1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dân tộc học đại cương: Người Dao

33 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 55,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người Dao I, Khái quát chung Nhóm địa phương: quần chẹt, đỏ, tiền, thanh y, áo dài…. Dân số: ~751000 người Địa bàn cư trú: Hòa Bình, Sơn la, Tuyên Quang, Hà Giang… Thuộc nhóm ngữ hệ MôngDao II, Kinh tế Ngay từ khi còn bé, các cô gái Dao đã được mẹ dạy may vá, thêu thùa. Họ được dạy từ những công đoạn giản đơn, đến phức tạp, từ những chi tiết nhỏ đến cách nhuộm lại tấm áo chàm cho mới khi nó bị bạc màu. Tuy nhiên, nghề thủ công chưa phát triển và chỉ là nghề phụ gia đình, làm lúc rãnh rỗi. Nghề dệt vải chỉ phổ biến ở một số nhóm người Dao, họ chỉ trồng bông, làm sợi nhưng không dệt vải. Vải trước khi đem mặc được nhuộm chàm sản xuất nông nghiệp với hai loại hình: lúa nương và lúa nươcs. Ngoài ra, đồng bào còn trồng một số loại cây hoa màu như ngô, sắn.. các loại bầu, bí, mướp đắng, các cây họ đậu, khoai, củ từ, dưa gang... còn phát triển loại cây công nghiệp đó là cây quế và cây chè.

Trang 1

Người Dao

I, Khái quát chung

- Nhóm địa phương: quần chẹt, đỏ, tiền, thanh y, áo dài…

- Tuy nhiên, nghề thủ công chưa phát triển và chỉ là nghề phụ gia đình, làm lúc rãnh rỗi Nghề dệt vải chỉ phổ biến ở một số nhóm người Dao, họ chỉ trồng bông, làm sợi nhưng không dệt vải Vải trước khi đem mặc được nhuộm chàm

- sản xuất nông nghiệp với hai loại hình: lúa nương và lúa nươcs Ngoài

ra, đồng bào còn trồng một số loại cây hoa màu như ngô, sắn các loại bầu,

bí, mướp đắng, các cây họ đậu, khoai, củ từ, dưa gang còn phát triển loạicây công nghiệp đó là cây quế và cây chè

- Ngoài cây lúa, hoa màu và quế, chè người Dao Yên Bái còn có thunhập thêm từ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà

- Nghề thủ công truyền thống là làm giấy, dệt vải, nhuộm chăn,

in và thêu hoa văn trên vải Đan lát các đồ đựng bằng tre, nứa, giang, mâysong Nghề rèn của đồng bào Dao cũng phát triển, chủ yếu là các nông cụnhư: dao, cuốc, cào cỏ, lưỡi cày Nghề làm đồ trang sức bằng bạc, sanh căng

và bằng đồng làm thành vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn, xà tích

III, Văn hóa vật thể

Trang 2

1, Nhà cửa: 3 loại hình: Nhà sàn, Nhà đất, Nhà nửa sàn nửa đất

- nguyên liệu làm nhà thường kiếm được ngay tại chỗ như: gỗ, các loại tre, dây rừng, lá gồi, cỏ tranh

- mọi người trong thôn đều có thể làm được, kể cả phụ nữ Người Dao có tập quán tương trợ lẫn nhau từ lâu đời Mỗi khi trong thôn có người làm nhà thì mọi người tới làm giúp hoặc góp thêm nguyên vật liệu Vì vậy, công việc được tiến hành rất nhanh chóng

A, nhà đất

- Nhà đất là loại hình nhà ở đã có từ rất lâu đời và phổ biến trong cuộc sống của người Dao,nhà đất thường có ba hoặc năm gian đứng (không có chái).Người ta cho rằng: có ở nhà nền đất thì mới có chỗ để cúng Bàn vương

- Bộ sườn của nhà nền đất được cấu tạo khá đơn giản Thông thường, mỗi vì kèo chỉ

có hai hoặc ba cột, một quá giang và một bộ kèo đơn Với người Dao, nhà nền đất luôn mang tính chất bền vững, thích hợp với điều kiện sản xuất tương đối ổn định ở miền núi rừng

cọ đảm bảo sự mát mẻ cho mùa hè nhưng lại ấm áp vào mùa đông Mái nhà được

xử lý một cách tự nhiên bằng khói từ ô sưởi vuông trong nhà

C, Loại hình nhà nửa sàn - nửa đất

Trang 3

Nhà nửa sàn - nửa đất tập trung tại các làng người Dao sống bằng nương rẫy

du canh, cư trú trên đất dốc,vì thế những ngôi nhà này chỉ là phương tiện cư trútạm thời

Để làm nhànửa sàn - nửa đất, người ta không phải bỏ ra nhiều công sức để sannền Có thể nói, nhànửa sàn - nửa đất không chỉ là một bước phát triển của của loạihình nhà nền đất mà là một biến dạng của nhà nền đất để thích ứng với điều kiệnsản xuất du canh du cư trên nền đất dốc

Mặc dù có ba loại hình nhà ở khác nhau nhưng vẫn có thể nhận ra nhữngnét chung trong kiến trúc nhà ở người Dao Đó là vị trí và cách bố trí bên trong củamột "gian đặc biệt" trong ngôi nhà Gian này thường có vách chắn theo chiều dọccủa nhà và có một đoạn vách ngăn giữa nó với gian bên,ở góc nhỏ này có bànthờ,sau đoạn vách ngăn dọc là một buồng nhỉ thường để rượu hay thịt ướp chua

- trong bộ y phục của người phụ nữ quan trọng nhất là chiếc áo được thiết kế dài đến gần đầu gối Cổ áo hình chữ V có thêu hoa văn Sau lưng áo cũng có phần thêu hoa văn Ở phần thêu này, người Dao cho rằng sẽ làm chiếc áo thêm đẹp, thêm độc đáo và để dễ phân biệt dân tộc Dao với các dân tộc khác

Trang 4

- Áo người Dao có hai tà và phần cầu kỳ nhất để làm nên sự độc đáotrong chiếc áo của phụ nữ Dao chính là những nét hoa văn được thêu ở phầnđuôi áo Người Dao cho rằng, nhìn áo để biết người phụ nữ khéo hay không,nhìn áo để biết người phụ nữ có đảm đang hay không

- Trong khi đó, quần của phụ nữ Dao được thêu ở đoạn cuối ống Kiểuquần thường mặc là quần chân què, cát hình lá tọa, đũng rộng có thể cử độngthoải mái trong mọi tư thế lao động Đeo thắt lưng được dệt bằng vải thủcông, rộng khoảng 40cm gấp làm tư, chiều dài đủ quấn quanh thân người haivòng, buộc lại ở phía sau, để buông dải đuôi xuống sau lưng

- Những hoa văn trên áo phụ nữ Dao được thêu sặc sỡ với nhiều họa tiếtphong phú như hình cỏ cây, hoa lá hay bất kỳ vật dụng gần gũi trong sinhhoạt hàng ngày Nhưng trên mỗi bộ trang phục, hoa văn mỗi người khácnhau

•Dao họ

- Yếm ngực màu trắng vs các họa tiết: quả núi, cây, hoa… thêu hoa văn phần trên của yếm trc r ms thêu thân yếm Đây là nét độc đáo, nổi bật nhất trên trang phục truyền thống của phụ nữ dao họ

- Đính 3 hạt bạc giống hình đầu mũi tên lên trên hang trên cùng, dưới 3 bông hoa 8 cánh bằng bạc, giữa là bông hoa chạm nổi 1 hình tròn tượng trưng cho nhụỵ Dươi là ngôi sao 8 cánh

- Dùng 2 loại chỉ màu xanh và tím

- Thường mặc yếm thay áo lót, khoác áo vải đen chàm ở ngoài k cài cúc

•Dao đỏ: trang phục phải có 5 màu cơ bản nhưng màu đỏ vẫn là màu chủ yếu

- Khăn đội đầu trang trí hình vết hổ, cây vạn hoa, hình cách đoạn Hoa văn ở trên khăn có 5 lớp, 5 lớp này được bao khuôn ổ vuông ở trung tâm "điểm" của khăn (ở thầy cúng thì có thêm 8 cánh sao tượng trưng cho đầu ông Tam thanh, được bài trí rất hài hòa và công phu Khi đội lên đầu,

Trang 5

các hoa văn họa tiết của 5 lớp văn sẽ phô ra ngoài, làm tăng thêm vẻ đẹp củachiếc khăn.

- tay áo đấu thẳng vào thân Nẹp cổ liền với nẹp ngực được thêu kín các họa tiết trang trí bằng chỉ màu đỏ Hai đầu của nẹp ngực đính nhiều chuỗi hạt cườm và tua đỏ

- Bên trong của chiếc áo dài còn mặc áo con, giống như cái yếm, mặc bên trong che kín cả ngực và bụng, cổ tròn mở sau gáy, có những đường thêu bằng chỉ trắng và vàng Khoảng giữa thân áo mỗi bên đính một dải vải nhỏ để làm dây buộc ra phía sau lung

- Hoa văn trang trí trên dây lưng tập trung ở hai đầu gồm các họa tiết hình dấu chân hổ, hình cây thông, hình người mặc váy Khi thắt dây lưng phải cuốn từ 3-4 vòng và buộc chặt ở phía sau

•Dao tiền: chỉ có phụ nữ dao tiền là mặc váy

B, Nam: đơn giản, Đó là những chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực vàthường cài 5 cúc Quần rất rộng đũng, có thể cử động trong mọi tư thế

Cả nam, nữ và trẻ con người Dao đều thích đeo trang sức như vòng cổ, chân, tay Ngoài việc làm đẹp thì chúng còn mang giá trị nhân văn, tín ngưỡng Theo truyền thuyết kể lại, người dân đeo trang sức bằng bạc thì sẽ trừ tà ma, tránh gió và thậm chí là được thần linh phù hộ

3, ẩm thực

ăn hai bữa chính ở nhà, bữa sáng, bữa tối Bữa trưa họ thường ăn cơm gói tại nương rẫy Lương thực chính là gạo, bao gồm cả gạo tẻ và gạo nếp Sau gạo, nguồn lương thực quan trọng thứ hai là ngô Ngô thường được xay thành bột để nấu cháo đặc Ngoài ra, các loại củ như củ mài, củ bấu hoặc các loại bột như bột đao, bột bang

Trang 6

- người Dao cũng thường xuyên đồ xôi để ăn trong những ngày Tết và

lễ như: lễ vào nhà mới, lễ cưới hoặc trong những ngày gia đình nhờ anh em giúp cây ruộng, gieo trồng ngô lúa, làm chuồng trại gia súc Đặc biệt, trong Tết Thanh minh nhiều nhà còn đồ xôi nhiều màu

- Các loại gia súc gia cầm được nuôi chủ yếu để phục vụ các nhu cầu tín ngưỡng dân gian của đồng bào Thịt lợn là loại thực phẩm không thể thiếu trong tết nhảy, lễ cấp sắc, lễ chay, lễ cưới và tang ma

- Một số món ăn tiêu biểu của người Dao

+ thịt lợn muối chua: Nguyên liệu làm có thịt lợn, muối tinh và cơm nguội.

Muốn thịt muối chua, người Dao thường dùng thịt ba chỉ hoặc những phần thịt có

cả nạc cả mỡ Thịt đã chọn được cắt thành từng miếng, trên mỗi miếng, dùng daosắc khía thành từng phần dày 2 - 3cm, tránh làm đứt phần bì

Sau đó, đem thịt đã cắt ướp với thật nhiều muối, dùng tay chà xát thật mạnhcho muối ngấm sâu vào từng thớ thịt Mỗi miếng thịt sau khi xát muối được trộntiếp với một ít cơm nguội, để cơm thấm muối khi tan cho thịt bớt mặn, rồi đem xếpngay ngắn vào chum, trên cùng chét thêm một lớp cơm nguội dày và dùng tay lènthật chặt Trên miệng chum người ta lót thêm một lớp rơm sạch, dùng lá dong bịtlại rồi lấy lạt buộc bên ngoài cho thật chặt ăn kèm với lá lốt và lá prăng lẩu, chấmchanh ớt

+ rượu San lung

IV, Văn hóa phi vật thể

1, Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngữ hệ Hmong-Dao

2, Tôn giáo, tín ngưỡng

Trang 7

- Họ có phong tục thờ tổ tiên và thờ Bàn Hồ Trong cúng tổ tiên, người

ta cúng đến 9 đời và bàn thờ tổ tiên đặt ở nơi tôn nghiêm nhất và họ cho rằng

tổ tiên không ở thường trực trên bàn thờ mà chỉ ghé thăm họ vào ngày mồng một hoặc ngày rằm Bàn Hồ là nhân vật huyền thoại, thủy tô của ng Dao, Là con long khuyển dài 3 thước, lông đen vằn vàng Sau khi lập công và lấy đc công chúa, con gái vua Bình Vương, đã sinh hạ đc 6 trai – 6 gái Con cả lấy

họ cha, họ Bàn, còn các con khác là Lan, Mãn, Uyên, Đặng, Trần, lương, lý, tống, phương, đới, lưu, triệu

+ Ngay trong các dip lễ tế hằng năm, ng Dao tổ chức cúng Bàn vương cùng vs gia tiên và các vị thần khác: thần lúa gạo, thần chăn bắn, thần chăn nuôi…

- hình thái tín ngưỡng vạn vật hữu linh giáo tồn tại rộng rãi ở người

Dao Đó là quan niệm đa thần, vạn vật hữu linh - tức là vạn vật đều có linh hồn Vìvậy, người Dao tin là có thần gió, thần mưa, thần trông coi lúa gạo, hoa màu vàthần chăn nuôi

3, Lễ hội

A, Lễ cấp sắc: công nhận sự trưởng thành của người đàn ông dân tộc Dao,thể hiệ vai trò, trách nhiệm của mình trong các hoạt động của cộng đồng Chu trình của 1 lễ cấp sắc

+ thường diễn ra vào dịp cuối năm hoặc tháng giêng (âm lịch) Lễ cấp sắc

có nhiều bậc: 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn

+ Ông thầy trong lễ cấp sắc là thầy cao tay, ngày tháng cấp sắc được chọn

rất cẩn thận, người được cấp sắc cũng phải thuần thục các nghi lễ trong các bảnsắc Buổi lễ cấp sắc có thể làm thủ tục cho một người hoặc vài người cũng được

Trang 8

nhưng phải là số lẻ Trước khi hành lễ, người cấp sắc phải kiêng khem như khôngđược nói tục chửi bậy, không được quan hệ vợ chồng, không được để ý đến phụnữ

Trong mỗi lễ cấp sắc thường có 6 thầy cúng, gồm 3 thầy chính và 3 thầy phụ.Thầy chính thứ nhất (thầy cả) thường mặc áo tạo - loại áo thêu hình rồng và nhiềuhọa tiết trang trí, thầy thứ 2 mặc áo vàng, thầy thứ 3 mặc áo đỏ; 3 thầy phụ giúpcác thầy chính mặc áo, thay áo trong quá trình thực hiện nghi lễ

Trình tự lễ cấp sắc thường diễn ra trong 3 ngày, ngày thứ nhất lễ cấp sắc diễn

ra ở ngoài trời, ngày thứ 2 người thụ lễ vào nhà để nghe thầy cả đọc các loại sáchcúng, thầy cả đọc lệnh cấp sắc, lúc này người thụ lễ đã trở thành con người mới cả

về thể xác và tâm hồn Sau đó, người thụ lễ được các thầy dạy múa như múa chùmcheng (múa chuông), múa sa ma Ngày thứ 3, tiến hành lễ tạ ơn tổ tiên

- Ngày nay ng Dao có theo đạo Tin Lành

B, ngoài ra còn có

- Lễ cúng thóc giống: cầu mong hồn lúa mang lại sự may mắn cho gia đình có cuộc sống no đủ Trong thời gian làm lễ k đc cho ng khác vào nhà hay ng trong nhà đi đến nhà ng khác

- Lễ cơm ms: vào mùa thu hoạch, ng chủ gd ngắt những bông lúa ms đầu tiên đem về nhà làm lễ cúng nhằm tạ ơn tổ tiên phù hộ cho mùa màng tốt tươi

- Tết nhảy: Nghi lễ này nhằm mục đích cúng Bàn Vương và luyện binhtướng (âm binh) để bảo vệ cuộc sống và sinh hoạt gia đình Tết nhảy thường được

Trang 9

tổ chức vào tháng chạp (từ 15-25 tháng chạp) Nội dung chính của nghi lễ này làmúa “Tam nguyên an ham”, múa bắt ba ba, múa sản xuất diễn tả quá trình lao độngcủa người Dao Nghi lễ chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo – tín ngưỡng

4, Văn học DG

- kho tàng truyện cổ tích, thơ ca, hò vè được phổ biến rộng rãi với các

đề tài như: đấu tranh với thiên nhiên, lao động sản xuất, quan hệ xã hội và gia đình

- về nguồn gốc có truyện “Quá sơn bảng văn”, “quả bầu” về sự tích nạnđại hồng thủy

- truyện cổ tích: người mồ côi, con cáo biết hát, dê và chó sói…

- Trò chơi của người Dao cũng rất đa dạng, gồm nhiều thể loại khác nhau; có trò mang tính nghi lễ như trò tập lên đồng, tập bói, nhảy múa ; có trò chơi trong lúc uống rượu như trò chỉ ngón tay, hát đối đáp ; có trò chơi trong ngày tết và những lúc rảnh rỗi khác như trò bắt dây bằng các ngón tay,

đu dây, đánh quay, đánh còn

- ngoài ra còn có thơ ca - hát đối, câu đố, tục ngữ, ca dao…

V, Văn hóa xã hội

1, tổ chức làng bản: dựng nhà gần các con suối và ở tập trung thành từng bản riêng biệt hoặc xen cư với các dân tộc khác

2, tổ chức dòng họ: Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và thông qua tênđệm để xác định dòng họ, vai vế của người đó trong quan hệ dòng họ

VI, Phong tục tập quán:

1, Hôn nhân:

Trang 10

Các nghi lễ trong cưới xin của người Dao bao gồm nhiều bước: nhà trai đếnnhà gái xin so tuổi đôi nam nữ; nhà trai báo cho nhà gái biết kết quả so tuổi của đôinam nữ; định ngày cưới và dâng lễ; lễ cưới và lại mặt

- Nam nữ tự do yêu đương và kết hôn, không quá nặng nề về quanniệm có nhiều hay ít con, người dao coi trọng gia đình, con cái, k coi trọngtrinh tiết

-Lễ ăn hỏi: Nhà trai mang gà, rượu, thịt sang nhà gái đưa đồng bạc trắng, tuỳtừng địa phương số tiền thách cưới là 1,20 hoặc 30 đồng bạc hoa xoè Số bạc nàynhà gái dùng để chuẩn bị quần áo, tư trang để cô dâu về nhà chồng Từ khi ăn hỏiđến khi cưới khoảng 1 năm để cô gái phải thêu thùa quần áo cưới Để báo hỉ chokhách đến dự đám cưới, hai bên gia đình dùng vỏ quả bầu khô cắt ra từng viên nhỏnhư hạt bầu nhuộm bằng màu hồng Người thân thường cho hai hạt (nghĩa là ngườinày được mời thêm một người nữa) Bao nhiêu khách thì chuẩn bị bấy nhiêu hạt

-Lễ cưới: Người Dao thường tổ chức cưới chủ yếu là bên nhà trai Bên nhàgái báo cho bên nhà trai số khách đến dự cưới là bao nhiêu, để nhà trai chuẩn bị cỗ

và thịt ruợu cho thông gia nhà gái Số thịt rượu hồi cho khách sui gia mỗi người 1

kg thịt lợn, 1 chai rượu Ngày cưới, đoàn nhà gái đưa dâu sang nhà trai gọi chung

là đoàn (săn cha), từ trẻ đến già ăn mặc chỉnh tề theo trang phục truyền thống củadân tộc mình Sau khi ăn uống, đoàn đưa dâu đứng trước bàn thờ tổ tiên, hai ôngquan lang hai bên thưa với tổ tiên việc cưới xin của gia đình và xin phép được đưađón dâu sang nhà trai Cô dâu mặc trang phục ngày cưới, cổ và tay đeo vòng bạc Trên đầu trùm chiếc khăn đỏ to che kín mặt Trong khi làm lễ cô dâu quay mặt raphía cửa Cô phù dâu bên cạnh có nhiệm vụ che ô cho cô dâu đi đường và phụ giúp

cô dâu trong quá trình hành lễ từ nhà gái sang nhà trai Trong đoàn săn cha có mộtngười thổi Phằn tỵ (kèn) Trên đường đi qua các bản, người thổi kèn thổi các bài ca

Trang 11

chào bản chào mường, mừng cưới theo điệu vui vẻ Đến nhà trai, đoàn săn chadừng chân cách nhà trai một quãng Nhà trai đưa bàn ghế ra, thuốc, trà, rượu ramời đoàn săn cha đang dừng chân (đợi giờ vào nhà) Đội nhạc lễ nhà trai gồm:trống, thanh la, kèn, hai chũm chọe gồm một to và một nhỏ Trước khi ra cửa đóndâu, đội nhạc lễ thổi những bài ca mừng cưới vòng ba lần trong nhà rồi ra ngoàiđón đoàn săn cha nhà gái Người thổi kèn đôi bên thổi bài chào đón khách và đưa

cô dâu cùng đoàn săn cha vào nhà

-Lễ cô dâu vào nhà: Người Dao quan niệm khi cô dâu đi đường có thể cácloại ma, ngoại thần bám theo, nên trước khi vào nhà thầy Tào phải làm lễ trừ tàquỷ Cô dâu được phù dâu che ô và dắt vào trước cửa nhà, cô dâu vẫn quay mặt rangoài Nhà trai lấy một chậu nước trên chậu đặt một con dao, một đôi dày mới,chuẩn bị ba cành đào hoặc ba cọng gianh tươi (dùng để đuổi tà) Thầy miệng ngậmnước phép Tào làm phép đuổi tà thầy phù nước ra phía cửa đoạn cầm ba nhành đàophi từ trong nhà qua trên đầu cô dâu Xong động tác này, cô dâu bước vào nhàdừng trước chậu nước bỏ đôi hài cũ ra dơ chân qua trên chậu nước, con dao đặttrên chậu nước được bỏ ra, một em bé trai hoặc gái nhà trai rửa chân cho cô dâu và

đi hài mới vào chân cho cô dâu Cô dâu được đưa vào buồng, chậu nước được bêvào đặt dưới gầm giường cô dâu để đó ba ngày mới đổ đi Đêm đó, các cô gái,chàng trai đôi bên được dịp trổ tài hát Páo Dung Càng về khuya lời Páo Dungcàng da diết, lũ trẻ mong mình lớn lên để được hát Páo Dung, người già như thấymình trẻ lại, thần rừng, thần cây nghe nuốt lấy từng câu, cất vào lòng để rồi mainày nếu người Dao có quên hát Páo Dung thần sẽ nhắc lại Đám cưới người Daođược tổ chức hai ngày hai đêm Khi đoàn săn cha nhà gái về, mỗi người được biếuthịt lợn và một chai rượu

-Được ba hôm, sau ngày cưới, cô dâu cùng chú rể và đoàn nhà trai lại sangnhà gái làm Lễ lại mặt, đoàn gồm đôi vợ chồng trẻ, một số thanh niên nam nữ Nhà

Trang 12

trai mang theo thịt lợn (đã nấu chín), rượu, gạo mời cơm họ hàng bà con thân cậncủa nhà gái

-Tục cạy cửa: Gia đình nào có con gái trên 15 tuổi đều cho nằm riêng ở mộtchiếc giường cạnh cửa ra vào Đầu giường cô gái để sẵn con dao Tối tối, anh contrai nào muốn tìm hiểu thì mở cửa vào giường nằm cạnh cô gái Nếu ưng, họ sẽthành một đôi bạn tình Nếu không, cô gái quay mặt vào tường không đón tiếp

- Có 2 hình thức ở rể: có thời hạn hoặc vĩnh viễn

2, Tang ma;

- Có vài vùng có tục hỏa tang ng chết từ 12t trở lên

Trong tang ma, người Dao thường tiến hành các lễ sau: Lễ khâm niệm, lễxôi gà và lập bàn thờ (lễ cấp thủy và dâng rượu, gia súc); lễ làm chay, lễ nhập quanyểm bùa, lễ đưa đám, lễ hạ huyệt và lễ cúng cơm Nếu là người đã qua lễ cấp sắcđều được gọi hồn về nhà lớn để thường xuyên thờ cúng, người Dao có tục lệ ănsinh nhật, cúng sinh nhật cho cha mẹ khi còn sống, không tổ chức cúng giỗ khi đãchất Đồng bào rất kiêng kỵ việc dựng vợ gả chồng cho con hay làm nhà mới,trồng cấy, gieo hạt giống trùng với ngày mất của người thân

Giarai

I: Khái quát chung:

- Nhóm địa phương: Chor, Arap, Tơ buan…

- Dân số: ~270000 người

- Địa bàn sinh sống chủ yếu: Đắk Lăk, Đăk Nông, Gia rai, Khánh Hòa

- Nhóm ngữ hệ Nam Đảo

Trang 13

II Hoạt động kinh tế

Người Gia Rai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy Trong đóviệc trồng lúa là nguồn sống chính của cư dân

.Đất canh tác lại được chia ra làm nhiều loại:

Rẫy đa canh (hma mnai) là nhũng khoảnh đất được trồng trọt ở trạng thái

nửa vườn,nửa rẫy thuvộc quyền sở hữu của từng gia đình.Ở đó, người đãtrồng các loại cây:chuối, mít, dừa, mía, mít, đu đủ, rau xanh, cà rốt, tỏi,hành, bầu, bí, vừng,lạc,…

• Rẫy chuyên canh lúa là những thửa rẫy thuộc loại hình canh tác theo phươngpháp phát, đốt và chọc lỗ tra hạt như vẫn thường thấy ở hầu hết các dân tộcmiền núi Có những mảnh chỉ trồng một vụ sau đó bỏ hóa từ 8-12 năm.Cũng

có những mảnh được canh tác nhiều vụ.Để tiến hành sản xuất người takhông chỉ phát đốt chọc lỗ tra hạt mà còn phải cuốc đất trước

• Ruộng nước sơ khai(hma dnao)là ruộng được khai phá từ các đầm lầy, quanhnăm có nước hma ia là ruộng được tạo bởi những mảnh rẫy lâu năm trênvùng đất trũng Hơi khác với hma dnao, hma ia bình thường không cónước,mưa đọng xuống thành vũng việc trồng trọt được thực hiện.cả hai loạirẫy đều dùng cuốc để xới và xục bùn

Trang 14

đất không sâu người ta dung cuốc lưỡi nhỏ bản,cầm 1 tay(chông) Làm cỏ ởchỗ có độ dốc cao thỉ có cuốc knor.Ở đây phổ biến dùng các loại cuốcbàn(chông hay achong)trên các loại rẫy vườn và ruộng.Bên cạnh đó còn tồntai những công cụ cuốc bằng xương, dùng các loại dao và rìu để chặt phárừng làm rẫy.

- đàn ông cầm cây gậy chọc lỗ,Nữ giới theo sau, tra hạt vào lỗ

- Trừ một số nơi làm ruộng nước người ta gieo mạ cấy còn lại thườngvẫn gieo thẳng

- Lúa tẻ(pdai) là lương thực chính của họ, phải có hàng chục loại nhưmching,bla,cham,han,pdo…

- Người ta đã chọn đươc nhiều giống lúa khác nhau , thích ứng với từngloại đất và từng loại khí hậu…

- Ngoài lúa tẻ ,đồng bào còn trồng lúa nếp và các loại hoa màu như:sắn,ngô, bobo…

- Từ lâu, Người Giarai đã có nông lịch của mình Tháng giêng đượctính từ ngày có trận mưa đầu tiên, kết thúc 6 tháng khô hanh của vùng caonguyên đất đỏ Mùa gieo giống trên các hma bắt đầu Tháng này tươngđương với tháng 4 dương lịch.Tháng 12(tháng 3 dương lịch) gọi là blan ningnông –Tháng nghỉ ngơi và tổ chức các lễ hội tôn giáo

+Ngoài sản xuất lương thực các gia đình còn chăn nuôi và làm các nghềthủ công

Chăn nuôi gia đình phát triển sớm Đồng bào nuôi trâu, bò, lợn, dê, voi, gà,

chó,

Trang 15

+ Trong đó trâu được dùng trong các nghi lễ tôn giáo và được làm vậtngang giá trong trao đổi những thứ quý giá Có những chiếc chiêng Lào cótrị giá từ 15-20 con trâu.

+ Bò,hầu như nhà nào cũng có dăm ba con Riêng ở huyện ia-yun-pađược nuôi nhiều hơn và được dùng làm sức kéo trong nông nghiệp

+ Ngựa là phương tiện vận chuyển quan trọng nên rất được trú trọngphát triển Đồng bào thường dùng ngựa trong các cuộc đi săn bò tót và làmvật ngang giá trao đổi với các thương nhân từ Lào, Campuchia, và người từmiền xuôi tới

+ Đồng bào Giarai trú trọng đến nuôi voi để đi lại, Thồ và kéo gỗ Nóichung voi nhà ít sinh sản.Người Giarai không có kinh nghiệm để huấn luyệnvoi Ngưới ta thường chung nhau rồi cử ra một người đại diện sang Làohoặc đến Bản Đôn của Đăk Lăk để mua những con voi đã được thuần dưỡngvề

+ Lợn nuôi nhằm phục vụ nghi lễ tôn giáo Họ nuôi theo phương phápnửa nuôi nửa chăm sóc Khi mổ lợn to họ có tập quán chia đều cho các giađình trong làng

+ Dê nuôi để cúng và ăn thịt

+ Chó để đi săn và giữ nhà

Đồng bào Giarai còn có một số nghề phụ thủ công:

+ Nghề mộc chủ yếu làm nhà và chuồng trại gia súc, chưa có kĩ thuật xẻ gỗbào đục và lắp ráp thành các dụng cụ dùng trong sinh hoạt hàng ngày

Trang 16

+ Nghề rèn chưa phát triển bằng các dân tộc khác nhưng cũng có thể tự đúcđược các nông cụ cần thiết kể cả lưỡi cày.

+ Nghề đan lát của đồng bào cũng khá phát triển.Việc biết chẻ tre vót nan vàđan được đồ gia dụng là một trong những chuẩn mưccj của nam giới khi trưởngthành Người ta còn đòi hỏi việc biết đan cài các hoa văn trên sản phảm có tínhthẩm mĩ cao

+ Nghề đan còn là cơ sở nảy sinh nghề dệt vải.Người tat rang trí hoa văn màutrên nền vải thể hiện ở những tấm màn, chăn, váy, áo ,khố…

Khổ vải của người Giarai chưa bao giờ thấy ở các sản phẩm dệt bằng khungcửi của các dân tộc như Thái, Tày….khổ vải thường rộng tới 90cm và còn hơn nữa

- Ngoài việc Sản xuất ra của cải vật chất người Giarai còn biết hái lượm săn bắt và đánh cá

+ Săn cá nhân: thông thạo sử dụng chiếc nỏ caccs loại bẫy có thể diệt đượccác loại thú nhỏ như chim chuột

+Săn tập thể: việc săn bò tót khá nổi tiếng Người đi săn cưỡi ngựa đuổi theothú dùng lao phóng hoặc lùa xuồng vực,dồn vào chỗ vây sẵn để diệt Những thúlớn săn được thường được đem về mổ và chia đều cho dân làng

III Văn hóa vật chất

Đồng bào Giarai ở nhà sàn Có nơi ở nhà sàn dài, có nơi ở nhà sàn nhỏ.Nhưng đều chung tập quán ở nhà sàn đều có hướng chính nhìn về hướng Bắc.Mỗinếp nhà dù lớn hay nhỏ đều là nơi cư ngụ của một gia đình mẫu hệ Đó là một đặc

Ngày đăng: 04/04/2021, 14:13

w