MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC Mối quan hệ giữa triết học và khoa học trải qua một quá trình phát triển lịch sử lâu dài. Mối quan hệ ấy không hề đơn giản, bất biến, mà là phức tạp, thay đổi và cũng trở thành một trong những “vấn đề triết học”,đó là mối quan hệ hai chiều,tác động qua lại lẫn nhau, từ chỗ lúc đầu là một sự hòa trộn đan xen nhau giữa tri thức khoa học và triết học, dần dần là sự tách ra của các khoa học và bắt đầu ảnh hưởng của các khoa học đến sự phát triển của triết học.
Trang 1[ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN TRIẾT ĐỀ TÀI 3]
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
****************
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI : MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC
Nhóm thực hiện :
Lớp :
Khóa :
Chuyên ngành : Quản lý dự án
Giáo viên giảng dạy : TS Lê Kim Châu
Danh sách học viên nhóm :
Trang 2[ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN TRIẾT ĐỀ TÀI 3]
MỤC LỤC
I - MỞ ĐẦU
II - NỘI DUNG
1 Triết học và khoa học thời cổ đại Triết học tự nhiên : vai trò lịch sử và hạn chế của nó
2 Triết học và khoa học thời kỳ Phục hưng và cận đại
3 Chủ nghĩa duy vật biến chứng và khoa học tự nhiên hiện đại
4 Quan điểm của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa triết học và khoa học 4.1 Quan điểm của chủ nghĩa thực chứng về triết học và khoa học
4.1.1 Khái niệm về chủ nghĩa thực chứng
4.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa thực chứng về triết học và khoa học
4.2 Sự tương tác giữa triết học duy vật biện chứng và khoa học
4.2.1 Khái niệm về triết học duy vật biện chứng
4.2.2 Quan điểm của triết học duy vật biện chứng và khoa học
III - KẾT LUẬN
Trang 3I – MỞ ĐẦU
Mối quan hệ giữa triết học và khoa học trải qua một quá trình phát triển lịch sử lâu dài Mối quan hệ ấy không hề đơn giản, bất biến, mà là phức tạp, thay đổi và cũng trở thành một trong những “vấn đề triết học”,đó là mối quan hệ hai chiều,tác động qua lại lẫn nhau, từ chỗ lúc đầu là một sự hòa trộn đan xen nhau giữa tri thức khoa học và triết học, dần dần là sự tách ra của các khoa học và bắt đầu ảnh hưởng của các khoa học đến sự phát triển của triết học
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và khoa học giúp các nhà triết học hiểu biết thêm những tri thức về khoa học, thấy rõ được cơ sở khoa học chính xác, khách quan
để triết học dựa vào đó khái quát thành những nguyên lý, những quy luật, phạm tru triết học Đồng thời giúp cho các nhà khoa học nhận thức và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học vào quá trình nghiên cứu khoa học tự nhiên
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại với nội dung chủ yếu là sự phát triển nhanh chóng của khoa học và những ứng dụng rộng rãi của chúng trong thực tiễn,
đã và đang làm thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống, đòi hỏi các nhà triết học và các nhà khoa học chuyên môn giải quyết đúng đắn và kịp thời những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách Sự giải đáp cho những vấn đề này chỉ có thể thực hiện trên
cơ sở nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo thế giới quan và phương pháp luận triết học Do đó việc nghiên cứu những vấn đề về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, vai trò của thế giới quan và phương pháp luận triết học đối với sự phát triển khoa học có ý nghĩa rất quan trọng
Mặc du chúng tôi đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong giáo viên môn học cung các bạn đọc góp ý bổ sung để nhóm chúng tôi có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4II – NỘI DUNG
1. Triết học và khoa học thời cổ đại Triết học tự nhiên : vai trò lịch sử và hạn chế của nó
Thời cổ đại, trước khi triết học và khoa học xuất hiện, thế giới xung quanh được phản ánh trong ý thức của người nguyên thủy dưới hình thức thần thoại trong thần thoại, bên cạnh niềm tin hư ảo vào các lực lượng thần thánh siêu tự nhiên, thì các vấn
đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới có một vị trí đáng kể Triết học ra đời trong cuộc đấu tranh với thần thoại, như một nỗ lực giải thích thế giới Thời kỳ này, do trình
độ nhận thức còn ở điểm xuất phát, các tri thức khoa học còn tản mạn, sơ khai, nên triết học hầu như là dạng lý luận duy nhất, bao trum, giải quyết các vấn đề về tự nhiên,
xã hội lúc ấy thực ra chỉ là những phác thảo sơ lược, chưa cụ thể, hoàn thiện Tính bao trum ấy của tri thức triết học khiến nó được xem như “môn khoa học đặc biệt đứng trên tất cả các môn khoa học khác” Quan niệm này tồn tại khá lâu trong lịch sử và Ph Ăngghen đã gọi hệ thống Hegel là “cái thai đẻ non cuối cung”
Thời Hy Lạp cổ đại, triết học duy vật mộc mạc và phép biện chứng tự phát là tương ứng với trình độ ban đầu của khoa học tự nhiên Thời bấy giờ, những kiến thức khoa học về tự nhiên, dưới hình thức những dự kiến, những phát kiến rời rạc, chưa có hệ thống, đang hòa lẫn trong kho tàng các kiến thức triết học Những kiến thức khoa học
về khoa học tự nhiên lúc này về cơ bản được quy vào khoa học hình học của Euclide,
lý thuyết về hệ thống mặt trời của Ptôlêmê, cách tính thập phân của người Ả-rập, vào những kiến thức sơ đẳng về đại số học, những chữ số hiên nay Thời kỳ này, triết học không độc lập với các tri thức khoa học mà thực chất là đồng nhất với chúng để hình thành môn khoa học tổng hợp Các nhà triết học đầu tiên ở Hy Lạp cũng đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên Triết học duy vật mộc mạc và biên chứng tự phát cổ đại
Hy Lạp được gọi là triết học tự nhiên
Thuật ngữ “Triết học tự nhiên” bắt nguồn từ tiếng Latin: “philosophia” có nghĩa là
triết học và “natural” có nghĩa là tự nhiên, triết học tự nhiên được coi là sự lý giải
mang tính tư biện trừu tượng về tự nhiên trong tính toàn thể của nó Triết học tự nhiên xuất hiên từ thời cổ đại và trên thực tế được coi là hình thức lịch sử đầu tiên của triết học [phương Tây].Triết học tự nhiên thịnh hành ở phương Tây vào lúc khoa học thực nghiệm chưa phát triển cao, không đủ để tìm ra quy luật của các hiện tượng tự nhiên Chính vì vậy mà trên thực tế, triết học tự nhiên là mang tính tư biện (speculation):
Trang 5những giải thích của nó về thế giới chủ yếu là dựa trên những phỏng đoán, giả định, nhưng cũng đưa ra những giả thuyết, chứa đựng nhiều tư tưởng tích cực có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của khoa học
Nhận thức triết học và khoa học tự nhiên đã tạo nên một bức tranh về thế giới , một bức tranh tổng quát đầu tiên trong lịch sử nhận thức khoa học coi thế giới như là một chỉnh thể, một toàn bộ không phân chia về các sự vật và hiện tượng xảy ra trong tự nhiên Ở đó, mọi cái đều trôi qua, mọi cái đều biến đổi, đều liên hệ, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau, không có cái gì là vĩnh viễn, là bất biến
Bức tranh đầu tiên về thế giới đầu tiên này , về căn bản là tính đúng đắn Nó được tạo ra trên những kết luận về trạng thái của các sự vật và hiện tượng xảy ra trong tự nhiên Nhưng bức tranh mới chỉ nêu lên những hiểu biết về cái toàn thể, mà chưa nêu lên được những hiểu biết chi tiết , những biểu tượng cụ thể của các sự vật, hiện tượng
Nó nêu lên được trạng thái vận động, liên hệ, tác động và chuyển hóa lẫn nhau trong giới tự nhiên, nhưng không nêu lên được vì chính cái gì đó đang vận động, liên hệ, tác động và chuyển hóa lẫn nhau
Do trình độ hiểu biết về tự nhiên còn ít ỏi và rời rạc, mang tính trực quan là chính, chưa cho phép tiến hành những khái quát khoa học dưới sự chỉ đạo của tư tưởng triết học, để rút ra những yếu tố vật lý có tính chất nguyên lí, lí luận liên kết thành hệ thống, cho phép giải thích đúng đắn sự đa dạng của các hiện tượng trong tự nhiên và tiên đoán những diễn biến trong tương lai Do vậy, trong một thời gian dài,mặc du triết học
đã có những tư tưởng thiên tài nhưng chưa đem lại kết quả cụ thể nào cho khoa học
Khi mới ra đời, đối tương nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức đây cũng
là nguyên nhân dẫn đến quan niệm cho rằng “ Triết học là khoa học của các khoa học” Thời kỳ này triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đặt nền móng cho sự phát triển
về sau không chỉ với triết học mà còn đối với hoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Sự ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại có một số đặc điểm như: gắn hữu
cơ với khoa học tự nhiên, hầu hết các nhà triết học duy vật đều là các nhà khoa học tự nhiên; sự ra đời rất sớm chủ nghĩa duy vật mộc mạc, thô sơ và phép biện chứng tự phát; cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm biểu hiện qua cuộc đấu tranh giữa đường lối triết học của Đêmôcrít và đường lối triết học của Platôn, đại
Trang 6diện cho hai tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc; về mặt nhận thức, triết học Hy Lạp cổ đại đã theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy giác
Nhìn chung, bên cạnh những giá trị lịch sử to lớn, triết học tự nhiên thời kỳ này vẫn mang tính chất sơ khai, tư biện, các khoa học vẫn chỉ là thứ yếu bên dưới bị chi phối bởi triết học
- Một số triết gia tiêu biểu:
+ Hêraclit (520 - 460 tr CN)
Hêraclit là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại
+ Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 tr CN)
Đêmôcrít là đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại Nổi bật trong triết học duy vật của Đêmôcrít là thuyết nguyên tử
+ Arixtốt (384 - 322 tr CN)
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác coi Arixtốt là bộ óc bách khoa nhất trong số các nhà tư tưởng cổ đại Hy Lạp Triết học của ông cung với triết học của Đêmôcrít và Platôn làm nên giai đoạn phát triển cao nhất của triết học Hy Lạp
Là bộ óc bách khoa, Arixtốt đã nghiên cứu nhiều ngành khoa học: triết học, lôgíc học, tâm lý học, khoa học tự nhiên, sử học, chính trị học, đạo đức học, mỹ học
2. Triết học và khoa học thời kỳ Phục hưng và cận đại
Bắt đầu từ thời kỳ Phục hưng và đặc biệt là trong các thế kỷ XVII – XVIII, sự phát triển của các khoa học, nhất là các khoa học tự nhiên càng lúc càng diễn ra nhanh chóng Mối quan hệ triết học – khoa học có sự đổi chiều Khoa học tự nhiên từ chỗ trước kia chỉ có vai trò phụ thuộc, bị dẫn dắt bởi triết học, thì giờ đây càng ngày càng độc lập hơn trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, hơn nữa còn tác động quyết định đến khuynh hướng phát triển của triết học và phương pháp tư duy Chính sự thay đổi này
đã tạo ra tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa thực chứng Chủ nghĩa thưc chứng tuyên
bố rằng chỉ có các khoa học cụ thể mới cần thiết, đem lại các tri thức tích cực, còn triết học thì không Chính xác hơn, chủ nghĩa thực chứng thừa nhận trong quá khứ, khi mà các khoa học còn chưa phát triển đầy đủ, triết học đã từng có vai trò tích cực như là khoa học bao trum, tổng hợp mọi tri thức, thậm trí đóng vai trò một “khoa học của các khoa học” Nhưng khi các khoa học lần lượt xuất hiện và trưởng thành , đem lại những tri thức thực sự, triết học mất dần đi vai trò lịch sử của mình
Trang 7Trong thời kỳ này, ảnh hưởng của khoa học đến triết học càng ngày càng rõ rệt hơn Theo dõi sự phát triển của khoa học trong thời kỳ này, chúng ta thấy rằng quá trình phân ngành diễn ra nhanh chóng: Cơ học, vật lý, hóa học, sinh vật học, địa lý, thiên văn học… lần lượt trở thành các khoa học độc lập Mỗi khoa học tự xác định cho mình đối tượng nghiên cứu riêng Giới tự nhiên được chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau
và trở thành đối tượng của những nghiên cứu độc lập Việc này là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn phát triển đầu tiên của khoa học, khi mà nhiệm vụ chủ yếu là phải sưu tập, tích lũy tài liệu Nhưng phương pháp được coi là cần thiết và chính đáng ấy của khoa học tự nhiên cũng đã ảnh hưởng đến và in dấu lên tư duy triết học đương thời – Phương pháp tư duy siêu hình Trong các khoa học tự nhiên thời bấy giờ chỉ có cơ học
là môn khoa học được coi là đạt đến mức độ hoàn thiện nhất định và vì thế tư duy cơ học máy móc cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến triết học Do vậy triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy móc siêu hình
Đây là thời kì xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh vực xã hội nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việc giải thích xã hội và lịch sử Cung với sự phát triển về kinh tế và xã hội, khoa học kĩ thuật và tư tưởng thời kì Phục hưng cũng đạt được sự phát triển mạnh mẽ Các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật, vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thu là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện Cuối cung, sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện Trung cổ đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết học duy vật - tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo
Sự phát triển của lực lượng sản xuất mới làm cho quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời và mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt
là nguyên nhân chính của những cuộc cách mạng thời kì này Nó tạo đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong
đó cơ học đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ điển Đặc điểm của khoa học tự nhiên thời kì này là khoa học tự nhiên - thực nghiệm, nghĩa là kiến thức phải được dựa trên những hiện tượng quan sát được và có khả năng được thử nghiệm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó dựa trên việc sưu tầm, thu thập các tài liệu
Trang 83. Chủ nghĩa duy vật biện chứng và khoa học tự nhiên hiện đại
Triết học khái quát những kết quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên, rút ra những kết luận có ý nghĩa về mặt thế giới quan và phương pháp luận chung, giúp cho các nhà khoa học tự nhiên xác định phương hướng và phương pháp nghiên cứu của mình Các phát minh của khoa học tự nhiên từ nửa sau thế kỷ 18 đến nửa đầu thê kỷ 19 đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm siêu hình về tự nhiên, đòi hỏi phải có quan niệm mới và phản ánh đúng tự nhiên, đó chính là quan niệm biện chứng duy vật Điều đó khẳng định sự phát triển của khoa học tự nhiên ảnh hưởng tới sự phát triển triết học Vì vậy, Ăng ghen nói giới tự nhiên là hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng
Triết học Mác – Lê nin nghiên cứu những thuộc tính và những quy luật chung nhất của các hệ thống vật chất khác nhau của tự nhiên và xã hội, cũng như của các hệ thống nhận thức thế giới của con người Về thực chất, chủ nghĩa duy vật biện chứng là một
lý thuyết triết học chung nhất của các hệ thống vật chất và tinh thần Nó đem lại một bức tranh nhất định về thế giới xem như vật chất đang vận động (phương diện thế giới quan) và đồng thời nó cũng là phương pháp luận của nhận thức khoa học (phương diện logic – nhận thức luận)
Ở một mức độ nào đó, các thuộc tính và quy luật phổ biến của hệ thống cũng được nghiên cứu trong các khoa học tự nhiên cơ bản – những khoa học đưa thông tin về các biểu hiện cụ thể của các thuộc tính và các quy luật này Nhưng mỗi bộ môn khoa học
cụ thể chỉ nghiên cứu những hình thức vật chất và vận động nhất định hay những bộ phận hữu hạn của thế giới Khác với cái đó, triết học Mác – Lê nin cố gắng vạch ra một cái chung, ổn đinh và bất biến trong vô số những thuộc tính và quy luật riêng lẻ cụ thể và điều đó dẫn đến sự nhận thức những thuộc tính và quy luật phổ biến của tồn tại vật chất Nguyên lý triết học về nhân quả biểu hiện cái chung, cái thống nhất và ổn định có trong kết cấu của tất cả các quy luật về sự phát sinh và phát triển của một số hiện tượng này bởi các hiện tượng khác Các quy luật phổ biến của tồn tại đã được nhận thức sẽ trở thành những nguyên lý phương pháp luận của sự nghiên cứu trong KHTN Đồng thời, nguyên lý nhân quả đóng vai trò gợi mở, điều chỉnh quan trọng khi nghiên cứu các hình thức tương tác của các khách thể vật chất khác nhau và khi xây dựng các lý thuyết khoa học Các giả thuyết dựa trên giả thuyết về sự vi phạm nguyên
lý nhân quả về sau này là không đúng ngay cả theo quan điểm của bản thân KHTN Trong thế giới, không có hiện tượng nào mà không có nguyên nhân tự nhiên của mình hay không gây nên những hệ quả nào đấy – những kết quả được chúng sản sinh ra Nguyên lý nhân quả đã được khái quát hóa không chỉ tính đến các quá trình quyết định
Trang 9luận đơn trị, mà còn tính đến tất cả các hình thức của các quá trình xác suất, các biến đổi ngẫu nhiên, sự xuất hiện của các khả năng mới trong phát triển
Học thuyết duy vật biện chứng về các thuộc tính và các quy luật cơ bản của các hệ thống vật chất khác nhau thực hiện chức năng tổng hợp nhất định, thúc đẩy sự sát nhập tri thức khoa học Khuynh hướng tiến tới sự sát nhập tri thức nằm trong mối tác động qua lại với khuynh hướng phân ngạch ngày càng sâu sắc của khoa học Nó xuất phát từ các quy luật phát triển nội tại của các nguyên lý khoa học Sau khi lý thuyết đạt đến sự
mô tả thỏa đáng các hiện tượng được nghiên cứu và về cơ bản đã được xác nhận trong thực tiễn thì bắt đầu thời kỳ xây dựng căn cứ cho những nguyên lý xuất phát của nó Việc xây dựng căn cứ này bao gồm sự giải thích nhân quả của chúng, sự giải đáp những vấn đề như vì sao các nguyên lý ấy lại có chính nội dung như thế chứ không phải là nội dung nào khác, phạm vi áp dụng của chúng đến đâu, … Một sự giải thích như vậy không thể thực hiện được trên cơ sơ bản thân lý thuyết đó, trên cơ sở nguyên
lý vốn có của nó Để đạt được điều ấy cần phải vượt ra ngoài giới hạn của nó và chuyển sang một hệ thống tri thức phổ biến hơn, nhất định sẽ lại xuất hiện những luận điểm không thể giải thích được theo quan điểm logic nội tại và nội dung của lý thuyết
đó đòi hỏi phải có một tri thức phổ biến hơn nữa để xây dựng căn cứ cho mình
Như vậy, sự cần thiết xây dựng căn cứ cho lý thuyết và cho sự giải thích nhân quả các luận điểm của nó gây nên sự chuyển sang lý thuyết ngày càng phổ biến hơn, gây nên sự sát nhập tri thức khoa học Lý thuyết mới, lý thuyết phổ biến hơn, không phủ nhận hoàn toàn lý thuyết cũ, nếu như lý thuyết cũ đó đã được xác nhận về cơ bản trong thực tiễn Nó chỉ loại trừ những luận điểm không đúng của lý thuyết cũ và hạn chế phạm vi áp dụng Sự phát triển của các lý thuyết hoàn toàn tuân theo và phu hợp với học thuyết của Lê nin về phép biện chứng của chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối Phép biện chứng dạy rằng do kết quả của những thay đổi về chất sẽ xuất hiện những tính quy luật mới không thể đồng nhất với những quy luật của các hình thái vận động đơn giản hơn hoặc không thể quy về chúng Không tính đến tính độc đáo về chất của các hiện tượng và các những tính quy luật đặc thu của chúng thì không thể có nhận thức khoa học
Sở dĩ các khoa học ngày càng quện vào nhau, đó là do KHTN ngày càng đi sâu vào phép biện chứng của tự nhiên Nhận thức khoa học là do sự phản ánh những đối tượng tồn tại khách quan cung tất cả những tính chất và những quy luật vốn có của nó Mối liên hệ lẫn nhau giữa các lĩnh vực khác nhau của KHTN hiện đại là sự biểu hiện của những mối liên hệ khách quan của giới tự nhiên Sự thâm nhập lẫn nhau của các
Trang 10KHTN hiện đại chứng tỏ rằng trong giới tự nhiên, trong sự thống nhất của nình là một
sự thống nhất của cái đa dạng: không một lĩnh vực nào của nó lại tách khỏi những lĩnh vực khác, mà nằm trong mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau, kết hợp với nhau, bằng tram nghìn những sợi dây khác nhau, những sự quá độ và chuyển hóa lẫn nhau Điều này thể hiện nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng trong triết học Mác – Lênin
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học duy vật biện chứng và khoa học tự nhiên chẳng những giúp cho các nhà triết học hiểu biết thêm những tri thức về khoa học tự nhiên mà còn làm cho họ thấy rõ được cơ sở khoa học chính xác, khách quan để triết học dựa vào đó khái quát thành những nguyên lý, những quy luật và những phạm tru triết học Đồng thời, nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên đã giúp cho các nhà khoa học tự nhiên nhận thức và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học vào quá trình nghiên cứu khoa học tự nhiên, làm cho họ luôn luôn ý thức được rằng, chỉ có cho mình một phương pháp biện chứng duy vật thì họ mới có thể tiến xa hơn, đi sâu hơn vào các lĩnh vực mà họ đang và sẽ nghiên cứu Khi đưa ra nhận định về con đường phát triển phức tạp của vật lý học V.I.Lênin đã viết: “Vật lý học hiện đại đang và sẽ đi, nhưng nó
đi tới phương pháp duy nhất đúng, đi tới triết học duy nhất đúng của khoa học tự nhiên, không phải bằng con đường thẳng, mà bằng con đường khúc khuỷu, không phải
tự giác mà tự phát, không nhìn thấy rõ “mục đích cuối cung” của mình, mà đi đến mục đích đó một cách mò mẫm, ngập ngừng và thậm chí đôi khi giật lui nữa Vật lý học hiện đại đang nằm trên giường đẻ.Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng.Một cuộc sinh đẻ đau đớn Kèm theo sinh vật sống và có sức sống, không tránh khỏi một vài sản phẩm chết, một vài thứ cặn bã nào đó phải vứt vào sọt rác Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán, cũng như thuyết kinh nghiệm tượng trưng, v.v… đều thuộc những thứ cặn bã phải vứt bỏ đi ấy”
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên còn giúp cho con người thấy rõ được nguồn gốc chung của sự nảy sinh triết học và khoa học tự nhiên đó là giới
tự nhiên; giúp cho chúng ta thấy được rằng, sự liên kết giữa triết học và khoa học tự nhiên là không thể tránh khỏi và sự hợp tác giữa các nhà triết học với các nhà khoa học
tự nhiên là một tất yếu lịch sử Bởi, nếu không có sự liên kết và hợp tác đó thì chẳng những triết học và khoa học tự nhiên không thể tiến lên được mà các nhà triết, các nhà khoa học tự nhiên cũng không thể chiến thắng nổi trong cuộc đấu tranh chống lại chủ