1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn triết học cao học ĐHXD 2

17 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 50,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI LUẬN TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác. Theo quan điểm của mác xít triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự ra đời của triết học cho thấy tính tích cực của tư duy con người đã đạt được bước chuyển biến về chất nhờ sự xuất hiện của tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại.

Trang 1

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI : KHÁI LUẬN TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

Trang 2

I - MỞ ĐẦU 1

1 Tính quy luật của sự hình thành và phát triển triết học 2

2 Sự khác nhau cơ bản giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây 2 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của phương Đông và phương Tây 2 2.2 Sự khác nhau cơ bản của triết học phương Đông và phương Tây 4

2.2.5 Dạng tồn tại của triết học phương Đông và phương Tây 5 2.2.6 Bước phát triển của triết học phương Đông và phương Tây 5 2.2.7 Sự phân chia, phân loại các trường phái triết học 6

3 Các thời kỳ phát triển chủ yếu của triết học phương Tây và đặc điểm cơ bản

3.1 Những đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại 6

3.2.2 Đặc điểm của triết học kinh viện châu Âu thời trung đại 7

3.4 Đặc điểm và những khuynh hướng cơ bản của triết học Tây Âu thời cận

3.5 Triết học cổ điển Đức và giá trị lịch sử của nó 10

3.5.2 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức 10 3.5.3 Giá trị lịch sử của triết học cổ điển Đức 11 3.6 Một số trào lưu triết học phương Tây phi mác - xít hiện đại 11

Trang 3

I – MỞ ĐẦU

Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác Theo quan điểm của mác xít triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Sự ra đời của triết học cho thấy tính tích cực của tư duy con người đã đạt được bước chuyển biến về chất nhờ sự xuất hiện của tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại

Từ khi ra đời, triết học đóng vai trò quan trọng trong nhận thức cũng như hoạt động của con người, Ph Ăngghen viết : “ Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” Nhưng tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của con người mà thôi, năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện,

mà muốn hoàn thiện thì cần nghiên cứu toàn bộ triết học từ những thời đại trước

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng, triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại giữ một vị trí hết sức quan trọng Việc nhận thức một cách đầy đủ những giá trị của hai nền triết học này là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấp bách vừa lâu dài Bởi vậy để tìm hiểu về khái luận triết học và lịch sử triết học nhóm chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu từng thời kỳ, từng giai đoạn của triết học (triết học cổ đại, triết học trung đại, triết học cận đại) và từng khu vực phát triển của triết học (triết học phương đông, triết học phương tây) Nội dung của khái luận triết học và lịch sử triết học qua từng thời kỳ sẽ được nhóm chúng tôi làm rõ dưới đây Mặc dù chúng tôi đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong giáo viên môn học cùng các bạn đọc góp ý bổ sung để nhóm chúng tôi có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

II - NỘI DUNG TIỂU LUẬN

1. Tính quy luật của sự hình thành và phát triển triết học

Triết học ra đời cách đây trên hai nghìn năm trăm năm ở một số trung tâm lớn như Hy Lạp - La Mã Cổ đại, Ấn Độ Cổ đại, Trung Quốc Cổ đại (từ khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế

kỷ thứ V trước công nguyên) Theo tiếng Hy Lạp cổ, từ triết học (philosophia) nghĩa là yêu mến sự thông thái; trong tiếng Trung Quốc từ Triết có nghĩa là lý trí; trong tiếng Phạn cổ từ triết học (darshana) có nghĩa là chiêm ngưỡng, suy ngẫm để đi đến lẽ phải Như vậy với tính cách là một hình thái ý thức xã hội triết học phải bao gồm hai yếu tố cơ bản là yếu tố nhận thức và yếu tố nhận định

Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Triết học ra đời từ nhu cầu của thực tiễn và để phục

vụ cho nhu cầu sống của con người

Sự ra đời của triết học bắt nguồn từ hai nguồn gốc là nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc

xã hội

- Nguồn gốc nhận thức là sự hình thành, phát triển của năng lực tư duy trừu tượng khái quát của con người

- Nguồn gốc xã hội của nó là sự phát triển của phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc trong xã hội có giai cấp Cho nên ngay từ khi mới ra đời triết học đã mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của một giai cấp nhất định

Quá trình hình thành, phát triển của triết học trong lịch sử luôn có những tính quy luật chung như:

- Trước hết, sự hình thành và phát triển của triết học luôn gắn với những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, gắn với các cuộc đấu tranh giai cấp nhất định Các trường phái triết học trong lịch sử luôn là nền tảng thế giới quan của các giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định Chủ nghĩa duy vật là đại diện tư tưởng cho những lực lượng tiến bộ, còn chủ nghĩa duy tâm đại biểu cho những lực lượng phản động

- Sự hình thành và phát triển của triết học luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học tự nhiên và xã hội Ăngghen đã khẳng định: Mỗi khi khoa học tự nhiên phát triển nó đều đòi hỏi chủ nghĩa duy vật phải có sự thay đổi hình thức tồn tại của mình Triết học phải dựa trên cơ sở khái quát các tri thức khoa học cụ thể Khoa học luôn là một trong những tiền đề của triết học

2. Sự khác nhau cơ bản giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của phương Đông và phương Tây

a. Phương Đông

Về mặt địa lý ,phương Đông cổ đại là một vùng đất rộng lớn từ Ai Cập, Babilon tới Ấn

Độ, Trung Quốc…Phương Đông cổ đại là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là những trung tâm phát triển rực rỡ nhất của nền văn minh ấy Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây

• Trung Quốc cổ đại :

Trang 5

Trung Quốc cổ đại có chế độ nô lệ hình thành sớm với những đặc trưng của chế độ nô lệ chiếm hữu không điển hình Sự phân hóa giai cấp không rõ rệt và nô lệ không phải lực lượng sản xuất chủ yếu….Ngay từ thời kỳ nhà Hạ, nền văn minh Trung Quốc cổ đại đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội Đến thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc ( thời kỳ chuyển biến từ xã hội nô lệ sang xã hội phong kiến) , xã hội trong tình trạng loạn lạc Sự chuyển biến sôi động của thời đại này cũng làm xuất hiện nhiều nhà tư tưởng lớn Có thể nói đây cũng chình là thời kỳ triết học phát triển rực rỡ nhất Lịch

sử gọi đây là thời kỳ : “ Bách gia chư tử” Với những tên tuổi lớn đặt bước khởi đầu cho nền triết học Trung Quốc như : Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử… và những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng như nho giáo, lão giáo…

• Ấn Độ cổ đại:

Ấn Độ là vùng đất có điều kiện tự nhiên , thiên nhiên phong phú, do vậy khoảng 2500 năm trước công nguyên, ở Ấn Độ đã có một nền văn minh tương đối phát triển là văn minh sông Ấn của người Dravia bản địa Từ thế kỷ thứ 15, xã hội Ấn độ đã diễn ra những biến động lớn, người Arya từ Trung Á xâm nhập Ấn độ, họ định cư và từng bước đông hóa người bản địa Người Arya bắt đầu xác lập nền văn minh thứ hai trên đất Ấn Độ gọi là nền văn minh Veda

Đặc điểm kinh tế - xã hội nổi bật của Ấn độ cổ đại là chế độ quốc hữu hóa ruộng đất và

sư tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn Trên cơ sở đó, sự phân hóa giai cấp không rõ rệt Trong xã hội tồn tại chế độ đẳng cấp hết sức khắc nghiệt với 4 đẳng cấp cơ bản : Tăng lữ (Brahman) , Quý tộc (Ksytriya) , bình dân (Vaisya) và tôi tớ, nô lệ ( Ksudra)

Người Ấn độ cổ đại cũng đạt được nhiều thành tựu rất quan trong về thiên văn học, toán học, y học và kiến trúc…Văn hóa Ấn độ mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa tâm linh

 Tất cả những đặc điểm trên là những tiền đề làm nảy sinh và phát triển phong phú của những tư tưởng triết học

b. Phương Tây- Hy Lạp cổ đại

Phương Tây chủ yếu là các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha, Hy Lạp…với đại biểu chủ yếu cho triết học thời kỳ cổ đại là Hy Lạp cổ đại

Hy lạp cổ đại là vùng đất có điều kiện địa lý thuận lợi, là cửa ngõ nối liên phương Tây và phương Đông, tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu ôn hòa, giúp cho ngành nống nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển manh mẽ

Vào thời kỳ cổ đại, Hy Lạp đã có nền kinh tế xã hội và văn hóa tương đối phát triển Một số ngành khoa học như toán học, vật lý, thiên văn học đã đạt được những thành tựu rất quan trọng

Cơ cấu xã hội giai cấp cũng có sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc, tiêu biểu là cuộc đấu tranh giữa hai tập đoàn chủ nô : chủ nô dân chủ ( giai cấp tiến bộ, đề xuất chủ trương dân chủ, cải cách…) và chủ nô quý tộc ( bộ phận bảo thủ,đại diện cho quan hệ sản xuất thống trị, có quyền lực trong xã hội…)

Những đặc điểm kinh tế xã hội và văn hóa đã tạo điều kiện cho triết học ra đời và phát triển rực rỡ, từ triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện mầm mống cho hầu hết các loại thế giới quan triết học phương Tây sau này

Trang 6

2.2. Sự khác nhau cơ bản của triết học phương Đông và phương Tây

2.2.1 Mục đích của triết học

Mục đích của triết học phương Tây là nhận thức để cải tạo thế giới, triết học trở thành công cụ giúp cho con người chinh phục tự nhiên => Triết học phương Tây gắn với khoa học tự nhiên

Trong khi đó mục đích của triết học phương Đông lại chủ yếu nhằm xây dựng những con người lý tưởng, khôi phục lại trật tự xã hội đã mất (nho giáo) hay giải thoát con người (phật giáo), làm con người hòa đồng với thiên nhiên (đạo giáo)… => Triết học phương Đông gắn với chính trị xã hội

2.2.2 Phương pháp tiếp cận của triết học

Triết học phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nên nó là tư duy tất định – tư duy vật

lý, tức là đi từ bản thể luận, đến nhận thức luận Triết học phương Đông lại đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những câu cách ngôn, ngụ ngôn nên không chính xác,không thể hiện rõ ràng nhưng lại hiểu cách nào cũng được,đã gói được cả cái ngẫu nhiên mà ngày nay khoa học gọi là khoa học hỗn mang – dự báo

Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận… từ đó xây dựng nhân sinh quan con người ) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…)

Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội

Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên

Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc

2.2.3 Đối tượng nghiên cứu của triết học

Triết học phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc “ thiên nhân hợp nhất” Tức là lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu – tính chất hướng nội, nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm rõ con người Vấn đề bản thể luận trong triết học phương Đông bị mờ nhạt Phương đông đặt trong tâm nghiên cứu mối quan hệ người với người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp thống trị Cho nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị con người, không thấy quan hệ người với người trong lao đông sản xuất

Triết học phương Tây lại nhấn mạnh: Tách con người ra khỏi vũ trụ (Thế giới khách quan), coi con người là chủ thể, còn thế giới là khách thể, con người cần nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan, tức là đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – mang tính chất hướng ngoại Vấn đề con người chỉ được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi Cho nên phương Tây bàn đậm nét về bản thể luận của vũ trụ, ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, để cải tạo cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế xã hội , cái gốc để giải

Trang 7

phóng con người…Sau này triết học Mác – Lê Nin đã khắc phục nhược điểm này của triết học phương Tây

2.2.4 Sự khác nhau về phương pháp nhận thức

Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác

Triết học phương Tây thường dựa trên tư duy lý tính, mang tính chất trừu tượng Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng

Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu) thì nhận thức sẽ dễ dàng

Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc

để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn… để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau

Do phương pháp nhận thức khác nhau dẫn tới hệ thống thuật ngữ của triết học phương Đông và phương Tây cũng khác nhau trên 3 mảng lớn :

- Về bản thể luận : Phương Tây dùng thuật ngữ “ giới tự nhiên”,”bản thể”, “vật chất”, “ý thức” Phương đông dùng thuật ngữ : “ thái cực”, “đạo”, “sắc”, “hình”, “vạn pháp”…

- Về nhận thức luận (tính chất, sự biến đổi của thế giới) : Phương Tây dùng thuật ngữ “ biện chứng” “ siêu hình” “thuộc tính” “vận động” “ đứng im”, nhưng lấy cái đấu tranh, cái động là chính Phương Đông dùng thuật ngữ “ động – tĩnh”,” biến dịch” “ vô thường” “ vô ngã “, thường lấy cái thống nhất, cái tĩnh làm gốc

- Khi diễn đạt về mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng thế giới : Phương Tây dùng thuật ngữ “ liên hệ”, “ quan hệ” “ quy luật”… Phương Đông dùng “ đạo” “lý” “mệnh” “thần”…

2.2.5 Dạng tồn tại của triết học phương Đông và phương Tây

Ở phương Đông những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới dạng thuần túy mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác Cái nọ lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có những triết gia với những tác phẩm triết học độc lập Còn ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là 1 môn khoa học độc lập với các môn khoa học khác mà các môn khoa học khác lại thường ẩn dấu đằng sau triết học Thời kì trung cổ là điển hình : Khoa học muốn tồn tại phải khoác áo tôn giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáo hội

2.2.6 Bước phát triển của triết học phương Đông và phương Tây

Lịch sử triết học phương Đông ít thấy những bước nhảy vọt về chất có tích vạch thời đại,

mà chỉ là sự phát triển cực bé, kế tiếp, xen kẽ Các trường phái triết học phương Đông vẫn giữ nguyên tên gọi và hình thức biểu hiện, nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi sâu vào từng chi tiết, nhưng vẫn trên cơ sở nhân lễ chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào đó Các nhà triết học phương Đông thì chỉ giới hạn trong khuôn khổ ủng hộ hay bỏa vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện

và phát triển hơn là vạch ra sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thứ triết học mới

Trang 8

Những nhà tư tưởng ở giai đoạn lịch sử sau thường cho mình là học trò,là kế tục sự nghiệp của những nhà sáng lập ra học thuyết giai đoạn trước

Ngược lại phương Tây : ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, bên cạnh trường phái cũ lại có những trường phái mới xuất hiện,có những trường phái còn phát huy tác dụng nhưng cũng

có những trường phái đã đi vào lịch sử, đồng thời có những trường phái ra đời có tính chất vạch thời đại như cổ đại có trường phái Tales,Herales…triết học khai sáng Pháp, chủ nghĩa duy vật ở Anh, Hà Lan, triết học cổ điển Đức….Tình hình đó phản ánh tính giai đoạn có ý nghĩa nhảy vọt trong sự phát triển của lịch sử triết học phương Tây Cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật mang tính chất quyết liệt và triệt để hơn

2.2.7 Sự phân chia, phân loại các trường phái triết học

Ở phương Đông đan xen các trường phái, yếu đố duy vật, duy tâm, biện chứng, siêu hình không rõ nét Sự phân chia chỉ xét về đại thể, còn đi sâu vào nội dung cụ thể thường là có mặt duy tâm, có mặt duy vật, sơ kỳ là duy vật, hậu kỳ là nhị nguyên hay duy tâm

Ở phương Tây, sự phân chia các trường phái rõ nét, các hình thức tồn tại lịch sử rất rõ rang như duy vật chất phác thô sơ đến duy vật siêu hình, đến duy vật biện chứng Hay biện chứng sơ khai đến biện chứng duy tâm, đến biện chứng duy vật

3. Các thời kỳ phát triển chủ yếu của triết học phương Tây và đặc điểm cơ bản của chúng.

3.1. Những đặc điểm cơ bản của triết học Hi-lạp cổ đại

- Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò của mình Cho nên ngày từ khi mới ra đời, triết học Hy Lạp cổ đại đã mang tinh giai cấp sâu sắc

- Triết học Hy Lạp đã có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái, duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần Toàn bộ nền triết học thế giới sau này cũng dựa trên những nền tảng cơ bản đó

- Tính chất bao trùm về mặt lý luận của triết học đối với tất cả các lĩnh vực của nhận thức, không có đối tượng nghiên cứu riêng mà chủ yếu là nghiên cứu tri thức chung

- Tính đa dạng, muôn vẻ, sự phân cực quyết liệt làm nên đặc điểm tiếp theo của triết học Hy Lạp cổ đại

- Tính biện chứng chất phác, sơ khai, thể hiện trong việc lý giải tự nhiên, khám phá các quy luật nhận thức, trong cá đối thoại và tranh luận nhằm đạt tới chân lý

- Sự ưu tiên nhận thức thế giới bên ngoài, tự nhiên hơn là những vấn đề con người Giá trị con người chủ yếu được bàn đến ở khía cạnh đạo đức

- Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã biết gắn bó chặt chẽ triết học với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để hương tới việc xây dựng thế giới quan tổng thể

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tiêu biểu thời kỳ này : Heraclitte, Democrite, Platon, Aritxtot , Xocrat

3.2. Triết học kinh viện châu Âu thời trung đại

3.2.1 Điều kiện văn hóa, xã hội thời kỳ này

Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XI, nền kinh tế châu Âu là nền kinh tế tự nhiên, tự cung

tự cấp Xã hội phân ra làm hai giai cấp thống trị và bị trị Cơ cấu xã hội phức tạp nên có

Trang 9

nhiều lực lượng xã hội phát triển, trong đó quan trọng nhất là lực lượng tôn giáo Tôn giáo

có vai trò thống trị trong xã hội, đặc biệt là đạo cơ đốc

Từ thế kỷ XII đến thể kỷ XV, nền kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại có

sự phát triển mới, dân sô tăng, vì vậy xã hội hình thành nhiều giai cấp trung gian Chính sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội như vậy nên quy định nội dung và tính chất của triết học trung đại Nét đặc thù của triết học châu Âu trung đại là triết học kinh viện có xu hướng “ hướng ngoại”, có nhiệm vụ chính là “đầy tớ của thần học”

Thế kỷ XIX trở đi, cơ đốc giáo giữ vai trò thống trị trong xã hội, triết học của cơ đốc giáo hình thành, biến thành phương tiện bảo vệ, cơ đốc giáo gọi là kinh viện Triết học có xu hướng tách rời đời sống thực tiễn, chỉ dựa vào uy tín của tôn giáo 1 cách mù quáng Các vấn

đề cơ bản mà triết học kinh viện quan tâm : mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin

3.2.2 Đặc điểm của triết học kinh viện châu Âu thời trung đại

Xuất phát từ những giáo điều chung của thần học, tuyệt đối tin tưởng vào cơ đốc giáo, dựa trên lôgic hình thức, triết học kinh viện định ra những quy tắc giáo điều chung cho hoạt động của con người tách rời thực tiễn Chủ nghĩa kinh viện là cơ sở lí luận của trật tự xã hội phong kiến Nội dung quan điểm của triết học kinh viện không nhất quán: lúc đầu chịu ảnh hưởng quan điểm của Platon, được thánh Augustin nhào nặn lại (giai đoạn sơ kì), sau chuyển sang chịu ảnh hưởng quan điểm của Aristote qua tư duy của thánh Thomas (giai đoạn chín muồi) Trong giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa đế quốc, triết học kinh viện được phục hồi và cách tân (chủ nghĩa kinh viện mới trùng với chủ nghĩa Thomas mới) vào thế kỉ 16 - 17

Cuộc tranh luận chính của triết học kinh viện xoay quanh vấn đề những khái niệm phổ biến (chính là vấn đề cái phổ biến và cái đơn nhất).Triết học kinh viện phủ nhận quy nạp, coi trọng diễn dịch (hình thức cơ bản của nó là tam đoạn luận) nhằm tạo ra những quy tắc chặt chẽ của tư duy Là "đầy tớ" của thần học, triết học kinh viện cản trở sự phát triển của khoa học tự nhiên.Thành tựu của những nhà kinh viện trong lĩnh vực lôgic chính là dự báo trước một số vấn đề của lôgic hiện đại, trong đó có lôgic toán Triết học kinh viện là triết học của giai cấp phong kiến, đã kìm hãm sự phát triển của khoa học và triết học duy vật Cuộc đấu tranh giữa hai phái Duy thực và Duy danh cũng là đặc trưng của tư tưởng triết học Trung đại Tây Âu Xét đến cùng, cuộc đấu tranh này phản ánh ít nhiều hai xu hướng triết học đối lập nhau: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Phái Duy thực luận chứng

về mặt triết học sự tồn tại có thật, duy nhất của cái chung; còn phái Duy danh thì ngược lại, chứng minh cho sự tồn tại duy nhất, có thật của cái riêng Phái Duy danh có khuynh hướng duy vật, phái Duy thực lại có xu hướng duy tâm về triết học

3.3. Chủ nghĩa nhân văn thời kỳ Phục hưng

Chủ nghĩa nhân văn là trào lưu tư tưởng và văn hoá thời Phục hưng ở châu Âu Đây là một phong trào chống Thiên chúa giáo nhằm đề cao con người, giải phóng cá nhân khỏi sự

đè nén tinh thần của chế độ phong kiến, chống chủ nghĩa kinh viện và giáo hội, hướng con người vào xây dựng cuộc sống thực tại Lịch sử ra đời của chủ nghĩa nhân văn được xác lập

từ khi xuất hiện phong trào Phục hưng

Trang 10

Với tinh thần đấu tranh chống lại sự cai trị hà khắc của chế độ phong kiến, chủ nghĩa nhân văn trở thành một trào lưu tư tưởng hiện thực với sức mạnh to lớn và có ý nghĩa sâu

sắc Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng được kết tinh trong khẩu hiệu "Tự

do - Bình đẳng - Bác ái", từ hành vi muốn lật nhào chế độ phong kiến, đem Louis XVI ra

chém đầu trước quảng trường Louvere, lập nên nước Cộng hòa ở Pháp

Chủ nghĩa nhân văn - đó là đỉnh cao của những lý tưởng, lý luận, quan điểm nhằm kêu gọi, thức tỉnh và phục vụ cho lợi ích của loài người tiến bộ, đặc biệt là những người lao động, để giúp con người tự khẳng định những giá trị cao đẹp, tài năng và nhân phẩm của bản thân Từ những cơ sở thực tiễn và lý luận ấy, nội dung chính của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng gồm:

- Thế giới do tự nhiên sinh ra, không phải do Chúa Trời tạo nên.

- Con người là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên, chứ không phải do Chúa tạo ra từ

"mẩu đất" hay cái "xương sườn cụt".

- Cuộc sống không phải là nơi đày ải mà là nơi con người có thể xây hạnh phúc dưới trần thế, không phải đợi ngày mai lên thiên đàng.

- Cuộc đời chứa đựng vô vàn cái đẹp mà con người là trung tâm của cái đẹp, vì thế con người phải trở thành đối tượng của nghệ thuật.

Như vậy, chúng ta có thể thấy, chủ nghĩa nhân văn Phục hưng là cuộc cách mạng diễn ra trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng Nghĩa là chủ nghĩa nhân văn đã chuẩn bị tiền đề tư tưởng, thực hiện "cuộc cách mạng" trong nhận thức để con người thực hiện cuộc cách mạng xã hội trong thực tiễn

3.4. Đặc điểm và những khuynh hướng cơ bản của triết học tây Âu thời cận đại

Kinh tế tư bản chủ nghĩa đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi khoa học phải thoát khỏi xiềng xích của tôn giáo, thần học và triết học kinh viện Vì vậy triết học duy vật có điều kiện phát triển mạnh mẽ Khoa học cũng có bước phát triển vượt bậc, nhiều phát minh sáng chế ra đời như sự phát hiện ra sự tuần hoàn của máu; phát hiện ra tính chất sóng và hạt của ánh sáng; sáng chế ra kính thiên văn, hàn thử biểu Những phát minh, sáng chế này đã hậu thuẫn cho triết học duy vật biện chứng ra đời

Thời kỳ cận đại của châu Âu cũng là thời kỳ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ hình thành Chủ nghĩa tư bản đã thực hiện chiến tranh xâm lược thuộc địa để mở rộng lãnh thổ và thị trường, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở các vùng đất thuộc địa, chiến tranh tôn giáo nảy sinh Tất cả những điều này đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi các nhà tư tưởng phải giải quyết Trên cơ sở đó đã thúc đẩy sự phát triển của triết học

Triết học Tây Âu thời kỳ thế kỷ XVII – XVIII về cơ bản có những đặc điểm sau:

- Triết học duy vật có xu thế phát triển rực rỡ, là thế giới quan, ý thức hệ của giai cấp tư sản đang lên, đang còn tiến bộ, cách mạng chống lại giai cấp phong kiến lỗi thời, lạc hậu Tuy nhiên, khi cách mạng tư sản thành công thì triết học duy vật có xu hướng nhường chỗ cho triết học duy tâm, triết học chủ quan, không thể biết Điều này thể hiện rõ ở thế kỷ XVII tư tưởng triết học duy vật thể hiện rõ nét trong các nhà triết học như: Tô-mát Hốp-xơ (1588 – 1679), Giôn Lốc-cơ (1632 – 1704), Nhưng đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII thì tư

Ngày đăng: 22/04/2021, 23:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w