ cưới, trang phục của chú rể gồm khăn trắng dài đến thắt lưng, đội vòng ykal (hình tròn, bằng gỗ, kim loại or vải) để giữ khăn, áo kơ-roong màu trắng, dài phết gót, cùng với xà rông trắng
Trang phục của người Ê ĐÊ:
- Nữ phục:
• Váy: Chiếc váy cổ truyền của người phụ nữ Êđê gọi là m’yêng Đó là loại váy mở, màu đen đậm, quấn quanh thân, khi mặc váy phủ kín đến mắt cá chân Chạy dọc phía dưới chân váy là những hoa văn hình hạt thóc, hạt bắp và đường lưỡng hà… với màu đỏ, kết hợp với màu vàng, màu trắng trông rực rỡ nhưng kín đáo Căn cứ vào chất lượng vải và hoa văn trên váy, người Êđê có nhiều tên gọi khác nhau cho từng loại váy: m’yêng đêch, m’yêng drai, m’yêng kdru êch piek, m’yêng mut; trong đó m’yêng đếch là quý hơn cả (trước đây trị giá từ hai đến ba con trâu) Đó là những chiếc váy đẹp mà phụ nữ Êđê thường mặc trong những dịp lễ lớn của cộng đồng.
Trang 4• Áo chui đầu truyền thống của phụ nữ Êđê (còn gọi là ao đêch) được thêu dệt các đường hoa văn ngang dọc ở vai, nách, cổ tay và phần gấu áo (các hoa văn này cũng giống như hoa văn ở váy) Đặc biệt ở áo chui đầu được thêu màu đỏ pha màu vàng, màu trắng làm nổi bật trên nền đen của thân áo Có loại áo cổ vuông thấp bằng vai, đây là áo kín tà, hai vạt trước và sau bằng nhau Có loại áo mở ở hai vai được đơm một hàng cúc bấm bằng đồng lấp lánh, có những tua chỉ màu đính vào vai áo, trông rất duyên dáng.
• Phụ nữ Êđê thường búi tóc ở đằng sau gáy, cài trâm bằng đồng hoặc ngà voi Trâm có loại thẳng, có loại hình chữ U Phụ nữ Êđê có hai kiểu chít khăn: kiểu chít khăn ra đằng sau gáy, kiểu chít khăn ra trước trán vận chéo hình chữ nhân Các bà, các chị thường đeo vòng bạc hoặc chuỗi hạt trong những dịp lễ hội của cộng đồng, tạo nét đẹp duyên dáng, kín đáo.
- Nam phục.
• Đàn ông Êđê thường có tập quán mang khố (k’pin) Khố màu đen được dệt bằng sợi bông xe săn Trên mặt khố có nhiều đường hoa văn chạy dọc theo hai bên mép vải, ở hai đầu khố có tua dài khoảng 25 cm Người Êđê căn cứ vào dải hoa văn trên khố mà đặt tên cho từng loại khố: khố ktek, khố drai, khố bông, khố mlang; trong đó trị giá nhất là khố ktek, khố drai (xưa kia mỗi cái trị giá từ hai đến ba con trâu).
• Áo của đàn ông Êđê là áo dài tay, chui đầu, cổ áo hình chữ V Đây là loại áo lửng che kín mông, buông dài đến điểm giữa đùi và đầu gối, thân sau dài hơn thân trước Áo cánh của đàn ông Êđê thường mặc trong các dịp lễ hội được trang trí cầu kỳ hơn Loại áo này giữa ngực được mở ra một khoảng dài từ 10-15cm, có đính hàng khuy đồng, khuyết khuy áo được bện bằng chỉ đỏ Hai mảng ngực áo được trang trí bằng hai mảng hoa văn màu đỏ rực hình cánh chim đại bàng, tượng trưng cho khí phách và khát vọng chinh phục thiên nhiên của người Êđê Gấu áo được viền chỉ màu đính cườm trắng và tua chỉ màu đỏ dài khoảng 15 cm Áo này có tên gọi là ao đêch kwich gru, thường được mặc trong dịp lễ hội, cưới hỏi, mừng nhà mới… Mùa lạnh, đàn ông Êđê thường khoác thêm chiếc mền (a băn) dệt bằng sợi bông, màu nâu chàm, có trang trí hoa văn ở hai đầu (giống hoa văn ở khố) Khi ra khỏi nhà, dự lễ hội, hay đi thăm bà con ở buôn xa, họ thường đeo gùi, ngậm tẩu, đó cũng là cách làm nổi bật bộ trang phục cổ truyền
• Đàn ông Êđê thường đeo vòng đồng hoặc vòng bạc ở cổ tay, khi có lễ hội của cộng đồng Người cao tuổi của những gia đình khá giả thường đeo chuỗi hạt ở cổ và ngà voi
ở tai, thể hiện vẻ đẹp quyền quý.
3 Tín ngưỡng nghi lễ của người Chăm và Ê Đê.
- Người Chăm:
• Tín ngưỡng của người Chăm rất đa dạng, phong phú tồn tại dưới các hình thức khác nhau.Có những tín ngưỡng cổ xưa mang tính chất của loại hình tín ngưỡng thuộc xã hội nguyên thủy, có tín ngưỡng liên quan đến thờ cúng tổ tiên,dòng họ,có nhũng tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp nhưng dần dần đã trở thành tập tục đc tiến hành kèm theo những lễ nghi mang tính chất hội lễ dân gian.
• Gia đình và dòng họ có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Chăm.Gia đình và dòng họ có nhiều tín ngưỡng
và lễ nghi mang tính đặc thù của dân tộc.Ngoài những tín ngưỡng và
Trang 5lễ nghi liên quan đến chu kỳ đời sống con người,các phong tục tang ma,cúng tuần,lễ nhập kut,viếng nghĩa địa,ở đây tôi xin nêu một vài tín ngưỡng liên quan đến thờ cúng tổ tiên.Để thờ cúng tổ tiên trong dòng họ,người ta phải nhờ đến thầy Vỗ ,Muk Parô,Muk Rija,người giữ Chiết atâu của dòng họ thông qua các lễ Rija.Chiết atâu là một cái giỏ đan bằng tre,có quai xách dùng để đựng y phục và các loại đồ
lễ khác của ông bà tổ tiên đã khuất.Thông thường mỗi họ có một Chiêt atâu,nhưng những họ lớn có thể có hai hoặc ba Chiêt
atau.Người giữ Chiêt atau là một phụ nữ có nhiệm vụ thực hiện việc múa dâng lễ cho ông bà vào các lễ Rija.Mỗi họ có một lễ cúng tổ tiên
đc gọi là “Rija lệ” và là Rija Prong tức là lễ múa lớn.Ngoài ra mỗi gia đình hoặc dòng họ còn làm lễ Rija khi có nhười đau yếu bệnh tật để xin ông bà phù hộ cũng như để làm lễ tạ sau đó.Trường hợp này lễ Rija có thể tổ chức vào ban ngày (Rija haray) hoặc vào ban đêm (Rija yâup) tùy theo sự van vái.
• Nghi lễ : vốn có truyền thống noog nghiệp từ rất sớm và là sinh hoạt kinh tế chủ yếu nên lễ nghi truyền thống nông nghiệp Chăm được bảo lưu khá tốt : Lễ khai mương đắp đập (Pơh băng yang, Hạ Điềm (YorYang), mừng lúa mới (Trum trak), mừng lúa ra đồng( Paday mư tin)… Khi dựng nhà mới, người Chăm ở Ninh Thuận Bình Thuận thự chiện các nghi thức: cúng thổ thần để đốn gỗ, cúng khi chở gỗ về làng, cúng phạt mộc, cúng vào nhà mới.
- Người Ê đê.
• Tín ngưỡng: người Ê Đê tin có các vị thân phân phối lúa( ae đu), thần bảo vệ lúa( hbia đung), thần canh tác lúa (mtao kla), thần kho lúa (hbia klu) , thần sinh trưởng ( sri mli luc), hồn lúa (ae mghan), thần bão, thần gió, thần sấm, thần mưa, thần mặt trăng, thần mặt trời, thần cai quản mặt đất Đối với người Ê Đê ae điê là vị thần khổng lồ tạo ra
vũ trụ.
• Họ tin rằng mỗi người có 3 hồn : mngat nhập vào người từ khi mới thụ thai, mngah làm cho hài nhi cất tiếng khóc chào đời chui ra khỏi bụng mẹ, tlang hên thoát ra khi con người vừa chết họ cho rằng tô tiên dòng mẹ đã tạo ra tlang hên,
• Nghi lễ: các nghi lễ liên quan đến trồng trọt nông nghiệp chiếm hầu như toàn bộ việc cúng tế của người Ê ĐÊ, hàng năm họ tổ chức cúng thấn đất, thần nước, cúng bến nước khi phát rẫy, họ cúng thần gió,
Trang 6cúng tria hạt, cúng tưới lúa, cúng cơm mới, cúng khi mở kho lấy thóc ăn
• Vua lửa và vua nước là những thần linh phu thủy có phép thuật cao nhất: vua lửa có thanh gươm thiêng, vua nước có tảng đá thần, họ tin vào sức mạnh của hai vị thần này và khi cầu nắng mua họ đều cúng tế cầu xin, tín ngưỡng này điển hình ở người Gia Lai ảnh hưởng đến người Ê Đê.
Đề 2:
1 Khái quát về nguồn gốc lịch sử của nhóm dân tộc ngôn ngữ Hmông – Dao (Hmong – Dao –Pa thẻn).
Nguồn gốc lịch sử:
- Hmong: có 3 quan điểm về nguồn gôc người Hmong:1.người Hmong có
nguồn gốc Aryan, họ là con cháu của tầng lớp cư dân cổ của vùng Trung Áhay vùng Lưỡng Hà 2 Người Hmong có nguồn gốc ở khu vực phía bắc sông Hoàng Hà, 3 Người Hmong là cư dân cổ ở vùng Động Đình – Bành
Hồ (khu vực phía Nam của Dương Tứ Giang)
• Hầu hết đều thừa nhận cách đây hơn 3000 năm người Hmong đã từng sinh sống ở khu vực sông Hoàng Hà và là cư dân cổ của vùng vương quốc Tam Miêu, sự bành trướng của người Hán đã khiến họ phải di cư xuống phía nam Khi nhà Mãn Thanh thống trịTrung Hoa, người Hmong nổi dậy chống lại và 1 lần nữa thất bại phải ly tán xuống Vân Nam, Bắc VN, Miến Điện, Thái Lan và Lào
• Sau năm 1975, sau chiến tranh đông dương, họ đã có cuộc thiên dilớn nhất ra khỏi khu vực châu á, cứ trú ở 15 quốc gia
• Người Hmong đến VN vào khoảng 300 năm trước theo 3 đợt
- Dao: Người Dao sinh sống trên đất nước ta đã từ lâu nhưng chỉ
đến nay người Dao mới được xác định Cách đây không lâu đồng bào còn được gọi với nhiều tên gọi khác là: Mán, Dạo, Động, Trại, Xá
- Về lai lịch của người Dao, đến nay trong nhân dân Dao vần lưu truyền về câu chuyện Bàn Hồ Truyện Bàn Hồ có nhiều yếu tố huyền hoặc nhưng đây là sự giải thích về nguồn gốc của người Dao.
Trang 7- “Quá Sơn bảng văn (hay Bảng Văn, Bình Hoàng khoán điệp, có tài liệu ghi chép là Bình Hoàng thắng điệp) được viết trên tấm vải dài, rìa được đệm vải cho cứng chắc Toàn bộ tài liệu này được ghi bằng chữ Nôm Dao, hai đầu có vẽ cảnh triều đình, vua ngồi trên ngai vàng, dưới chân là con chó Bàn Hồ, nội dung của Quá Sơn bảng văn có thể tóm tắt lại như sau:
- Bàn Hồ là con long khuyển mình dài ba thước, lông đen vằn vàng, mướt như nhung, từ trên trời giáng xuống trần, được Bình Vương yêu quý, nuôi trong cung vua Một hôm bình vương nhận được chiếu thư của Cao Vương liền hội triều đình lại để bàn cách đánh lại Cao Vương Trong khi mọi người còn đang yên lặng vì chưa tìm ra được kế gì, thì con long Khuyển Bàn Hồ nhảy ra phủ phục trước nhà vua xin đi giết Cao Vương Trước khi Bàn Hồ đi, vua hứa nếu Bàn Hồ giết được Cao Vương thì sẽ gả công chúa cho Bàn Hồ phải mất 7 ngày 7 đêm mới tới được chỗ Cao Vương Cao vương thấy con chó Bàn Hồ từ chỗ Bình Vương tới thì cho đó là điềm may, liền mang Bàn Hồ về cung cấm nuôi một hôm nhân lúc Cao Vương uống rượu say Bàn Hồ cắn chết Cao Vương, ngoạm đầu mang về báo công với Bình Vương Giữ lời hứa, Bình Vương gả con gái cho Bàn Hồ Sau lễ cưới, Bàn Hồ mang vợ về núi Cối Kê (Chiết Giang), sau đó vợ chồng Bàn Hồ sinh được 6 con trai và 6 người con gái; 12 người con của Bàn Hồ đều được Bình Vương ban sắc thành 12 họ Riêng con cả lấy họ cha, họ Bàn, còn các con khác lấy tên họ sau: Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Lý, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu Con cháu Bàn vương sinh sôi ra ngày một nhiều Tới thời Hồng Vũ (1368-1398),
bị hạn ba năm liền không có gì ăn, nhà vua cung cấp cho mỗi người một cái búa, một con dao để đốn rừng làm rẫy Con cháu Bàn Hồ phát hết rừng núi của Bình Vương, khiến cho nhà vua phải cấp cho Quá Sơn bảng văn để phân tán đi các nơi tìm đất sinh sống.” ( Theo Wikipedia)
- Những người Dao ở Việt Nam họ không nghi ngờ gì, họ vốn gốc
ở Trung Quốc Người Dao vào Việt Nam qua nhiều thời kỳ, bằng nhiều con đường và nhiều nhóm khác nhau Qua gia phả của một
số dòng họ người Dao chúng ta có thể thấy sơ bộ như sau :
• Dao Quần Trắng vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XII, dọc từ Phúc Kiến tới Quảng Yên, ngược Lạng Sơn vào Thái Nguyên, Cao Bằng rồi mới lên Tuyên Quang Một bộ phận khác lại từ Tuyên Quang xuôi Đoan
Trang 8Hùng rồi lại ngược sông Hồng lên Lào Cai, Yên Bái Bộ phận này có tên
là Dao Họ.
• Dao Quần Chẹt và Dao Tiền hiện sống ở Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình, Hoàng Liên Sơn và Hà Tuyên, từ Quảng Đông Quảng Yên rồi phân tán các địa điểm trên Hai nhóm này vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XV.
• Dao Thanh Y đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XVII, dọc từ Quảng Đông vào Móng Cái qua Lục Ngạn tới sông Đuống rồi lên Tuyên Quang Một bộ phận khác lại lên Lào Cai, Yên Bái, về sau có tên là Dao Tiẻn.
• Dao Đỏ và Dao Tiền ở Cao Lạng, Bắc Thái, Hà Tuyên là từ Quảng Đông, Quảng Tây cũng vào khoảng thế kỷ thứ XVIII.
• Dao Lô Gang vào Việt Nam muộn hơn cả, khoảng thế kỉ XIX.
- Trải qua quá trình phát triển lịch sử của mình trên đất nước Việt Nam, các nhóm Dao vẫn còn trong tình trạng không ổn định vì phải sống du canh du cư Và một lẽ hơn nữa là họ vào Việt Nam qua nhiều đợt khác nhau, nhiều con đường khác nhau và nhóm khác nhau, do đó quá trình tập hợp, quá trình xích lại gần nhau để hình thành dân tộc đã diễn ra rất chậm chạp Điều này được chứng
tỏ là những yếu tố văn hóa địa phương còn được bảo lưu rất đậm nét.
- Để xác định được bao nhiêu nhóm Dao, phải xem xét một số dân tộc người trước đây cũng có tên gọi là Mán : Sán Dìu, Cao Lan, Sán Chỉ và Pà Thẻn Người Sán Dìu trước đây có tên là Mán Quần cộc, Mán váy xẻ, Trại đất Rất có thể từ xa xưa người Sán Dìu có quan hệ về nguồn gốc với người Dao Nhưng nay không nhận là Dao Dó đó không xếp họ vào khối Dao Người Cao Lan
và Sán Chỉ, Pà Thẻn cũng tương tự.
- Những người Dao ở Việt Nam đứng về mặt ngôn ngữ mà xét thì
có thể chia thành hai nhóm lớn với hai phương ngữ Thuộc
phương ngữ thứ nhất có hai nhóm lớn: Dao Đại bản và Dao Tiểu bản Thuộc phương ngữ thứ hai cũng có hai nhóm lớn: Dao Quần trắng và Dao Làn tiẻn Nhưng đứng về mặt phong tục tập quán về những mặt đặc trưng của trang phục mà xét, bốn nhóm lớn lại bao gồm nhiều nhóm nhỏ cùng với nhiều tên gọi khác nhau.
- Người Pà Thẻo: khi di cư đến VN, người Pà Thẻn đầu tiên đến Hải Ninh
Quảng Ninh rồi đến Thái Nguyên, sua đó đến Tuyên Quang Một số ở lại
Trang 9đó cho đến nay, bộ phận còn lại di cư đến một số huyện khác của Tuyên Quang và Hà Giang, Bắc Giang.
2. Đặc điểm chính về trang phục của nhóm Hmong- Dao (Hmong- Dao – Pa Thẻn).
Hmong:
- Nữ phục :
• Một bộ trang phục cổ truyền của người phụ nữ gồm váy, áo xẻ ngực có yếm lưng tấm vải che váy phía trước, thắt lưng và vuông phải nhỏ che lưng đằng sau, khăn quấn đầu, xà cạp Váy hình nón cụt xếp nếp xoe rộng , khi người đi, váy đu đưa lượn sóng Hoa văn trang trí trên váy của người Mông rất cầu kì những ô trang trí, những đường diềm hình chữ nhật, chữ đinh, chữ công, được chuyển biến hết sức phong phú đa dạng, kết hợp với các ô hình quả trám, hoặc tam giác có các đường viền hình gẫy khúc trong các thể bố cục khác nhau, lúc thẳng đứng, lúc nằm ngang tạo cho các hoa văn của họ có vẻ linh hoạt Ngoài ra họ còn trang trí bằng hình tròn, đường cong, hình xoáy trôn ốc, 2 hình xoáy trôn ốc bố trí đối xứng với nhau tại thành hình móc nên hoa văn rất thanh thoát nhịp nhàng, uyển chuyển tạo cho bố cục hài hoà không đơn điệu Những hoạ tiết biểu hiện cho sự biến chuyển của mặt trời, thời tiết, không gian và thời gian.
• Chắp vải mầu của người Mông rất dày, nhiều lớp đè lên nhau, tạo thành các đường viền lé màu bao quanh các hình, các đường nét Màu sắc ưa dùng trong thêu và chắp vải là màu đỏ tươi, đỏ thắm, nâu, vàng, trắng xanh lá cây,lam Kĩ thuật thêu của người Mông có hai cách: thêu lát, thêu chéo mũi Hai cách thêu này tạo nét mềm mại chủ động, phóng khoáng, không bị gò bó trong kĩ thuật thêu luồn sợi, màu, dựa theo thớ vải ngang, dọc mà các dân tộc khác th-ường làm.
• Phụ nữ Mông trắng cạo tóc xung quanh và để chỏm lớn ở đỉnh đầu, quấn khăn vành rộng áo phụ nữ Mông trắng xẻ ngực có in hoa văn ở cánh tay
và yếm lưng Váy Mông trắng làm bằng lanh trắng in hoa văn ở gấu váy Phụ nữ Mông hoa để tóc dài quấn quanh đầu và sau đó còn quấn thêm tóc giả áo phụ nữ Mông Hoa xẻ nách trên vai và ngực có nẹp thêm vải màu có thêu hình hoa văn và thường là hoa văn con ốc Váy Mông hoa màu chàm có thêu hoặc in hoa văn ở gấu váy Váy phụ nữ Mông đen cũng cùng kiểu với váy phụ nữ Mông trắng và Mông hoa, nhưng ngắn hơn ở người Mông xanh, trẻ em gái để tóc xoá ngang vai, đến khi lấy
Trang 10chồng mới quấn lên đỉnh đầu và dùng lược móng ngựa cặp ngược về phía trước giữ tóc, do đó khi trùm khăn lên, đầu có hai đầu nhọn chia ra phía trước như hai sừng nhỏ áo của phụ nữ Mông xanh giống áo Mông trắng nhưng thêu ở cánh tay và hò áo áo phụ nữ mở chếch ngực, xẻ thẳng về bên trái, cài bằng một cái cúc Hò, cánh tay và cổ tay áo có thêu hoa văn Nẹp áo đáp thêm những miếng vải màu nhỏ Tà xẻ không khâu
mà buộc hai thân lại với nhau bằng dây ở một chỗ Gấu áo khâu thành 3,
4 lớp đè lên nhau bằng vải màu ở sát gấu áo có thêu hoa văn hình chữ thập trong các hình vuông Váy phụ nữ Mông xanh ( Mống Súa ) may bằng vải chàm Váy màu chàm, in hoa văn Váy hình ống khi mặc mới xếp nếp Trang phục nam giới đầu đội mũ nồi thư-ờng là màu đen áo cánh ngắn ngang thắt lưng, thân áo hẹp, ống tay hơi rộng, cổ áo đứng, khuy vải áo 5 thân dài quá mông trang trí những đường vằn ngang trên ống tay áo 4 thân: xẻ ngực, không trang trí nhiều, có 2 túi trên và 2 túi dư-ới Quần chân què rộng Đeo vòng có đính hình tròn bạc chạm khắc hoa văn.Phụ nữ và nam giới Mông ở Sa Pa còn mặc áo khoác kép, xẻ ngực, không có tay, cổ đứng có thêu hoa văn Cái áo cánh đàn ông người Mông SaPa rất giống kiểu áo cánh người Dao đỏ Phụ nữ Nà Miảo Hiện nay mặc như người Nùng Cách đây chưa bao lâu khoảng 50- 70 năm nay trang phục của phụ nữ Mông có nhiều thay đổi : phụ nữ Mông Sa Pa mặc quần ống hẹp ngắn, phụ nữ Mông trắng ở Sơn La mặc quần ống dài, mặc áo cánh trắng trong áo ngoài cổ truyền, phụ nữ Mông hoa mặc áo xẻ nách vv Có thể nói rằng nếu tước đi một số phần rườm rà, trang phục của phụ nữ Mông càng đẹp hơn và thích hợp với cuộc sống mới hiện nay.
- Nam phục:
• Có lẽ nam phục của người Hmông còn giữ lại nhiều nét chung nhất giữa các nhóm Hmông Bộ nam phục Hmông được may bằng vải nhuộm chàm của người hay đen của người Thái, Tày hay vải lanh, vải láng đen mua ở chợ.
• Bộ quần áo nam giới gồm quần, áo ngắn, thắt lưng, khăn bịt đầu Trong hầu hết các dân tộc vùng núi thì người Hmông còn giữ lại lâu bền bộ y phục của mình Trong khi đó, nam giới các dân tộc khác hầu như ăn mặc giống người Kinh Quần của nam giới may kiểu quần chân què, cạp rộng lá tọa, đũng quần rất thấp, cạp được dắt sang một bên rồi dùng thắt lưng vải hoặc da thắt lại cho chặt
Vì là quần đũng thấp, ống lại rộng nên khi mặc, quần của nam giới Hmông có dáng nét riêng, không thể pha trộn với bất kì dân tộc nào.
Trang 11• Có lẽ độc đáo hơn cả vẫn là chiếc áo của nam giới Hmông Áo rất ngắn, phía trước chỉ đủ che một phần ngực, còn một khoảng bụng
từ gấu áo xuống tới cạp quần vẫn để hở Để “bổ khuyết”, họ mặc một chiếc áo lót bên trong màu trắng dài hơn áo ngoài Về cơ bản đây là loại áo may kiểu xẻ ngực, tay áo dài, có đáp những khoang vải màu, tuy nhiên giữa các nhóm cũng có sự khác biệt Áo nam giới Hmông thường may 2 lớp vải để khắc phục khí hậu, luôn mát
về mùa hè và ấm áp về mùa đông.
• Áo của đàn ông Hmông Trắng: khuy áo đơm theo nẹp tà trước ngực, cổ áo đứng, có viền những đường chỉ trắng hình ô quả trám.
• Áo nam giới Hmông Hoa lại có chút khác biệt thể hiện ở vạt trước
và cánh tay áo Hai vạt áo trước có khâu đáp thêm một vạt phụ phía trái, rồi cài khuy bên nách Cánh tay áo có khâu đáp thêm 3 khoang vải màu trắng gần cửa tay, áo không có cổ đứng, rìa cổ được viền một dải vải nhỏ khác màu.
• Áo nam giới Hmông Đen: hai vạt trước may trung gian giữa 2 kiểu xẻ nách và xẻ ngực Tuy 2 vạt trước nhưng cài khuy áo hơi lệch sang phía ngực phải, gần cửa tay cũng đáp thêm một đoạn vải màu thêu hoa văn trang trí.
• Áo nam giới Hmông Xanh: hầu như không có trang trí gì đáng kể, trừ một đường viền nhỏ ở cửa tay.
• Thỉnh thoảng cũng thấy nam giới Hmông dùng khăn, nhất là nhóm Hmông Trắng Đó là tấm khăn vải màu chàm dùng để chít lên đầu Ngày hội hè, nam giới cũng hay dùng các loại khăn len mua ở chợ vừa cho ấm vừa để diện Thường ngày nam giới đeo một cái vòng cổ xoắn lại từ dây đồng ( 3 sợi ), nhà giàu thì đeo thêm vòng bạc Ngày cưới xin, lễ tết, nam giới đeo đủ bộ vòn cổ
từ 2-7 chiếc, ngoài ra còn có vòng tay, nhẫn Cũng có người đàn ông vào tuổi trưởng thành bịt vàng 2 răng nanh hàm trên.
Dao :
- Nữ phục:
- Dao tiền : khăn đội đầu màu trắng hoặc màu chàm, họ không có áo cánh
chỉ có áo dài, quá mông một chút, ngày lễ mới mặc áo kép Phụ nữ Dao tiền có yếm nhưng ít dùng,
Trang 12- Nam phục:
• Khăn đội đầu: màu chàm hoặc màu đen
• Áo: Áo ngắn màu chàm, cổ đứng xẻ tà, ống tay dài và hẹp, 2 đến 4 túi, cài khuy vải ở ngực
• Quần: chân quèm, cạp lá tọa, màu chàm hoặc màu đen, ống rộng hoặc vừa phải, dài đến mắt cá chân Hiện nay đa số đàn ông Dao mặc giống
ng Kinh.
• Dây lưng :Giống như của nữ, thường ngày ít dùng.
3 Khái quát Tín ngưỡng nghi lễ của nhóm Hmong- Dao.
- Hmong:
• Người Hmong có tín ngưỡng đa thần vạn vật hữu linh, vũ trụ gồm
3 tầng : tầng trời của thần linh, mặt đất là noi của con người và vạnvật, dưới âm phủ là noi cư trú của người chết thần linh và các loại
ma gồm: ma lành phù hộ con người, ma ác làm hại con người họ cho rằng khi chết đi con người có thể sẽ được đầu thai thành kiếp khác, nếu được hỗ trợ đầy đủ các thủ tục
• Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng truyền thống của người Hmong, tín ngưỡng này thể hiện qua các nghi lễ : các bậc tiền nhân đã chết trong 3 đời trở lại được coi là tổ tiên, nơi thờ cúng chỉ là ống nứa cắm trên vách đối diện cửa chính, của gian giữa nhà, họ cúng gia tiên vào các dịp lễ tết hàng năm, ngoài ra họ còn cúng ma cửa ma buồng, mụ
• Một số nhóm Hmong từ những năm 1980 đã theo đạo Tin Lành
• Các tết của người Hmong: tết mồng 3 tháng 3, tết mồng 5 tháng 5, tết mười bốn tháng 7, tết mồng năm , tết trùng cửu ngày nay người Hmong tổ chúc ăn tết độc lập 2/9 nhất là người hmong ở Mộc châu Hàng năm cứ đến Quốc khánh, người Hmong mọi vùng
về tụ hội ở thị trấn Mộc Châu vui chơi 2 3 ngày ở đây
- Dao:
• Người Dao cho rằng thế giới có 3 tầng: tầng trên là nơi của thần linh và người khổng lồ, tầng giữa là quê hương ng sống, tầng dưới
Trang 13là đất nước của những người lùn Thế giới được tạo ra bởi Bàn Cổ, bàn cổ tạo ra thế giới cùng sự sống, các vị thần linh.
• Với người Dao có nhiều loại ma, trong đó có tổ tiên, ma lành là ma
tổ tiên, thổ công thổ địa, ngọc hoàng… ma ác gồm ma sông ma núi, ma của những người chết không bt
• Người Dao chịu ảnh hưởng của Tam Giáo
• Tết và các nghi lễ : tết Nguyên Đán đối với người Dao là nghi lễ lớn, họ thịt gà, làm bún và các loại bánh để cúng tết, tổ tiên được cúng vào chiều 30 tết, trang trí nhà của bằng các giấy xanh đỏ, vàng tím ở nơi thờ gia tiên, trên của ra vào, chuồng trại cây ăn quả gia đình thắp nhang vào các bữa ăn chính của ngày tết ThanhMinh (chiềng mềnh) lễ cúng gia tiên và tảo mộ Rằm tháng 7 là tết lớn thứ 2, sau tết Nguyên Đán, họ cúng tổ tiên thần nông và ma đói Vào tháng 9, họ cúng cơm mới để bắt đầu thu hoạch lúa, hàng năm họ cũng tổ chúc cúng hồn lúa tạ ơn tổ tiên và các vị thần đã phù hộ cho mùa mang tươi tốt Ngoài ra còn có Tết nhảy, lễ cúng Bàn Vương
• Tang lễ : người Dao quan niệm con người có hồn và thể xác Khi chết người biến thành ma nên người chết phải được làm ma và làmchay Làm ma là làm lễ chôn cất, làm chay hay còn gọi là làm ma khô, đuổi loại ma chuyên rình bắt ma người chết, tiễn đưa ma ng chết về đến nơi an nghỉ cuối cùng
• Các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp và chăn nuôi có 3 cấp độ khác nhau: lễ của bàn ( lễ cầu an, lễ cúng miếu bản, lễ diệt sâu bọ
do người đại diện bản đứng ra tổ chức ), lễ của dòng họ ( lễ cúng ngày lập thu, tết nhảy, cấp sắc ) các nghi lễ trong gia đình: cúng thân fphuf hộ trồng trọt và chăn nuôi, cúng cơm mới, tổ tiên
- Pà thẻn:
• Vũ trụ gồm trời, đất, nước và dưới đất trên trời có mặt trời mặt trăng, ngôi sao, tổ tiên và các vị thần, bụt và ma Dưới nước có thần nước, rồng ma sông ma suối mặt đất có con người, cây cối cùng sinh vật, ma đất ma rừng , ma cây đa, ma đá âm phủ có ma
Me Quơ Lê và nhiều loại ma Vũ trụ được tạo ra bởi thần Quơ Vo
và Me Quơ Vo, Quơ Vo cai quản bầu trời và mặt đất, Me Quơ O cai quản dưới nước và âm phủ Vạn vật đều có linh hồn nên họ thờ cúng nhiều loại ma, ma lành và ma ác
• Các hình thuwvs thờ cúng: tổ tiên, cúng ma bếp lò, cúng ma buồn, cúng thổ công, cúng ma bàn, lễ cầu mưa, cầu nắng
Trang 14Đề 3:
1 Nguồn gốc lịch sử, dân số của nhóm dân tộc ngôn ngữ Tạng Miến.
2 Trang phục của nhóm Tạng Miến ( Hà Nhì, La Hù – Cống, Si La – Lô Lô, Phù Lá)
3 Tín ngưỡng nghi lễ của nhóm Tạng Miến.
Đề 4:
1 Nguồn gốc lịch sử của nhóm Tày Thái (Tày, Nùng – Thái – Lào, Lự, Bố Y, Giày, Sán Chay)
2. Đặc điểm ngôn ngữ và phân bố cua nhóm Tày Thái.
3 Một số biểu tượng của văn hóa điển hình (ngôi nhà sàn mái mai rùa của người Thái Đen- bộ nữ phục của người Thái đen ở Tây Bắc – nữ phục Tày ở Đông Bắc )
- Ngôi nhà sàn mái mai rùa của người Thái Đen:
Nhà làm theo kiểu mái tròn, mái khum khum như mai rùa (gắn với truyền thuyết
về thuở khai thiên lập địa, thần rùa Pua Tấu dạy cho người Thái biết cách làm nhàtheo hình rùa đứng) bằng cỏ tranh, hai chỏm đầu đốc có có khau cút, xung quanh nhà che vách nứa
Chú thích:
Khau cút là hai tấm ván gỗ đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc – “tiêu bôn”, trước hết là để chắn gió – “pảy lốm” cho mái tranh hai đầu hồi nhà Cũng
có nhiều người giải thích về biểu tượng này cho rằng :
đây là cặp sừng trâu cách điệu – biểu tượng của một nền văn minh lúa nước
hoặc đó là những búp cây guột – “cút lo ngong” có nhiều ở Tây Bắc
gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa của người thái, anh em luôn nhớ về nhau, là dấu hiệu để nhận ra nhau là một cộng đồng.
Khau cút cũng có một số dạng khác nhau, không chỉ ở hình thức mà còn là
để phân biệt sự sang hèn của chủ nhân ngôi nhà người Thái xưa
cút quai (sừng trâu), cút bè (sừng dê): dạng cút thường của những người nghèo, không có địa vị trong xã hộ, chỉ là hai thanh tre hay gỗ bắt chéo nhau như hình dấu nhân.